1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội

51 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 7,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN - - - - NGÔ THÙY CHI NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN, SỰ PHÂN BỐ VÀ THÍCH NGHI CỦA CÁC LOÀI NHỆN ARANEAE TRONG HỆ SINH THÁI ĐÔ THỊ HÀ NỘI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

- - - -

NGÔ THÙY CHI

NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN,

SỰ PHÂN BỐ VÀ THÍCH NGHI CỦA CÁC

LOÀI NHỆN ( ARANEAE) TRONG

HỆ SINH THÁI ĐÔ THỊ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Người hướng dẫn khoa học

TS Phạm Đình Sắc

TS Đào Duy Trinh

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

sự động viên khích lệ của gia đình và các bạn sinh viên Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Phạm Đình Sắc công tác tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và TS Đào Duy Trinh giảng viên trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn,

giúp đỡ em trong suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành khóa luận

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do điều kiện hạn hẹp về thời gian và

do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không tránh khỏi những thiếu sót khi hoàn thành bài khóa luận Vì vậy em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Ngô Thùy Chi

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự

hướng dẫn tận tình của TS Phạm Đình Sắc và TS Đào Duy Trinh

Kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Ngô Thùy Chi

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Tên bảng Trang Bảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp tại

điểm nghiên cứu

Bảng 3.2 Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp tại

khu vực nội đô Hà Nội

Bảng 3.3 Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng

cá thể nhện bắt gặp tại ở khu vực nội đô thành phố Hà Nội Bảng 3.4 Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các điểm nghiên cứu của

các loài nhện phổ biến Bảng 3.5 Sự đa dạng của các loài nhện tại vườn hoa và công viên

khu vực nội đô Hà Nội

Bảng 3.6 Số lượng loài nhện của các họ gặp tại năm điểm nghiên cứu

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Tên hình Trang

Hình 3.1 Số lượng cá thể nhện của các quần thể tại các điểm khác nhau

của các loài nhện phổ biến Hình 3.2 Sự phân bố các loài nhện trong các họ tại 5 điểm nghiên cứu

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3 Nội dung nghiên cứu

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lược sử nghiên cứu nhện

1.2 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới

1.2.1 Về thành phần loài nhện

1.2.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

1.3 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam

1.3.1 Về thành phần loài nhện

1.3.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Thời gian nghiên cứu

2.3 Địa điểm nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

2.4 1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm

2.4.3 Xử lí và phân tích số liệu

2.5 Một vài nét khái quát về thành phố Hà Nội

2.5.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội

2.5.2 Hiện trạng môi trường chung trong nội đô thành phố Hà Nội

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần và số lượng các loài nhện (Araneae) đã gặp ở khu vực nội đô Hà Nội

3.1.1 Thành phần loài nhện

3.1.2 Số loài và số lượng cá thể của các họ nhện bắt gặp

3.1.3 Các loài nhện chiếm ưu thế về số lượng cá thể bắt gặp

3.2 Tương quan giữa số lượng loài nhện theo số cá thể bắt gặp ở khu vực nội đô Hà Nội

3.3 Sự phân bố và thích nghi của các loài nhện ở khu vực nội đô Hà Nội

3.3.1 Phân bố ở các sinh cảnh nghiên cứu

3.3.2 Phân bố theo vị trí hoạt động của nhện

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1.Kết luận

2 Kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhện được mệnh danh là một trong những sát thủ vô cùng nguy hiểm trong giới động vật Nhện là loài động vật săn mồi không xương sống Bộ nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật Chân khớp cổ Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công viên, bụi cây, ven sông, ven suối Nhện không chỉ đa dạng về số loài mà còn chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp Trên thế giới đã xác định được 38.998 loài, 3.607 giống thuộc 110 họ nhện khác nhau (Platnick N.I., 2005) [20]

Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng môi trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ Clubionidae rất mẫn cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm (Clausen I.H.S, 1986) [9]

Các loài nhện lớn góp phần tích cực vào việc hạn chế sự phát triển của côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp Con mồi của nhện là nhiều loài côn trùng và sâu hại như rệp, rầy các loại, ruồi đục quả, bọ nhảy, châu chấu ăn lá, sâu non và trưởng thành các loài thuộc bộ cánh vảy, (Song D.X

và Zhu M.S., 1999) [22]

Tính tới nay, nhiều nước trên thế giới đã công bố các công trình nghiên cứu về nhện có tầm quan trọng đặc biệt cho khoa học và thực tiễn Các nghiên cứu cơ bản về khu hệ nhện của mỗi nước đã và đang được hoàn thiện, chuyển sang nghiên cứu ở các lĩnh vực sâu hơn (nghiên cứu nọc độc, nghiên cứu tơ nhện ở cấp độ phân tử, )

Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá là có mức đa dạng sinh học cao, nhưng chưa được tập trung nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có một

số công trình nghiên cứu về nhện Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên

Trang 10

một số cây trồng nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn vải Trong danh sách

275 loài đã được ghi nhận ở Việt Nam hiện nay, có 68 loài mới cho khoa học [4]

Đặc biệt, nghiên cứu về nhện ở khu vực Hà Nội từ trước đến nay còn rất ít, tản mạn Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu Nghiên cứu của tôi nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của chúng trong các sinh cảnh đặc thù của khu vực nội đô

Hà Nội, góp phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong các thị xã, thành phố đang và sẽ được quy hoạch, mở rộng và phát triển Vì vậy tôi thực

hiện đề tài “Nghiên cứu về thành phần, sự phân bố và thích nghi của các

loài nhện (Araneae) trong hệ sinh thái đô thị Hà Nội ”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tiến hành khảo sát, điều tra, nghiên cứu phân loại nhóm nhện tại một

số vườn hoa, công viên của khu vực nội đô Hà Nội

- Phân tích mẫu vật thu thập được sau khảo sát để xác định thành phần loài nhện

- Nghiên cứu đặc trưng phân bố và tính thích nghi của nhện tại các điểm nghiên cứu

Trang 11

3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài nhện (Araneae) ở một số vườn hoa, công viên khu vực nội đô thành phố Hà Nội

- Bước đầu nhận xét về đặc trưng phân bố và đặc điểm thích nghi của nhện (Araneae) ở khu vực nội đô thành phố Hà Nội

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lí luận: Nhằm góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu nghiên cứu thành phần và phân bố nhện ở đô thị Hà Nội

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài sẽ góp phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong các thị xã, thành phố đang và sẽ được quy hoạch, mở rộng và phát triển

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lược sử nghiên cứu nhện

Khái quát về nhện

Tên khoa học: Araneae

Tên tiếng Anh: Spider

Tên Việt Nam: Nhện

Bộ nhện Araneae thuộc lớp hình nhện Arachnida, ngành động vật chân đốt Arthropoda Theo Platnick N.I.,(2005) [20], bộ nhện chiếm ưu thế về số loài và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện (11 bộ bao gồm: Acari, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Scorpioides, Solifugae, Thelyphonida)

Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid

và Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei Đến năm 1801, Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là Araneida Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick N.I., 2005) [20]

Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng Phần

giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực và tấm bụng ngực Phía trên đầu của giáp đầu ngực có miệng và 1 đôi chân kìm, bên cạnh chân kìm là 1 đôi chân xúc giác Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường có 8 mắt đơn Bộ phận sinh dục con cái nằm ở phần giữa mặt dưới của bụng Cuối bụng có 1 đến 4 đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ) Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực Nhện đực và nhện cái phân biệt với nhau qua đốt ngoài cùng của đôi chân xúc giác (đốt này gọi là xúc biện) Xúc biện nhện đực phình rất to ở

Trang 13

đầu, chân xúc giác nhện cái thuôn dài Nhện phát triển qua các giai đoạn: trứng- nhện non - nhện trưởng thành

Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản nhất sử dụng trong phân loại là xúc biện của con đực (đốt ngoài cùng của chân xúc giác) và bộ phận sinh dục của con cái

1.2 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới

Nhận thức rõ tầm quan trọng của các loài nhện trong khoa học và thực tiễn đời sống, năm 1999 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế (International Society of Arachnology) đã được thành lập với sự tham gia của hơn 600 nhà khoa học từ 60 nước khác nhau trên toàn thế giới Từ sau hội nghị nhện quốc tế lần thứ XV năm 2001, nghiên cứu về nhện đã thực sự trở thành một môn khoa học (Arachnology - Nhện học)

Trang 14

Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798 Năm 1999, Song D.X và Zhu M.S., [22] đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của

56 họ nhện đã ghi nhận được ở nước này

Tác giả Davies V.T., (1988) [12] đã nghiên cứu và xây dựng khoá định loại tới họ của bộ nhện và khoá định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới

đã ghi nhận được tại Ôxtrâylia

1.2.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

Theo Foelix R.F., (1996) [14] nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng, nhện non và nhện trưởng thành Giai đoạn nhện non có thể đạt tới 15 tuổi Về kích thước cơ thể thì nhện cái luôn luôn lớn hơn nhện đực Hầu hết con đực bị chết sau khi giao phối Vòng đời của nhện có thời gian phát dục khác nhau tuỳ từng loài Sinh trưởng của nhện non phải qua các lần lột xác Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực

Nghiên cứu đặc tính sinh học của loài Cheiracanthium melanostoma,

Sebastian P.A và cs (2002) [21] đã kết luận: thời gian phát triển qua các tuổi của nhện đực là 163-200 ngày, của nhện cái là 226-299 ngày

Các loài thuộc họ nhện nhảy Salticidae có tập tính xây tổ (Foelix R.F., 1996) [14], tổ nhện là nơi nghỉ ngơi, lột xác và đẻ trứng của chúng

Khi thời tiết lạnh, các loài nhện trong vườn cây ăn quả thường tìm nơi trú ẩn để qua đông, chúng bò lên cây và trú ẩn qua đông ở các vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi trường xung quanh ví dụ như khe hở tách ra từ vỏ của thân cây hoặc vỏ cành cây (Foelix R.F., 1996) [14]

Trong tự nhiên, các yếu tố ngoại cảnh và con người ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển của các loài nhện có tập tính chăng lưới Gió to làm cây

đổ, cành gãy hay con người chặt phá cây rừng và đốt rừng làm mạng nhện bị phá dẫn đến nhện mất nơi cư trú (Davies V.T., 1988) [12]

Trang 15

Nhện có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại trên các cây trồng nông nghiệp Theo Song D.X và Zhu M.S., (1999) [22], so với côn trùng ký sinh và các loài thiên địch khác nhện có nhiều ưu thế hơn Thứ nhất, nhện có kích thước quần thể lớn Thứ hai, nhện là loài phàm ăn Thứ ba, nhện xuất hiện trên cây trồng sớm hơn các loài thiên địch khác Thứ

tư, trong điều kiện thiếu thức ăn nhện vẫn có thể tồn tại trong thời gian dài Thứ năm, khả năng sinh sản của nhện cao

Tại Trung Quốc, Liang SP và cs (2000) [15] đã phân tích nọc của loài

nhện độc Ornithoctonus huwena Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có thể sử

dụng nọc của nhện trong y học, như tách chiết các chất từ nọc để làm thuốc gây tê hay chữa một số bệnh liên quan đến hệ thần kinh

Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ Bản chất của tơ nhện

là protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino acid đặc biệt, nên tơ nhện có độ bền rất vững chắc đã được nghiên cứu sử dụng trong sản xuất áo quân sự và kính chống đạn So sánh các vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo thì tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và

sự dẻo dai gấp 2 đến 3 lần xenlulo, cao su, xương, gân và bằng 1/2 độ bền của sắt thép Vải sản xuất từ tơ nhện cũng như tơ tằm để thay thể một số loại vải

từ sợi hoá học gây ô nhiễm môi trường (Foelix R.F., 1996) [14]

Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng môi trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ nhện cuốn tổ Clubionidae rất mẫn cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm (Clausen I.H.S., 1986) [9]

1.3 Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam

1.3.1 Về thành phần loài nhện

Những công bố về nhện đầu tiên ở Việt Nam bởi Simon (1886, 1896,

1903, 1904, 1906, 1908), và Hogg (1922) Hai tác giả trên đã công bố ra 20

Trang 16

loài nhện mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam (Zabka M., 1985) [24]

Zabka M., (1985) [24] đã công bố kết quả chuyến khảo sát của mình

về họ nhện nhảy Salticidae ở Việt Nam Tác giả đã ghi nhận được 100 loài nhện nhảy, trong đó bao gồm 51 loài và 8 giống mới cho khoa học

Bùi Hải Sơn (1995) [8] đã ghi nhận được 34 loài nhện trên lúa vùng ngoại thành Hà Nội

Qua việc phân tích các mẫu vật thu được ở Việt Nam, Ono H., (2003) [18] đã phát hiện 7 loài nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và Liphistidae

Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam rất ít được nghiên cứu Tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc (2003) [3] bước đầu đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện

Phạm Đình Sắc và cs (2004) [6] đã cho công bố danh sách và phân bố của 108 loài nhện nhảy họ Salticidae ở Việt Nam

Phạm Đình Sắc và cs (2005) [7] đã bổ sung thêm 5 loài nhện nhảy Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam

Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện có nọc độc họ Theraphosidae

đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [5]

Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của 30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005) [4]

1.3.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

Các nghiên cứu về sinh học sinh thái của nhện ở Việt Nam còn rất ít Cho đến nay, 2 loài được nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh thái bao gồm

nhện sói Pardosa pseudoannulata và nhện linh miêu Oxyopes javanus Kết

Trang 17

quả nghiên cứu của Bùi Hải Sơn (1995) [8] cho thấy: loài nhện Pardosa pseudoannulata giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non

đực từ 76,2 - 155,7 ngày, của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của

nhện từ 122,9 - 219 ngày Loài nhện Oxyopes javanus giai đoạn con non có 9

tuổi; thời gian phát dục của nhện non đực từ 152,9 - 204,0 ngày, của nhện non cái từ 159,6 - 223,7 ngày; vòng đời của nhện từ 185,0 - 238,5 ngày Nhện

Pardosa pseudonnulata có khả năng ăn 9,4 - 22,5 con rầy nâu trong một ngày, nhện Oxyopes javanus có khả năng ăn 0,32 - 0,48 sâu non cuốn lá nhỏ

trong một ngày

Nghiên cứu nhện trên cây bông ở Đồng Nai và Ninh Thuận, Vũ Quang Côn và nhóm nghiên cứu (1996) [1] kết luận: nhện ăn thịt có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm mật độ sâu hại, đặc biệt là sâu xanh trên cây bông Thuốc hoá học có ảnh hưởng xấu đến mật độ nhện trên cánh đồng bông

Phạm Văn Lầm (2004) [2] đã tiến hành thí nghiệm tìm hiểu phổ vật

mồi của một số loài nhện trên cánh đồng lúa, cho rằng: các loài Pardosa pseudonnulata và Oxyopes javanus biểu hiện tính đa thực Loài Dyschiriognatha tenera và Theridium octomaculatum chỉ sử dụng 4 loài rầy nâu hại lúa trong phòng thí nghiệm để làm thức ăn Còn loài Myrmaracha elongata và Clubiona japonicola không ăn các loài bọ xít hại lúa

Nhện là nhóm có số lượng loài lớn, phân bố rộng, có vai trò trong nhiều lĩnh vực do đó các nghiên cứu về khu hệ bổ sung thành phần loài và sinh học sinh thái là việc làm cần thiết

Như vậy, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm sinh học sinh thái của nhện trên thế giới khá phong phú Tuy nhiên, thành phần loài nhện ở Việt Nam vẫn ít so với con số thực tế Các nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và khả năng lợi dụng chúng còn rất ít

Trang 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tất cả các loài thuộc bộ Nhện (Araneae), lớp Hình nhện (Arachnida), ngành Chân khớp (Arthropoda) phân bố tại các vườn hoa, công viên trong khu vực nội đô thành phố Hà Nội

2.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 8/2012 đến 11/2012: thu thập và định loại mẫu vật, nghiên cứu sinh học sinh thái ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm

- Từ 12/2012 đến 1/2013: tiếp tục công tác định loại mẫu vật

- Từ 2/2013 đến 3/2013: so sánh với mẫu vật tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại một số địa điểm vườn hoa, công viên trong khu vực nội đô thành phố Hà Nội

Năm địa điểm được chọn để nghiên cứu là:

+ Công viên Nghĩa Đô

Vị trí: Nguyễn Văn Huyên – Cầu Giấy – Hà Nội

Với tổng diện tích lên tới gần 47ha, trong đó có nhiều hạng mục vườn hoa, đồi cỏ, cây xanh, hồ nước rộng, đường dạo uốn lượn có cảnh quan đẹp,

Trang 19

công viên Nghĩa Đô thực sự là lá phổi xanh góp phần điều hòa, tạo được môi trường xanh sạch, không gian thoáng đãng yên tĩnh cho cửa ngõ luôn sôi động phía Tây Thủ đô Hà Nội [26]

+ Vườn hoa Hàng Đậu

Vị trí: Đường Phan Đình Phùng – Ba Đình – Hà Nội

+ Vườn hoa Pasteur

Vị trí: Đường Nguyễn Huy Tự – Hai Bà Trưng – Hà Nội

+ Hàng cây đơn dọc đường Hoàng Quốc Việt

Vị trí: Đường Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà Nội

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

- Địa điểm thu mẫu: Nhện được thu thập qua đợt điều tra, tại một số vườn hoa và công viên khu vực nội đô của Hà Nội, bao gồm: công viên Thống Nhất, công viên Nghĩa Đô, vườn hoa Hàng Đậu, vườn hoa Pasteur, Hàng cây đơn dọc đường Hoàng Quốc Việt

- Thu nhện hoạt động trên cây: dùng tấm nilon (1,2m x 1,2m) hứng dưới tán lá và đập mạnh vào tán lá, nhện sẽ rơi xuống Kết hợp dùng vợt côn trùng và bắt bằng tay

- Phương pháp thu mẫu định tính: Thu nhện hoạt động trên mặt đất theo phương pháp của Curtis D.J (1980) [11] và Millar I.M (2000) [16], dùng bẫy bằng các ly nhựa (kích thước (8cm x 12 cm)) chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt ly nhựa bằng với mặt đất, trong ly nhựa cho 100 ml dung dịch hỗn hợp cồn 70° và 5% formalin Kết hợp với quan sát bằng mắt và thu bắt bằng tay

- Phương pháp thu mẫu định lượng: Sử dụng các bẫy hố để điều tra định lượng Các ly nhựa đặt cách nhau 1 mét Tại mỗi vườn hoa hay công viên chọn 3 điểm nghiên cứu, mỗi điểm đặt 9 ly nhựa

Trang 20

- Thu nhện thuộc nhóm chăng tơ: bắt trực tiếp trên tơ bằng tay Điều tra

bổ sung vào ban đêm: dùng đèn ắc quy soi để thu bắt

Bẫy hố

2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Mẫu nhện thu thập tại điểm nghiên cứu bảo quản trong cồn 70° , lưu trữ tại phòng Sinh thái Môi trường đất, thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Mẫu vật được định loại và kiểm tra tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Định loại nhện theo các tài liệu Zabka M (1985) ; Davies V.T 1988; Feng Z.Q (1990); Song D.X và cs (2004); Zhu M.S và cs ( 2003) [24], [12], [13], [23], [25]

Mẫu nhện được soi dưới kính hiển vi điện tử để định loại

Chỉ các mẫu nhện trưởng thành được sử dụng để định loại, bởi vì việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và loài là rất khó

Trang 21

2.5 Một vài nét khái quát về thành phố Hà Nội

2.5.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội

Vị trí

Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông; Hòa Bình cùng Phú Thọ ở phía Tây Ngoài ra, Hà Nội còn cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km (đi qua Hưng Yên, Hải Dương) Sau đợt

mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn [27]

Địa hình

Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Khu vực

nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng [27]

Thủy văn

Sông Hồng là con sông chính của thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội

ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một

Trang 22

phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam Hà Nội còn có Sông

Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, là những đường tiêu thoát nước thải của

Hà Nội

Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông cổ Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn, biệt thự Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch

sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với

Hà Nội Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổi tiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ [27]

Khí hậu

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng cận nhiệt đới ẩm, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm

và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10 thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông [27]

2.5.2 Hiện trạng môi trường chung trong nội đô thành phố Hà Nội

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố đang có xu hướng gia tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng, nhất là đối với chất thải rắn, nước thải và không khí Điều này

Trang 23

đang gây bức xúc, ảnh hưởng xấu tới đời sống sinh hoạt của nhân dân tại nhiều khu vực

Chất thải rắn

Theo thống kê chưa đầy đủ, chất thải rắn công nghiệp ở Hà Nội mỗi ngày có khoảng 750 tấn, trong đó mới thu gom 85-90% và xử lý được khoảng 60% lượng thu gom này Công tác xử lý, tiêu hủy, tái chế chủ yếu dựa vào chôn lấp hợp vệ sinh tại một số bãi rác Trong khi đó, phế thải xây dựng (trên

1000 tấn/ngày) chưa được thu gom triệt để

Trong khi đó, các bãi chôn lấp chất thải rắn hiện đã sắp đầy gây nên tình trạng thiếu bãi chôn lấp Đây thực sự là một khó khăn rất lớn của thành phố [28]

Môi trường nước mặt

Hiện nay, tổng khối lượng nước thải công nghiệp trên địa bàn thành phố khoảng từ 100.000 đến 120.000m3/ngày đêm Lượng nước thải của các

cơ sở công nghiệp cũ nằm phân tán mới được xử lý 20-30%, chỉ có 3 khu công nghiệp tập trung mới (Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Phú Nghĩa và Quang Minh 1), 2 cụm công nghiệp (Ngọc Hồi và Phùng Xá) có hệ thống xử

lý nước thải tập trung Còn lại phần lớn các cơ sở sản xuất đều không có trạm

4 con sông thoát nước chính của thành phố cũng đang bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ, vô cơ, các hợp chất nitơ, vi sinh vật, chất rắn lơ lửng, dầu

Trang 24

mỡ Một số vị trí phát hiện kim loại nặng vượt TCCP, nước có màu đen, mùi hôi thối, đặc biệt là vào mùa hè [28]

Không khí

Theo số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thì hiện tại, không khí ở hầu hết các khu vực dân cư do hoạt động giao thông trong vùng nội đô đều bị ô nhiễm Đặc biệt, các khu vực như Trung tâm Hội nghị quốc gia, đường Xuân Thủy, đường Khuất Duy Tiến,… ô nhiễm bụi đang ở mức cao nhất Hà Nội và xu hướng ngày càng gia tăng Các khu vực ngã tư có mật độ xe cộ lưu thông cao, độ ồn cũng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP)

Về nồng độ bụi mịn có 23/24 ngã tư có nồng độ trung bình vượt TCCP

do lưu lượng và mật độ xe cộ qua lại quá lớn

Các chỉ tiêu về CO, SO2, NO2, C6H6… cũng đều vượt TCCP tại hầu hết các điểm đo kiểm, trong đó 32/34 ngã tư có nồng độ C6H6 vượt TCCP, có nơi vượt tới 3 lần [28]

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần và số lượng các loài nhện (Araneae) đã gặp ở khu vực nội đô Hà Nội

3.1.1 Thành phần loài nhện

Chúng tôi đã điều tra và xác định được 57 loài nhện (bảng 3.1) thuộc

10 họ Bao gồm các họ: họ nhện nhảy Salticidae 18 loài, họ nhện bụng tròn chăng lưới Araneidae 15 loài, họ nhện hàm dài Tetragnathidae 6 loài, họ nhện sói Lycosidae 5 loài , họ nhện càng cua Thomicidae có 4 loài, 5 họ có số loài

ít , mỗi họ có 1 đến 2 loài bao gồm các họ nhện lưới phễu nhỏ Hexathelidae,

họ nhện cuốn tổ Clubionidae, họ nhện linh miêu Oxyopidae, họ nhện lùn Linyphiidae, và họ Therididae

Bảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp tại điểm nghiên cứu

STT Tên khoa học Số lượng cá thể nhện thu

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp tại  điểm  nghiên cứu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp tại điểm nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.2. Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp tại  khu vực nội đô Hà Nội - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Bảng 3.2. Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp tại khu vực nội đô Hà Nội (Trang 32)
Bảng 3.3. Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số  lượng cá thể nhện bắt gặp tại ở khu vực nội đô thành phố Hà Nội - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Bảng 3.3. Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng cá thể nhện bắt gặp tại ở khu vực nội đô thành phố Hà Nội (Trang 34)
Bảng 3.4. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các điểm nghiên cứu của  các loài nhện phổ biến - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Bảng 3.4. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các điểm nghiên cứu của các loài nhện phổ biến (Trang 35)
Hình 3.1. Số lượng cá thể nhện của các quần thể tại các điểm khác  nhau của các loài nhện phổ biến - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Hình 3.1. Số lượng cá thể nhện của các quần thể tại các điểm khác nhau của các loài nhện phổ biến (Trang 36)
Hình 3.2. Sự phân bố các loài nhện trong các họ tại 5 điểm nghiên cứu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
Hình 3.2. Sự phân bố các loài nhện trong các họ tại 5 điểm nghiên cứu (Trang 40)
Hình ảnh thu nhện hoạt động trên mặt đất - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
nh ảnh thu nhện hoạt động trên mặt đất (Trang 48)
Hình ảnh sinh cảnh nghiên cứu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
nh ảnh sinh cảnh nghiên cứu (Trang 49)
Hình ảnh một số họ nhện tiêu biểu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) trong hệ sinh thái đô thị hà nội
nh ảnh một số họ nhện tiêu biểu (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm