1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận

41 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần cho việc bảo vệ và lợi dụng chúng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng, giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, duy trì tính đa dạng, sự cân bằng trong các hệ sinh t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bộ nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có

tính đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và phổ biến nhất Các nhà khoa học đã tìm thấy hoá thạch nhện 300 triệu năm tại Bắc Mỹ Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công viên, bụi cây, ven sông, ven suối, Nhện không chỉ đa dạng về số loài mà còn chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp Trên thế giới đã xác định được 38.998 loài, 3.607 giống thuộc 110 họ nhện khác nhau (Platnick, 2005) [19]

Các loài nhện lớn góp phần tích cực vào việc hạn chế sự phát triển của côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp Con mồi của nhện là nhiều loài côn trùng và sâu hại như rệp, rầy các loại, ruồi đục quả, bọ nhảy, sâu non

và trưởng thành các loài thuộc bộ cánh vảy, (Song và Zhu, 1999) [21]

Hầu hết các nước trên thế giới đã công bố nhiều công trình nghiên cứu

về nhện có tầm quan trọng đặc biệt cho khoa học và thực tiễn Các nghiên cứu

cơ bản về khu hệ nhện của mỗi nước đã và đang được hoàn thiện, chuyển sang nghiên cứu ở các lĩnh vực sâu hơn (nghiên cứu nọc độc, nghiên cứu tơ nhện ở cấp độ phân tử, )

Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá là có mức đa dạng sinh học cao, nhưng chưa được tập trung nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có một

số công trình nghiên cứu về nhện Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên một số cây trồng nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn vải Trong danh sách

275 loài đã được ghi nhận ở Việt Nam hiện nay, có 68 loài mới cho khoa học

Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc

Trang 2

đánh giá chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu Sự đa dạng và đặc điểm sinh thái học của nhện ở Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh chưa được tác

giả nào nghiên cứu Nhằm góp phần cho việc bảo vệ và lợi dụng chúng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng, giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, duy trì tính đa dạng, sự cân bằng trong các hệ sinh thái và bảo vệ môi trường ở khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói chung, chúng tôi

thực hiện đề tài “Nghiên cứu về thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (Araneae) tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và phụ cận”

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập mẫu vật nhện tại một số sinh cảnh điểnhình của khu vực nghiên cứu

- Phân tích mẫu vật thu thập được trong phòng thí nghiệm

- Xử lý số liệu

Trang 3

3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần và số lượng các loài nhện tại Trạm đa

dạng Sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc và phụ cận

- Xác định sự phân bố và thích nghi của nhện tại các sinh cảnh ở vùng nghiên cứu

- Xác định kích thước quần thể của các loài nhện và các loài ưu thế tại

điểm nghiên cứu

4 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lí luận: Góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu nghiên cứu

thành phần và phân bố nhện ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần khôi phục và bảo vệ tính đa dạng sinh

học

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát về nhện

Tên khoa học: Araneae Tên tiếng Anh: Spider Tên Việt Nam: Nhện

Bộ nhện Araneae thuộc lớp hình nhện Arachnida, ngành động vật chân

đốt Arthropoda Theo Platnick (2005) [19], bộ nhện chiếm ưu thế về số loài

và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện (11 bộ bao gồm: Acari, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Sconpioides, Solifugae, Thelyphonida)

Các nhà khoa học đã tìm thấy nhện hoá thạch trong lớp than đá của kỷ Các bon 300 triệu năm tại Bắc Mỹ (Davies, 1986) [15]

Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid

và Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei Đến năm 1801, Latreille đưa ra tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là Araneida Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick, 2005) [19]

Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng Phần

giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực và tấm bụng ngực Phía trên đầu của giáp đầu ngực có miệng và 1 đôi chân kìm, bên cạnh chân kìm là 1 đôi chân xúc giác Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường có 8 mắt đơn Bộ phận sinh dục con cái nằm ở phần giữa mặt dưới của bụng Cuối bụng có 1

đến 4 đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ) Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực Nhện đực và nhện cái phân biệt với nhau qua đốt ngoài cùng của đôi chân xúc giác (đốt này gọi là xúc biện) Xúc biện nhện đực phình rất to ở

Trang 5

đầu, chân xúc giác nhện cái thuôn dài Nhện phát triển qua các giai đoạn:

trứng - nhện non - nhện trưởng thành

Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản nhất sử dụng trong phân loại là xúc biện của con đực (đốt ngoài cùng của chân xúc giác) và bộ phận sinh dục của con cái

1.2.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới

Nhận thức rõ tầm quan trọng của các loài nhện trong khoa học và thực

tiễn đời sống, năm 1999 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế

(International Society of Arachnology) đã được thành lập với sự tham gia của

hơn 600 nhà khoa học từ 60 nước khác nhau trên toàn thế giới Từ sau hội nghị nhện quốc tế lần thứ XV năm 2001, nghiên cứu về nhện đã thực sự trở

thành một môn khoa học (Arachnology - Nhện học)

1.2.1 Về thành phần loài nhện

Theo thống kê của Platnick (2005) [19], trên thế giới đã ghi nhận được 38.998 loài thuộc 3.607 giống của 110 họ nhện Tác giả đã tổng hợp tất cả các công bố về khu hệ nhện của các nước trên toàn thế giới, bắt đầu từ công trình của Clerck năm 1757

Những phát hiện về thành phần loài nhện cho thấy số lượng loài của chúng tương đối lớn Chúng phân bố khắp mọi nơi: trong nhà, ngoài cánh

đồng, trong vườn cây, trong rừng, cây cỏ cây bụi, trong hang thậm chí cả ở

dưới nước (Song và Zhu, 1999) [21]

Murphy & Murphy (2000) [18] đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: In đô nê xi a (660 loài), Ma lai xi a (463 loài), My an ma (455 loài), Phi líp pin (426 loài), Sing ga po (308 loài), Thái Lan (156 loài), Việt Nam (230 loài) Theo tác giả, khu hệ nhện của

Trang 6

3 nước thuộc khu vực này bao gồm Brunei, Căm pu chia và Lào chưa được nghiên cứu

Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798 Năm 1999,

Song và Zhu [21] đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện

đã ghi nhận được ở nước này

Tác giả Davies (1986) [15] đã nghiên cứu và xây dựng khoá định loại tới họ của bộ nhện và khoá định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới đã ghi nhận được tại Ôxtrâylia

1.2.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

Theo Foelix (1996) [16] nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng, nhện non và nhện trưởng thành Giai đoạn nhện non có thể đạt tới 15 tuổi Về kích thước cơ thể thì nhện cái luôn luôn lớn hơn nhện đực Hầu hết con đực bị chết sau khi giao phối Vòng đời của nhện có thời gian phát dục khác nhau tuỳ từng loài Sinh trưởng của nhện non phải qua các lần lột xác Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực

Thức ăn chính của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí chúng

có thể ăn thịt lẫn nhau Các loài nhện chăng tơ bắt mồi theo kiểu thụ động, chờ con mồi dính vào lưới rồi nhện băng ra tiêm nọc độc vào con mồi cho tê liệt trước khi ăn

Các nghiên cứu về sự xuất hiện của nhện trong năm chỉ ra rằng nhện trong vườn cây ăn quả trú ẩn qua đông trên các cây trồng như táo, lê, vải, bưởi (Schaefer, 1987) [20]

Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ Bản chất của tơ nhện

là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino acid đặc biệt, nên tơ nhện có độ bền vững cao và được sử dụng trong sản xuất

áo quân sự và kính chống đạn So sánh các vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo thì tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và sự dẻo dai gấp 2 đến 3

Trang 7

lần xenlulo, cao su, xương, gân và bằng 1/2 độ bền của sắt thép Vải sản xuất

từ tơ nhện cũng như tơ tằm để thay thế một số loại vải từ sợi hoá học gây ô nhiễm môi trường (Foelix, 1996) [16]

1.3.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam

1.3.1 Về thành phần loài nhện

Những loài nhện đầu tiên có ở Việt Nam được biết đến qua các công trình của Simon (1886, 1896, 1903, 1904, 1906, 1908) và Hogg (1922) Tất cả các loài nhện (bao gồm 20 loài) được phát hiện ở Việt Nam bởi 2 tác giả trên

đều là loài mới cho khoa học (Zabka, 1985) [22]

Zabka (1985) [22] đã công bố kết quả chuyến khảo sát của mình về phân loại và phân bố của họ nhện nhảy Salticidae ở Việt Nam Tác giả đã ghi nhận

được 100 loài nhện nhảy, trong đó có 51 loài và 8 giống mới cho khoa học

Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn và Zabka (2004) [8] đã cho công bố danh sách và phân bố của 108 loài nhện nhảy họ Salticidae ở Việt Nam

Phạm Đình Sắc và những người khác (2005) [9] đã bổ sung thêm 5 loài nhện nhảy cho khu hệ nhện Việt Nam

Đã có nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu nhện trên cánh đồng lúa ở Việt Nam Bùi Hải Sơn (1995) [10] đã ghi nhận được 34 loài nhện

trên lúa vùng ngoại thành Hà Nội Theo Phạm Văn Lầm và những người khác (2002) [3], cho đến nay đã thu thập và xác định được 52 loài nhện trên đồng lúa ở Việt Nam

Nghiên cứu nhện trên đậu tương vùng Hà Nội, Trần Đình Chiến (2002) [1] đã ghi nhận được 18 loài thuộc 8 họ nhện Trên cánh đồng đậu tương vụ

hè thu tại Hà Tây, Trương Xuân Lam (1998) [2] cũng phát hiện được 18 loài Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long (2001) [7] đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ nhện

Trang 8

Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã

được công bố Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn (2002) [5] đã ghi nhận được

29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh - Vĩnh Phúc

Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam rất ít được nghiên cứu Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên - Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [6] Kết quả thống kê từ tất cả các công trình đã công bố cho thấy hiện nay Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của 30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005) [4]

1.3.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện

Các nghiên cứu về sinh học sinh thái của nhện ở Việt Nam còn rất ít Cho đến nay, 2 loài được nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh thái bao gồm

nhện sói Pardosa pseudoannulata và nhện linh miêu Oxyopes javanus Kết quả nghiên cứu của Bùi Hải Sơn (1995) [10] cho thấy: loài nhện Pardosa pseudoannulata giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non

đực từ 76,2 - 155,7 ngày, của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của

nhện từ 122,9 - 219 ngày Loài nhện Oxyopes javanus giai đoạn con non có 9

tuổi; thời gian phát dục của nhện non đực từ 152,9 - 204,0 ngày, của nhện non cái từ 159,6 - 223,7 ngày; vòng đời của nhện từ 185,0 - 238,5 ngày Nhện

Pardosa pseudonnulata có khả năng ăn 9,4 - 22,5 con rầy nâu trong một ngày, nhện Oxyopes javanus có khả năng ăn 0,32 - 0,48 sâu non cuốn lá nhỏ

trong một ngày

Trang 9

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tất cả các loài thuộc bộ nhện (Araneae), lớp

hình nhện (Arachnida), ngành chân đốt (Arthropoda)

2.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 8/2012 đến 11/2012: thu thập và định loại mẫu vật, nghiên cứu

sinh học sinh thái ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm

- Từ 12/2012 đến 1/2013: tiếp tục công tác định loại mẫu vật

- Từ 2/2013 đến 3/2013: so sánh với mẫu vật tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại khu vực Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh -

Vĩnh Phúc bao gồm Trạm đa dạng Sinh học và khu vực phụ cận

Năm sinh cảnh được chọn để nghiên cứu là:

+ Sinh cảnh rừng thứ sinh

+ Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi

+ Sinh cảnh rừng trồng (cây keo tai tượng, cây bạch đàn)

+ Sinh cảnh vườn đồi (trồng cây vải thiều và cây chè)

+ Sinh cảnh ven suối

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

Thu nhện hoạt động trên cây: dùng tấm nilon (1,2 x 1,2)m hứng dưới tán lá và đập mạnh vào tán lá, nhện sẽ rơi xuống Kết hợp dùng vợt côn trùng

và bắt bằng tay

Trang 10

Thu nhện hoạt động trên mặt đất: theo phương pháp của Curtis (1980) [14] và Millar (2000) [17], dùng bẫy bằng các ly nhựa (kích thước 8 x 12)cm chôn ngập xuống đất sao cho bề mặt ly nhựa bằng với mặt đất, trong ly nhựa cho 100 ml dung dịch hỗn hợp cồn 700 và 5% Formalin Các ly nhựa đặt cách nhau 1,2 mét; sử dụng các tấm nhựa cứng để hướng nhện bò vào bẫy (xem hình 2.1) Bẫy được đặt ở 5 sinh cảnh, mỗi sinh cảnh chọn 2 điểm, mỗi điểm

đặt 12 ly nhựa

Hình 2.1 Bẫy hố

Thu nhện thuộc nhóm chăng tơ: bắt trực tiếp trên tơ bằng tay

2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Mẫu nhện thu thập tại điểm nghiên cứu bảo quản trong cồn 70%, lưu trữ tại phòng Sinh thái Môi trường đất tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Trang 11

Mẫu vật được phân tích dưới kính hiển vi điện tử

Mẫu vật được định loại và kiểm tra tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Định loại nhện theo các tài liệu Zabka (1985) [22]; Davies (1986) [15]; Song và cộng sự (1999) [21].Chỉ các mẫu nhện trưởng thành được sử dụng để

định loại, bởi vì việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và

loài là rất khó

2.4.3 Xử lí và phân tích số liệu

- Số liệu được xử lí dựa trên chương trình phần mềm PRIMER5 Các

biểu đồ được vẽ bằng phần mềm Excel 5.0

2.5 Một vài nét khái quát về Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc

Theo tài liệu của UBNN xã Ngọc Thanh (2004) [12] và báo cáo khoa học của Lê Đồng Tấn (2003) [11], khu vực Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh- Vĩnh Phúc có một số đặc điểm sau:

2.5.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

2.5.1.1.Vị trí địa lí

Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của hợp tác xã

Đồng Trầm, thuộc xã Ngọc Thanh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Cách thị

xã Phúc Yên 35km, cách hồ Đại Lải khoảng 12km về phía Bắc Khu vực trạm

ở phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái, phía Đông giáp Hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh huyện Mê Linh, phía Tây giáp vùng ngoại vi

Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo

Diện tích tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh- Vĩnh Phúc khoảng 170,3 ha, chiều dài khoảng 3.000m, chiều rộng từ 300-800m Độ cao từ 50-520m so với mặt nước biển

Trang 12

2.5.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Địa hình: Khu vực Trạm thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê

Linh Đây là phần kéo dài về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình

đồi núi thấp với xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, điểm cao nhất huộc

đỉnh núi Đá Trắng cao 520m Địa hình phần lớn là đất dốc (độ dốc trung bình

15-300), các bãi bằng rất ít, rải rác vài ba bãi nhỏ dọc ven suối vùng ranh giới phía Tây Đây là khu vực rừng đầu nguồn của một vài suối nhỏ chảy ra hồ

Đại Lải [12]

- Khí hậu, thời tiết

+ Là khu vực trong vùng khí hậu chung của đồng bằng Bắc bộ Nhiệt độ trung bình năm là 22 đến 230C Tháng có nhiệt độ cao từ tháng 6 đến tháng 8

và lạnh vào tháng 12 và tháng 1 [12]

+ Lượng mưa trung bình 1358,7 mm/năm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% lượng mưa cả năm Mưa tập trung vào các tháng 6,7,8,9 Cao nhất là vào tháng 8 Số ngày mưa khá nhiều 142 ngày/năm Độ

ẩm trung bình 84%, thấp vào tháng 2 dưới 80% [12]

+ Có 2 mùa gió thổi: gió mùa Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 3 năm sau) và gió Đông Nam (tháng 4 đến tháng 9 trong năm) [12]

- Thổ nhưỡng: Có hai loại đất chính, đó là đất feralit màu vàng phát

triển trên đá sa thạch cuội kết hoặc dăm kết và đất ferarit vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch Đất thuộc loại chua, pH=5-5,5; thành phần cơ giới trung

Trang 13

gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải Ngoài ra còn có một số suối cạn ngắn chỉ có nước sau những trận mưa

2.5.2 Tài nguyên ĐV và TV tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh,

Vĩnh Phúc và những khu vực lân cận

- Nhóm cây nông nghiệp: Về sản xuất nông nghiệp, cây chè và cây vải

thiều được trồng phổ biến ở khu vực lân cận Trạm đa dạng Sinh học Hiện nay cây chè từng bước được phát triển tại đây, diện tích trồng chè đã lên tới gần 50 ha Cây chè cũng được trồng rải rác trong địa phận của Trạm đa dạng

Sinh học

- Hệ thực vật: Trạm Đa dạng sinh học Mê linh hiện có 166 họ thực vật

với 651 chi và 1129 loài Có thể nói rằng thảm thực vật nguyên sinh ỏ Trạm

Đa dạng sinh học Mê Linh đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là các

trạng thái rừng thứ sinh và rừng trồng [11]

- Khu hệ động vật: Theo kết quả điều tra năm 2003 đã xác định thành

phần phân loại học của 5 lớp: thú (13 loài), chim (109 loài), bò sát (14 loài),

ếch nhái (13 loài), côn trùng (25 bộ, 99 họ, 461 loài) [11]

Trang 14

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần và số lượng các loài nhện đã gặp ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh

3.1.1 Thành phần loài nhện

Trong tổng số 2448 cá thể nhện đã bắt gặp và thu được tại điểm nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 69 loài nhện thuộc 12 họ (bảng 3.1)

Bảng 3.1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp

ở Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh và phụ cận

STT Tên khoa học Số lượng cá thể nhện thu được và

bắt gặp ở các sinh cảnh nghiên cứu

Tổng

số

Tỷ lệ cá thể của một loài trên tổng

số các loài nhện (%)

Rừng thứ sinh

Rừng trồng

Trảng

cỏ, cây bụi

Trang 15

10 Hypsosinga alboria Yin et

Trang 17

52 Siler lii Peng ,1886 2 4 6 0,24

Trang 18

Trong số 69 loài đã xác định được tại điểm nghiên cứu có 6 loài lần đầu

tiên ghi nhận cho khu hệ nhện Việt Nam bao gồm Agelena sublimbata (Họ nhện lưới phễu, Agelenidae), Eriovixia laglaizei, Hypsosinga alboria (Họ nhện bụng tròn chăng lưới, Araneidae), Macrothele holsti (Họ nhện lưới phễu nhỏ, Hexathelidae), Oxyopes birmanicus (Họ nhện linh miêu, Oxyopidae), Oxytate virens (Họ nhện càng cua, Thomicidae) Như vậy, số loài nhện đã ghi

nhận được ở Việt Nam hiện nay là 281 loài, bổ sung vào danh sách 275 loài

đã được công bố (Phạm Đình Sắc, 2005) [9]

Tổng số lượng cá thể nhện thu được và bắt gặp ở các sinh cảnh nghiên cứu là 2448 cá thể.Trong 5 sinh cảnh thì số lượng cá thể nhện thu được và bắt gặp ở sinh cảnh vườn đồi là nhiều nhất với 1305 cá thể, tiếp đến là sinh cảnh rừng trồng với 331 cá thể, rồi tới sinh cảnh rừng thứ sinh với 312 cá thể, sau

đó là sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi với 295 cá thể và cuối cùng là sinh cảnh ven

suối là ít nhất với 205 cá thể

3.1.2 Số loài và số lượng cá thể của các họ nhện bắt gặp

Trong số 12 họ nhện đã xác định được thì họ có số loài nhiều nhất là họ nhện nhảy Salticidae (20 loài, chiếm 28,98 %), tiếp đến là họ nhện bụng tròn chăng lưới Araneidae (16 loài, chiếm 23,18 %) Hai họ nhện này chiếm ưu thế

về số lượng loài tại điểm nghiên cứu Họ nhện hàm dài Tetragnathidae có 8 loài chiếm 11,59 % Họ nhện sói Lycosidae có 6 loài chiếm 8,7 % Họ nhện càng cua Thomicidae có 5 loài chiếm 7,25 % Họ nhện cuốn tổ Clubionidae,

họ nhện lùn Linyphiidae và họ nhện linh miêu Oxyopidae, mỗi họ có 3 loài chiếm 4,35 % Ba họ có số loài ít nhất, mỗi họ (1 loài) chiếm 1,45 % bao gồm

họ nhện lưới phễu Agelenidae, họ nhện lưới phễu nhỏ Hexathelidae và họ nhện cá Pisauridae (bảng 3.2)

Trang 19

Bảng 3.2 Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp

tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh và phụ cận

Trang 20

Hexathelidae (9,07 %), họ nhện Pisauridae (7,52 %) Các họ còn lại có số lượng cá thể nhện bắt gặp rất ít

3.1.3 Các loài nhện chiếm ưu thế về số lượng cá thể bắt gặp

Trong tổng số 69 loài nhện bắt gặp ở khu vực Trạm đa dạng Sinh học

Mê Linh, 5 loài được chúng tôi ghi nhận là phổ biến, có số lượng cá thể bắt gặp cao (bắt gặp trên 100 cá thể / 1 loài), kết quả ở bảng 3.3

Chiếm ưu thế về số lượng cá thể bắt gặp tại điểm nghiên cứu là loài

nhện lưới phễu Agelena sublimbata (chiếm 32,03 % tổng số cá thể nhện bắt

gặp) và loài nhện nhảy vằn xám Phintella versicolor (chiếm 20,34 % tổng số

cá thể nhện bắt gặp) Tiếp đến là 3 loài có số lượng cá thể bắt gặp tương đối

cao bao gồm: Macrothele holsti (chiếm 9,07 % tổng số cá thể nhện bắt gặp), Dolomes albocinctus (chiếm 7,51 % tổng số cá thể nhện bắt gặp), Nephila maculata (chiếm 6,62 % tổng số cá thể nhện bắt gặp) Các loài còn lại chiếm

tỷ lệ rất thấp (bao gồm 64 loài, mỗi loài trung bình chiếm tỷ lệ 0,38 % tổng số

cá thể)

Bảng 3.3 Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng

cá thể nhện bắt gặp tại Trạm đa dạng Sinh học Mê Linh và phụ cận

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đình Chiến (2002), Nghiên cứu côn trùng, nhện lớn bắt mồi sâu hại đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận, đặc tính sinh học của bọ chân chạy Chlaenius bioculatus Chaudoir và bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fabr.Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chlaenius bioculatus "Chaudoir và bọ rùa "Menochilus sexmaculatus
Tác giả: Trần Đình Chiến
Năm: 2002
6. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn (2005), Loài nhện độc Ornithoctonus huwena (Araneae: Theraphosidae ) mới phát hiện ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 31, số 4 (đang in) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ornithoctonus huwena
Tác giả: Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn
Năm: 2005
2. Trương Xuân Lam (1998),Thành phần côn trùng ăn thịt và nhện bắt mồi, một số đặc điểm sinh thái của một số loài quan trọng trên cây đậu tương vụ hè thu tại Hà Tây. Luận văn Thạc sĩ khoa học Sinh học Khác
3. Phạm Văn Lầm (2002), Kết quả thu thập và định danh nhện lớn trên ruộng ở Việt Nam. Kỷ yếu hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4. Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr.255-260 Khác
4. Phạm Đình Sắc (2005), Danh sách các loài nhện (Arachnida: Araneae) đã ghi nhận được ở Việt Nam. Tuyển tập báo cáo hội thảo Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (đang in) Khác
5. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn (2002), Một số kết quả nghiên cứu nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên nhãn vải vùng Mê Linh-Vĩnh Phúc. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 4. Nhà xuất bản Nông nghiệp,tr. 406-410 Khác
7. Phạm Đình Sắc, Khuất Đăng Long, 2001. Nghiên cứu thành phần và vai trò của nhện lớn bắt mồi trên đậu tương. Tạp chí Bảo vệ Thực vật, số 6/2001 (180), tr. 3-7 Khác
8. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, Marek Zabka (2004), Danh sách bước đầu về các loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, tập 26, số 3A, tr.48-56 Khác
9. Phạm Đình Sắc, Vũ Quang Côn, Shuqiang Li, Xiang Xu (2005),Bổ sung năm loài nhện nhảy (Araneae: Salticidae) ở Việt Nam. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 5. Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr.205-207 Khác
10. Bùi Hải Sơn (1995),Nghiên cứu Nhện lớn bắt mồi (Araneae) trên ruộng lúa vùng ngoại thành Hà nội. Luận án PTS khoa học nông nghiệp Khác
11. Lê Đồng Tấn (2003), Nghiên cứu phục hồi, bảo tồn và phát triển đa dạng thực vật (nguyên vị và chuyển vị) tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh- Vĩnh Phúc. Báo cáo đề tài cấp cơ sở 2003 Khác
12. UBND xã Ngọc Thanh (2004), Phương án di dân nội vùng năm 2004. 2.Tài liệu Tiếng Anh Khác
13. Coddington et all (1996), Estimating Spider species richness in a southern appalachian cove hardwood forest. The Journal of Arachnology 24, tr.111- 128 Khác
14. Curtis D.J.(1980), Pitfalls in spider community studies (Arachnida, Araneae). The Journal of Arachnology 8, tr.271-280 Khác
15. Davies, V.T.(1986), Australian Spider (Araneae). Honorary Associate. Queensland Museum, 37 pp Khác
16. Foelix R.F.(1996), Biology of Spider. Oxford University Press Georg Thieme verlag. New York, 330 pp Khác
17. Millar I.M.,Uys V.M., Urban R.,P.(2000), Collecting and Preserving Insects and Arachnids. Compiled by the Biosystematics Division, ARC- PPRI, South Africaá tr.25-97 Khác
18. Murphy F.M. and J.A. Murphy (2000), An introdution to the spiders of South East Asia, 625 pp Khác
19. Platnick N.I. (2005), The world spider Catalog, version 5.0. American Musium of Natural History. Đĩa CD Khác
20. Schaefer M.(1987), Life cycles and diapause, Ecophysiology of spiders. Springer-Verlag, tr.331-347 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bẫy hố - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình 2.1. Bẫy hố (Trang 10)
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện bắt gặp (Trang 14)
Bảng 3.2. Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.2. Số loài và số lượng cá thể thuộc các họ nhện bắt gặp (Trang 19)
Bảng 3.3. Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.3. Số lượng cá thể của các loài nhện phổ biến trong tổng số lượng (Trang 20)
Bảng 3.4. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các sinh cảnh nghiên cứu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.4. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các sinh cảnh nghiên cứu (Trang 21)
Hình 3.1. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các sinh cảnh khác nhau - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình 3.1. Số lượng cá thể nhện bắt gặp ở các sinh cảnh khác nhau (Trang 22)
Hình 3.2. Tương quan giữa số lượng loài nhện theo số cá thể bắt gặp - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình 3.2. Tương quan giữa số lượng loài nhện theo số cá thể bắt gặp (Trang 25)
Bảng 3.6. Số lượng loài nhện bắt gặp theo vị trí hoạt động - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.6. Số lượng loài nhện bắt gặp theo vị trí hoạt động (Trang 27)
Hình 3.3. Sự phân bố các loài nhện theo vị trí hoạt động tại 5 sinh cảnh - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình 3.3. Sự phân bố các loài nhện theo vị trí hoạt động tại 5 sinh cảnh (Trang 28)
Bảng 3.7. Số lượng loài nhện của các họ gặp tại năm sinh cảnh - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Bảng 3.7. Số lượng loài nhện của các họ gặp tại năm sinh cảnh (Trang 30)
Hình 3.4. Sự phân bố các loài nhện trong các họ - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình 3.4. Sự phân bố các loài nhện trong các họ (Trang 31)
Hình các họ nhện bắt gặp - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
Hình c ác họ nhện bắt gặp (Trang 40)
Hình ảnh thu mẫu và phân tích mẫu - Nghiên cứu sự biến động thành phần, sự phân bố và thích nghi của các loài nhện (araneae) tại trạm đa dạng sinh học mê linh, tỉnh vĩnh phúc và phụ cận
nh ảnh thu mẫu và phân tích mẫu (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w