1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải hải phòng và vùng phụ cận

39 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do có số lượng cá thể phong phú, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, lại rất nhạy cảm với những biến đổi của các điều kiện môi trường sống, đặc biệt là các tác động của con người và môi trường tự

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất là hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đất có chứa cả các nhân tố vô sinh

và hữu sinh Trong đó thế giới sinh vật trong đất vô cùng đa dạng và phong phú Ở đây có đại diện của hơn 10 ngành động vật sinh sống, ta có thể bắt gặp hầu hết các đại diện của ngành động vật không xương sống và động vật có xương sống Động vật sống trong đất có số lượng và sinh khối lớn, chiếm hơn 90% sinh khối sinh vật cạn và 50% tổng số loài động vật trên trái đất, nên chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng của sinh giới Động vật

đất có vai trò vô cùng quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay

thế trong các quá trình sinh học trong đất và sinh quyển (Vũ Quang Mạnh, 2003) [2]

Trong hệ thống động vật đất, nhóm động vật chân khớp bé (Microarthropoda), với kích thước cơ thể khoảng 0,1 - 0,2mm đến 2,0 - 3,0mm thường chiếm ưu thế về số lượng Hai đại diện chính của nhóm này là

Ve bét (Acari) và Bọ nhảy (Collembola) Ngoài ra còn có các đại diện thuộc các nhóm động vật không xương sống khác như: Nhiều chân (Myriapoda),

Đuôi nguyên thủy (Protura), Hai đuôi (Diplura), Ba đuôi (Thysanura)…

Ve bét (Acari: Oribatida, còn được gọi là Oribatei hoặc Cryptostigmata) là những chân khớp có kìm (Arthropoda: Chelicerata), thuộc lớp hình nhện (Arachnida), có kích thước cơ thể nhỏ khoảng 0,1 − 0,2mm đến 1,0 − 2,0mm Chúng là một trong những nhóm ve bét đa dạng và phong phú nhất, đặc biệt trong đất rừng, trong các tầng nông sâu của đất (tập trung hầu hết ở tầng đất phía trên, từ 0 − 20cm) Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và quá trình tạo đất Chúng ăn

cả thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ

Trang 2

trung gian của sán dây (sán sơ mít), một vài loài là động vật ăn thịt Do có mật độ quần thể lớn, có thể đạt tới vài trăm nghìn cá thể trong 1m2 đất, thành phần loài đa dạng, nên việc phát hiện đầy đủ nhóm động vật này sẽ góp phần làm chủ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đánh giá đặc điểm khu hệ và tính chất địa động vật

Nghiên cứu cấu trúc của quần xã Oribatida có ý nghĩa quan trọng trong chỉ thị sinh học, các quá trình diễn thế của hệ sinh thái, là cơ sở cho việc quản

lý và khai thác bền vững nguồn tài nguyên môi trường đất Do có số lượng cá thể phong phú, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, lại rất nhạy cảm với những biến

đổi của các điều kiện môi trường sống, đặc biệt là các tác động của con người

và môi trường tự nhiên nên Oribatida được sử dụng như đối tượng nghiên cứu mẫu, phục vụ công tác quản lý, kiểm tra đánh giá chất lượng đất và sự ô nhiễm, thoái hóa đất Một số nhóm Oribatida còn là đối tượng gây hại trực tiếp cho cây trồng, là vectơ phát tán và lan truyền một số mầm bệnh và giun sán kí sinh cây trồng, vật nuôi và con người

Cho đến nay khu hệ động vật Oribatida Việt Nam mới được nghiên cứu chưa đầy đủ và đồng bộ ở các vùng lãnh thổ Nhìn chung các nghiên cứu Oribatida ở khu vực phía Bắc được tiến hành nhiều hơn nhưng dẫn liệu còn ít

và tản mạn

Với tất cả lí do trên, tôi đã thực hiện “Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại Núi Ngọc Cát Bà thuộc huyện Cát

Hải – Hải phòng và vùng phụ cận”

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, tạo tiền đề cho nghiên cứu và giảng dạy sau này

3 Nội dung nghiên cứu

Thành phần loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu

Đặc điểm phân bố của Ve giáp theo từng khu vực nghiên cứu

Những loài ưu thế trong sinh cảnh nghiên cứu

Độ đồng đều và đa dạng thành phần loài trong sinh cảnh nghiên cứu

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bộ Ve giáp (Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm ve bét đa dạng và phong phú nhất, sống trong hệ sinh thái đất và các môi trường liên quan như

là thảm lá rừng và xác vụn thực vật, vỏ cây gỗ, đất và các thảm rêu bám trên thân cây, và trong tán cây xanh

Hệ thống phân loại Oribatida, cùng các quan hệ tiến hóa của chúng với các nhóm ve bét khác được xây dựng và sắp xếp theo hệ thống phân loại của các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov et al., 1975; Balogh J, Balogh J et al 1988, 1992 Đây là những chuyên gia nghiên cứu hệ thống học Oribatida trên thế giới

Ở Việt Nam những nghiên cứu về Ve giáp được bắt đầu từ những năm

60 và được các tác giả nước ngoài thực hiện, và được mở rộng từ những năm

80 của thế kỉ trước Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phong phú mẫu Oribatida, mà một phần trong đó đã được phân tích tại một số cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của Việt Nam và Quốc tế (Vũ Quang Mạnh, 2007)

Như vậy, việc nghiên cứu phân tích về đặc điểm, cấu trúc, độ đa dạng thành phần loài, độ ưu thế, chỉ số tương đồng của Oribatida theo sinh cảnh, theo tầng đất được áp dụng ở các khu vực nghiên cứu nói chung và thị trấn Cát Bà − Hải Phòng nói riêng để làm cơ sở chỉ ra những tác động tích cực, tiêu cực của các nhân tố môi trường, con người tới sinh thái đất

1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

Vai trò và hoạt động của các nhóm sinh vật sống trong đất từ lâu đã

được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ở Đức, từ năm 1804 với công trình của

Hermann J.F; ở Ý từ năm 1876, 1877 với công trình của Canestrini G &

Trang 5

Fanzago F.; Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây Các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong số những người quan tâm đến ve bét ở châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm 1881 đến năm 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Microarthropoda, Scorpiones Trong đó, ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên, tất cả những loài do Berlese mô tả (hầu hết là loài mới cho khoa học) đều viết bằng tiếng la tinh, rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng Vì thế sau này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954)

và công bố trong công trình “Berlese’s primitive Oribatida mites”

Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực

tế có thể lên đến 100000 loài theo Balogh J và Balogh B (1992), số lượng giống Oribatida trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ trong

20 năm gần đây Thậm chí hiện nay ở châu Âu, loài mới vẫn được mô tả đều

đặn hàng năm và ở Bắc Mĩ, khoảng 75% số loài của khu hệ Oribatida còn

chưa được mô tả

Trong khoảng 20 năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu Oribatida diễn ra mạnh mẽ và nhiều kết quả được công bố

Đến năm 1999, ve bét (Acari) được coi là cư dân truyền thống của đất và

thảm mục chưa được chú ý đến nhiều Dẫu sao, độ phong phú của khu hệ Ve bét sống tự do, cư trú trên tán cây rừng nhiệt đới, ôn đới, được xem như “những sinh vật sống trôi nổi trên cây” (Wallter et al., 1999) đã được một số tác giả đề cập

tới Chúng được thu thập từ vỏ cây, rêu, địa y (Trave’, 1963; Andre’ et al.,1984; Wunderle, 1991; Lindo et al., 2007)

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần

Trang 6

xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị [6]

Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ thị trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn là ở chỗ: chúng có độ

đa dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa

trong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối dễ; hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ và chúng là nhóm dinh dưỡng không đồng nhất Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởng thành dài, khả năng tăng quần thể chậm (Behan – Pelletire, 1999)

Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đô thị cũng cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng không khí (Andre’, 1976; Weighmann, 1972 , 1991)

Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị

Trên thế giới, Chân khớp bé được nghiên cứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới bắt đầu được nghiên cứu Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài kết hợp nghiên cứu cùng các nhóm sinh vật khác Sau này chúng được nghiên cứu kỹ và có quy

mô ở nhiều sinh cảnh khác nhau bởi nhóm nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh

và cộng sự Các kết quả nghiên cứu của nhóm Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã

được công bố ở một số hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế cũng như trên

các tạp chí chuyên ngành

Năm 1967, lần đầu tiên trong công trình “New Oribatid from Viet Nam”, hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka S đã giới thiệu

Trang 7

khu hệ, danh pháp học và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã

mô tả 29 loài, 4 giống mới cho khoa học

Từ sau 1975, các tác giả trong nước bước đầu đã tiến hành nghiên cứu

độc lập về Oribatida Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả

Vũ Quang Mạnh về nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau và

Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý của vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời tiết lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện

được 8 họ [4]

Nhìn chung trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học về chân khớp bé đã được nghiên cứu ở nhiều địa phương trong cả nước Các địa điểm nghiên cứu thuộc nhiều hệ sinh thái khác nhau, tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp, khu bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên, các kết quả đạt được mới chỉ là những bước đi định hướng ban

đầu Để tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm động vật chân khớp bé sống trong

môi trường đất, mở ra khả năng khai thác những mặt lợi ích từ chúng, phục vụ cho khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu chân khớp bé cần được đẩy mạnh nghiên cứu trong những năm tiếp theo

Trang 8

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài ve bét (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp ve bét (Acari)

2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012, Tổng số mẫu là 30 mẫu

Mẫu sau khi thu đều được phân tích và xử lí số liệu tại phòng thí nghiệm động vật học của trường Đai học Sư phạm Hà Nội 2

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành thu mẫu đất tại 3 điểm: Chân Núi Ngọc, đỉnh ở Núi Ngọc và vườn quanh nhà Cát bà – Hải Phòng ở cả 2 tầng đất (0 – 10cm và 11 – 20 cm) Tổng số mẫu đã thu là 30 mẫu (Bảng 2.1)

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Tại Núi Ngọc,Cát Bà thuộc huyện Cát Hải – Hải phòng và vùng phụ cận, chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất theo phương pháp nghiên cưu của Ghilarov Mẫu được lấy ở 2 tầng có độ sâu từ 0 đến 10cm (tính từ mặt đất) kí hiệu là tầng A1, và ở độ sâu 11 đến 20cm kí hiệu là tầng A2 Mỗi mẫu có kích thước (5 x 5 x 10)cm

Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở mỗi

điểm nghiên cứu Mỗi mẫu được cho vào 1 túi nilon riêng và được buộc chặt,

bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất, ngày tháng, địa

điểm… lấy mẫu

Trang 9

Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở Núi Ngọc, Cát Bà –

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Mẫu sau khi lấy ở thực địa được đưa về phòng thí nghiệm động vật học của trường để xử lý Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật chân khớp bé theo phương pháp phễu lọc “Berlese – Tullgren”

Mẫu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm 250C – 300C, bảy ngày đêm rồi tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được lọc Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có chứa dung dịch formon 4% để giữ mẫu không bị hỏng

Đặt giấy lọc có chia ô lên phễu lọc, đổ dung dịch có chứa trong ống

nghiệm lên tờ giấy lọc đó, tráng lại nhiều lần bằng nước cất để tránh sót mẫu

Đến lúc đã lọc hết dung dịch trong giấy lọc thì đặt giấy lọc ra đĩa Petri và tiến

hành phân tích dưới kính hiển vi Khi soi mẫu dưới kính hiển vi, dùng kim phân tích nhặt từng cá thể động vật để tập trung tại một góc của đĩa Petri,

Trang 10

nhận dạng và ghi số liệu từng nhóm vào theo dõi Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm nhỏ

có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có nhãn ghi địa điểm, thời gian, sinh cảnh tầng đất rồi nút lại bằng bông không thấm nước Để giữ mẫu được lâu và không bị giòn, nát cần bổ sung vài giọt dung dịch định hình glixerin

Định loại Oribatida

Trước khi định loại cần phải tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng Quá trình này diễn ra trong vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính lõm quan sát dưới kính hiển vi Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamen để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại

Sau khi quan sát, định loại xong, tất cả Oribatida đã được định tên cùng sinh cảnh được chuyển vào ống nghiệm 5 x 40mm có chứa dung dịch formon 4%, nút chặt bằng bông để bảo quản lâu dài

Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều

được TS Đào Duy Trinh kiểm định lại

có độ ưu thế đạt giá trị 5% trở lên

Trang 11

- Chỉ số Shannon – Weaver (H’)

1' s ln

i i i

Trong đó: s: Số lượng loài

ni: Số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu

- Chỉ sốđông đều (J’)

''ln

H J

S

=

Trong đó: H’: Độđa dạng

S : Số loài có trong sinh cảnh

Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1

2.5 Vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng

2.5.1 Vị trí địa lý, địa hình

Hình 2.1 Vị trí địa lý Cát Bà – Hải Phòng [ 8 ]

Trang 12

Hình 2.2 Vị trí Núi Ngọc ở thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đảo Cát Hải

– Hải Phòng [ 8 ]

Quần đảo Cát Bà cách Hải Phòng 45 km về phía đông, cách thành phố

Hạ Long 25 km về phía nam và cách Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông Nam Phía bắc giáp Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp đảo Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, phía đông và nam là Biển Đông trong khoảng tọa độ :

Vĩ độ Bắc: 200 42’40” – 200 52’45”

Kinh độ Đông: 1060 54’11” - 1070 07’05”

Tọa độ trung tâm là: 20047’42” vĩ độ Bắc, 1070 00’38” kinh độ Đông

Trang 13

Tổng diện tích đất tự nhiên của khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà

là 26240 ha, trong đó diện tích mặt đất (trên quần đảo) 17040 ha và 9200 ha mặt nước biển

2.5.2 Khí hậu và thủy văn

Đảo Cát Bà thuộc ven bờ Hải Phòng có khí hậu vừa mang đặc điểm

chung của đồng bằng Bắc bộ, vừa có những đặc điểm khí hậu riêng của một

đảo đá vôi ven biển

Tính chất nhiệt đới, có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 - tháng 9) và một mùa đông lạnh ít mưa (từ tháng 11 – tháng 3)

Tính biến động thường xuyên của thời tiết và khí hậu do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau

Là một đảo ven bờ, nên khu vực còn chịu sự chi phối của biển dưới tác

động của gió biển - đất làm điều hoà khí hậu, tạo nên mùa đông ấm hơn và

mùa hè mát hơn so với đất liền

Lượng mưa: 1700 - 1800 mm/năm, dao động theo mùa Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8

Nhiệt độ trung bình: 25 - 28°C, dao động theo mùa Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùa đông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10°C (khi có gió mùa đông bắc)

Độ ẩm trung bình: 85%

Dao động của thủy triều: 3,3 - 3,9 mét

Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)

2.5.3 Thổ nhưỡng

Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài

theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, bao gồm một vùng núi non hiểm trở có độ cao <500 m, trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50 - 200 m Ở đây bắt gặp chủ yếu một số loại đất như là:

Trang 14

Nhóm đất feralit đỏ nâu hoặc nâu vàng triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính

Nhóm đất thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sản phẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ

Nhóm đất thung lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thường ngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng

Nhóm đất bồi tụ ngập mặn do sản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vùng ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long

2.5.4 Tài nguyên sinh vật

Tài nguyên thực vật

Rừng ở đây có một kiểu chính là kiểu rừng mưa nhiệt đới thường xanh, nhưng do điều kiện địa hình, đất đai và chế độ nước nên ở đây có một số kiểu rừng phụ: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn ven đảo, rừng ngập nước ngọt trên núi Rừng ở đây cũng có nhiều kiểu sinh thái rừng cá biệt như quần hợp Kim giao (tại khu vực gần đỉnh Ngự Lâm); đơn ưu và nước (khu vực Ao

Ếch)

Thành phần thực vật có 741 loài khác nhau, nhiều loại cây gỗ quý như trai lý, lát hoa, lim xẹt, dẻ hoa, kim giao, gõ trắng, chò đãi Thực vật ngập mặn 23 loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài

hẹp của Cát Bà, hiện tại chỉ còn 66 cá thể, chỉ còn phân bố ở các núi ven bờ

Trang 15

biển (theo số liệu cung cấp của chi cục kiểm lâm VQG Cát Bà, năm 2007)

Động vật phù du 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài

2.5.5 Điều kiện kinh tế - xã hội

Huyện đảo Cát Hải bao gồm đảo Cát Bà và đảo Cát Hải, nằm ở phía

Đông Bắc thành phố Hải Phòng Cát Bà là quần thể các núi đá vôi nằm ở

phía nam vịnh Hạ Long, gồm 1 thị trấn và 6 xã Dân số trung bình của huyện Cát Hải tính đến năm 2005 là 27827 người

Dân cư phân bố không đồng đều với mật độ bình quân các xã vùng

Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt trên 4,7 triệu

đồng/năm, cao hơn mức thu nhập bình quân của cả nước Tỷ lệ hộ có mức

sống từ trung bình trở lên chiếm 94% tổng số hộ trên địa bàn Tuy nhiên tỷ lệ

hộ nghèo vẫn chiếm 5,9%

Bởi cấu tạo núi đá vôi nên Cát Bà như được thiên nhiên tạo ra đầy dáng

vẻ kỳ vĩ, phủ trên địa hình hiểm trở là cả một thảm thực vật đa dạng và phong phú đầy hấp dẫn nên Cát Bà rất phát triển về du lịch Trong những năm gần

đây Cát Bà đã nổi lên như một điểm sáng của ngành du lịch trong cả nước

Ngoài phát triển du lịch, thị trấn Cát Bà còn có ngành nuôi trồng thủy sản với các loài cá hay các loài nhuyễn thể như tu hài, vẹm xanh phục vụ ngành du lịch, dịch vụ tại địa phương và xuất khẩu

Do địa thế Cát Bà nằm cách biệt với đất liền nên mạng lưới thống giao thông nói riêng và các cơ sở hạ tầng nói chung vẫn còn nhiều mặt hạn chế

Trang 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng 3.1.1 Thành phần loài Oribatida ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng

Danh sách loài Oribatida thu thập được tại Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng, có tổng số 46 loài, 33 giống, 20 họ Trong danh sách này, thành phần

loài Oribatida được xếp theo hệ thống phân loại của Balogh J et al., 1992; Vũ

Quang Mạnh, 2007 và các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov, 1975, trình bày trong bảng 3.1 và bảng 3.2

Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố của Ve giáp ( Oribatida) độ sâu

của các tầng đất ở Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng

1 I 1 Rhysotritia Maerkel et Meyer, 1959

1 Rhysotritia rasile, Mahunka, 1982 X

II LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916

2 II2 Papillacarus Kunst, 1959

2 Papilacarus undrirostratus Aoki,

1964

X

III HERMANNIELLIDAE GRANDJEAN,

1934

3 III 1 Hermanniella Berlese, 1908

3 Hermanniella thani Mahunka, 1987 X

IV ASTEGISTIDAE BALOGH, 1961

4 IV 1 Cultroribula Berlese, 1908

4 Cultroribula lata Aoki, 1961 X

Trang 17

6 V 2 Furcoppia Balogh et Mahunka, 1966

6 Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 X

VI CARABODIDAE C L KOCH, 1837

7 VI 1 Aokiella Balogh et Mahunka, 1967

7 Aokiella florens Balogh et Mahunka, 1967 X

VII OTOCEPHEIDAE BALOGH, 1961

8 VII 1 Dolicheremaeus Jacot, 1938

9 Dolicheremaeus lineolatus Balogh et

Mahunka, 1967

X

9 VII 2 Fissicepheus Balogh et Mahunka, 1967

10 Fissicepheus elegans Balogh et Mahunka,

1967

X

VIII EREMELLIDAE BALOGH, 1961

10 VIII1 Eremella Berlese, 1913

11 Eremella vestita Berlese, 1913 X

IX OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954

11 IX 1 Pulchroppia Subias et Balogh, 1989

12 Pulchroppia granulata Mahunka, 1988 X X

15 Scapheremaeus crassus Mahunka, 1988 X

16 Scapheremaeus foveolatus Mahunka, 1987 X

Trang 18

XI XYLOBATIDAE J BALOGH ET P

BALOGH, 1984

15 XI 1 Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio, 1980

17 Brasilobates maximus Mahunka, 1988 X

16 XI 2 Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967

18 Setoxylobates foveolatus Balogh et

Mahunka, 1967

X

17 XI 3 Perxylobates Hammer, 1972

19 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 X

20 Perxylobates vermiseta (Balogh et

22 Xylobates capucinus (Berlese, 1908) X

23 Xylobates lophotrichus (Brerlese, 1904) X X X

24 Xylobates monodactylus (Haller, 1804) X

25 Xylobates sp X

XII PROTORIBATIDAE J BALOGH ET

P BALOGH, 1984

19 XII 1 Liebstadia Oudemans, 1906

26 Liebstadia humerata Sellnick, 1928 X X

XIII HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936

20 XIII1 Peloribates Berlese, 1908

27 Peloribates pseudoporosus Balogh et

Mahunka, 1967

X

21 XIII2 Rostrozetes Sellnick, 1925

28 Rostrozetes trimorphus Balogh et

Trang 19

29 Nanobates clavatus Mahunka, 1988 X X

23 XIV2 Scheloribates Berlese, 1908

30 Scheloribates cruciseta Vu et Jeleva, 1987 X X X

31 Scheloribates fimbriatus Thor, 1930 X X

32 Scheloribates latipes (C L Koch, 1841) X

33 Scheloribates pallidulus (C L Koch,

1840)

34 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) X

24 XIV3 Tuberemaeus Sellnick, 1930

36 Tuberemaeus sculpturatus Mahunka, 1987 X

XV ORIPODIDAE JACOT, 1925

25 XV 1 Oripoda Bank, 1904

37 Oripoda excavata Mahunka, 1988 X X

26 XV 2 Truncopes Grandjean, 1956

38 Truncopes orientalis Mahunka, 1987 X X

XVI CERATOZETIDAE JACOT, 1925

27 XVI1 Allozetes Berlese, 1914

39 Allozetes pusillus Berlese, 191 X

XVII AUSTRACHIPTERIIDAE LUXTON,

1985

28 XVII

1

Lamellobates Hammer, 1958

40 Lamellobates palustris Hammer, 1958 X

XVIII ORIBATELLIDAE JACOT, 1925

29 XVII

I 1

Oribatella Bank, 1895

41 Oribatella sculpturata Mahunka, 1987 X

XIX ACHIPTERIDAE THOR, 1929

30 XIX1 Parachipteria Hammen, 1952

42 Parachipteria distincta (Aoki, 1959) X X

31 XIX2 Achipteria Berlese, 1885

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quang Mạnh (1984), “Dẫn liệu về nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội)”, Thông báo khoa h ọ c Đ HSP Hà N ộ i, 2(1), tr.11 -16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội)”, "Thông báo khoa học ĐHSP Hà Nội
Tác giả: Vũ Quang Mạnh
Năm: 1984
4. Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006, Nghiên c ứ u đặ c đ i ể m c ấ u trúc c ủ a qu ầ n xã Chân kh ớ p bé ở các đ ai cao khí h ậ u khác nhau c ủ a V ườ n qu ố c gia Xuân Sơn, Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của quần xã Chân khớp bé ở các đai cao khí hậu khác nhau của Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ
5. Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, Lưu Thanh Ngọc, Nguyễn Ngọc Phấn (2007), “Ve giáp (Acari: Oribatida) trong cấu trúc chân khớp bé (Microarthropoda) ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” - Nh ữ ng v ấ n đề nghiên c ứ u c ơ b ả n trong khoa h ọ c s ự s ố ng, Nxb KH và KT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ve giáp (Acari: Oribatida) trong cấu trúc chân khớp bé (Microarthropoda) ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” - "Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống
Tác giả: Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, Lưu Thanh Ngọc, Nguyễn Ngọc Phấn
Nhà XB: Nxb KH và KT
Năm: 2007
6. Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, Nguyễn Hải Tiến (2008), “Nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật đất - yếu tố chỉ thị phát triển bền vững của hệ sinh thái đất”, Báo cáo hội thảo nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ sinh h ọ c cho phát tri ể n nông nghi ệ p và môi tr ườ ng b ề n v ữ ng vùng Tây Nguyên, tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật đất - yếu tố chỉ thị phát triển bền vững của hệ sinh thái đất”, "Báo cáo hội thảo nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ sinh học cho phát triển nông nghiệp và môi trường bền vững vùng Tây Nguyên
Tác giả: Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, Nguyễn Hải Tiến
Năm: 2008
7. Đào Duy Trinh, 2011, Thành phần và cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ, Luận án tiến sĩ sinh học.Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: "Oribatida) ở vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
3. Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 1995, “Danh sách các loài Ve giáp đất (Acari: Oribatei) ở Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Vị trí địa lý Cát Bà – Hải Phòng [ 8 ]. - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Hình 2.1. Vị trí địa lý Cát Bà – Hải Phòng [ 8 ] (Trang 11)
Hình 2.2. Vị trí Núi Ngọc ở thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đảo Cát Hải - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Hình 2.2. Vị trí Núi Ngọc ở thị trấn Cát Bà thuộc huyện Đảo Cát Hải (Trang 12)
Bảng 3.1. Thành phần loài và sự phân bố của Ve giáp ( Oribatida) độ sâu - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Bảng 3.1. Thành phần loài và sự phân bố của Ve giáp ( Oribatida) độ sâu (Trang 16)
Bảng 3.2. Thành phần phân loại học của Ve giáp ở tại Núi Ngọc,  Cát Bà – Hải Phòng - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Bảng 3.2. Thành phần phân loại học của Ve giáp ở tại Núi Ngọc, Cát Bà – Hải Phòng (Trang 21)
Bảng 3.3.  Tỉ lệ Oribatida ưu thế trong các sinh cảnh nghiên cứu - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Bảng 3.3. Tỉ lệ Oribatida ưu thế trong các sinh cảnh nghiên cứu (Trang 26)
Hình 3.1. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh Đỉnh Núi Ngọc, - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Hình 3.1. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh Đỉnh Núi Ngọc, (Trang 27)
Hình 3.2. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh Chân Núi Ngọc, - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Hình 3.2. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh Chân Núi Ngọc, (Trang 28)
Hình 3.3. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
Hình 3.3. Cấu trúc loài Oribatida ưu thế trong sinh cảnh (Trang 29)
HÌNH ẢNH LẤY MẪU NGOÀI THỰC ĐỊA - Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) tại núi ngọc cát bà thuộc huyện cát hải   hải phòng và vùng phụ cận
HÌNH ẢNH LẤY MẪU NGOÀI THỰC ĐỊA (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w