Do có số lượng cá thể phong phú, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, lại rất nhạy cảm với những biến đổi của các điều kiện môi trường sống, đặc biệt là các tác động của con người và môi trường tự
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất là hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đất có chứa cả các nhân tố vô sinh
và hữu sinh Trong đó thế giới sinh vật trong đất vô cùng đa dạng và phong phú Ở đây có đại diện của hơn 10 ngành động vật sinh sống, ta có thể bắt gặp hầu hết các đại diện của ngành động vật không xương sống và động vật có xương sống Động vật sống trong đất có số lượng và sinh khối lớn, chiếm hơn 90% sinh khối sinh vật cạn và 50% tổng số loài động vật trên trái đất, nên chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng của sinh giới Động vật
đất có vai trò vô cùng quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay
thế trong các quá trình sinh học trong đất và sinh quyển (Vũ Quang Mạnh, 2003) [2]
Trong hệ thống động vật đất, nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda), với kích thước cơ thể khoảng 0,1 - 0,2mm đến 2,0 - 3,0mm thường chiếm ưu thế về số lượng Hai đại diện chính của nhóm này là
Ve bét (Acari) và Bọ nhảy (Collembola) Ngoài ra còn có các đại diện thuộc các nhóm động vật không xương sống khác như: Nhiều chân (Myriapoda),
Đuôi nguyên thủy (Protura), Hai đuôi (Diplura), Ba đuôi (Thysanura)…
Ve bét (Acari: Oribatida, còn được gọi là Oribatei hoặc Cryptostigmata) là những chân khớp có kìm (Arthropoda: Chelicerata), thuộc lớp hình nhện (Arachnida), có kích thước cơ thể nhỏ khoảng 0,1 − 0,2mm đến 1,0 − 2,0mm Chúng là một trong những nhóm ve bét đa dạng và phong phú nhất, đặc biệt trong đất rừng, trong các tầng nông sâu của đất (tập trung hầu hết ở tầng đất phía trên, từ 0 − 20cm) Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và quá trình tạo đất Chúng ăn
cả thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ
Trang 2trung gian của sán dây (sán sơ mít), một vài loài là động vật ăn thịt Do có mật độ quần thể lớn, có thể đạt tới vài trăm nghìn cá thể trong 1m2 đất, thành phần loài đa dạng, nên việc phát hiện đầy đủ nhóm động vật này sẽ góp phần làm chủ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đánh giá đặc điểm khu hệ và tính chất địa động vật
Nghiên cứu cấu trúc của quần xã Oribatida có ý nghĩa quan trọng trong chỉ thị sinh học, các quá trình diễn thế của hệ sinh thái, là cơ sở cho việc quản
lý và khai thác bền vững nguồn tài nguyên môi trường đất Do có số lượng cá thể phong phú, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, lại rất nhạy cảm với những biến
đổi của các điều kiện môi trường sống, đặc biệt là các tác động của con người
và môi trường tự nhiên nên Oribatida được sử dụng như đối tượng nghiên cứu mẫu, phục vụ công tác quản lý, kiểm tra đánh giá chất lượng đất và sự ô nhiễm, thoái hóa đất Một số nhóm Oribatida còn là đối tượng gây hại trực tiếp cho cây trồng, là vectơ phát tán và lan truyền một số mầm bệnh và giun sán kí sinh cây trồng, vật nuôi và con người
Cho đến nay khu hệ động vật Oribatida Việt Nam mới được nghiên cứu chưa đầy đủ và đồng bộ ở các vùng lãnh thổ Nhìn chung các nghiên cứu Oribatida ở khu vực phía Bắc được tiến hành nhiều hơn nhưng dẫn liệu còn ít
và tản mạn
Với tất cả lí do trên, tôi đã thực hiện “Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại Núi Ngọc Cát Bà thuộc huyện Cát
Hải – Hải phòng và vùng phụ cận”
Trang 32 Mục đích nghiên cứu
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, tạo tiền đề cho nghiên cứu và giảng dạy sau này
3 Nội dung nghiên cứu
Thành phần loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu
Đặc điểm phân bố của Ve giáp theo từng khu vực nghiên cứu
Những loài ưu thế trong sinh cảnh nghiên cứu
Độ đồng đều và đa dạng thành phần loài trong sinh cảnh nghiên cứu
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bộ Ve giáp (Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm ve bét đa dạng và phong phú nhất, sống trong hệ sinh thái đất và các môi trường liên quan như
là thảm lá rừng và xác vụn thực vật, vỏ cây gỗ, đất và các thảm rêu bám trên thân cây, và trong tán cây xanh
Hệ thống phân loại Oribatida, cùng các quan hệ tiến hóa của chúng với các nhóm ve bét khác được xây dựng và sắp xếp theo hệ thống phân loại của các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov et al., 1975; Balogh J, Balogh J et al 1988, 1992 Đây là những chuyên gia nghiên cứu hệ thống học Oribatida trên thế giới
Ở Việt Nam những nghiên cứu về Ve giáp được bắt đầu từ những năm
60 và được các tác giả nước ngoài thực hiện, và được mở rộng từ những năm
80 của thế kỉ trước Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phong phú mẫu Oribatida, mà một phần trong đó đã được phân tích tại một số cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của Việt Nam và Quốc tế (Vũ Quang Mạnh, 2007)
Như vậy, việc nghiên cứu phân tích về đặc điểm, cấu trúc, độ đa dạng thành phần loài, độ ưu thế, chỉ số tương đồng của Oribatida theo sinh cảnh, theo tầng đất được áp dụng ở các khu vực nghiên cứu nói chung và thị trấn Cát Bà − Hải Phòng nói riêng để làm cơ sở chỉ ra những tác động tích cực, tiêu cực của các nhân tố môi trường, con người tới sinh thái đất
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Vai trò và hoạt động của các nhóm sinh vật sống trong đất từ lâu đã
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ở Đức, từ năm 1804 với công trình của
Hermann J.F; ở Ý từ năm 1876, 1877 với công trình của Canestrini G &
Trang 5Fanzago F.; Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây Các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong số những người quan tâm đến ve bét ở châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm 1881 đến năm 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Microarthropoda, Scorpiones Trong đó, ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên, tất cả những loài do Berlese mô tả (hầu hết là loài mới cho khoa học) đều viết bằng tiếng la tinh, rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng Vì thế sau này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954)
và công bố trong công trình “Berlese’s primitive Oribatida mites”
Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực
tế có thể lên đến 100000 loài theo Balogh J và Balogh B (1992), số lượng giống Oribatida trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ trong
20 năm gần đây Thậm chí hiện nay ở châu Âu, loài mới vẫn được mô tả đều
đặn hàng năm và ở Bắc Mĩ, khoảng 75% số loài của khu hệ Oribatida còn
chưa được mô tả
Trong khoảng 20 năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu Oribatida diễn ra mạnh mẽ và nhiều kết quả được công bố
Đến năm 1999, ve bét (Acari) được coi là cư dân truyền thống của đất và
thảm mục chưa được chú ý đến nhiều Dẫu sao, độ phong phú của khu hệ Ve bét sống tự do, cư trú trên tán cây rừng nhiệt đới, ôn đới, được xem như “những sinh vật sống trôi nổi trên cây” (Wallter et al., 1999) đã được một số tác giả đề cập
tới Chúng được thu thập từ vỏ cây, rêu, địa y (Trave’, 1963; Andre’ et al.,1984; Wunderle, 1991; Lindo et al., 2007)
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần
Trang 6xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị [6]
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ thị trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn là ở chỗ: chúng có độ
đa dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa
trong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối dễ; hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ và chúng là nhóm dinh dưỡng không đồng nhất Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởng thành dài, khả năng tăng quần thể chậm (Behan – Pelletire, 1999)
Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đô thị cũng cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng không khí (Andre’, 1976; Weighmann, 1972 , 1991)
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị
Trên thế giới, Chân khớp bé được nghiên cứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới bắt đầu được nghiên cứu Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài kết hợp nghiên cứu cùng các nhóm sinh vật khác Sau này chúng được nghiên cứu kỹ và có quy
mô ở nhiều sinh cảnh khác nhau bởi nhóm nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh
và cộng sự Các kết quả nghiên cứu của nhóm Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã
được công bố ở một số hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế cũng như trên
các tạp chí chuyên ngành
Năm 1967, lần đầu tiên trong công trình “New Oribatid from Viet Nam”, hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka S đã giới thiệu
Trang 7khu hệ, danh pháp học và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã
mô tả 29 loài, 4 giống mới cho khoa học
Từ sau 1975, các tác giả trong nước bước đầu đã tiến hành nghiên cứu
độc lập về Oribatida Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả
Vũ Quang Mạnh về nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau và
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý của vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời tiết lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện
được 8 họ [4]
Nhìn chung trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học về chân khớp bé đã được nghiên cứu ở nhiều địa phương trong cả nước Các địa điểm nghiên cứu thuộc nhiều hệ sinh thái khác nhau, tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp, khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên, các kết quả đạt được mới chỉ là những bước đi định hướng ban
đầu Để tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm động vật chân khớp bé sống trong
môi trường đất, mở ra khả năng khai thác những mặt lợi ích từ chúng, phục vụ cho khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu chân khớp bé cần được đẩy mạnh nghiên cứu trong những năm tiếp theo
Trang 8CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài ve bét (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp ve bét (Acari)
2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012, Tổng số mẫu là 30 mẫu
Mẫu sau khi thu đều được phân tích và xử lí số liệu tại phòng thí nghiệm động vật học của trường Đai học Sư phạm Hà Nội 2
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu đất tại 3 điểm: Chân Núi Ngọc, đỉnh ở Núi Ngọc và vườn quanh nhà Cát bà – Hải Phòng ở cả 2 tầng đất (0 – 10cm và 11 – 20 cm) Tổng số mẫu đã thu là 30 mẫu (Bảng 2.1)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Tại Núi Ngọc,Cát Bà thuộc huyện Cát Hải – Hải phòng và vùng phụ cận, chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất theo phương pháp nghiên cưu của Ghilarov Mẫu được lấy ở 2 tầng có độ sâu từ 0 đến 10cm (tính từ mặt đất) kí hiệu là tầng A1, và ở độ sâu 11 đến 20cm kí hiệu là tầng A2 Mỗi mẫu có kích thước (5 x 5 x 10)cm
Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở mỗi
điểm nghiên cứu Mỗi mẫu được cho vào 1 túi nilon riêng và được buộc chặt,
bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất, ngày tháng, địa
điểm… lấy mẫu
Trang 9Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở Núi Ngọc, Cát Bà –
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mẫu sau khi lấy ở thực địa được đưa về phòng thí nghiệm động vật học của trường để xử lý Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp bé theo phương pháp phễu lọc “Berlese – Tullgren”
Mẫu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm 250C – 300C, bảy ngày đêm rồi tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được lọc Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có chứa dung dịch formon 4% để giữ mẫu không bị hỏng
Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống
nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu
Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa Petri và tiến
hành phân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa Petri,
Trang 10nhận dạng và ghi số liệu từng nhóm vào theo dõi Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ
có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh tầng đất rồi nút lại bằng bông không thấm nước Để giữ mẫu được lâu và không bị giòn, nát cần bổ sung vài giọt dung dịch định hình glixerin
Định loại Oribatida
Trước khi định loại cần phải tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng Quá trình này diễn ra trong vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính lõm quan sát dưới kính hiển vi Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamen để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại
Sau khi quan sát, định loại xong, tất cả Oribatida đã được định tên cùng sinh cảnh được chuyển vào ống nghiệm 5 x 40mm có chứa dung dịch formon 4%, nút chặt bằng bông để bảo quản lâu dài
Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều
được TS Đào Duy Trinh kiểm định lại
có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên
Trang 11- Chỉ số Shannon – Weaver (H’)
1' s ln
i i i
Trong đó: s: Số lượng loài
ni: Số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
- Chỉ sốđông đều (J’)
''ln
H J
S
=
Trong đó: H’: Độđa dạng
S : Số loài có trong sinh cảnh
Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1
2.5 Vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng
2.5.1 Vị trí địa lý, địa hình
Hình 2.1 Vị trí địa lý Cát Bà – Hải Phòng [ 8 ]
Trang 12Hình 2.2 Vị trí Núi Ngọc ở thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đảo Cát Hải
– Hải Phòng [ 8 ]
Quần đảo Cát Bà cách Hải Phòng 45 km về phía đông, cách thành phố
Hạ Long 25 km về phía nam và cách Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông Nam Phía bắc giáp Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp đảo Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, phía đông và nam là Biển Đông trong khoảng tọa độ :
Vĩ độ Bắc: 200 42’40” – 200 52’45”
Kinh độ Đông: 1060 54’11” - 1070 07’05”
Tọa độ trung tâm là: 20047’42” vĩ độ Bắc, 1070 00’38” kinh độ Đông
Trang 13Tổng diện tích đất tự nhiên của khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà
là 26240 ha, trong đó diện tích mặt đất (trên quần đảo) 17040 ha và 9200 ha mặt nước biển
2.5.2 Khí hậu và thủy văn
Đảo Cát Bà thuộc ven bờ Hải Phòng có khí hậu vừa mang đặc điểm
chung của đồng bằng Bắc bộ, vừa có những đặc điểm khí hậu riêng của một
đảo đá vôi ven biển
Tính chất nhiệt đới, có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 - tháng 9) và một mùa đông lạnh ít mưa (từ tháng 11 – tháng 3)
Tính biến động thường xuyên của thời tiết và khí hậu do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau
Là một đảo ven bờ, nên khu vực còn chịu sự chi phối của biển dưới tác
động của gió biển - đất làm điều hoà khí hậu, tạo nên mùa đông ấm hơn và
mùa hè mát hơn so với đất liền
Lượng mưa: 1700 - 1800 mm/năm, dao động theo mùa Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8
Nhiệt độ trung bình: 25 - 28°C, dao động theo mùa Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc)
Độ ẩm trung bình: 85%
Dao động của thủy triều: 3,3 - 3,9 mét
Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)
2.5.3 Thổ nhưỡng
Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, bao gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao <500 m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50 - 200 m Ở đây bắt gặp chủ yếu một số loại đất như là:
Trang 14Nhóm đất feralit đỏ nâu hoặc nâu vàng triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính
Nhóm đất thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ
Nhóm đất thung lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thường ngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng
Nhóm đất bồi tụ ngập mặn do sản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vùng ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long
2.5.4 Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên thực vật
Rừng ở đây có một kiểu chính là kiểu rừng mưa nhiệt đới thường xanh, nhưng do điều kiện địa hình, đất đai và chế độ nước nên ở đây có một số kiểu rừng phụ: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn ven đảo, rừng ngập nước ngọt trên núi Rừng ở đây cũng có nhiều kiểu sinh thái rừng cá biệt như quần hợp Kim giao (tại khu vực gần đỉnh Ngự Lâm); đơn ưu và nước (khu vực Ao
Ếch)
Thành phần thực vật có 741 loài khác nhau, nhiều loại cây gỗ quý như trai lý, lát hoa, lim xẹt, dẻ hoa, kim giao, gõ trắng, chò đãi Thực vật ngập mặn 23 loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài
hẹp của Cát Bà, hiện tại chỉ còn 66 cá thể, chỉ còn phân bố ở các núi ven bờ
Trang 15biển (theo số liệu cung cấp của chi cục kiểm lâm VQG Cát Bà, năm 2007)
Động vật phù du 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài
2.5.5 Điều kiện kinh tế - xã hội
Huyện đảo Cát Hải bao gồm đảo Cát Bà và đảo Cát Hải, nằm ở phía
Đông Bắc thành phố Hải Phòng Cát Bà là quần thể các núi đá vôi nằm ở
phía nam vịnh Hạ Long, gồm 1 thị trấn và 6 xã Dân số trung bình của huyện Cát Hải tính đến năm 2005 là 27827 người
Dân cư phân bố không đồng đều với mật độ bình quân các xã vùng
Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt trên 4,7 triệu
đồng/năm, cao hơn mức thu nhập bình quân của cả nước Tỷ lệ hộ có mức
sống từ trung bình trở lên chiếm 94% tổng số hộ trên địa bàn Tuy nhiên tỷ lệ
hộ nghèo vẫn chiếm 5,9%
Bởi cấu tạo núi đá vôi nên Cát Bà như được thiên nhiên tạo ra đầy dáng
vẻ kỳ vĩ, phủ trên địa hình hiểm trở là cả một thảm thực vật đa dạng và phong phú đầy hấp dẫn nên Cát Bà rất phát triển về du lịch Trong những năm gần
đây Cát Bà đã nổi lên như một điểm sáng của ngành du lịch trong cả nước
Ngoài phát triển du lịch, thị trấn Cát Bà còn có ngành nuôi trồng thủy sản với các loài cá hay các loài nhuyễn thể như tu hài, vẹm xanh phục vụ ngành du lịch, dịch vụ tại địa phương và xuất khẩu
Do địa thế Cát Bà nằm cách biệt với đất liền nên mạng lưới thống giao thông nói riêng và các cơ sở hạ tầng nói chung vẫn còn nhiều mặt hạn chế
Trang 16CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng 3.1.1 Thành phần loài Oribatida ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng
Danh sách loài Oribatida thu thập được tại Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng, có tổng số 46 loài, 33 giống, 20 họ Trong danh sách này, thành phần
loài Oribatida được xếp theo hệ thống phân loại của Balogh J et al., 1992; Vũ
Quang Mạnh, 2007 và các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov, 1975, trình bày trong bảng 3.1 và bảng 3.2
Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố của Ve giáp ( Oribatida) độ sâu
của các tầng đất ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng
1 I 1 Rhysotritia Maerkel et Meyer, 1959
1 Rhysotritia rasile, Mahunka, 1982 X
II LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916
2 II2 Papillacarus Kunst, 1959
2 Papilacarus undrirostratus Aoki,
1964
X
III HERMANNIELLIDAE GRANDJEAN,
1934
3 III 1 Hermanniella Berlese, 1908
3 Hermanniella thani Mahunka, 1987 X
IV ASTEGISTIDAE BALOGH, 1961
4 IV 1 Cultroribula Berlese, 1908
4 Cultroribula lata Aoki, 1961 X
Trang 176 V 2 Furcoppia Balogh et Mahunka, 1966
6 Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 X
VI CARABODIDAE C L KOCH, 1837
7 VI 1 Aokiella Balogh et Mahunka, 1967
7 Aokiella florens Balogh et Mahunka, 1967 X
VII OTOCEPHEIDAE BALOGH, 1961
8 VII 1 Dolicheremaeus Jacot, 1938
9 Dolicheremaeus lineolatus Balogh et
Mahunka, 1967
X
9 VII 2 Fissicepheus Balogh et Mahunka, 1967
10 Fissicepheus elegans Balogh et Mahunka,
1967
X
VIII EREMELLIDAE BALOGH, 1961
10 VIII1 Eremella Berlese, 1913
11 Eremella vestita Berlese, 1913 X
IX OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
11 IX 1 Pulchroppia Subias et Balogh, 1989
12 Pulchroppia granulata Mahunka, 1988 X X
15 Scapheremaeus crassus Mahunka, 1988 X
16 Scapheremaeus foveolatus Mahunka, 1987 X
Trang 18XI XYLOBATIDAE J BALOGH ET P
BALOGH, 1984
15 XI 1 Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio, 1980
17 Brasilobates maximus Mahunka, 1988 X
16 XI 2 Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967
18 Setoxylobates foveolatus Balogh et
Mahunka, 1967
X
17 XI 3 Perxylobates Hammer, 1972
19 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 X
20 Perxylobates vermiseta (Balogh et
22 Xylobates capucinus (Berlese, 1908) X
23 Xylobates lophotrichus (Brerlese, 1904) X X X
24 Xylobates monodactylus (Haller, 1804) X
25 Xylobates sp X
XII PROTORIBATIDAE J BALOGH ET
P BALOGH, 1984
19 XII 1 Liebstadia Oudemans, 1906
26 Liebstadia humerata Sellnick, 1928 X X
XIII HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936
20 XIII1 Peloribates Berlese, 1908
27 Peloribates pseudoporosus Balogh et
Mahunka, 1967
X
21 XIII2 Rostrozetes Sellnick, 1925
28 Rostrozetes trimorphus Balogh et
Trang 1929 Nanobates clavatus Mahunka, 1988 X X
23 XIV2 Scheloribates Berlese, 1908
30 Scheloribates cruciseta Vu et Jeleva, 1987 X X X
31 Scheloribates fimbriatus Thor, 1930 X X
32 Scheloribates latipes (C L Koch, 1841) X
33 Scheloribates pallidulus (C L Koch,
1840)
34 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) X
24 XIV3 Tuberemaeus Sellnick, 1930
36 Tuberemaeus sculpturatus Mahunka, 1987 X
XV ORIPODIDAE JACOT, 1925
25 XV 1 Oripoda Bank, 1904
37 Oripoda excavata Mahunka, 1988 X X
26 XV 2 Truncopes Grandjean, 1956
38 Truncopes orientalis Mahunka, 1987 X X
XVI CERATOZETIDAE JACOT, 1925
27 XVI1 Allozetes Berlese, 1914
39 Allozetes pusillus Berlese, 191 X
XVII AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON,
1985
28 XVII
1
Lamellobates Hammer, 1958
40 Lamellobates palustris Hammer, 1958 X
XVIII ORIBATELLIDAE JACOT, 1925
29 XVII
I 1
Oribatella Bank, 1895
41 Oribatella sculpturata Mahunka, 1987 X
XIX ACHIPTERIDAE THOR, 1929
30 XIX1 Parachipteria Hammen, 1952
42 Parachipteria distincta (Aoki, 1959) X X
31 XIX2 Achipteria Berlese, 1885