1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34

40 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 616,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh trưởng và năng suất hai giống ớt Redchilli và Pat34” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dướ

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với sự chỉ bảo tận tình của thầy Nguyễn Văn Đính – tiến sĩ Sinh học, người đã hướng dẫn và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu quý báu để hoàn thành khóa luận Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong tổ Sinh lý thực vật và các thầy, cô phụ trách phòng thí nghiệm, thư viện cùng những ý kiến đóng góp của các bạn sinh viên Khoa Sinh – KTNN trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này

Trong qua trình nghiên cứu khoa học chắc chắn để tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, ngày… tháng… năm 2012

Sinh viên

Bế Thị Phượng

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh trưởng và năng suất hai giống ớt Redchilli và Pat34” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Văn Đính Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Xuân Hòa, ngày… tháng… năm 2012

Sinh viên

Bế Thị Phượng

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Bảng 3.1: Chiều cao cây của 2 giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 1 Bảng 3.2: Chiều cao cây của 2 giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2 Bảng 3.3: Số cành cấp 1 của 2 giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 1 Bảng 3.4: Số cành cấp 1 của 2 giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2 Bảng 3.5: Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 1 Bảng 3.6: Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2 Bảng 3.7: Chiều dài quả của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 1 Bảng 3.8: Chiều dài quả của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN

Hình 3.1: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 1 đến chiều cao cây Hình 3.2: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 2 đến chiều cao cây Hình 3.3: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 1 đến số cành cấp 1 hai giống ớt Hình 3.4: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 2 đến số cành cấp 1 hai giống ớt Hình 3.5: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 1 đến số quả trên cây Hình 3.6: Ảnh hưởng chế phẩm Antonik phun lần 2 đến số quả trên cây Hình 3.7: Ảnh hưởng của chế phẩm Antonik phun lần 1 đến chiều dài quả Hình 3.8: Ảnh hưởng của chế phẩm Antonik phun lần 2 đến chiều dài

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

ĐC: đối chứng TN: thí nghiệm

* : là sự sai khác giữa TN và ĐC có ý nghĩa thống kê

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.Giá trị dinh dưỡng của cây ớt 3

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới và Việt Nam 4

1.3 Đặc điểm và tình hình nghiên cứu trên đối tượng cây ớt 5

1.3.1.Nguồn gốc, sự phân bố ớt trên thế giới và Việt Nam 5

1.3.2 Đặc điểm hình thái và phân loại cây ớt 6

1.3.3 Kĩ thuật làm đất, gieo trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh ở cây ớt 8

1.3.4 Tình hình nghiên cứu ớt trên thế giới và Việt Nam 9

1.4 Phân bón lá và các kết quả nghiên cứu về phân bón lá 10

1.4.1 Khái quát về phân bón lá và các nghiên cứu về phân bón lá 10

1.4.2 phân bón lá Antonik 1.8DD 13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 15

2.3 Xử lý số liệu thu được 16

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sự sinh trưởng của hai giống ớt 17 3.1.1 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến chiều cao của hai giống ớt 17

3.1.2 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến số cành cấp 1 của hai giống ớt 20 3.2 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến năng suất của hai giống ớt 23

3.2.1 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến số quả trên cây 23

3.2.2 Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến chiều dài của quả 27

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30

1 Kết luận 30

2 Kiến nghị 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ớt có tên khoa học là Capsicum annuum L là loại cây thuộc họ Cà (Solanaceae), chi Ớt (Capsicum L.) [3], có nguồn gốc từ Châu Mỹ, bắt nguồn

từ một số loài hoang dại, được thuần hóa và trồng ở Châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm, chỉ có 2 - 3 loài phân bố rộng rãi và phổ biến [5] Ớt là một loại gia vị có tác dụng làm tăng cảm giác ngon miệng Ngoài ra, hàm lượng vitamin B, C và một số chất có trong ớt đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, phòng chống một số bệnh [17]

Cây ớt phát triển tốt ở đất thịt nhẹ, đất pha cát dễ thoát nước, có khả năng chịu hạn cao, không chịu được úng, nhiệt độ sinh trưởng thích hợp từ 25-300C Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều tuy nhiên sự phân bố các yếu tố đó lại không đều trong năm và ở từng vụ trồng nên ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất của cây ớt Vì vậy, tùy từng vùng khác nhau mà tiến hành gieo trồng các vụ khác nhau Nhưng tựu trung lại có 2 vụ chính là vụ đông – xuân và vụ hè – thu [5]

Ở nước ta, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao Trong quá trình trồng ớt có nhiều yếu tố như đặc điểm di truyền của giống, yếu tố khí hậu, phân bón, chất kích thích tăng trưởng,…làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và năng suất của ớt Vì vậy để tăng năng suất cây trồng ngoài việc bón phân và tưới tiêu hợp lí thì bổ sung chất kích thích sinh trưởng là một việc làm hữu hiệu giúp tăng quá trình sinh trưởng và năng suất của cây Hiện nay các thuốc kích thích sinh trưởng được bán rất nhiều trên thị trường nhưng các

Trang 9

chế phẩm đó thật sự có tác dụng cho sinh trưởng và năng suất của cây hay không thì chưa có một công bố nào khẳng định tác dụng của nó Chính vì lí do trên tôi

đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Ảnh hưởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh trưởng và năng suất hai giống ớt Red chilli và Pat 34”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun kích thích ra lá đến sinh trưởng

và năng suất của một số giống ớt Trên cơ sở đó xác định giá trị của chế phẩm

phun kích thích ra lá hiện đang được bán trên thị trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phun thuốc kích thích ra lá đến một số chỉ

tiêu sinh trưởng: chiều cao cây, số cành chính trên cây

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phun thuốc kích thích ra lá đến một số chỉ

tiêu năng suất: số quả trên cây, chiều dài quả, khối lượng quả

4 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung tài

liệu về đặc điểm sinh trưởng của cây ớt, đánh giá vai trò của thuốc kích thích

ra lá đến sinh trưởng và năng suất của cây

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài giúp đánh giá tác

dụng của thuốc kích thích ra lá hiện đang bán trên thị trường đến sinh trưởng

và năng suất của cây ớt từ đó làm cơ sở khuyến cáo người sản xuất

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây ớt

Các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc cho biết ớt chứa chất capsaicin là trợ thủ đắc lực cho mục tiêu giảm cân và cuộc chiến chống béo phì, chất cay trong ớt có thể làm dịu các căn bệnh như đái tháo đường hay nghẽn mạch [6]

Ớt là một nguồn vitamin C phong phú Vitamin C là một chất chống ôxi hóa có thể hòa tan trong nước Việc sử dụng thường xuyên các thực phẩm giàu vitamin C giúp bảo vệ cơ thể khỏi bệnh scobut; tăng sức đề kháng đối với các tác nhân lây nhiễm (tăng cường miễn dịch) và thanh lọc các yếu tố có hại, gây viêm nhiễm khỏi cơ thể; giúp loại bỏ các chất có hại khỏi cơ thể [25]

Trong quả ớt còn có các chất chống ôxi hóa khác như vitamin A, và các chất flavonoid như sắc tố vàng beta, alpha, lutein, zeaxanthin, và ryptoxanthins Các chất chống ôxi hóa trong ớt giúp bảo vệ cơ thể khỏi các tác động gây tổn thương của các nguyên tố tự do nẩy sinh trong các điều kiện stress, bệnh tật [25]

Ớt chứa một lượng phong phú khoáng chất như kali, mangan, sắt, và magiê Kali là một thành phần quan trọng của tế bào và dịch cơ thể giúp kiểm soát nhịp tim và huyết áp [25]

Ớt còn có một nhóm Vitamin B phức hợp phong phú chẳng hạn như niacin, pyridoxine (vitamin B-6), riboflavin và thiamin (vitamin B-1) Các vitamin này đặc biệt quan trọng nên cơ thể cần chúng từ các nguồn bên ngoài

để bổ sung [25]

Ớt có những vitamin và khoáng chất ở mức cao Chỉ 100 g ớt tươi cung cấp (% của liều lượng nên dùng hàng ngày) 240% vitamin-C (Ascorbic acid), 39% vitamin B-6 (Pyridoxine), 32% vitamin A, 13% sắt,14% đồng, 7% kali, nhưng không có cholesterol (theo nguồn: Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng Mỹ USDA) [25]

Trang 11

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới và Việt Nam

Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế cao, cây ớt ngày càng được trồng phổ biến và ưa chuộng Trong họ cà (Solonaceae), ớt có tầm quan trọng thứ hai, chỉ sau cà chua Ngày nay ớt được trồng rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt nhiều ở các nước châu Mỹ và một số nước châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Inđônêsia, Việt Nam, Malaysia [19]

Diện tích trồng ớt trên toàn thế giới (1992) là 1.057.000 ha, đứng thứ năm trong các loại rau trồng [13]

Bên cạnh hình thức sử dụng ớt là loại gia vị, trên thế giới theo tập quán từng vùng, việc dùng ớt rất đa dạng: ớt được dùng như một loại rau xanh hoặc để trộn salat, lá ớt dùng nấu canh…Có rất nhiều loại thuốc chữa nôn mửa, sốt, khản cổ, được chế biến từ ớt Ớt còn được dùng để chế biến thuốc xua đuổi côn trùng [20]

Hiện nay, Ấn Độ là nước sản xuất ớt lớn nhất thế giới với khoảng 1 triệu tấn mỗi năm, chỉ riêng Chợ Guntur (lớn nhất châu Á) có 1 triệu bao ớt [27]

Ở nước ta, cây ớt đã được trồng từ rất lâu đời nhưng chủ yếu tập trung

ở các tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), vùng ven

đô, khu vực đông dân cư (Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc…) Vùng chuyên canh đã được hình thành ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, diện tích trồng ớt có thể mở rộng ra ở vùng đồng bằng Bắc

Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây Nam Bộ [13] Việt Nam đang nổi lên như một nước xuất khẩu ớt lớn [23] Giá trị của ớt góp phần đưa Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 1/2010 tăng 27,8% [29]

Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều tuy nhiên sự phân bố các yếu tố đó lại không đều trong năm và ở từng vụ trồng nên ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và năng suất của cây ớt Vì vậy tùy từng vùng khác nhau mà tiến hành gieo trồng các vụ khác

Trang 12

nhau, để đảm bảo năng suất cao, tăng hệ số sử dụng đất, cây ớt thường được gieo trồng vào hai vụ chính là:

- Vụ Đông -Xuân: gieo hạt từ tháng 10-11, trồng tháng 11-12, thu hoạch vào tháng 4-5

- Vụ Hè -Thu: gieo hạt tháng 6-7, trồng tháng 8-9, thu hoạch vào tháng 1-2

1.3 Đặc điểm và tình hình nghiên cứu trên đối trượng cây ớt

1.3.1 Nguồn gốc, sự phân bố ớt trên thế giới và Việt Nam

Cây ớt có nguồn gốc rất cổ xưa từ Mêxico, Trung và Nam Mỹ Safford

đã phát hiện quả ớt khô tại một nghĩa địa có 2000 năm tuổi ở Peru [1] Ớt là một

phần trong ẩm thực của loài người ít nhất là 7500 năm trước Công nguyên và

có lẽ sớm hơn Có những bằng chứng khảo cổ ở các khu vực ở tây nam Ecuador cho thấy ớt đã được thuần hóa hơn 6000 năm về trước, và là một trong những loại cây trồng đầu tiên ở châu Mỹ Người ta cho rằng ớt đã được thuần hóa bởi những cư dân tiền sử ở các khu vực khác nhau của Nam và Bắc

Mỹ, từ Peru ở phía Nam đến Mexico ở phía Bắc và một số vùng của các bang Colorado và New Mexico bởi các dân tộc Pueblo Cổ đại) [27]

Ở Nam Mỹ, từ một dạng cây ớt cay hoang dại, được thuần hóa và trồng nhiều nhất ở Bắc và Nam Mỹ Sau đó được trồng ở châu Âu, Ấn Độ cách đây hơn 500 năm [5]

Ớt được Crixtôp Côlông đưa vào Tây Ban Nha vào năm 1493 khi ông ghé vào nước này trên hành trình trở về sau chuyến đi vòng quanh thế giới của ông [4] Chrixtop Côlông đã là một trong những người Châu Âu đầu tiên thấy ớt (ở Caribe), và gọi chúng là "tiêu" vì chúng có vị cay tương tự (không phải bề ngoài giống nhau) Ớt đã được trồng khắp nơi trên thế giới sau thời Columbus Diego Aslvarez Chanca, một thầy thuốc trong chuyến đi thứ hai của Columbus đến West Indies năm 1493, đã mang những hạt ớt đầu tiên về Tây Ban Nha, và đã lần đầu viết về các tác dụng dược lý của chúng vào năm

Trang 13

1494 Từ Mêxico, vào thời đó đang là thuộc địa của Tây Ban Nha, cũng là một nước kiểm soát thương mại với Châu Á, ớt đã nhanh chóng được chuyển qua Philippines và sau đó là Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản với sự trợ giúp của các thủy thủ Châu Âu Gia vị mới này đã nhanh chóng được sử dụng trong chế biến thức ăn của các quốc gia này [27]

Khu vực Châu Á cuối thế kỷ 14 cây ớt đã được trồng ở Trung Quốc và lan rộng qua Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên đầu thế kỷ 15 Các giống ớt trồng

ở vùng này thuộc nhóm cay hay hơi cay Ở Đông Nam Á như Inđônêsia, cây

ớt được trồng sớm hơn châu Âu và hiện nay đã bao phủ toàn khu vực với dạng ớt cay là chủ yếu Mãi đến tận thế kỷ thứ 16 người châu Âu mới biết trồng cây ớt Việc gieo trồng được phổ biến từ vùng Địa Trung Hải đến nước Anh vào năm 1548 và đến Trung Âu vào cuối thế kỷ thứ 16 Sau đó những người Bồ Đào Nha mang ớt từ Barazil đến Ấn Độ trước năm 1885 và việc trồng ớt được thông báo ở Trung Quốc vào khoảng năm 1700 Ớt được nhập vào Triều Tiên khoảng cuối thế kỷ thứ 17 [4]

Cây ớt có mặt ở nước ta, được du nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ Diện tích phân bố khá rộng rãi, tập trung ở miền Bắc và miền Trung, ở miền Nam diện tích trồng ớt còn phân tán Ở Việt Nam cây ớt ngọt do người Pháp đưa

C Ở thời ra hoa đậu trái thì độ ẩm (đất và không khí) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng

và chất lượng trái Độ ẩm đất thấp (dưới 70%) trái bị cong và vỏ trái không mịn, nếu độ ẩm đất trên 80% làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc [10]

Trang 14

Rễ: ớt có rễ cọc phát triển mạnh với rất nhiều rễ phụ

Thân: Ớt là cây bụi thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, đôi khi có dạng thân bò [1] khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện

canh tác và giống

Lá: Ớt thường có lá đơn mọc xoắn trên thân chính [1] đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu,

lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không

Hoa: Ớt thường có hoa lưỡng tính, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa Hoa nhỏ, dài, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn

Quả: quả có 4 thùy, hình dạng rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt quả có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; khi chín có màu đỏ, đen,

Capsicum pendulum Willdenow, Capsicum pubescens Ruiz & Pavon

Ở Việt Nam, theo Phạm Hoàng Hộ thì ớt có 3 loài sau: Capsicum frutescens L., Capsicum annuum L., Capsicum baccatum L trong đó hai loài Capsicum annuum L., Capsicum baccatum L có nguồn gốc từ Brazil [7]

Trang 15

1.3.3 Kĩ thuật làm đất, gieo trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh ở cây ớt

- Chuẩn bị đất: Đất thoát nước tốt, có cơ cấu thoáng xốp như: Đất cát

pha, đất thịt pha sét, đất phù xa ven sông và đất canh tác lúa.Đất không hoặc ít nhiễm phèn mặn, có hàm lượng dinh dưỡng khá, pH đất 5,5-6,5 [22]

- Kỹ thuật làm đất: Làm đất kỹ, cày xới sâu 20- 25cm, phơi ải 10-15

ngày, lên luống cao 20cm, rộng 1m.(có thể cao hoặc rộng hơn tuỳ theo vùng đất) [22]

- Ươm cây con: Xử lý hạt ớt bằng nước ấm 3 sôi 2 lạnh (530C) trong 30 phút, hong khô dưới ánh nắng nhẹ, gieo hạt vào bầu đã được xử lý thuốc để ngăn ngừa mầm bệnh, sâu hại tấn công Khi cây có từ 4-5 lá thật (25-35 ngày sau gieo), thì chuyển cây con ra trồng Có thể trồng theo khoảng cách: 50 x 30

cm hoặc 70 x 60 cm Trước khi nhổ cần xiết nước 5- 6 ngày, tưới đẫm 4-6 giờ sau đó nhổ trồng ngay lúc sáng hoặc lúc chiều mát (Lượng phân bón khi làm bầu giống như bón lót, nhưng chú ý đất phải thật tơi mịn và sạch; vật liệu làm bầu cần được khử trùng để hạn chế một số bệnh ở giai đoạn cây con) [22]

- Chăm sóc ớt: Mùa mưa cần đảm bảo thoát nước tốt, mùa nắng phải

tưới nước đầy đủ Tỉa bỏ các cành, lá dưới điểm phân cành để cây ớt phân tán rộng và gốc được thông thoáng và bón phân đầy đủ cho cây [22]

- Thu hoạch: Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu Ngắt cả cuống

trái, tránh làm gãy nhánh, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần Nếu chăm sóc tốt thời gian thu hoạch có thể kéo dài hơn 3 tháng[22]

- Một số sâu, bệnh thường gặp: Bọ trĩ, bọ phấn trắng, sâu xanh đục trái,

sâu ăn tạp, bệnh thán thư…Để phòng trừ hiệu quả cần thực hiện một số biện pháp sau: cày ải sớm để tiêu diệt nguồn dịch hại trong đất, thu hoạch ớt đúng thời vụ tránh để quả quá lâu, nhất là khi trời mưa, ớt đến giai đoạn thu hoạch,

vệ sinh đồng ruộng, không vứt quả, cây bệnh trên ruộng [31]

Trang 16

1.3.4 Tình hình nghiên cứu ớt trên thế giới và Việt Nam

Ớt là loại rau ăn quả gia vị không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày, đặc biệt vùng Đông Nam Á và nhiều nước nhiệt đới khác Ớt được chế biến dưới nhiều dạng và đã trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Bởi thế cây ớt là một đối tượng nghiên cứu khá rộng rãi về mọi mặt: nguồn gốc, phân loại, giống, sâu bệnh hại, tác động các biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm tăng năng suất, đến công nghệ chế biến sau thu hoạch, đặc biệt là kỹ thuật làm tương ớt xuất khẩu cũng như dùng trong nội địa và cả những nghiên cứu trong lĩnh vực y học ngày càng được đẩy mạnh Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất như năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi (chịu nóng, hạn hán, rét), chống sâu bệnh (do vi khuẩn, vi rút), các nhà khoa học, Viện nghiên cứu rau quả đã chú ý nhiều về nguồn gen ớt, vì nguồn gen dùng làm vật liệu khởi đầu để chọn lọc hoặc lai tạo cho giống ớt thích hợp với điều kiện sinh thái mỗi vùng [21]

Ở Ấn Độ Desai V.G.P.; Patil M.M và Aniarkar M.V., 1987 nghiên cứu

sự rụng hoa ớt bằng chất điều hòa sinh trưởng Kết quả cho thấy: tùy theo mùa vụ, tỉ lệ rụng hoa ớt nằm trong khoảng 50 - 95% [18]

Trong y học có nhiều nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của ớt Theo các nhà nghiên cứu Australia, sử dụng ớt trong những bữa ăn có thể giảm nguy cơ rối loạn insilin liên quan đến bệnh tiểu đường [28]

Nghiên cứu về cây ớt ở Việt Nam còn rất nhiều mới mẻ, chủ yếu là Viện Nghiên cứu Rau Quả, Viện Dinh dưỡng học, Viện Khoa học Nông nghiệp và các trường đại học Nông nghiệp I, …về một số khía cạnh của cây ớt nhằm phục vụ sản xuất Tiềm năng phát triển cây ớt ở nước ta rất to lớn, đặc biệt ở các tỉnh Miền Trung có dải cát ven biển chạy dài trên 30.000 ha đất cát biển đều có khả năng trồng ớt Do ứng dụng các tiến bộ khoa học về giống, các

Trang 17

biện pháp kỹ thuật thâm canh nên khối lượng ớt trái vụ được sản xuất ngày càng nhiều hơn [16]

Những nghiên cứu về phân vi lượng cho ớt bước đầu đã được chú ý qua việc sản xuất và sử dụng các chế phẩm tăng năng suất, phân bón lá như xí nghiệp sản xuất phân bón lá Sài Gòn nghiên cứu sản xuất các chế phẩm tăng năng suất rau, đậu, ớt và đã triển khai phun cho ớt trên nhiều địa bàn trồng ớt

có kết quả tốt Một số nghiên cứu cho thấy, các loại ớt vỏ xanh, trái nhỏ có

hàm lượng capsaicin cao hơn

1.4 Phân bón lá và các kết quả nghiên cứu về phân bón lá

1.4.1 Khái quát về phân bón lá và các nghiên cứu về phân bón lá

Thuật ngữ phân bón được hình thành và giao tiếp trong quá trình làm việc Từ phân bón dùng để chỉ các chất để bón vào đất hoặc bổ sung lên lá

nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng mà đất không cung cấp đầy đủ cho cây

Với sự gia tăng dân số nhanh chóng và đất đai canh tác bị giới hạn, người ta phải nâng cao năng suất nông sản để thỏa mãn nhu cầu thực phẩm và bảo đảm an toàn lương thực, qua hai yếu tố sản suất căn bản - phát triển hệ

thống tưới tiêu và sử dụng phân hóa học

Theo Bùi Quang Lanh: từ những năm 60 của thế kỉ trước, nông dân miền Bắc đã sử dụng phân bón hoá học Ban đầu mới có phân đạm

sử dụng phối hợp với phân chuồng đã đưa năng suất lúa từ 1 tấn/ha/vụ lên 2tấn/ ha/ vụ Khi nông dân biết sử dụng thêm phân lân thì năng suất thì năng suất lúa được tăng lên 3 -3,5 tấn/ha/vụ và khi biết sử dụng thêm phân Kali thì năng suất lúa tăng lên 5-7 tấn/ha/vụ Như vậy: Đạm, lân và kali là những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, nếu cây trồng được bón đủ, cân đối và đúng kĩ thuật thì năng suất tăng đột biến Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cây trồng không chỉ cần đạm, lân, kali

Trang 18

mà còn rất nhiều chất dinh dưỡng khác như vôi, magiê, lưu huỳnh,

silíc, sắt, bo, kẽm, đồng,… [9]

Tuy nhiên trong thực tế không phải người nông dân nào cũng sử dụng phân bón đúng kĩ thuật, nên có nhiều người đầu tư thâm canh cao nhưng năng suất, chất lượng nông sản lại giảm do bón không cân đối, không đúng thời điểm Việc sử dụng phân bón qua lá sẽ khắc phục được các nhược điểm trên Các loại phân bón qua lá là những hợp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng, được hoà tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu, bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cho

cây trồng [14]

Phân bón lá được chia làm 2 dạng chính:

- Sử dụng các chất sinh trưởng giúp cây tăng cường sinh trưởng,

từ đó tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng

- Không chứa các chất sinh trưởng mà chỉ dựa vào nguyên tố khoáng vi lượng, đa lượng được phối hợp trộn theo một tỉ lệ hợp lí giúp cây

trồng sinhtrưởng ổn định một cách tự nhiên

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới và nước ta đã sử dụng phân bón lá khá phổ biến, đặc biệt trong khâu trồng rau hoa, cây ăn quả và cây công nghiệp như cà phê, ca cao, bông vải, dâu, đậu nành Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt tới 95% Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so với dùng phân bón gốc qua

rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất [11] Việc sử dụng phân lá đã có từ giữa thế

kỷ 17 (1676), lúc mà ông E Mariotte (Pháp) đã tìm thấy lá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài Năm 1916 ông M O Johnson (Mỹ) phun chất sulfat sắt lên cây dứa có lá vàng làm cho cây này trở nên xanh trong vài tuần lễ [30]

Trang 19

Phân bón lá được xem như phương pháp bón phân bổ túc hoặc dùng chữa trị các loài bệnh sinh lý thực vật do sự xáo trộn hoặc thiếu chất dinh dưỡng đất đai, làm ảnh hưởng đến các chất kích thích tố trong cây, làm ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ của hệ thống rễ và sự phát triển của cây (thí dụ: chất kẽm (Zn), đồng (Cu), hoặc áp dụng thêm phân hay thay thế phân bón

để kích thích sự phát triển cây hoặc rễ củ trước khi trổ bông (như chất đạm (N), lân (P), magnesium (Mg) v.v ) hoặc áp dụng nhằm kích thích sự biến chế dinh dưỡng của cây trong lúc trổ bông và thành lập trái, hạt để bảo đảm năng suất cao và tăng cao chất lượng (như chất Mg, manganese (Mn) ) Thường sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi tức kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80%

so với 20-50% phân bón được hấp thụ ở rễ [30]

Phân bón lá được sử dụng rất nhiều tại các nước phát triển, nhưng còn chưa được phổ biến rộng rãi tại các nước chậm tiến Tuỳ theo mục đích và yêu cầu có thể có thể bổ sung chế phẩm kích thích sinh trưởng theo các phương pháp sau: [24]

- Phun lên cây: Dùng để phun cho các cây trồng lấy lá hoa, quả và thân Nồng độ phun được tính bằng mg/lít Tùy từng giai đoạn phát triển của cây

mà có nồng độ phun thích hợp Trong một đời cây có thể phun nhiều lần

- Ngâm củ, cành vào dung dịch: Để tăng thời gian tiếp xúc và khả năng hấp thu, người ta có thể ngâm các củ và cành vào dung dịch có chứa chế

phẩm sinh trường có nồng độ thích hợp

- Bôi lên cây: Khi hai phương pháp trên không thực hiện được thì người

ta dùng phương pháp bôi trực tiếp dung dịch có nồng độ đậm đặc hơn lên cây

- Tiêm trực tiếp lên cây: phương pháp này chủ yếu dùng trong công tác nghiên cứu ứng dụng

Trang 20

Atonik có tác dụng làm tăng khả năng ra rễ, nẩy mầm, tăng khả năng ra chồi mới sau khi thu hoạch Ngoài ra Atonik cũng làm tăng khả năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả của các loại cây t rồng Đặc biệt là làm tăng năng suất

và chất lượng nông sản

Kích thích sự nảy mầm và ra rễ, phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của hạt giống Phun tưới trên ruộng mạ, cây con: làm cho cây mạ, phát triển khoẻ mạnh, phục hồi nhanh chóng sau khi trồng

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Thị Phương Anh (1997), Kỹ thuật trồng một số loại rau cao cấp, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, tr: 7-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng một số loại rau cao cấp
Tác giả: Mai Thị Phương Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
2. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật bậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật bậc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
3. Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà (2002), Cây rau. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây rau
Tác giả: Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Tạ Thu Cúc (2005), Giáo trình kỹ thuật trồng rau, NXB Hà Nội, tr: 32,33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật trồng rau
Tác giả: Tạ Thu Cúc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2005
5. Đường Hồng Dật (2002), Sổ tay người trồng rau, tập 2, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay người trồng rau
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2002
6. Cử Đúp, theo Europeo, Italia (2005), “Ớt nào mà ớt chẳng …”, Tạp chí cây thuốc quý, số 49, tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ớt nào mà ớt chẳng …”, "Tạp chí cây thuốc quý
Tác giả: Cử Đúp, theo Europeo, Italia
Năm: 2005
7. Phạm Hoàng Hộ (1993), Cây cỏ Việt Nam, Quyển 2, tập 2. tr.762; 763 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Năm: 1993
9. Bùi Quang Lanh (2003), “Sử dụng phân bón NPK và NPK đa yếu tố làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế đối với cây trồng”, Tạp chí Nông nghiệp Hà Tây, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân bón NPK và NPK đa yếu tố làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế đối với cây trồng”, "Tạp chí Nông nghiệp Hà Tây
Tác giả: Bùi Quang Lanh
Năm: 2003
10. Kỹ thuật trồng ớt (2002), Trung tâm khuyến nông và Nông nghiệp (Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng ớt
Tác giả: Kỹ thuật trồng ớt
Năm: 2002
11. Nguyễn Huy Phiêu, Đặng Ninh, Lương Quỳnh Chúc, Phạm Đỗ Thanh Thuỳ, Ngô Văn Nhƣợng, Quách Thị Phiến, Hoàng Anh Tuấn, Bùi Đình Dinh, Nguyễn Văn Bộ (2010), “Nghiên cứu sản xuất phân bón lá”, Viện Thổ nhưỡng nông hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất phân bón lá”
Tác giả: Nguyễn Huy Phiêu, Đặng Ninh, Lương Quỳnh Chúc, Phạm Đỗ Thanh Thuỳ, Ngô Văn Nhƣợng, Quách Thị Phiến, Hoàng Anh Tuấn, Bùi Đình Dinh, Nguyễn Văn Bộ
Năm: 2010
12. Hoàng Thị Sản (1999), Phân loại học thực vật, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học thực vật
Tác giả: Hoàng Thị Sản
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
13. Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan (1995), Kỹ thuật trồng và chế biến rau xuất khẩu, NXB Nông Nghiệp Hà Nội, tr: 61; 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và chế biến rau xuất khẩu
Tác giả: Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
14. Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tố (2006), Kĩ thuật sản xuất, chế biến và sử dụng phân bón. Nhà xuất bản Lao động Hà Nội, tr. 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ thuật sản xuất, chế biến và sử dụng phân bón
Tác giả: Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tố
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Hà Nội
Năm: 2006
15. Trung tâm khuyến nông Tiền Giang (2001), Kỹ thuật canh tác cây ớt, tr:1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác cây ớt
Tác giả: Trung tâm khuyến nông Tiền Giang
Năm: 2001
16. Trần Thế Tục (1995), Sổ tay người làm vườn, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay người làm vườn
Tác giả: Trần Thế Tục
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
17. Quách Tuấn Vinh (2010), “Cây ớt, vị thuốc quý trong y học cổ truyền”, Tạp chí cây thuốc quý, số 164, tr.10.II.Tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây ớt, vị thuốc quý trong y học cổ truyền”, "Tạp chí cây thuốc quý
Tác giả: Quách Tuấn Vinh
Năm: 2010
18. Desai V.G.P (1987), Patil V.K., Aniarkar M.V., Effects of growth regulators on sweet pepper (Capsicum annuum var. grossum sendt) seed germination, South, Indian, Horticulture, 35:6, p: 451-452 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of growth regulators on sweet pepper (Capsicum annuum var. grossum sendt) seed germination
Tác giả: Desai V.G.P
Năm: 1987
19. FAO (1990) Soilless culture for horticultural crops production, FAO Plant production and protection pepper, No 101. FAO, Rome, p: 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soilless culture for horticultural crops production
20. Knott J.E. (1967), and Deanon J.R., Eggplant, tomato and pepper. Veritanle production in South-East Asia, Laguna, Philippines. University of the Philippines Los Banos Press, p: 99-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eggplant, tomato and pepper. "Veritanle production in South-East Asia
Tác giả: Knott J.E
Năm: 1967
21. Yamgar V.T., U.T.Desai (1989), “Effect of NAA and flanofix on flowring, flower and fruit drop and fruit set in chili”. Journal of Maharastra agriculture university, 12:3, p: 39-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of NAA and flanofix on flowring, flower and fruit drop and fruit set in chili”. "Journal of Maharastra agriculture "university
Tác giả: Yamgar V.T., U.T.Desai
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Chiều cao cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá - Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34
Bảng 3.1 Chiều cao cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá (Trang 25)
Bảng 3.3 : Số cành cấp 1 của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích - Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34
Bảng 3.3 Số cành cấp 1 của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích (Trang 28)
Bảng 3.5: Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích - Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34
Bảng 3.5 Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích (Trang 31)
Bảng 3.6: Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích - Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34
Bảng 3.6 Số quả trên cây của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích (Trang 33)
Bảng 3.8: Chiều dài quả của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2 - Ảnh huởng của phun chế phẩm kích thích ra lá đến sinh truởng và năng suất hai giống ớt red chilli và pat 34
Bảng 3.8 Chiều dài quả của hai giống ớt khi phun chế phẩm kích thích ra lá lần 2 (Trang 36)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm