1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành Chính Nhà Nước Từ Thế Kỷ XVI – XVIII (Thời Kỳ Nội Chiến Nam - Bắc Triều Và Triều Đại Tây Sơn)

150 3,8K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 663,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Đến đầu thế kỷ XVI, bởi vì vua nhà Lê, bỏ bê việc chính trị - đổ nát, cho nên trong nước loạn lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự thoán đoạt ngôi... • Thái phó nhân Quốc công Mạc Đăng Dun

Trang 1

Phần thứ hai

HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỜI KỲ XÂY

DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

PHONG KIẾN

Chương 4 Hành chính Nhà nước từ thế kỷ

XVI – XVIII (thời kỳ nội chiến Nam - Bắc triều và

triều đại Tây Sơn)

Trang 2

I Khái quát đôi nét về bối cảnh lịch sử

II Cơ chế quản lý hành chính dưới triều Mạc – Bắc triều (từ 1527 đến

1592 Kinh đô : Đông Đô – Hà Nội ) III Cơ chế quản lý hành chính của Nam triều (Vua Lê – Chúa Trịnh ở Thanh Hoá từ 1533 – 1592)

Trang 3

IV Cơ chế quản lý hành chính dưới thời Vua Lê – Chúa Trịnh ở đàng

ngoài (từ 1593 – 1786)

V Cơ chế quản lý hành chính thời

các chúa Nguyễn ở đàng trong (từ

1558 đến 1801)

VI Hành chính nước ta dưới thời Tây Sơn (1788 – 1802)

Trang 4

I Khái quát đôi nét về bối

cảnh lịch sử

Nhà Lê suy yếu

• Đầu thế kỷ XVI, sau khi Lê Hiến Tông

mất, xã hội Đại Việt mất dần cảnh

thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân sống cực khổ, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau mỡ đầu cho một giai

đoạn mới của chế độ xã hội phong

Trang 5

• Năm 1504, hiến Tông ”vì ham sắc quá nhiều” chết sớm, Lê uy mục(1505-

1509) sao nhãng việc triều chính “đêm cùng cung nhân uống rượu vô độ, ai say thì giết”.

• Nước nhà hết kiệt tiền của.

• Chính quyền Trung ương, địa phương quan lại mặc sức tung hoành…

Trang 6

• Trong bài dịch của Lương Đắc Bằng

có tố cáo quan lại “tước đã hết mà lạm thưởng không hết, dân đã cùng mà

lạm thung không cùng, phú thuế thu

đến tơ tóc mà dùng như bùn đất.”;

• Ông khuyên vua mới nên “đuổi bỏ kẻ

tà nịnh”, “công bằng tuyển bổ quan

lại”, “cấm hối lộ để bỏ thói tham ô”.

• Dĩ nhiên Tương Dực cũng như Chiêu Tông sau này đã không theo

Trang 7

• Nước Nam ta từ khi Ngô Vương Quyền đánh đuổi được quân Nam Hán, vua

Đinh Tiên Hoàng dẹp yên được loạn

Trang 8

• Đến đầu thế kỷ XVI, bởi vì vua

nhà Lê, bỏ bê việc chính trị - đổ nát, cho nên trong nước loạn lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự

thoán đoạt ngôi

Trang 9

NHÀ HẬU LÊ Thời kỳ phân tranh (1533-1788)

NAM TRIỀU - BẮC TRIỀU

(1527-1592)

Trang 10

Nhà Mạc chuyên quyền

• Từ 1522, thế lực của nhà Lê ngày càng tàntạ

• Thái phó nhân Quốc công Mạc Đăng Dung

tự quyền phế vua Chiêu Tông, lập Lê Xuân

(Cung Hoàng) lên làm vua, sau đó, năm1527nhận thấy sự bất lực của nhà Lê và “thần dân trong nước đã theo mình”, ông bức vua Lê

phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc(1527-1592)

Trang 11

• Năm Đinh Hợi (1527) Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua, đặt

niên hiệu là Minh Đức.

• Mạc Đăng Dung bắt chước lối nhà

Trần, làm vua được 3 năm thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh rồi

về ở Cổ Trai Nghi Dương Kinh làm

Thái Thượng Hoàng.

Trang 12

• Tồn tại trong một bối cảnh luôn

luôn bị chống đối của các cựu thần nhà Lê, nhà Mạc chỉ cố gắng củng

cố mô hình tổ chức chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã

khá hoàn chỉnh từ cuối thế kỷ XV.

Trang 13

NAM TRIỀU - BẮC TRIỀU (1527-1592 )

Trang 14

NAM TRIỀU - BẮC TRIỀU (1527-1592 )

6 Khôi phục thành Thăng long

Trang 15

Từ năm 1527

Đến năm 1592

Trang 16

BẮC TRIỀU

Thái Tổ Mạc Đăng Dung (1527-1529)

Niên hiệu: Minh Đức

Thái Tông Mạc Đăng Doanh (1530-1540) Niên hiệu: Đại Chính

Trang 17

NAM TRIỀU - BẮC TRIỀU (1527-1592 )

Chính trị Nhà Mạc

Năm đinh hợi (1527) Mạc Đăng

Dung thoán đoạt ngôi nhà Lê lên làm vua, đặt niên hiệu là Minh

Đức

Trang 18

• Mạc Đăng Dung bắt chước lối nhà

Trần, làm vua được ba năm thì

nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh rồi về ở Cổ Trai, làm Thái

Thượng Hoàng

Trang 19

Hình rồng chạm trên đá thời Mạc

(1528-1592)

Trang 20

Triều đình nhà Mạc

Trang 21

• Năm canh dần (1530) Mạc Đăng

Doanh lên làm vua, đặt niên hiệu là Đại Chính Đăng Doanh tuy làm vua nhưng công việc trong nước

thường do Mạc Đăng Dung quyết

đoán cả

Trang 22

• Mạc Đăng Doanh làm vua được 10

năm, đến năm canh tý (1540) thì

mất, truyền ngôi lại cho con là Mạc Phúc Hải

• Mạc Phúc Hải lên nối ngôi, đổi niên

hiệu là Quảng Hòa

Trang 23

TIẾP NHÀ MẠC…

• Hiến Tông Mạc Phúc Hải

(1541-1546) Niên hiệu: Quãng hòa

Trang 24

• Tuyên Tông Mạc Phúc Nguyên (1546 - 1561) Niên hiệu: Vĩnh Định (1547)

Đoan thái (1586-1587) Hưng trị 1590) Hồng ninh (1591-1592)

Trang 25

(1588-Mạc Mậu Hợp làm vua được 30

năm Sau bị Trịnh Tùng bắt được

đem về chém ở Thăng Long và

đem đầu vào bêu ở Thanh hóa

Nhà Mạc mất ngôi từ đấy Nhưng

con cháu được nhờ nhà Minh bênh vực, còn được giữ đất Cao bằng

ba đời nữa

Trang 26

• Sau khi Mạc Mậu Hợp mất theo lời khuyên của trạng trình Nguyễn

Bỉnh Khiêm, họ Mạc lên ở Cao

Bằng kéo dài đến Mạc Kính Vũ

năm 1677, được 150 năm.

Trang 27

LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Cách thức tổ chức

và vận hành của bộ máy cai trị (QLNN)

nói chung

Cách thức tổ chức

và vận hành của bộ máy cai trị (QLNN)

nói chung

Trang 29

II Cơ chế quản lý hành chính dưới triều Mạc – Bắc triều (từ 1527 đến

1592 Kinh đô : Đông Đô – Hà Nội )

Trang 30

Từ năm 1527

Đến năm 1592

Trang 31

• Nhà mạc vẫn duy trì tổ chức bộ máy nhà nước như trước, đặc biệt tăng cường xây dựng lực lượng quân đội.

Trang 32

• Về cơ bản bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương của Triều Mạc vẫn duy trì theo khuôn mẫu

đã được thiết lập từ thời Lê sơ.

Cách thức tổ chức và vận hành của bộ máy

cai trị

Cách thức tổ chức và vận hành của bộ máy

cai trị

Trang 33

Tổ chức hành chính địa phương thời LÊ

Huyện Châu

ĐẠI VIỆT

Phủ

Trang 34

CHÍNH SÁCH

Gíao dục

Trang 35

• Nhà mạc chủ trương mỡ rộng thi cử

đều đặn, cứ 3 năm một lần để nhanh chóng đào tạo tuyển dụng được một lực lượng quan lại bổ sung cho bộ

máy hành chính.

• Nhà Mạc đã tổ chức khoa thi Tiến sĩ

vào năm kỷ sửu (1529) dưới triều Mạc Thái Tổ.

Trang 36

• Mở khoa thi: có 22 khoa thi, đỗ 499 Tiến sĩ và 13 vị Trạng Nguyên Trong

đó có những vị trạng nguyên lừng

danh như: Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 37

• Đào tạo nhân tài cho đất nước.

Chế độ khoa

cử

Trang 38

Mềm yếu và lúng túng với nhà

Minh - Trung Quốc

Về đối ngoại

“Khổ nhục kế” tự trói mình, nộp sổ sách, cắt đất 5 động phía Đông – Bắc cho nhà Minh

Được phong An Nam Đô thống sứ ty

“Khổ nhục kế” tự trói mình, nộp sổ sách, cắt đất 5 động phía Đông – Bắc cho nhà Minh

Được phong An Nam Đô thống sứ ty

Trang 39

• “Khổ nhục kế” đã xúc phạm đến điều thiêng liêng nhất của dân tộc ta được vun đắp trong trường kỳ kháng chiến lịch sử, đó là độc lập dân tộc và thanh danh của Tổ quốc.

Trang 40

• Những chính sách đối nội và đối ngoại của nhà Mạc đã làm cho triều đình nhà Mạc suy yếu;

• Tệ nạm tham nhũng, hạch sách dân nhân của hàng ngũ quan lại trong bộ máy cai trị ngày càng gia tăng và phổ biến

• Nhiều quần thần dâng sớ khuyên ngăn Mạc Mậu Hợp giảm bớt chơi bời chăm lo triều

chính nhưng vô hiệu, họ đều chán nản lui

về ở ẩn

Trang 41

Từ năm 1527

Đến năm 1592

Trang 42

• Nhà Mạc làm vua từ Mạc Đăng

Dung cho đến Mạc Mậu Hợp

được 65 năm.

Trang 43

NAM TRIỀU - BẮC TRIỀU (1527-1592 )

Chính trị Thời Lê Trung Hưng (1533-1789)

Trang 44

• Nhà Lê tuy đã mất ngôi, nhưng lòng người còn tưởng nhớ đến công đức của vua Thái Tổ và vua Thánh Tông, cho nên lại theo phò con cháu nhà Lê trung hưng lên ở phía nam, lập ra một Triều đình riêng ở vùng Thanh Hóa,

Nghệ An để chống nhau với nhà Mạc.

• => Nam Triều và Bắc Triều; hai bên

đánh nhau trong năm sáu mươi năm trời

Trang 45

Đại Việt

Thời Lê Trung Hưng ( 1533 – 1789 )

1 Lê Trang Tông (1533-1548)

Niên hiệu: Nguyên hòa

2 Lê Trung Tông (1548-1556)

Niên hiệu: Thuận bình

Trang 46

Đại Việt

Thời Lê Trung Hưng ( 1533 – 1789 )

3 Lê Anh Tông (1556 - 1573)

Niên hiệu: Thiên-hữu (1557) Chính trị (1558-1571) Hồng phúc (1572-1573)

4 Lê Thế Tông (1573 - 1599)

Niên hiệu: Gia thái (1573-1577)

Quang hưng (1578-1599)

Trang 47

Đại Việt

Thời Lê Trung hưng ( 1533 –1789 )

5 Lê Thần Tông (1619-1643) (lần thứ nhất)

Niên hiệu: Vĩnh tộ (1620-1628) Đức long (1629-1643) Dương hòa (1635-1643)

6 Lê Chân Tông (1634-1649)

Niên hiệu: Phúc-thái

Trang 48

Đại Việt

Thời Lê Trung hưng ( 1533 – 1789 )

7 Lê Thần Tông (1649-1662) (lần thứ hai)

Niên hiệu: Khánh đức (1649-1652) - Thịnh đức (1653-1657) – Vĩnh thọ (1658- 1661) - Vạn khánh (1662).

8 Lê Hi Tông ( 1676-1705)

Niên hiệu: Vĩnh trị (1678-1680) – Chính hòa (1680-1705)

Trang 49

Đại Việt

Thời Lê Trung hưng ( 1533 – 1789 )

9 Lê Đế Duy Phương (1729-1732)

Niên hiệu: Vĩnh khánh

10 Lê Thuần Tông (1732-1735)

Niên hiệu: Long đức

11 Lê Ý Tông (1735-1740)

Niên hiệu: Vĩnh hữu

Trang 50

Đại Việt

Thời Lê Trung hưng ( 1533 – 1789 )

12 Lê Hiển Tông (1740-1786)

Niên hiệu: Cảnh hưng

13 Lê Mẫn Đế (1787-1788)

Niên hiệu: Chiêu thống

Trang 51

Từ năm 1533

Đến năm 1592

Nam triều (Vua Lê – Chúa Trịnh

từ 1533 – 1592)

Nam triều (Vua Lê – Chúa Trịnh

Trang 52

4 Lê Thế Tông (1573 - 1599) Niên hiệu: Gia thái (1573-1577) Quang hưng (1578-1599)

• Thế Tông húy là Duy Đàm, con thứ 5

vua Anh Tông Trịnh Tùng lập ngài lên làm vua từ lúc còn 7 tuổi

• Trong đời ngài làm vua, Trịnh Tùng dứt được họ Mạc, lấy lại đất Đông Đô – Hà Nội

• Ngài làm vua được 27 năm, thọ 33 tuổi

Trang 53

• Đến khi nhà Lê nhờ có họ Trịnh

giúp rập, dứt được nhà Mạc, tưởng

là giang sơn lại thống nhất như cũ,

Trang 54

• Họ Nguyễn giữ xứ Nam;

• Họ Trịnh giữ xứ Bắc;

• Mỗi họ chiếm giữ một Xứ để làm

cơ nghiệp riêng của mình

• Từ đó giang sơn chia rẽ, Nam Bắc phân tranh, ấy là một thời đại riêng trong lịch sử nước ta vậy

Trang 55

TRỊNH NGUYỄN PHÂN TRANH

Lê Kính Tông (1600-1619)

Niên hiệu: Thận Đức (1600)

Hoằng Định (1601-1619)

Trang 56

Tổ chức hành chính địa phương Đàng ngoài Vua Lê – Chúa Trịnh

Trang 59

Trịnh – Nguyễn phân tranh

• Trong suốt gần 200 năm họ Nguyễn cát

cứ ở miền Nam, nhân dân 2 miền Nam, Bắc vẫn không xem nhau là người nước khác và mặc dầu có sự ngăn cấm của

chính quyền, người 2 miền vẫn qua lại buôn bán với nhau, nhất là bằng đường biển.

• Để phân biệt, người ta chỉ gọi nhau là

Đàng trong và Đàng ngoài.

Trang 60

Trịnh – Nguyễn phân tranh

• Ngay cả họ Nguyễn, mặc dầu cát cứ vẫn theo niên hiệu nhà Lê, mà đối với nhân dân thì chỉ nói là chống đối gian thần họ Trịnh để khôi phục quyền nhất thống của nhà Lê Họ Trịnh cũng vậy.

• Không những trong ý thức của nhân

dân mà cả trong ý thức của kẻ thống trị, phân tranh chỉ là tạm thời, thế nào cuộc thống nhất cũng phải được phục hồi.

Trang 61

• Trong gần nữa thế kỉ, hai bên đánh

Nguyễn đành phải ngừng chiến, lấy

sông Gianh làm giới hạn chia cắt

Đàng ngoài, Đàng trong.

Trang 62

• Cuộc khủng hoảng của chế

độ phong kiến trên phạm vi

cả nước và sự thành lập

các vương triều Tây Sơn

Trang 63

Cuộc khủng hoảng triền miên

của đàng ngoài

• Như báo cáo của diêu quận công Trần Cảnh:”nguyên nhân mấy năm binh lử, dân sự phiêu lưu, số ruộng, văn tự thất lạc nên những kẻ cường hào chiếm

ruộng của người bình dân, khó xét

lắm.

Trang 64

• Theo báo cáo của Ngự sử Ngô Thời Sĩ: ”xét từ khi dân được yên ổn trở về làm ăn mà vẫn bị bọn cường hào áp bức, ruộng đất bỏ hoang vừa được

khai phá lại bị ngay bọn quyền quý

chiếm đoạt Lệnh khuyến nông cốt để cho dân được yên nghiệp nhưng cũng không ngăng cản nổi nạn bạo chiếm”

Trang 65

• Như nhận xét của nhà sử học Lê

Quí Đôn: ”từ năm Bảo Thái, Long

Trang 67

• Năm 1773, phủ chúa lệnh nghiêm cấm ”nhà quyền quý không được chiếm bậy của dân” nhưng hiệu

quả không đáng kể Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét:”quy chế ruộng đất các đời ở Bắc Hà …là

bỏ mặc nhân dân chiếm lẫn nhau”

• “Loạn kiêu binh” ….”quân và dân coi nhau như kẻ thù”

Trang 68

Cuộc khủng hoảng ở Đàng Trong

 Từ giữa thể kỷ XVIII thì xảy ra tình

trạng ruộng công bị đem bán hoặc

cầm cố bỏ hoang, số còn lại bị bọn

nhà giàu xâm chiếm khiến người

nghèo không có mảnh đất cắm dùi,

cho nên người giàu càng giàu, người nghèo càng nghèo, thuế thiếu, dân lưu li.

Trang 69

• Ở cùng Gia Đinh (nam Bộ nay) đất đai rộng lớn, trù phú, người ít thế nhưng ruộng đất nằm trong tay địa chủ; nông dân nghèo vẫn phải đi

cày thuê cuốc mướn hoặc đi khai hoang ở các vùng xa.

Trang 70

• Chế độ tô thuế nặng nề và phiền phức Theo Lê Quí Đôn, ở đây

“hàng năm có 100 thứ thuế mà trưng thu phiền phức, gian lận

nhân dân khổ vì nỗi một cỗ hai

tròng “

Trang 71

• Quan Bản đường cũ tìm mọi cách hạch sách nhân dân ” một người trưng thu thì có vài ba người đốc thu, tra xét phiền nhiễu, lại còn

xét hỏi hành hạ, ẩn lậu, cố tình

tăng giảm, sinh sự”.

Trang 72

• Chính sách thuế khóa của Chúa

Nguyễn đã làm cho cuộc sống của

nông dân ngày càng cực khổ.

• Chế độ phong kiến Đàng Trong bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho

một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả đất nước

Trang 73

Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn và sự thành lập các vương triều Tây Sơn

• Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa đã

bùng nổ ở đất Tây Sơn, do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn

Lữ lãnh đạo Tây Sơn thuộc huyện Phù

Ly, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam

vốn gồm hai vùng: vùng rừng núi gọi là Thượng đạo (nay thuộc Gia Lai -

KonTum) và vùng đồng bằng gọi là Hạ

Trang 74

• Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi

Hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Đức,

phong Nguyễn Huệ làm Long nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết chế Các năm 1782,1783, quân Tây Sơn

hai lần đánh vào Gia Định Quân

Nguyễn Ánh thất bại nặng nề, tạm bỏ Gia Định chạy trốn sang Xiêm.

Trang 75

• Trong khi nghĩa quân Tây Sơn Đánh đổ

chính quyền chúa Nguyễn, đánh tan quân xâm lược Xiêm cũng như những năm trước

đó, Nguyễn Nhạc tự xưng là Hoàng đế lấy

Đồ Bàn làm kinh đô… thì tình hình Đàng

Ngoài này càng khó khăn Mất mùa đói kém liên tiếp xảy ra Năm 1782 Trịnh Sâm chết, Trịnh Khải làm đảo chính, quân sĩ nhân đó gây nên “loạn kiêu binh”. Chính quyền Lê- Trịnh không còn có điều kiện quan tâm đến mặt Nam nữa

Trang 76

• Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ kéo đại quân vào Thăng Long Chính quyền của họ Trịnh bị lật đổ

Nguyễn Huệ trao lại quyền hành cho cua Lê Hiến Tông và được vua Lê

phong tước Uy quốc công Vua Lê

cũng nhường cho Tây Sơn đất Nghệ

An, gọi là để thưởng công Sau khi

hoàn thành mọi việc, Nguyễn Huệ rút quân về Nam.

Trang 77

• Năm 1788, thế lực họ Lê suy yếu và trong bước đường cùng đã cầu cứu nhà Thanh.

• Được tin cấp báo quân Thanh tràn sang

Thăng Long xâm lược nước ta, ngày 22

tháng 12 năm 1788 (25/11 Mậu Thân )

Nguyễn Huệ sai người lập đàn ở phái Nam núi Ngự Bình (Huế), tế cáo trời đất, lên

ngôi Hoàng đế, lấy liên hiệu Quang

Trung, rồi lập tức ra quân

Trang 78

• Quang Trung cũng cho mời La sơn

phu tử Nguyễn Thiếp đến hỏi ý

kiến.Phu Tử khẳng định :”…Nếu đánh gấp thì không ngoài 10 ngày sẽ phá

tan được “.

• Ngày 20 tháng chạp Mậu Thân

(15/11/1789) đại quân Tây Sơn đã tập kết ở phòng tuyến Tam Điệp- Biên

Sơn.

Trang 79

• Trưa ngày mồng 5 tết Kỉ dậu

(30/1/1789) vua Quang Trung ngồi

trên lưng voi, áo bào xạm đen khói

súng đi đầu đại quân tiến vào Thăng Long giữa cảnh vui mừng khôn xiết

của nhân dân Sự kiện này thực sự

chấm dứt thời kì nội chiến Nam – Bắc

triều đưa lịch sử nước ta sang một

giai đoạn mới

Trang 80

NGUYỄN NHẠC

(1778)

NGUYỄN HUỆ

(1788)

Trang 81

III Cơ chế quản lý hành chính của Nam triều (Vua Lê – Chúa Trịnh ở Thanh Hoá từ 1533 – 1592)

(Tham khảo GT 176-180)

Trang 82

IV Cơ chế quản lý hành chính dưới

thời Vua Lê – Chúa Trịnh ở đàng

ngoài (từ 1593 – 1786)

Trang 83

Từ năm 1593

Đến năm 1786

Trang 84

CƠ CẤU BỘ MÁY HÀNH CHÍNH

Cơ cấu tổ chức trước khi quyền bính

chưa về tay họ Trịnh

Cơ cấu tổ chức trước khi quyền bính

chưa về tay họ Trịnh

Trang 85

(trông coi việc hành chính )Quan Bồi Tụng

(trông coi việc hành chính )

Bộ, đứng đầu các Bộ

là quan Thượng thư…

Các quan đại thần quan cao cấp trong triều Các quan đại thần

quan cao cấp trong triều

Trang 86

Nhà nước TW thời

Lê Thánh Tông

BỘ HÌNH

BỘ HỘ

BỘ LẠI

BỘ

BINH

BỘ LỄ

BỘ CÔNG

Trang 87

Năm 1718 đời vua DỤ TÔNG

• Trịnh Cương đặt ra Lục phiên ở phủ chúa, như Lục bộ ở cung vua Để coi việc quản

lý hành chính

• Đứng đầu phiên thì có Tri phiên và một

phó Tri phiên cùng với các quan viên hình thành chế độ gọi là “vua LÊ chúa TRỊNH”

• Lúc này thực quyền nằm trong tay phủ

chúa

Trang 88

Cấp hành chính địa phương

• Đến thế kỷ XVII đổi Đạo thành Trấn

• Đến thế kỷ XVIII đổi Trấn thành Thừa tuyên như thời Hồng Đức

• Mỗi Trấn gồm có 3 ty: Trấn ty, Thừa ty,

Hiến ty Do Đốc trấn hoặc Trấn thủ đứng

đầu

Ngày đăng: 30/11/2015, 05:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình rồng chạm trên đá thời Mạc - Hành Chính Nhà Nước Từ Thế Kỷ XVI – XVIII (Thời Kỳ Nội Chiến Nam - Bắc Triều Và Triều Đại Tây Sơn)
Hình r ồng chạm trên đá thời Mạc (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w