1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l 1753) ở việt nam

59 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Long đởm ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có hệ thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo Theo Nguyễn Tiến Bân (2005) [4] thì Việt Nam hiện có khoảng gần 20.000 loài thực vật, trong đó có 368 loài Vi khuẩn lam, 2.200 loài Nấm, 2.176 loài Tảo, 841 loài Rêu, 1 loài Khuyết lá thông, 53 loài Thông đất, 2 loài Cỏ tháp bút, 691 loài Dương xỉ, 69 loài hạt trần và 10.000 loài hạt kín Dưới tác động của tự nhiên cũng như của con người làm cho hệ thực vật luôn bị biến đổi Do vậy cần có những nghiên cứu về lĩnh vực Phân loại thực vật một cách kịp thời và chính xác Những nghiên cứu chính xác về phân loại thực vật

sẽ là cơ sở khoa học cho các lĩnh vực khoa học khác như: Sinh thái học, Sinh lý thực vật, Tài nguyên thực vật, Dược học

Chi Long đởm (Gentiana L.) thuộc họ Long đởm (Gentianaceae Juss.) là một

chi thực vật khá lớn trên thế giới (hiện có khoảng gần 400 loài), ở Việt Nam hiện biết 12 loài Các loài thuộc chi này có vai trò khá quan trọng trong hệ sinh thái vùng núi cao, trảng cỏ, cao nguyên, hay rừng thứ sinh vùng ôn đới Một số loài thuộc chi được dùng để tạo hương vị do chứa các chất có vị đắng, hay được dùng để làm thuốc; ngoài ra, người ta còn tách chiết được một số hợp chất cao phân tử mới từ loài Long đởm tua Cho nên, bên cạnh giá trị về khoa học, chi này còn có giá trị

về mặt sử dụng

Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Long đởm ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử dụng các loài

thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu nghiên cứu

phân loại chi Long đởm (Gentiana L 1753) ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) ở

Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Long đởm (Gentianaceae Juss.), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan

Trang 2

Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu về vị trí phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) trong họ Long đởm

(Gentianaceae Juss.)

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các đại diện thuộc chi Long đởm

(Gentiana L.) ở Việt Nam, qua đó xây dựng khoá định loại đến loài

- Chỉnh lý danh pháp, mô tả các loài thuộc chi Long đởm (Gentiana L.) ở Việt

Nam

- Tìm hiểu giá trị sử dụng của một số loài thuộc chi Long đởm (Gentiana L.) ở

Việt Nam

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài cung cấp những dẫn liệu cơ bản về

phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) ở Việt Nam, góp phần bổ sung thêm vốn

kiến thức cho chuyên nghành Phân loại thực vật, tạo sự hiểu biết sâu sắc hơn về mặt

phân loại cho họ Long đởm nói chung và chi Long đởm (Gentiana L.) nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành: y - dược, sinh thái, tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học

Điểm mới của đề tài

- Là công trình khảo cứu đầy đủ và có hệ thống nhất về phân loại chi Long

đởm (Gentiana L.) ở Việt Nam tính tới thời điểm hiện tại

- Phát hiện một loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam thuộc chi Long đởm là:

Long đởm tua (G rhodantha) Phát hiện này đã được tác giả công bố trong Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các trường Đại học sư phạm toàn quốc lần thứ

VI [Phụ lục 7]

Bố cục của khóa luận: gồm 59 trang, 20 hình vẽ, 11 ảnh, 1 bản đồ, 1 bảng,

được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 3 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 49 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang), tài liệu tham khảo: 55 tài liệu, bảng tra tên La Tinh và tên Việt Nam, phụ lục

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các nghiên cứu về chi Long đởm trên thế giới

Chi Long đởm (Gentiana L.) được biết đến là một chi lớn trong họ Long đởm

(Gentianaceae Juss.), phân bố rộng khắp thế giới bao gồm: vùng Tây Bắc châu Phi (Marốc), Châu Mĩ, Châu Á, Châu Âu và miền Đông nước Úc; nhưng tập trung chủ yếu ở các vùng ôn đới, hoặc những vùng núi cao (như dãy Andes…)

Trên thế giới, chi Long đởm được công bố đầu tiên trong công trình nổi tiếng

Species plantarum (1753) [40] của nhà thực vật học người Thụy Điển tên là Linneaus Linnaeus đã đặt tên cho chi Long đởm là Gentiana Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu 23 loài thuộc chi như: G purpurea; G punctata; G asclepiadea; … Ông xếp chi Long đởm (Gentiana L.) vào lớp 5 nhị - 2 vòi nhụy (Pentandria Digynia), với typus là loài Gentiana lutea

Sau Linnaeus, nhiều tác giả đã tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm rất nhiều loài mới thuộc chi Long đởm như: Griseb (1839) [29]; Hook f (1883) [31]; Forbes

F & Hemsl (1890) [26]; Hand.-Mazz (1936) [33]; Back & Bakh f (1965) [15];

Ho, T.N (1988) [32]; …

Về vị trí của chi Long đởm, Jussieu (1789) [38] đã lấy chi Long đởm làm chi chuẩn để đặt tên cho họ Long đởm (Gentianaceae); ông xếp chi Long đởm vào họ

này bên cạnh 12 chi khác như: Vohiria, Coutoubea, Swertia, … vì có chung đặc

điểm: cây thân cỏ, rất ít khi hóa gỗ; lá mọc đối, không có lá kèm; hoa thường lưỡng tính, đều; đài rời hay hợp; tràng hợp; nhị cùng số với thùy tràng, chỉ nhị đính trên ống tràng; bầu thượng, phần lớn 1 ô với 2 giá noãn bên, vòi đơn, đầu nhụy thường chẻ đôi, noãn nhiều; quả thường là quả nang,…

Về sau, trong công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác như: Don, G (1838) [19]; Endl (1839) [22]; Griseb (1839) [29]; Benth & Hook f (1876) [16]; Engl (1903) [23], (1919) [24]; Merr (1935) [45]; Takht (1997) [51], (2009) [52]

… đều có chung quan điểm như Jussieu, cho rằng chi Long đởm (Gentiana L.) nằm

trong họ Long đởm (Gentianaceae Juss.)

Trang 4

1.2 Các nghiên cứu về chi Long đởm của một số nước gần Việt Nam

Hooker Joseph Dalton (1883) [31] khi nghiên cứu hệ thực vật Ấn Độ đã nêu ra đặc điểm của chi Long đởm và mô tả 37 loài thuộc chi có phân bố ở Ấn Độ như: G moorcroftiana, G aurea, G thomsoni,… với những bản mô tả ngắn gọn, không có

hình vẽ minh hoạ, mẫu chuẩn, mẫu nghiên cứu

Backer C A & Bakhuizen R C (1965) [15] trong khi nghiên cứu hệ thực vật tại đảo Java (thuộc In-đô-nê-xi-a) đã nêu ra đặc điểm hình thái của chi Long đởm và

xây dựng khoá định loại cho 2 loài thuộc chi là: G quadrifaria và G cephalodes

Trong công trình này, các loài được mô tả dưới dạng khoá định loại, không có mô tả chi tiết, không có hình vẽ minh hoạ, mẫu chuẩn, mẫu nghiên cứu

Ohwi Jisaburo (1965) [48] khi nghiên cứu hệ thực vật ở Nhật Bản cũng xếp chi Long đởm vào họ Long đởm, dựa vào các đặc điểm như: Cây mọc trên cạn; thân thường dựng đứng, không leo bám; lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng, đơn, nguyên, không cuống hay gần như không cuống; tiền khai hoa vặn; bao phấn dựng đứng; vòi nhụy ngắn, mập; quả nang, thường mang vòi nhụy tồn tại để phân biệt với 8 chi

khác trong họ như: Centaurium, Tripterospermum, Pterygocalyx ; đồng thời xây

dựng khóa định loại cho 19 loài thuộc chi, kèm theo bản mô tả và tài liệu trích dẫn Ubolcholaket A (1987) [53] khi nghiên cứu hệ thực vật ở Thái Lan đã nêu ra các đặc điểm hình thái của chi Long đởm, xây dựng khoá định loại và mô tả cho 8

loài, 1 phân loài và 1 thứ thuộc chi như: G arenicola, G crassa, G pedicellata,

Trong đó, các loài đều có phần mô tả ngắn gọn và hình vẽ minh hoạ

Ho T.N., Liu S.W & Wu C.W (1988) [32] khi nghiên cứu hệ thực vật Trung Quốc đã trình bày đặc điểm hình thái của chi Long đởm và mô tả 247 loài thuộc chi này bằng tiếng Trung Quốc, có kèm theo hình vẽ; trong số đó có 6 loài có ở Việt

Nam là: G rigescens, G cephalantha, G rhodantha, G primuliflora, G loureirii,

G moniliformis Sau đó, Ho T.N & Pringle J.S (1995) [34] đã tái bản có bổ sung

công trình trên sang tiếng Anh và công bố thêm một loài, đồng thời chỉnh lí lại tên

loài trong đó có loài G loureirii đổi thành G loureiroi

Chen, Chih-Hsiung (1998) [18] khi nghiên cứu họ Gentianaceae của hệ thực vật tại đảo Đài Loan, đã đưa ra đặc điểm hình thái của chi Long đởm, đồng thời

Trang 5

công bố 11 loài và 2 phân loài thuộc chi Ngoài ra, họ còn công bố 3 loài chưa xác

định chính xác trong đó có một loài ở Việt Nam là: G loureirii Sau này, Wang J.C., Chen C.H & Lu C.T (2009) [54] trong công trình Flora of Taiwan - họ

Gentianaceae, đã công bố 12 loài và 2 thứ thuộc chi với mô tả ngắn gọn, hình ảnh, hình vẽ, nơi phân bố rất chi tiết và đầy đủ

1.3 Các nghiên cứu về chi Long đởm ở Việt Nam

Người đầu tiên đề cập đến chi Long đởm là nhà thực vật người Bồ Đào Nha

Loureiro trong công trình Thực vật Nam Bộ (1790) [42], tác giả đã công bố 2 loài thuộc chi là: G scandens và G aquatica Về sau, 2 loài này được định lại đều là tên đồng nghĩa của 2 loài khác: G scandens là tên đồng nghĩa của Paederia foetida L (1767 Mant Pl 1: 52) thuộc chi Paederia - họ Rubiaceae, G aquatica (non Linn.) Lour là tên đồng nghĩa của G loureiroi (G Don) Griseb [20]

Gapnepain F (1912) [30] trong công trình Thực vật chí đại cương Đông Dương đã nêu ra đặc điểm của chi, xây dựng khóa định loại và mô tả 2 loài: G hesseliana và G loureirii Tác giả cũng xếp chi Gentiana vào họ Gentianaceae; ông

dựa vào những đặc điểm như: Cây thân cỏ, hiếm khi là cây bụi; lá mọc đối; tiền khai hoa lợp hay vặn; giữa các thùy tràng có nếp gấp gian thùy; bao phấn không có

lỗ ở đỉnh; bầu nhụy 1 ô, vòi nhụy ngắn và mập … để phân biệt với 7 chi khác là:

Exacum, Enicostema, Swertia,… Sau đó vào năm 1940 và 1942, trong phần bổ sung cho Thực vật chí đại cương Đông Dương, Merrill đã bổ sung thêm 2 loài thuộc chi là: G greenwayae [46] và G cephalantha [47]

Lê Khả Kế và cộng sự (1971) [12] trong công trình Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam cũng xếp chi Gentiana vào họ Gentianaceae; ông dựa vào những đặc điểm

phân loại là: Bao phấn không có lỗ ở đỉnh; giữa các thùy tràng có nếp gấp gian

thùy; vòi nhụy ngắn và mập… để phân biệt với 2 chi còn lại là: Centaurium và Canscora; đồng thời mô tả sơ lược 1 loài thuộc chi là: G loureirii

Phạm Hoàng Hộ (2000) [11] trong công trình Cây cỏ Việt Nam đã tóm tắt đặc điểm nhận biết của 6 loài gồm: G cephalantha, G greenwayae, G hasseliana, G loureirii, G langbianensis, G rigescens, cùng hình vẽ sơ bộ kèm theo

Trang 6

Hul Sovanmoly (2003) [37] trong công trình Flore du Cambodge, du Laos et

du Vietnam đã nêu ra đặc điểm của chi Gentiana, mô tả chi tiết 11 loài, có kèm theo

hình vẽ và mẫu nghiên cứu Trong số 11 loài này có 9 loài ở Việt Nam gồm: 3 loài

mới do bà công bố trong công trình Adansonia (1999) [35], (2002) [36] là: G jouyana, G tonkinensis, G lowryi; 2 loài bổ sung là: G primulaeflora, G moniliformis; 4 loài còn lại là: G loureiroi, G cephalantha, G langbianensis, G greenwayae; đồng thời trong phần ghi chú, bà cũng ghi nhận 2 loài có ở Việt Nam (theo Phamh 1993) là: G hesseliana và G rigescens, nhưng do không tìm được

mẫu nên không đưa ra bản mô tả

Nguyễn Tiến Bân (2005) [4] trong Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam,đã

chỉnh lí danh pháp loài G loureirii thành G indica và đưa ra danh lục 6 loài thuộc

chi Long đởm ở Việt Nam; đồng thời tác giả cũng cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân bố, dạng sống - sinh thái và giá trị sử dụng của một số loài trong chi

Ngoài các công trình mang tính phân loại ở trên, còn có một số công trình khác đề cập đến giá trị sử dụng của một vài loài trong chi Long đởm ở nước ta như:

Võ Văn Chi (1997) [7], (2004) [9] trong 2 tác phẩm Từ điển cây thuốc Việt Nam và

Từ điển thực vật thông dụng; Lê Trần Đức (1997) [10] trong Cây thuốc Việt Nam;

Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002) [8] trong công trình Cây cỏ có ích ở Việt Nam

Trong số các công trình nêu trên, có thể thấy công trình của Hul Sovanmoly (2003) [37] là công trình đầy đủ nhất về phân loại chi Long đởm ở nước ta tính tới thời điểm đó: danh pháp được chỉnh lí, mô tả chi tiết, kèm theo hình vẽ; tuy nhiên, trong công trình này bà lại chưa đề cập đến giá trị sử dụng của các loài, tên địa danh

vẫn chưa được chỉnh lí, số lượng loài chưa đầy đủ (thiếu loài: G rhodantha, …)

Các công trình khác như: Gapnepain F (1912) [30] đã được xuất bản cách đây

101 năm, cho đến nay danh pháp một số loài không còn phù hợp, thiếu các dẫn liệu

về phân bố, sinh thái, chưa đầy đủ về số loài; Phạm Hoàng Hộ (2000) [11] chỉ nêu tóm tắt đặc điểm nhận biết một số loài trong chi Chính vì vậy, công trình nghiên

cứu: “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Long đởm (Gentiana L 1753) ở Việt

Nam” của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ

thống về phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) ở nước ta

Trang 7

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Long đởm (Gentiana L.) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu

vật và tài liệu

Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) trên thế giới và

của Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo

Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Long đởm (Gentiana L.) ở Việt

Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU)

Tổng số mẫu nghiên cứu là 18 số hiệu với 26 tiêu bản Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) và phòng thí nghiệm Thực vật học (thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo 2 mẫu tiêu bản ở phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), một số mẫu thu thập được trong khi điều tra thực địa và ảnh chụp mẫu vật trên internet

2.2 Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước

2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2013

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu phân loại chi Long đởm (Gentiana L.), chúng tôi sử dụng

phương pháp Hình thái so sánh [14] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh

với nụ, hoa so sánh với hoa )

Trang 8

Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời

cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp

Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái

tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác

Công tác nội nghiệp: Xử lý và bảo quản mẫu vật Việc nghiên cứu các mẫu vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước

lân cận) để phân tích, so sánh và định loại

Việc nghiên cứu phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Long

đởm (Gentiana L.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân loại

chi này ở Việt Nam

Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Long đởm (Gentiana L.)

hiện có

Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu,

tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác

Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây

dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài

- Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật, theo Nguyễn Tiến Bân (1996) [2] và Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam (2008) [6], thứ tự như sau:

+ Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề

Trang 9

cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)

+ Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)

- Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)

Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có),

từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung

- Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn

cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau: Từ

tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập

và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon

Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành

và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Long đởm ở Việt Nam

Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Long đởm (Gentiana L.) nói

riêng và họ Long đởm (Gentianaceae Juss.) nói chung, cùng với việc tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và các nước lân cận với Việt Nam,

chúng tôi nhận thấy hệ thống phân loại của chi Long đởm (Gentiana L.) là tương

đối đồng nhất ở hầu hết các tác giả nghiên cứu

Về vị trí của chi Long đởm (Gentiana L.) hầu hết các tác giả như: Don, G

(1838) [19]; Endl (1839) [22]; Griseb (1839) [29]; Benth & Hook f (1876) [16]; Engl (1903) [23], (1919) [24]; Merr (1935) [45]; Struwe (2002) [50]; Takht (1997) [51], (2009) [52] … đều thống nhất xếp:

+ Chi Long đởm (Gentiana L.)

+ Thuộc họ Long đởm (Gentianaceae)

+ Thuộc Bộ Long đởm hay Hoa vặn (Gentianales)

+ Thuộc Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae)

+ Thuộc Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae)

3.2 Đặc điểm phân loại chi Long đởm ở Việt Nam

GENTIANA L – LONG ĐỞM

L 1753 Sp Pl 1: 227; 1754 Gen Pl ed 5: 107; Endl 1839 Gen Pl 1: 600;

Griseb 1839 Gen Sp Gentian.: 210; A DC 1845 Prodr 9: 86; Benth & Hook f

1876 Gen Pl 2(2): 815; Hook f 1883 Fl Brit Ind 4: 93; Kusnez 1896-1904 Act Hort Petrop 15: 157; Gagnep 1912 Fl Gén Indoch 4: 184; Ridl 1923 Fl Malay Pen 2: 433; Back & Bakh f 1965 Fl Jav 2: 437; Ohwi, 1965 Fl Japan: 736; Ubolcholaket, 1987 Fl Thailand, 5(1): 82; Ho, T.N 1988 Fl Reipubl Popul Sin 62: 14; Ho T.N & Pringle J.S in Wu Z.Y & Raven P.H (eds.), 1995 Fl China, 16: 15; Chen, Chih-Hsiung, 1998 Fl Taiwan, 4: 154; Hul, 2003 Fl Camb Laos Vietn 31: 26; Wang J.C., Chen C.H & Lu C.T 2009 Fl Taiwan: 10

Trang 11

3.2.1 Dạng sống

Cỏ một năm hay lâu năm, một số mọc thành bụi hay thành thảm (G loureiroi,

G greenwayae, G tonkinensis, G lowryi), hiếm khi là cây bụi (G cephalantha)

Thân thường mọc đứng, có khi bò lan mặt đất; nhẵn, hay có lông ngắn, cứng và

lông tuyến, một số có gờ nổi; phân cành hoặc không (G hesseliana)

3.2.2 Lá (Hình 1)

Hình 1 Một vài dạng lá của chi Long đởm

1 Lá hình bầu dục, mép nguyên và cong xuống (G cephalantha); 2-4 Lá hình bầu dục tới thuôn, mép có lông ngắn (2 G greenwayae, 3 G jouyana, 4 G loureiroi);

5 Lá hình trứng, mép nguyên và cong xuống (G lowryi); 6 Lá hình trứng tới hình tim, mép có khía răng cưa (G primulaeflora) (Hình 1-5 theo Hul Sovanmoly,

2003; 6 theo Ho, T.N 1988)

Lá gần gốc thường mọc đối, dính nhau; có khi dạng vảy (G rigescens), hay tạo thành hình hoa thị (G loureiroi, G langbianensis, G tonkinensis); những lá khác mọc đối hay chụm ở đỉnh thân (G cephalantha, G rigescens, G hesseliana)

Lá có cuống hoặc không Phiến có hình dạng ít đặc trưng cho loài (trừ: G lowryi

hình trứng) như: hình tim, hình trứng ngược, hình thuôn, hình bầu dục … Mặt phiến

có lông ngắn (G loureiroi, G rhodantha, G tonkinensis, G moniliformis) hoặc không Chóp lá nhọn tới tù, một số có mũi kim (G hesseliana, G moniliformis, G loureiroi) Mép lá thường nguyên, có lông ngắn hoặc không (G cephalantha, G rigescens, G hesseliana, G lowryi); một số có khía răng cưa (G rhodantha, G

Trang 12

primulaeflora) Gốc lá thường kéo dài, số ít tròn tới hình tim (G rhodantha, G primulaeflora), hay tù (G moniliformis) Gân gốc 1, 3 hay 5 Không có lá kèm

3.2.3 Cụm hoa (Hình 2)

Cụm hoa ở đỉnh cành hoặc nách lá; thường dạng xim hay dạng chùm (G

cephalantha, G rigescens, G hesseliana), có khi đơn độc (G loureiroi, G rhodantha, G primulaeflora); lá bắc thường có dạng lá, đôi khi có lá bắc con

Hình 2 Các dạng cụm hoa của chi Long đởm

1 Cụm hoa dạng chùm, ở đỉnh cành và nách lá (G cephalantha); 2 Cụm hoa dạng xim, ở đỉnh cành và nách lá (G moniliformis); 3 Hoa đơn độc ở đỉnh cành và nách

lá (G rhodantha) (Hình 1,2 theo Hul Sovanmoly, 2003; 3 theo Ho, T.N 1988)

3.2.4 Hoa (Hình 3)

Hình 3 Cấu tạo hoa của chi Long đởm

Trang 13

Hoa lưỡng tính, đều, mẫu (4-)5(-6), tiền khai hoa xếp vặn; có cuống hoặc

không Đài hợp; ống thường dài hơn thùy (trừ G hesseliana); thùy (4-)5(-6), đều hoặc không (G cephalantha, G rigescens); gân nhô lên ở mặt lưng thùy đài của một số loài có lông cứng (G langbianensis, G jouyana) hoặc không (G greenwayae), có khi men xuống ống đài tạo thành 5 gờ nổi (G rhodantha, G primulaeflora) (Hình 4) Tràng hợp cánh, có hình ống, hình chuông hay hình phễu,

thường tỏa tia đối xứng; thùy (4-)5(-6); phần dính liền có nếp gấp gian thùy, phần

tự do của nếp gấp có hoặc không (G lowryi) (Hình 5)

Hình 4 Một số dạng đài của chi Long đởm

1 Thùy đài không đều, mép không có lông (G cephalantha); 2 Thùy đài đều với mép có lông ngắn, gân nhô lên và không có lông (G greenwayae); 3,4 Thùy đài đều với mép có lông ngắn, gân nhô lên và có ít lông cứng (3 G langbianensis, 4

G jouyana); 5 Thùy đài đều, gân nhô lên và men xuống ống đài tạo 5 gờ nổi (G primulaeflora); 6 Thùy đài đều, có chiều dài bằng ống đài (G hesseliana)

(Hình 1-5 theo Hul Sovanmoly, 2003; 6 theo Ubolcholaket, 1987)

Nhị (4-)5(-6), xen kẽ với thùy tràng, không nhô ra khỏi ống tràng, đều hoặc

không đều (G rhodantha); chỉ nhị hình đường, thường dẹt và rộng ra ở phía gốc,

đính trên tràng ở gần gốc ống tràng tới giữa ống; bao phấn 2 ô, mở dọc, hình thuôn

hay hình trứng Đĩa mật không có (trừ: G hesseliana) Bầu thượng, có cuống, 1 ô

với 2 giá noãn đính bên, noãn nhiều; vòi nhụy 1, thường ngắn; đầu nhụy chẻ 2 thùy, thường cong xuống (Hình 6)

Trang 14

1 2 3 4

Hình 5 Hoa mở của một số loài thuộc chi Long đởm

1 Thùy tràng và nếp gấp hình tam giác (G loureiroi); 2 Thùy tràng hình tam giác, nếp gấp hình tam giác lệch (G cephalantha); 3 Thùy tràng hình trứng, nếp gấp không có phần tự do, mép lệch (G lowryi); 4 Thùy tràng hình trứng tới hình trứng - hình tam giác, nếp gấp có tua ở đỉnh (G rhodantha) (Hình 1-3 theo Hul

Sovanmoly, 2003; 4 theo Ho, T.N 1988)

Hình 6 Một số dạng nhụy của chi Long đởm

1 Bầu hình trứng ngược hẹp (G loureiroi); 2 Bầu hình bầu dục (G primulaeflora);

3 Bầu hình trứng - hình thuôn (G greenwayae); 4 Bầu hình trứng hay hình trứng - thuôn tới hình bầu dục (G langbianensis) (Hình 1-4 theo Hul Sovanmoly, 2003)

3.2.5 Quả (Hình 7)

Quả nang, khi chín nằm trọn trong ống tràng còn tồn tại hay vượt ra khỏi ống

tràng; hơi dẹt 2 bên, mở bằng 2 mảnh vỏ; hình trứng hay hình trứng ngược, đôi khi hình bầu dục tới hình bầu dục - hình thuôn; có viền mép như cánh hoặc không; có vòi nhụy còn tồn tại

Trang 15

1 2 3 4 5 6 7 8

Hình 7 Một số dạng quả của chi Long đởm

1-3 Quả không có viền mép (1 G cephalantha, 2 G lowryi, 3 G primulaeflora); 4-6 Quả có viền mép như cánh, hẹp (4 G langbianensis, 5 G tonkinensis, 6 G loureiroi); 7,8 Quả có viền mép như cánh, rộng (7 G jouyana, 8 G greenwayae)

(Hình 1-8 theo Hul Sovanmoly, 2003)

3.2.6 Hạt (Hình 8)

Hạt nhiều, nhỏ; hình trứng tới gần hình cầu, hay hình trứng - hình thuôn hoặc hình bầu dục; ít nhiều dẹt 2 bên, thường có góc cạnh, hay có cánh; vỏ dạng lưới nhăn nheo hay có khoanh rỗ dạng tổ ong; có nội nhũ lớn, phôi nhỏ

Hình 8 Một số dạng hạt của chi Long đởm

1,2 Hạt hình trứng tới gần hình cầu, có cánh (1 G rigescens, 2 G rhodantha); 3 Hạt gần hình cầu, không có cánh (G primulaeflora); 4-6 Hạt hình trứng ngược hẹp tới hình bầu dục, có góc cạnh, không có cánh (4 G greenwayae, 5 G jouyana, 6

G lowryi) (Hình 1-3 theo Ho, T.N 1988; 4-6 theo Hul Sovanmoly, 2003)

Typus: Gentiana lutea L

Việt Nam có 12 loài, phân bố chủ yếu ở: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Kon Tum, Lâm Đồng, Khánh Hòa

Trang 16

3.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Long đởm ở Việt Nam

1A Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành hay nách lá

2A Thân chính có nhiều lông ngắn, cứng và không có các gờ nổi Mép phiến lá

nguyên, có lông ngắn Quả nang hình trứng ngược .1 G loureiroi

2B Thân chính không có lông và có các gờ nổi Mép phiến lá có khía răng cưa, không có lông Quả nang hình bầu dục

3A Phần tự do của nếp gấp giữa các thùy tràng có tua ở đỉnh Ống tràng dài

2,5-4,5 cm Hạt có cánh rộng 2 G rhodantha

3B Phần tự do của nếp gấp giữa các thùy tràng không có tua ở đỉnh Ống tràng

dài 0,7-1,4 cm Hạt không có cánh 3 G primulaeflora

1B Hoa mọc thành cụm dạng xim hay chùm ở đỉnh cành hay nách lá

4A Đài không đều (2 thùy lớn, 3 thùy nhỏ)

5A Cành bên phân từ gốc tạo hình hoa thị 4 G cephalantha 5B Cành bên phân từ gốc không tạo hình hoa thị 5 G rigescens

9A Thân có gờ nổi Không mọc thành bụi hay thành thảm

10A Ống tràng hình chuông hẹp Quả khi chín có cuống dài 9-14(-15)

9 G greenwayae

Trang 17

11B Thân không có lông tuyến Phiến lá có lông ngắn Khi chín quả nằm trọn trong ống tràng còn tồn tại, cuống dài 2 mm

10 G tonkinensis

8B Ống tràng dài hơn ống đài nhưng không bao giờ gấp tới 1,5 lần Thùy

đài hình trứng - hình thìa 11 G moniliformis

7B Nếp gấp giữa các thùy tràng không có phần tự do Mép phiến lá không có

lông 12 G lowryi

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Long đởm ở Việt Nam

3.4.1 Gentiana loureiroi (G Don) Griseb – Long đởm

Griseb in A DC 1845 Prodr 9: 108, “loureirii”; Forbes F & Hemsl 1890 J Linn Soc Bot 26: 129, “loureiri”; Dunn S.T & Tutcher W.J 1912 Bull Misc Inf.: Fl Kwangtung Hongkong, ser X, 175, “loureiri”; Gagnep 1912 Fl Gén Indoch 4: 185, “loureirii”; Merr 1935 Trans Amer Phil Soc n.s 24(2): 310,

“loureirii”; Ubolcholaket, 1987 Fl Thailand, 5(1): 87, “loureirii”; Ho, T.N 1988

Fl Reipubl Popul Sin 62: 254, “loureirii”; Ho T.N & Pringle J.S in Wu Z.Y &

Raven P.H (eds.), 1995 Fl China, 16: 95; Chen, Chih-Hsiung, 1998 Fl Taiwan, 4:

174, “loureirii”; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 677, “loureirii”; Hul, 2003 Fl Camb Laos Vietn 31: 29; N.T Ban, 2005 Check Pl Sp Vietn 3: 78, “indica” – Ericala loureirii G Don, 1837 Gen Hist 4: 192

– Gentiana indica Steud 1840 Nomencl Bot ed 2, 1: 674

– Đinh địa, Dinh, (“Đinh”)

Cỏ hàng năm; mọc thành bụi, có khi thành thảm; cao 4-6(-8) cm Thân thường

ít phân cành, màu tía, có nhiều lông ngắn và cứng, không có gờ nổi Lá không cuống; những lá gần gốc thường tạo hình hoa thị; những lá khác mọc đối, dính nhau; phiến hình thuôn - hình trứng, hay hình thuôn - hình bầu dục, có khi hình mác, kích thước 6-16 x 3-5 mm, mặt dưới nhẵn, mặt trên có nhiều lông ngắn; đỉnh

tù tới nhọn và thường có mũi; mép nguyên và có lông ngắn; gân gốc thường 1, đôi khi 3 Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành hay nách lá Hoa mẫu 5, dài 8-11 mm; cuống dài (3-)4-12 mm, có lông ngắn Lá bắc dạng lá, hình bầu dục - hình thuôn hay hình đường, có lông ngắn, đỉnh nhọn Đài hợp; ống hình chuông, dài 3,5-4 mm; thùy 5,

Trang 18

đều, hình tam giác tới hình đường, kích thước 2-2,5 x 0,5 mm, đỉnh nhọn có mũi, mép có lông ngắn Tràng hợp; ống hình phễu, màu lam - tím, dài 5,5-8 mm; thùy 5, hình tam giác, kích thước 2-3,5 x 1,5-2,5 mm, nguyên, đỉnh nhọn; phần tự do của nếp gấp gian thùy hình tam giác hay hình trứng, kích thước 1-2 x 1-1,5 mm, đỉnh nhọn với mép nguyên hay đỉnh tù với mép gợn sóng, có khi chẻ đôi Nhị 5, đều; chỉ nhị dài 3-5 mm, đính cách gốc ống tràng chừng 1/3 chiều dài ống; bao phấn hình thuôn, dài 1,5-2,5 mm Bầu 1 ô, hình trứng ngược hẹp, có cuống dài 1-2 mm; vòi nhụy dài 0,8-1,5 mm; đầu nhụy chẻ đôi Quả nang, khi chín vượt hoàn toàn ra khỏi ống tràng còn tồn tại, hình trứng ngược, kích thước 3-4 x 2-2,5 mm; có viền mép như cánh, hẹp; vòi nhụy còn tồn tại; cuống dài 7-11(-18) mm Hạt màu nâu, hình trứng - hình thuôn hay hình bầu dục, kích thước 1 x 0,5 mm, có góc cạnh, không có cánh (Hình 9, ảnh 1)

Loc class.: China (Guangdong) Typus: Herb Loureiro (BM)

Sinh học và sinh thái: Mọc bên lề đường của các sườn dốc, sườn đồi, rừng, ở

độ cao 300-3000 m; có khi mọc rải rác ở các đồng cỏ trên những bãi đất hoang hay

ở các vùng đệm của hệ sinh thái trên núi cao, giữa độ cao 1100-1500 m Ra hoa tháng 9-10

Phân bố: Lào Cai (Sa Pa - đỉnh Fan Si Pan); Lâm Đồng (Lạc Dương - Bì Đúp

- Núi Bà, Đà Lạt - Lang Bian) Còn có ở miền Nam Trung Quốc; Đài Trung - Đài Loan; Bắc Thái Lan; Bhutan; Đông-Bắc Ấn Độ; Myanmar và Lào

Mẫu nghiên cứu: LÂM ĐỒNG (Lạc Dương - Bì Đúp - Núi Bà), Bach

2503201201 (HN) Ảnh chụp mẫu Pierre 83 (P)

Giá trị sử dụng: Làm thuốc Bộ phận dùng: Toàn cây

- Tính vị: Vị đắng, tính hàn; Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm

- Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Dùng trị: + Ðau cổ họng;

+ Viêm gan, lỵ;

+ Viêm ruột thừa;

+ Bạch đới, đái ra máu; dùng 6-15g dạng thuốc sắc

Dùng ngoài da trị viêm mủ da, nhọt độc và viêm hạch bạch huyết thể lao, giã cây tươi đắp [7-10]

Trang 19

Hình 9 Gentiana loureiroi (G Don) Griseb

1 Dạng sống; 2 Lá; 3 Hoa mở; 4 Đài mở;

5 Thùy tràng và phần tự do của nếp gấp gian thùy;

6 Nhụy; 7,8 Quả non; 9 Quả chín, vòi nhụy còn tồn tại

(Hình vẽ theo Hul Sovanmoly, 2003)

Trang 20

3

Ảnh 1 Gentiana loureiroi (G Don) Griseb

1,2 Dạng sống; 3 Thùy tràng và phần tự do của nếp gấp gian thùy;

4 Lá; 5 Hoa và quả non; 6 Quả khi chín vượt hoàn toàn ra khỏi

ống tràng còn tồn tại (ảnh: T.T Bách, 2012, Lâm Đồng)

Trang 21

3.4.2 Gentiana rhodantha Franch – Long đởm tua

Franch in Forbes F & Hemsl 1890 J Linn Soc Bot 26: 133; Kusnez

1896-1904 Acta Hort Petrop 15: 251; Forrest 1907 Not Bot Gard Edinb 4: 70; Lévl 1914-1915 Fl Kouy-Tcheou: 172; id 1916 Cat Pl Yunnan: 114; Hand.-Mazz

1936 Symb Sin 7: 951; Ho, T.N 1988 Fl Reipubl Popul Sin 62: 24; Ho T.N & Pringle J.S in Wu Z.Y & Raven P.H (eds.), 1995 Fl China, 16: 61

– Gentiana jankae Kanitz, 1891 Pl exped Szechenyi in As centr coll.: 41

– Gentiana rhodantha Franch var wilsonii Marquand, 1928 Bull Misc Inform

Kew.: 55

Cỏ nhiều năm, cao (20-)28-52 cm, với một thân rễ ngắn Thân chính thường dựng đứng; cành bên bò lan mặt đất, có đường kính 1-1,5 mm; thân chính và cành bên có gờ nổi, không có lông Lá gần gốc héo đi vào thời kì ra hoa, cuống dài 3,5-8 mm; phiến hình bầu dục, hình trứng hay hình trứng ngược, kích thước 2-4 x 0,7-2 cm; chóp nhọn; mép có khía răng cưa, không có lông; gốc kéo dài Những lá khác mọc đối, dính nhau; có phiến hình trứng - hình tam giác, hình trứng rộng hay hình tim, kích thước 1,2-2,5 x 0,5-1,5 cm; chóp nhọn; mép có khía răng cưa, không có lông; gốc tròn tới hình tim; mặt dưới có lông măng; gân gốc 3-5 Hoa mọc đơn độc

ở đỉnh cành hay nách lá Hoa mẫu 5, không cuống Lá bắc 2, dạng lá, hình trứng - hình tam giác, kích thước 0,7-1,5 x 0,4-1 cm, chóp nhọn, mép có khía hình răng cưa, gốc gần tròn tới hình tim; gân gốc 3-5 Đài hợp, ống hình nón ngược hẹp, dài 0,8-1,2 cm, có 5 gờ nổi; thùy 5, đều, hình đường - hình mác, dài 5-7 mm, chóp nhọn, mép có lông ngắn, gân nhô lên ở mặt lưng và men xuống ống đài tạo thành 5

gờ nổi Tràng hợp; ống hình phễu, màu tía nhạt điểm những đường sọc đen, dài 4,5 cm; thùy 5, hình trứng tới hình trứng - hình tam giác, dài 5-8 mm, chóp nhọn tới

2,5-tù, mép nguyên; phần tự do của nếp gấp gian thùy hình tam giác rộng, dài 4-5 mm, đỉnh có tua Nhị 5, không đều; chỉ nhị dài 8-12 mm, đính gần gốc của ống tràng; bao phấn hình bầu dục hẹp, dài 2,5-3 mm Bầu 1 ô, hình bầu dục; vòi nhụy dài 6-8 mm; đầu nhụy xẻ 2 thùy dài, cong xuống Quả nang, khi chín nằm trọn trong ống tràng còn tồn tại, hình bầu dục, dài 2-2,5 cm, không có viền mép, vòi nhụy còn tồn

Trang 22

tại, cuống dài 3,5-5 mm Hạt màu nâu nhạt, hình bầu dục tới gần hình cầu, kích thước 0,6-1 x 0,5 mm, có cánh rộng (Hình 10, ảnh 2)

Loc Class.: China (Tapintze - NW Yunnan)

Lectotypus: Delavay 1869 (P; iso- BM, K, UPS)

Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác ở các đồng cỏ, tầng cây bụi trên núi đá vôi

hay trong rừng nguyên sinh, giữa độ cao 500-2000 m Ra hoa tháng 11-12, quả chín tháng 1-2

Phân bố: Hà Giang (Đồng Văn) Ngoài ra, còn có ở Trung Quốc

Mẫu nghiên cứu: HÀ GIANG (huyện Đồng Văn, xã Phố Là - cách thị trấn

Phó Bảng 2-3 km), Bân-Biên-Hiệp-Khôi 19 (HN)

Giá trị sử dụng:

- Toàn bộ cây được sử dụng làm thuốc dân gian trị viêm túi mật và bệnh lao

- Người ta còn tách chiết được từ loài này ra 6 hợp chất Iridoidal glucosides mới [55]

Ghi chú: Gần đây, Ho T.N & Liu S.W (2002) đã xếp loài này vào 1 chi mới: Metagentiana T.N Ho với tên: Metagentiana rhodantha (Franch.) T.N Ho & S.W

Liu, Bot Bull Acad Sin 43(1): 89; tuy vậy hiện còn nhiều tranh cãi

Trang 23

Hình 10 Gentiana rhodantha Franch in Forbes F & Hemsl

1 Cành bên mang hoa đơn độc ở đỉnh và nách lá; 2 Hoa mở;

3 Đài mở; 4 Phần tự do của nếp gấp với đỉnh có tua;

5 Hạt với cánh rộng (Hình vẽ theo Ho, T.N 1988)

Trang 24

3 4

Ảnh 2 Gentiana rhodantha Franch in Forbes F & Hemsl

1 Cành bên mang hoa ở đỉnh và nách lá; 2 Cặp lá bắc; 3 Gờ nổi trên thân;

4 Hoa; 5-6 Lá (Mặt trên và dưới); 7 Đài mở; 8 Tràng mở và bộ nhị; 9 Quả;

10 Hạt (ảnh: K.V Quyết, 2012, chụp từ mẫu Bân-Biên-Hiệp-Khôi 19 (HN))

Trang 25

3.4.3 Gentiana primulaeflora Franch – Long đởm anh thảo

Franch 1884 Bull Soc Bot France, 31: 375; Forbes F & Hemsl 1890 J Linn

Soc Bot 26: 132; Kusnez 1896-1904 Acad Hort Petrop 15: 253, “primuliflora”; Hand.-Mazz 1936 Symb Sin 7: 952, “primuliflora”; Ho, T.N 1988 Fl Reipubl Popul Sin 62: 154, “primuliflora”; Ho T.N & Pringle J.S in Wu Z.Y & Raven P.H (eds.), 1995 Fl China, 16: 62, “primuliflora”; Hul, 2003 Fl Camb Laos

Vietn 31: 30

Cỏ hàng năm, cao 5-20 cm Thân chính bò lan mặt đất hay dựng đứng, không

có lông; cành bên bò lan mặt đất, có ít lông tơ; thân chính và cành bên có 4 gờ nổi

Lá mọc đối, dính nhau, không cuống tới có cuống rất ngắn; mép có khía răng cưa,

không có lông; những lá gần gốc có phiến hình bầu dục, kích thước 8-12 x 2-4 mm, đỉnh tù, gân gốc 3; những lá khác có phiến hình trứng tới hình tim, kích thước 3-10

x 2-8 mm, đỉnh nhọn, gốc tròn tới hình tim, gân gốc 3-5 Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành hay nách lá Hoa mẫu 5, dài 10-18(-20) mm, không cuống hay có cuống ngắn, dài 0-1,5(-2,5) mm Lá bắc dạng lá, kích thước 4-5 x 2-3 mm, đỉnh nhọn Đài hợp; ống có 5 gờ nổi, dài 4,5-6,5 mm; thùy 5, đều, hình tam giác tới hình giùi, kích thước 1,5-2 x 0,5 mm, đỉnh nhọn, gân nhô lên ở mặt lưng và men xuống ống đài tạo thành

5 gờ nổi Tràng hợp; ống dài 7-14 mm, màu xanh nhạt hay xanh tím; thùy 5, hình tam giác, kích thước 4,5-5,5 x 2,5 mm, đỉnh nhọn, mép nguyên; phần tự do của nếp gấp gian thùy hình tam giác, kích thước 2,5-3 x 1-1,5 mm, đỉnh tù, mép không có tua mà có dạng răng cưa hay lượn sóng Nhị 5, đều hay không đều; chỉ nhị dài 5-8

mm, đính ở giữa ống tràng; bao phấn hình bầu dục, dài 1-2 mm Bầu 1 ô, hình bầu dục, có cuống dài 1,5-2 mm; vòi nhụy dài 4-5(-6) mm; đầu nhụy xẻ hai thùy dài Quả nang, khi chín nằm trọn trong ống tràng còn tồn tại, hình bầu dục, kích thước 8-12 x 2-3 mm, không có viền mép, vòi nhụy còn tồn tại, cuống dài 2 mm Hạt màu nâu, gần hình cầu hay hình trứng, kích thước 1 x 0,5-1 mm, không có cánh (Hình 11)

Loc class.: China (Mo-che-tchin - Yunnan)

Typus: Delavay 9 (P; iso- E, GH, K, UPS)

Trang 26

Sinh học và sinh thái: Mọc trên những đồng cỏ bên các sườn núi, hoặc trong

rừng, ở độ cao 1500-2000 m Ra hoa tháng 10-12

Phân bố: Lâm Đồng (Đà Lạt - thác Pren) Còn có ở Trung Quốc

Mẫu nghiên cứu: Loài này được Hul Sovanmoly (2003) [37] ghi nhận có ở

Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu chi Long đởm (Gentiana L.) ở Việt Nam,

chúng tôi chưa tìm thấy mẫu vật thuộc loài này Bản mô tả theo Ho T.N & Pringle J.S (1995) [34] và Hul Sovanmoly (2003) [37]

Ghi chú: Gần đây, Ho T.N & Liu S.W (2002) đã xếp loài này vào 1 chi mới

là: Metagentiana T.N Ho với tên là: Metagentiana primuliflora (Franch.) T.N Ho

& S.W Liu, Bot Bull Acad Sin 43(1): 89; tuy vậy hiện còn nhiều tranh cãi

Trang 27

Hình 11 Gentiana primulaeflora Franch

1 Cành bên mang hoa đơn độc ở đỉnh và nách lá; 2 Hoa; 3 Đài mở;

4 Hoa mở; 5 Thùy tràng và phần tự do của nếp gấp; 6 Nhụy; 7 Quả; 8 Hạt (Hình 1,4,8 theo Ho, T.N 1988; 2,3,5-7 theo Hul Sovanmoly, 2003)

Trang 28

3.4.4 Gentiana cephalantha Franch – Long đởm đỉnh hoa

Franch in Forbes F & Hemsl 1890 J Linn Soc Bot 26: 125; Kusnez

1896-1904 Acta Hort Petrop 15: 274; Forrest, 1907 Not Bot Gard Edinb 4: 72; Lévl 1914-1915 Fl Kouy-tcheou: 171; id 1916 Cat Pl Yunnan: 113; Hand.-Mazz

1936 Symb Sin 7: 976; Merr 1942 J Arnold Arbor 23: 190; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 676; Ho T.N & Pringle J.S in Wu Z.Y & Raven P.H (eds.),

1995 Fl China, 16: 40; Hul, 2003 Fl Camb Laos Vietn 31: 32; N.T Ban, 2005 Check Pl Sp Vietn 3: 78

– Gentiana pseudocephalantha C Marquand ex Wilkie, 1936 Gentians: 163

– Gentiana rigescens var violacea Smith in Hand.-Mazz 1936 Symb Sin 7: 976 – Gentianodes cephalantha (Franch.) Á & D Löve, 1972 Bot Not 125: 256 – Long đởm hoa đầu

Cỏ lâu năm, có khi là cây bụi nhỏ, cao (10-)20-50 cm Thân nhẵn, ít nhiều hóa gỗ; thân chính thường ngắn, không mang hoa; cành bên phân từ gốc, tạo hình hoa thị, mang hoa, thường nằm ngang và hướng lên Lá trên thân có 4-10 cặp, to dần về phía đỉnh, mọc đối, dính nhau; ở đỉnh thân lá mọc thành túm Lá có cuống dài 5-15(-20) mm; phiến dày, hình bầu dục hay hình bầu dục - hình trứng ngược, có khi hình thìa, không lông; kích thước (1,5-)5-12 x 0,5-2,5 cm; đỉnh nhọn tới tù; mép hơi cong xuống; gốc kéo dài; gân gốc 1-3 Cụm hoa dạng chùm ở đỉnh hay nách lá; mỗi cụm khoảng (4-)5-12(-15) hoa Hoa mẫu 5, dài 3-3,5 cm, không cuống tới có cuống ngắn, dài 0-1(-1,5) mm Lá bắc và lá bắc con dạng lá, kích thước 2-3(-4) x 0,5(-1,5)

cm, đỉnh nhọn Đài hợp; ống hình nón ngược, dài 10-12 mm; thùy 5, rất không đều:

3 thùy nhỏ, hình mác hẹp tới hình đường, kích thước 2,5-5,5 x 1-1,5 mm và 2 thùy lớn, hình trứng hay hình thìa, kích thước 5-10 x 2-2,5 mm Tràng hợp; ống hình ống

- hình chuông tới hình phễu, màu lam, dài 2,5-3 cm; thùy 5, hình tam giác, kích thước 4-5 x 3-4 mm, mép nguyên, đỉnh nhọn; phần tự do của nếp gấp gian thùy hình tam giác lệch, kích thước 1,5-2 x 3-3,5 mm, mép nguyên Nhị 5, đều; chỉ nhị dài 3-15 mm, đính cách gốc ống tràng 5-12 mm; bao phấn hình bầu dục hay hình thuôn, dài 2-3 mm Bầu 1 ô, hình trứng - hình thuôn hay hình bầu dục; có cuống

dài 6-8 mm; vòi nhụy dài 2-3 mm; đầu nhụy chẻ 2 thùy hình đường Quả nang, khi

Trang 29

chín một phần quả vượt ra khỏi ống tràng còn tồn tại, hình bầu dục - hình thuôn, kích thước 10-15 x 3-4 mm, không có viền mép, vòi nhụy còn tồn tại, cuống dài 15-

20 mm Hạt nhiều, màu nâu nhạt, hình trứng hoặc gần hình cầu, kích thước 1 x 1) mm, có cánh và có khoanh rỗ dạng tổ ong (Hình 12, ảnh 3)

0,5(-Loc class.: China (Yunnan)

Typus: Delavay 141 (P; iso- K, P, E, S)

Sinh học và sinh thái: Cây mọc ở vùng núi cao 1700-2200 m trong lùm bụi,

nơi đất ẩm Ra hoa vào tháng 2-3

Phân bố: Lào Cai (Sa Pa - đỉnh Fan Si Pan; Văn Bàn; giữa Trịnh Tường &

Mường Hum) Còn có ở Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan

Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, Averyanov, P K Loc, D T Doan HAL 2425,

HAL 2555 (HN); Biên Đỏ Khôi 38 (HN); Đoàn điều tra thực vật Việt - Trung 2716 (HN); Pételot 1102 (HNU); S G Wu, H Peng, N T Do, L Nhat TV 285 (HN); Takhtajan 8331 (HN) Ảnh chụp các mẫu: Pételot 3666 (P), 8257(P); Poilane, E

17031 (P), 18823 (P)

Giá trị sử dụng:

- Ở Vân Nam - Trung Quốc rễ cây được dùng làm thuốc chữa viêm gan [8]

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Một vài dạng lá của chi Long đởm - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 1. Một vài dạng lá của chi Long đởm (Trang 11)
Hình 3. Cấu tạo hoa của chi Long đởm - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 3. Cấu tạo hoa của chi Long đởm (Trang 12)
Hình 4. Một số dạng đài của chi Long đởm - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 4. Một số dạng đài của chi Long đởm (Trang 13)
Hình 7. Một số dạng quả của chi Long đởm - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 7. Một số dạng quả của chi Long đởm (Trang 15)
Hình 9. Gentiana loureiroi (G. Don) Griseb. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 9. Gentiana loureiroi (G. Don) Griseb (Trang 19)
Hình 10. Gentiana rhodantha Franch. in Forbes F. & Hemsl. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 10. Gentiana rhodantha Franch. in Forbes F. & Hemsl (Trang 23)
Hình 11. Gentiana primulaeflora Franch. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 11. Gentiana primulaeflora Franch (Trang 27)
Hình 12. Gentiana cephalantha Franch. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 12. Gentiana cephalantha Franch (Trang 30)
Hình 13. Gentiana rigescens Franch. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 13. Gentiana rigescens Franch (Trang 34)
Hình 14. Gentiana hesseliana Hoss. - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 14. Gentiana hesseliana Hoss (Trang 37)
Hình 15. Gentiana langbianensis A. Chev. ex Hul - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 15. Gentiana langbianensis A. Chev. ex Hul (Trang 40)
Hình 16. Gentiana jouyana Hul - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 16. Gentiana jouyana Hul (Trang 44)
Hình 18. Gentiana tonkinensis Hul - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 18. Gentiana tonkinensis Hul (Trang 51)
Hình 19. Gentiana moniliformis C. Marquand - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 19. Gentiana moniliformis C. Marquand (Trang 54)
Hình 20. Gentiana lowryi Hul - Bước đầu nghên cứu phân loại chi long đởm (gentianan l  1753) ở việt nam
Hình 20. Gentiana lowryi Hul (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w