1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực tiễn nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

14 10,4K 73

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 40,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sự sụp đổ của Hội Quốc Liên và sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc năm 1945 với tôn chỉ, mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận "bình đẳng

Trang 1

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung, điều chỉnh những quan hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế, hình thành hệ thống cấu trúc bên trong của Luật quốc tế

Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, một nguyên tắc mang tính nền tảng

trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Về mặt lý luận, hiểu một cách khái quát, mỗi quốc gia có chủ quyền tức là có quyền lực tối cao trong quan hệ đối nội và quyền lực độc lập trong quan hệ đối ngoại Nguyên tắc này nhằm đảm bảo

sự công bằng cho các quốc gia trong việc hưởng quyền cũng như thực hiện nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ quốc tế Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khả năng tham gia vào quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia là không giống nhau, do đó, các quy phạm pháp luật quốc tế cũng sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh Bài tiểu luận sẽ phân tích cụ thể về nội dung và thực tiễn nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, với hai phần chính:

- Phần I: Nội dung nguyên tắc

- Phần II: Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Nội dung nguyên tắc :

1 Sự hình thành nguyên tắc

Xuất hiện từ rất sớm, khi loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa, đây được xem là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thời bấy giờ Hiến pháp

tư sản cũng ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền dân tộc như một tôn chỉ của mình Tuy vây, trên thực tế trong thời kỳ đó, nguyên tắc này vẫn chưa được tôn trọng và phạm vi điều chỉnh còn hạn chế Các cuộc đấu tranh đầu thế kỷ 19, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai liên tiếp nổ ra nhằm phân chia lại thị trường thế giới đều là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự vi phạm thô bạo nguyên tắc của các nước tư bản thời kỳ đó

Trang 2

Từ sự sụp đổ của Hội Quốc Liên và sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc năm

1945 với tôn chỉ, mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận "bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia" là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này Điều 2, khoản 1 Hiến chương ghi rõ: Liên Hợp Quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên

Sở dĩ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia trở thành một nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật quốc tế cũng như trong hoạt động của Liên Hợp Quốc bởi vì:

Thứ nhất, do nhu cầu thiết lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ

hai Với sự thất bại của Hội Quốc Liên trong việc ngăn chặn chiến tranh, Liên Hợp Quốc ra đời với nhiều sửa đổi, đặc biệt là trong vấn đề tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới

Thứ hai, bình đẳng về chủ quyền các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện

đại Trật tự quốc tế chỉ có thể được duy trì nếu các quyền bình đẳng của các quốc gia tham gia trật tự đó hoàn toàn được đảm bảo Trong quan hệ quốc tế hiện nay, vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia

2, Khái niệm "Bình đẳng chủ quyền":

Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện

quyền lực tối cao của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền lực độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế dù giàu hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế

Trang 3

Bình đẳng được đề cập đến trong nguyên tắc này không được hiểu theo

nghĩa "ngang bằng nhau" về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà là bình đẳng trong quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế của các quốc gia không giống nhau, do đó Luật quốc tế trong một số trường hợp đã có những quy phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà các quốc gia khác không có (Ví dụ: quyền phủ quyết của 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc) Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đặc biệt này bao giờ cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác thêm những nghĩa vụ đặc biệt khác

3, Nội dung pháp lý:

Bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm:

- Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý

- Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;

- Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;

- Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế

và văn hóa của mình;

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác

* Theo nguyên tắc này mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau:

- Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa;

- Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;

- Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau;

- Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;

Trang 4

- Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;

- Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác

II, Thực tiễn thực hiện nguyên tắc

1, Áp dụng nguyên tắc trong xây dựng, tuân thủ và thực thi pháp luật quốc tế

a Trong quá trình xây dựng luật quốc tế

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện đại, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã lấy nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình: “ Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên” (Khoản 1, Điều 2) Nguyên tắc còn được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và

tổ chức quốc tế Chính vì lẽ đó, các quy định của Luật quốc tế đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Việc thực hiện chủ quyền quốc gia vô cùng quan trọng Nó nhằm khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia

và được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội cũng như đối ngoại của quốc gia

Ví dụ: Khi xây dựng Công ước luật biền 1982, các quốc gia đã thảo luận trên

cơ sở nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và nhất trí ghi nhận điều 87 :

Biển cả được bỏ ngỏ cho tất cả quốc gia có biển hay không có biển đều bình đẳng và tự do trong việc sử dụng biển Quyền tự do trên biển cả bao gồm: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VII công ước Viên quy định về thềm lục địa, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học Tuy nhiên các quốc gia khi thực hiện quyền tự do này phải tính dến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng

Trang 5

.b Trong việc thực thi pháp luật quốc tế

Cùng với quá trình hình thành và phát triển của luật quốc tế thì vấn đề thực thi luật quốc tế cũng là một yêu cầu tất yếu Hiểu đơn giản, thực thi luật quốc tế là quá trình hiện thực hóa các quy định của luật quốc tế vào đời sống sinh hoạt quốc tế Do bản chất của luật quốc tế là tự thỏa thuận, tự cưỡng chế nên trong hệ thống pháp luật quốc tế không có các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp như pháp luật quốc gia mọi hoạt động liên quan đến việc xây dựng và thực thi luật quốc tế trong đời sống sinh hoạt quốc tế đều do các chủ thể luật quốc tế tự thỏa thuận theo nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia Các chủ thể căn cứ vào nguyên tắc cơ bản đó

để xác định, thực thi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quốc tế quy định, tiến hành các hoạt động mà luật quốc tế cho phép

Ví dụ: WTO thừa nhận 3 hình thức của các biện pháp chống bán phá giá, đó

là: biện pháp tạm thời, cam kết về giá và thuế chống bán phá giá chính thức Ba biện pháp đó được điều chỉnh bởi Hiệp định Chống bán phá giá Theo các quy định của WTO, phá giá không bị cấm, nhưngcác thành viên WTO có quyền áp dụng các biện pháp bảo hộ nền công nghiệp nội địa khỏi các tác động xấu từ phá giá Ở đây thể hiện sự tôn trọng chủ quyền và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia thành viên Nguyên tắc còn là công cụ hữu hiệu, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp quốc tế

Ví dụ: trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, khi mà các bên tranh chấp đều

đưa ra lý lẽ của mình trong việc giải thích, áp dụng Công ước về biển thì nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền đóng vai trò vô cùng quan trong trong việc xác định chủ quyền, đảm bảo tính công bằng cho quốc gia có chủ quyền bị xâm phạm

c Trong việc tuân thủ pháp luật quốc tế

Tuân thủ luật quốc tế là một hình thức thực hiện pháp luật quốc tế, trong đó các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Những hành vi không tuân thủ pháp luật quốc tế dẫn đến hậu quả bị áp dụng chế tài bất lợi cho người vi phạm Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền trên thực tế đã phát huy vai trò là một trong những phương tiện thiết yếu để duy trì trật tự pháp lý quốc tế với đặc trưng quan trọng của nguyên tắc là tính mệnh lệnh bắt buộc chung Tất cả các chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc

cơ bản của luật quốc tế, bất kì vi phạm nào cũng sẽ tất yếu tác động đến lợi ích của

Trang 6

các chủ thể khác của quan hệ quốc tế Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuẩn thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế

Ví dụ pháp luật quốc tế thừa nhận nguyên tắc “Bình đẳng chủ quyền giữa các

quốc gia” trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên nước A do có tiểm lực kinh tế, chính trị mạnh đã dùng ảnh hưởng của mình để tạo áp lực, buộc quốc gia B – là nước đang phát triển phải tiến hành ký kết điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề kinh tế, trong

đó ghi nhận lợi ích quốc gia A nhiều hơn so với B Điều ước này không hợp pháp do

vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều không có giá trị pháp lý

Ví dụ: Nếu trong các văn bản pháp luật quốc tế như Công ước về hàng không

dân dụng có quy định đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền thì quy định

đó không có giá trị pháp lý

Đối với các lĩnh vực có nguyên tắc chuyên biệt như Luật biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế… bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể

Ví dụ : trong luật biển quốc tế có ghi nhận một loạt các nguyên tắc chuyên

ngành như: nguyên tắc tự do biển cả, nguyên tắc đất thống trị biển… các quốc gia khi tham gia quan hệ quốc tế liên quan đến biển song song với việc thực hiện

nghiêm chỉnh các nguyên tắc chuyên ngành, họ cũng phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản “ bình đẳng về chủ quyến” của luật quốc tế

2, Các trường hợp đặc biệt

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể của luật quốc tế đã thừa nhận một số ngoại lệ của nguyên tắc này Những ngoại lệ này không hề tạo ra sự bất bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia mà hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và được cộng đồng quốc tế thừa nhận Và hiện nay, tồn tại hai trường hợp ngoại lệ như sau:

a. Quốc gia bị hạn chế chủ quyền

Trang 7

Trường hợp này đặt ra đối với chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế và việc bị hạn chế chủ quyền là các biện pháp chế tài hoặc sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với hành vi của họ

Ví dụ như: Ngày 6 tháng 8, 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo

an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq,

chuẩn bị cấm vận kinh tế toàn diện, chỉ trừ cung cấp y tế, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác của con người, những biện pháp này được Uỷ ban trừng phạt của Hội đồng Bảo an đưa ra Sau khi kết thúc chiến tranh và sau khi quân Iraq rút khỏi

Kuwait, các biện pháp trừng phạt này được ràng buộc với việc giải trừ Các vũ khí huỷ diệt hàng loạt theo Nghị quyết 687 của Liên hiệp quốc

Hay với việc xây dựng chương trình vũ khí hạt nhân, Liên hợp quốc đã thi hành sự trừng phạt kinh tế thương mại với Triều Tiên vào năm 2006 và 2009 Nghị quyết

1874 đã ngăn cản các dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho chương trình hạt nhân hoặc tên lửa đạn đạo, cấm tất cả việc xuất khẩu vũ khí từ quốc gia này và phần lớn

sự nhập khẩu vào quốc gia này, ngoại trừ vũ khí bộ binh, vũ khí hạng nhẹ và các thiết bị lien quan Việc bị hạn chế chủ quyền này là biện pháp trừng phạt của cộng đồng quốc tế nhằm đảm bảo duy trì hòa bình và an ninh giữa các quốc gia Bởi vì, nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia chỉ được tôn trọng khi quốc gia đạt được lợi ích của mình mà không xâm hại tới lợi ích của các quốc gia khác và phải gắn với những giới hạn cần thiết mà luật quốc tế cho phép

b Trường hợp quốc gia tự hạn chế quyền hạn của mình:

Đây là trường hợp các quốc gia tự lựa chọn vì lợi ích của chính mình hoặc họ

tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách trao quyền cho 1 thể chế khác (như tổ chức quốc tế, quốc gia khác ) được thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của quốc gia; hoặc một số quốc gia đã tự hạn chế quyền tham gia vào các

tổ chức quốc tế của mình Trong các trường hợp này, quốc gia đã tự nguyện hạn chế quyền chủ quyền của mình và không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

Trang 8

Ví dụ:Thụy sỹ khi tuyến bố mình là quốc gia trung lập vĩnh viễn Điều này đồng

nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc tế nào nhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế giới

Thụy Sỹ đã tự hạn chế quyền của mình để theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích của mình Mục tiêu của chính sách đối ngoại là bảo vệ, tăng cường vị thế chính trị và kinh tế của Thụy Sỹ trên thế giới Chính sách đối ngoại trung lập là công cụ quan trọng, xuyên suốt và là nội dung chủ yếu của nền ngoại giao Thụy Sỹ từ 1815 tới nay Đây là một chính sách đối ngoại vô cùng khôn khéo giúp Thụy Sỹ tránh được hai cuộc chiến tranh thế giới

Quốc gia hạn chế quyền bằng cách trao quyền cho 1 thế chế khác:

Ví dụ: Công quốc Mô-na-cô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối

ngoại, dù nó là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Mô-na-cô theo chế độ quân chủ cha truyền con nối; Bộ trưởng nhà nước do Công tước bổ nhiệm từ danh sách 3 ứng

cử viên người Pháp do Chính phủ Pháp đề cử

Mô-na-cô là một nước nhỏ ở châu Âu, từ thế kỷ XIII đã phụ thuộc vào các vương triều ở Pháp và Bắc I-ta-lia Từ năm 1918, theo thoả thuận ký với Pháp, Mô-na-cô trao cho Pháp quyền đại diện ngoại giao; Pháp bảo hộ nền kinh tế - tài chính, quốc phòng, an ninh Việc công quốc Mônacô đã tự hạn chế quyền hạn chủ quyền của mình khi ủy quyền ngoại giao cho Pháp và cho Pháp can thiệp vào chế độ chính trị của mình nhằm lấy được sự bảo hộ của Pháp, tránh sự can thiệp hay xâm lược từ các quốc gia lớn khách

c Trường hợp quyền phủ quyết của Hội đồng bảo an

Quyền phủ quyết (veto): Là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng

Bảo an có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác,

Trang 9

thường trực và không thường trực, bỏ phiếu tán thành Nói cách khác, đây là việc thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa năm nước ủy viên thường trực Trong suốt quá trình hoạt động của mình với tư cách ủy viên thường trực, tất cả năm nước này đều

đã áp dụng quyền phủ quyết của mình trong đó hai nước Mỹ và Liên Xô (cũ) là những nước sử dụng nhiều nhất Kể tử năm 1945, thời điểm Liên Hợp Quốc được thành lập, Liên Xô cũ và Nga sử dụng 120 lần quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo

an, Mỹ sử dụng 76 lần, Anh 32 lần, Pháp 18 lần và Trung Quốc mới sử dụng 5 lần

Để một nghị quyết được thông qua, nó phải thu hút được 9 phiếu thuận từ tổng cộng 15 nước thành viên của HĐBA, trong đó có 5 thành viên thường trực và

10 thành viên không thường trực Trong số 9 phiếu thuận đó tính cả số phiếu tán thành của các thành viên thường trực Quyền phủ quyết của các thành viên thường trực đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thông qua một nghị quyết

Trên thực tế, không nhất thiết nghị quyết có mang tính thực chất (có liên quan đến thủ tục) nào được thông qua cũng cần phải có đủ năm phiếu thuận của năm ủy viên thường trực Nếu như một nước ủy viên thường trực không ủng hộ hoặc không muốn biểu thị sự ủng hộ của mình đối với một nghị quyết, đồng thời cũng không muốn ngăn cản việc thông qua nghị quyết, nước đó có thể bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, hành động này không bị coi là phủ quyết và nghị quyết vẫn được thông qua Thông thường, các nước ủy viên Hội đồng Bảo an cố tìm cách dàn xếp trước để nghị quyết có thể được thông qua Tuy nhiên, nhiều nước, cho dù biết trước dự thảo nghị quyết của mình sẽ bị phủ quyết nhưng vẫn đưa ra bỏ phiếu nhằm gây sức ép chính trị

Quyền phủ quyết của các ủy viên thường trực hội đồng bảo an không đi ngược lại với nguyên tắc bình đẳng của Liên Hợp Quốc Bởi lẽ quyền phủ quyết được tạo ra với mục đích đảm bảo tính pháp chế Đồng thời các nước thành viên tham gia cũng tự nguyện công nhận điều đó nên quyền phủ quyết không đi ngược lại

Trang 10

phủ quyết với mục đích riêng như để bảo vệ cho một số chính phủ có tội ác nghiêm trọng Đây chính là hạn chế lớn nhất trong việc thực hiện quyền phủ quyết Từ đó dẫn tới những tranh cãi xung quanh vấn đề này trong khóa họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc nhân kỷ niệm 70 năm thành lập tổ chức quốc tế này Nổi bật với hai ý kiến về vấn đề quyền phủ quyết: một là loại bỏ hoàn toàn quyền phủ quyết, hai là hạn chế quyền phủ quyết trong một số những quy định cụ thể

Ví dụ: nhằm gia tăng sức ép với Nga, Mỹ đã soạn một dự thảo Nghị quyết

yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lên án cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 16/3/2014 tại nước Cộng hòa tự trị Crimea về kế hoạch sáp nhập vào Nga, đồng thời kêu gọi các nước và tổ chức quốc tế không công nhận kết quả cuộc bỏ phiếu này Bản dự thảo Nghị quyết của Mỹ nhận được sự ủng hộ của 13 nước thành viên của Hội đồng Bảo an, tuy nhiên Nga đã phủ quyết dự thảo, trong khi Trung Quốc bỏ phiếu trắng Nga đã sử dụng quyền phủ quyết vì cho rằng Nghị quyết này đi ngược với nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc được ghi trong Điều 1 của Hiến chương Liên Hợp Quốc

3 Một số ví dụ về hành vi thiếu trách nhiệm trong quan hệ quốc tế

Thực tế quan hệ quốc tế cho thấy quốc gia theo đuổi những lợi ích vị kỉ, có thái độ và hành động thiếu cân nhắc về hậu quả, làm phương hại đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác Có thể kể đến một số hành động thiếu trách nhiệm sau:

a Không tôn trọng, tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực, thể chế quốc tế

Hai nhiệm kì cầm quyền của Tổng thống G W Bush làm cho uy tín của Mỹ bị giảm sút nghiêm trọng trên trường quốc tế Lý do cơ bản bởi chính quyền của Tổng thống Bush theo đuổi một loạt các hành động theo đuổi lợi ích quốc gia vị kỉ, ưu tiên các biện pháp đơn phương, và coi trọng sử dụng sức mạnh trong chính sách đối ngoại

Cụ thể, chính quyền Mỹ từ chối tham gia Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, không phê chuẩn Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn

Ngày đăng: 30/11/2015, 05:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w