Những năm gần đây xu hớng xây dựng nền nông nghiệp bền vững nhằm nâng cao sản lợng, chất lợng cây trồng nhng vẫn giữ đợc độ phì nhiêu của đất thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ sinh
Trang 1Phần thứ nhất
Mở đầu1.1 Đặt vấn đề
ở Việt Nam sản xuất lúa đã, đang và sẽ là ngành sản xuất quan trọng Việt Nam là một nớc đông dân, ngời Việt Nam coi gạo là nguồn lơng thực chính Cây lúa tồn tại rất lâu ở Việt Nam và thế giới biết đến Việt Nam nh một nền văn minh lúa nớc Lúa phát triển rất phù hợp với đất đai, điều kiện sinh thái khí hậu của nớc ta Chính vì vậy, Nhà nớc Việt Nam đã u tiên phát triển cây lúa, có nhiều chính sách thích hợp cho nông dân phát triển trồng lúa
Năm 2005, lần đầu tiên nớc ta xuất khẩu gạo đạt hơn 5,2 triệu tấn, với giá bình quân mỗi tấn 267 USD, thu về hơn 1,34 tỷ USD, đây là năm đạt đợc cả ba chỉ tiêu: sản lợng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu ở mức cao nhất, kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trờng gạo thế giới
Những năm gần đây xu hớng xây dựng nền nông nghiệp bền vững nhằm nâng cao sản lợng, chất lợng cây trồng nhng vẫn giữ đợc độ phì nhiêu của đất thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ sinh thái đợc coi là một biện pháp quan trọng trong sự hình thành nhanh các cân bằng sinh học trên cơ sở sử dụng cân đối giữa phân vô cơ, phân hữu cơ và phân bón vi sinh vật là nội dung quan trọng của nền nông nghiệp sinh thái bền vững, sản phẩm nông nghiệp sạch chất lợng cao
Phân hữu cơ vi sinh đã và đang góp phần tích cực vào việc xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ bền vững Trong đó phải kể đến vai trò của vi sinh vật trong việc làm tăng độ phì nhiêu của đất Ngoài việc góp phần tích cực vào các quá trình chuyển hoá các chất bền vững trong đất thành các chất dễ tiêu cung cấp dinh dỡng cho cây trồng, vi sinh vật còn sinh ra nhiều chất sinh học nh: các loại vitamin, các chất kích thích sinh trởng, kháng sinh, enzim cung…cấp cho cây trồng, tăng độ phì của đất và cân bằng sinh thái học trong đất
Trang 2Định hớng phát triển nông nghiệp đến năm 2010 là nhanh chóng xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam theo hớng sinh thái bền vững, nông nghiệp sạch và chất lợng cao.
Sóc Sơn là huyện ngoại thành phía Bắc thủ đô Hà Nội, với dân số là 268.136 ngời và diện tích đất tự nhiên là 30.651,3 ha (bằng 1/3 diện tích tự nhiên của thành phố Hà Nội), trong đó diện tích đất nông nghiệp là 12.675,6
ha, chiếm 41,35% tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích lúa hai vụ hiện nay là 16.281 ha, sản xuất lúa chất lợng cao đang đợc quan tâm phát triển trong hệ thống cơ cấu cây trồng của toàn huyện Đất đai của huyện Sóc Sơn chủ yếu là bạc màu trên nền phù sa cổ nghèo dinh dỡng, do vậy bón phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh có tác dụng tăng độ phì của đất là rất cần thiết
Những năm gần đây, mức sống của ngời dân ngày càng cao dẫn đến nhu cầu sử dụng lúa gạo, nhất là các loại gạo thơm chất l ợng cao và an toàn ngày càng lớn Để có đợc sản phẩm lúa gạo chất lợng cao, ngoài yếu tố giống ra thì phân bón bón là một yếu tố quan trọng trong thâm canh giống lúa mới hiện nay
Xuất phát từ thực tế nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trởng phát triển của giống lúa Bắc Thơm số 7 và một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất
ở Sóc Sơn - Hà Nội năm 2005 ”
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá ảnh hởng của phân hữu cơ vi sinh tới giống lúa Bắc thơm số 7: các chỉ tiêu sinh trởng của cây lúa, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lúa và hiệu quả kinh tế của phân bón
- Đánh giá ảnh hởng của phân hữu cơ vi sinh đến một số chỉ tiêu sinh, hoá học đất của đất bạc màu huyện Sóc Sơn - Hà Nội
- Xác định tỷ lệ thay thế vô cơ bằng phân hữu cơ vi sinh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân hữu cơ vi sinh so với phân hoá học
Trang 31.3 Những đóng góp mới của đề tài
- Về khoa học: kết quả của đề tài góp phần vào cơ sở lý luận sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh trên đất bạc màu
- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài có tác dụng nhân rộng diện tích bón phân hữu cơ vi sinh cho cây lúa
Việc xác định mức thay thế của phân hữu cơ vi sinh đối với phân hoá học góp phần tiết kiệm đầu t, tăng thu nhập cho ngời trồng lúa, mà còn có tác dụng cải tạo đất trồng, giảm ô nhiễm môi trờng do giảm lợng phân hoá học
Trang 4Phần thứ haiTổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nớc ta, từ chỗ thiếu lơng thực cho đến nay chúng ta đã trở th nh nà ớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Để đạt đợc thành quả đó trong 15 năm (1981- 1995) mức độ đầu t phân bón hoá học ở nớc ta tăng liên tục khoảng 7% đối với đạm, 8% đối với lân, 10% đối với kali, mặc dù vậy vẫn không đáp ứng đợc nhu cầu cân bằng dinh dỡng của đất
Theo tính toán của các nhà khoa học thì hàng năm ở nớc ta nông dân đã
sử dụng trên 60 triệu tấn phân hữu cơ các loại, nhờ đó mà tăng đợc khoảng 3 triệu tấn thóc Mặt khác nhờ có sử dụng phân hữu cơ mà đã góp phần tăng hiệu quả sử dụng phân hóa học, làm giảm việc sử dụng phân khoáng, ngăn chặn ô nhiễm môi trờng và tăng năng suất cây trồng Điều đó cho thấy phân bón hữu cơ rất quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam (Bảo vệ môi trờng và phát triển bền vững, 1995) [1]
Nông nghiệp Việt Nam trong 20 năm qua đã có nhiều bớc phát triển vợt bậc, song sản xuất còn nhiều bất cập và cha mang tính bền vững Nông phẩm hữu cơ đang là sản phẩm đợc nhiều ngời tiêu dùng ở các nớc công nghiệp a chuộng và có tiềm năng thị trờng rất lớn áp dụng việc quản lý dinh dỡng tổng hợp cây trồng kết hợp các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và kiểm soát dịch hại, để xây dựng giải pháp tổng hợp trong chăm sóc toàn diện cây trồng
sẽ tạo ra bớc đột phá mới trong phát triển nông nghiệp ở nớc ta Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất, phân bón vi sinh sắp tới sẽ là sản phẩm đợc tạo ra từ những tổ hợp vi sinh đa hoạt tính, khi đó vi sinh vật sử dụng không chỉ có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hoá dinh dỡng, giúp cây trồng sử dụng dinh dỡng tốt hơn mà còn có tác dụng nâng cao độ phì, giảm thiểu các yếu tố sinh học và phi sinh học đối với cây và đất trồng (Chuyến khảo sát học tập về năng suất xanh và phát triển cộng đồng, 2000) [3]
Trang 5Việc áp dụng các giống cây trồng mới vào sản xuất cũng là nguyên nhân làm mất dần đi một số giống cây trồng truyền thống, làm giảm sự đa dạng sinh học và làm tăng thiệt hại bởi dịch bệnh gây hại cây trồng Trong những năm cuối của thế kỷ 20, số lợng giống lúa mới đợc gieo trồng chiếm 75%, các giống lúa cũ chiếm 25% ở Việt Nam, rất nhiều giống lúa địa phơng bao gồm hàng trăm giống lúa đang bị thay thế bởi các giống đợc cải tạo và các giống lúa lai
Nhìn lại các quá trình sử dụng phân khoáng, sản xuất nông nghiệp nớc
ta bắt đầu sử dụng phân hóa học ở đầu thế kỷ 20 Sau khi đất nớc thống nhất (1975), phân hóa học đợc sử dụng rộng rãi và với khối lợng lớn Nhng việc tuyên truyền, hớng dẫn sử dụng phân bón còn cha đợc chú ý đúng mức Ngời nông dân sử dụng phân bón còn tùy tiện, cha cân đối dẫn tới hệ số sử dụng phân bón không cao, cây dễ bị sâu bệnh phá hại, chất lợng nông sản thấp, gây
ô nhiễm môi trờng
Việc sử dụng các chế phẩm sinh học đã đợc nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam từ hơn 20 năm qua Các chế phẩm phân vi sinh thuộc các nhóm vi sinh vật đã đợc sản xuất gồm: vi sinh vật cố định nitơ phân tử cộng sinh, vi sinh vật cố định ni tơ phân tử tự do và hội sinh, vi sinh vật phân giải các chất hữu cơ dùng cho cây lúa và cây trồng cạn, vi sinh vật phân giải lân khó hòa tan, chế phẩm hỗn hợp giữa vi sinh vật cố định nitơ và phân giải quặng phốt phát
Những hạn chế của cuộc cách mạng xanh và công nghiệp hóa nông nghiệp đã dẫn đến việc nhiều nớc quay trở lại với nền nông nghiệp hữu cơ, làm cho nông nghiệp hữu cơ càng đợc nâng cao vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trên thị trờng thế giới Đặc điểm quan trọng nhất của nông nghiệp hữu cơ là không sử dụng các chất hóa học tổng hợp nh phân bón, thuốc trừ sâu và sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên nh đất, nớc và tăng c-ờng sử dụng các vật liệu hữu cơ Nông nghiệp hữu cơ có khuynh hớng sử dụng các biện pháp kỹ thuật rất kinh tế nh làm đất tối thiểu Sử dụng có
Trang 6hiệu quả đầu t hữu cơ và làm giảm giá thành sản phẩm, tăng chất lợng nông sản
Nh vậy, phát triển nông nghiệp hữu cơ phải nằm trong mối quan hệ hài hòa của sự phát triển nông nghiệp bền vững ở cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trờng, việc phát triển kinh tế hợp lý dựa trên khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên để bảo đảm mức sống và xóa bỏ cách biệt giữa các tầng lớp và các thế hệ trong xã hội gắn với bảo vệ môi trờng Nhng hiện tại, nông nghiệp nớc ta đang đứng trớc những thách thức lớn là: Việt Nam là nớc nghèo,
số dân cao (hơn 83 triệu ngời), các nguồn lợi tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng, diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp
Để bảo đảm an ninh lơng thực, các nớc đều phải dựa vào hai yếu tố là tăng diện tích gieo trồng và tăng năng suất Với Việt Nam, biện pháp tăng năng suất đang là biện pháp cơ bản hiện nay Xu thế này cũng là xu thế chung của các nớc đang phát triển Nh vậy, để bảo đảm an ninh lơng thực, các Quốc gia đông dân, đất nông nghiệp hạn chế cả về số lợng và chất lợng sẽ phải đi theo con đờng thâm canh tăng năng suất với việc sử dụng các giống mới có năng suất và phẩm chất tốt, hạn chế phân khoáng và hóa chất bảo vệ thực vật Việt Nam cũng đã đi theo hớng này trong vài thập kỷ vừa qua
Vì vậy, các biện pháp tác động trong nông nghiệp hữu cơ cần hớng tới là: bảo vệ và cải thiện một cách bền vững độ phì tự nhiên của đất đai, trong đó biện pháp ổn định hàm lợng hữu cơ trong đất là rất quan trọng vì nó không những tạo cho đất tơi xốp, mà còn tăng cờng khả năng giữ ẩm, giữ chất dinh dỡng và giảm các yếu tố gây độc trong đất, thiết lập một hệ thống quản lý dinh dỡng tổng hợp mà trong đó dinh dỡng từ nguồn cung cấp nh phân hữu cơ, phân vi sinh phải bảo đảm đợc cung cấp cho cây đầy đủ về lợng, cân đối về
tỷ lệ, tại từng thời điểm theo yêu cầu sinh trởng, nhằm khai thác hợp lý với khả năng của hệ sinh thái Tăng cờng sử dụng phân chuồng, phân xanh, phế phụ phẩm trong nông nghiệp, than bùn và các nguồn hữu cơ khác, trong đó chú ý sử dụng các nguồn phân sinh học, phân hữu cơ vi sinh, nớc phù sa (không bị ô nhiễm ) Khai thác tốt nhất hệ thống luân canh cây trồng và cây
Trang 7họ đậu nói riêng để nâng cao dinh dỡng cho đất và hạn chế phát sinh dịch hại,
sử dụng giống cây trồng có năng suất, chất lợng cao, có khả năng kháng sâu, bệnh và tăng cờng sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh có nguồn gốc sinh học, chú ý bảo vệ thiên địch và tạo điều kiện cho thiên địch phát triển, bảo đảm giữ vững cân bằng sinh học trong hệ sinh thái, tăng cờng phát triển chăn nuôi, đa chăn nuôi trở thành ngành chính để cung cấp nguồn phân hữu cơ cho trồng trọt, tạo tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp hữu cơ Nhà nớc cần có chính sách phù hợp, khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ với những u tiên đầu t ban
đầu về khoa học công nghệ, hệ thống tiêu thụ
Căn cứ vào chiến lợc phát triển kinh tế của cả nớc, lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp trên cả nớc và ở từng vùng, Bộ NN-PTNT đã định hớng chiến lợc phát triển các ngành hàng chính đến 2010 Theo đó, sản xuất lúa sẽ
ổn định diện tích canh tác từ 3,8 ha đến 4 triệu ha, giảm khoảng 200.000 đến 300.000 ha so với hiện nay, trong đó có 1,3 triệu ha lúa hàng hoá chất lợng cao phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nớc (đồng bằng Sông Cửu Long 1 triệu ha, đồng bằng Sông Hồng 0,3 triệu ha)
Huyện Sóc Sơn là huyện ngoại thành phía Bắc của thủ đô, giáp các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên Sóc Sơn là đầu mối giao thông thuận tiện nối liền Thủ đô Hà Nội với các vùng công nghiệp, các trung tâm dịch vụ lớn trong khu vực tam giác kinh tế phía Bắc nên có rất nhiều lợi thế trong phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lúa chất lợng cao
2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trong nớc và trên thế giới
2.2.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu gạo trên thế giới
Lúa đợc trồng ở 125 nớc với diện tích 155 triệu ha, lúa đợc trồng chủ yếu tập trung ở các nớc: Châu á chiếm 90% diện tích trồng lúa của thế giới, châu Mỹ 3,6%, châu Phi 3,13%,Trung Mỹ 3,1%, châu Âu 1%, châu úc 1% Tổng sản lợng đạt 519.869 nghìn tấn Bình quân năng suất đạt khoảng 39 tạ/ha (năm 2000-2001) trong đó châu á chiếm 139-500 nghìn ha
Trang 8và sản lợng là 477,267 nghìn tấn, năng suất bình quân 36 tạ/ha Châu Âu có diện tích trồng lúa ít nhất nhng năng suất bình quân lại cao hơn các Châu lục khác (Nguyễn Thị Lẫm, 2002) [8].
Nớc có diện tích trồng lúa lớn nhất là ấn Độ đạt 42,2 triệu ha, sau đó là Trung Quốc 35 triệu ha, Bănglađét 10,2 triệu ha Nớc có sản lợng cao nhất là Trung Quốc 187.450 nghìn tấn Nớc có năng suất cao nhất là úc 82 tạ/ha Tiếp đó là Bắc Triều Tiên 75 tạ/ha, Nam Triều Tiên 62 tạ/ha, Mỹ 63 tạ/ha Nhật Bản 59 tạ/ ha, Trung Quốc 57 tạ/ha
Trong năm 2006, mậu dịch gạo thế giới theo dự báo của Tổ chức Nông -Lơng Liên hiệp Quốc (FAO) có thể đạt 28,5 triệu tấn, giảm 2,5% so với mức
kỷ lục 29,7 triệu tấn năm 2005
Theo FAO, sản lợng lúa năm 2005 của nhiều nớc châu Phi tơng đối bội thu đã làm giảm nhu cầu nhập khẩu từ lục địa này trong năm nay Theo đó, nhập khẩu gạo của Nigiêria năm 2006 có khả năng giảm xuống còn 1,6 triệu tấn so với 2 triệu tấn năm 2005 Nhập khẩu gạo của châu Phi năm 2006 ớc tính đạt 9,2 triệu tấn (chiếm 32% thị trờng nhập khẩu thế giới), giảm 1 triệu tấn so với năm 2005
Về thị trờng mậu dịch gạo châu á, FAO cho biết, lợng gạo giao dịch tại thị trờng này năm 2006 gần đạt mức 13,4 triệu tấn so với năm 2005 Nhu cầu của Bănglađét, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Philipin giảm xuống do thu hoạch vụ lúa 2005 của các nớc này đạt cao Trái lại, sức mua từ các nớc Trung Quốc, Irắc, Hàn Quốc, ả Rập Xê út, Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt là Iran năm nay có khả năng tăng mạnh do nhu cầu gây dựng kho dự trữ cũng
nh gạo chất lợng cao của thị trờng nội địa tăng lên Ngoài ra, nhập khẩu gạo của Indonesia năm 2006 dự kiến vẫn duy trì ở mức 600.000 tấn do chính sách hạn chế mua gạo của chính phủ nớc này Hoạt động mậu dịch gạo của các nớc châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê năm 2006 sẽ sôi động hơn năm 2005 khi nhu cầu của các thị trờng này tăng nhẹ, đặc biệt là Brazil với sản lợng vụ lúa năm nay có khả năng giảm xuống
Trang 9Sức mua từ một số thị trờng lớn đáng lu ý trong năm 2006 nh Mỹ, theo FAO sẽ tăng lên trong khi giảm tại Nga.
Về thị trờng xuất khẩu gạo, FAO cho biết, Thái Lan có thể xuất khẩu
đ-ợc 7,5 triệu tấn gạo trong năm 2006 bất chấp việc đồng Bạt tăng giá so với
đồng USD bởi nhu cầu mua của Iran và Irắc đều tăng mạnh Trong khi đó, ợng gạo xuất khẩu của Việt Nam nhiều khả năng sẽ đạt 5,2 triệu tấn theo nh mục tiêu của chính phủ Tuy nhiên, xuất khẩu gạo của Ai cập, Pakistan, Mỹ
l-và Uruguay có thể giảm xuống do nhu cầu nhập hàng từ các nớc trên sẽ trở nên hạn hẹp hơn trong năm 2006 Trong khi đó, hoạt động xuất khẩu gạo Argentina, dự kiến sẽ diễn ra tích cực hơn năm 2005 trớc triển vọng nhập khẩu của Brazil v giá gà ạo tại Mỹ tăng (Thị trờng mậu dịch năm, 2006)[37]
Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lợng gạo thế giới năm 2006/07 sẽ đạt 417,01 triệu tấn, tăng 5,50 triệu tấn (1,34%) so với 411,52 triệu tấn ớc tính đạt trong năm 2005/06 nhờ diện tích
và năng suất tăng nhẹ Trong đó sản lợng tăng mạnh nhất ở Trung Quốc, tăng 1,6 triệu tấn (1,26%), đạt 23,0 triệu tấn, Việt Nam tăng 440 nghìn tấn (1,96%), đạt 32,0 triệu tấn, Brazil tăng 700 nghìn tấn (8,97%), đạt 8,97 triệu tấn và Thái Lan tăng 350 nghìn tấn (1,94%), đạt 18,35 triệu tấn Trong khi đó, sản lợng gạo của Mỹ sẽ giảm 580 nghìn tấn (8,17%) xuống còn 6,51 triệu tấn; Pakixtan sẽ giảm 300 nghìn tấn (5,45%) xuống còn 5,2 triệu tấn; Nhật Bản giảm 320 nghìn tấn (3,84%) xuống còn 7,94 triệu tấn (Grain: WM&T, May, 2006)[26]
Tổng mức tiêu dùng gạo toàn cầu năm 2006/07 dự báo tiếp tục vợt mức sản lợng, sẽ tăng 5 triệu tấn, đạt 423,15 triệu tấn Điều này khiến tổng
dự trữ gạo thế giới cuối niên vụ 2006/07 tiếp tục quĩ đạo suy giảm, giảm 6,1 triệu tấn, xuống còn 61,95 triệu tấn, mức thấp nhất trong 5 năm qua (Grain: WM&T, May, 2006)[26]
Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng mậu dịch gạo thế giới năm 2007 sẽ đạt 27,860 triệu tấn, tăng nhẹ so với 27,491
Trang 10triệu tấn dự tính đạt trong năm 2006 Nguồn cung gạo trên thế giới dự báo
sẽ tăng do Thái Lan sẽ đóng vai trò lớn hơn trên thị trờng thế giới với dự báo sẽ tăng xuất khẩu gần 1 triệu tấn Nguồn cung cấp gạo xuất khẩu của Thái Lan tăng nhanh nhờ các chính sách hỗ trợ trong nớc, khiến dự trữ sẽ tăng lên gần 4,2 triệu tấn Xuất khẩu của Thái Lan có thể làm giảm cơ hội của Việt Nam Trong khi đó, xuất khẩu gạo của ấn Độ dự báo sẽ tăng lên 4,0 triệu tấn mặc dù tiêu dùng trong nớc tăng do sản lợng lúa mì giảm Dới
đây là số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các nớc trong năm 2007 so với số liệu xuất khẩu ớc tính đạt trong năm 2006 (Bảng 2.1):
Bảng 2.1 Số liệu dự báo xuất khẩu gạo của các nớc trong năm 2007
so với số liệu xuất khẩu ớc tính đạt trong năm 2006
(Grain: WM&T, May 2006)
Tháng 5 năm 2006, với số lợng gạo 425.000 tấn trúng thầu trong tổng
số 500.000 tấn mời thầu của Philippin đã đa Việt Nam trở thành nớc chiến
Trang 11thắng, vợt qua 3 nớc lớn trên thị trờng gạo thế giới là Thái Lan, Trung Quốc
và Mỹ
Các nhà phân tích thị trờng cho biết, giá gạo Việt Nam cạnh tranh hơn
so với gạo Thái Lan trong khi chất lợng gạo Việt Nam cũng đã đợc cải thiện
đã trở thành yếu tố chủ yếu đa gạo Việt Nam dần thu hút đợc các khách hàng khó tính và chiếm lĩnh thị trờng các nớc ASEAN trong thời gian gần đây Năm nay Philippin dự định sẽ mua khoảng 782.500 tấn gạo của Việt Nam Điều này cũng đồng nghĩa với việc khoảng cách về xếp hàng vị trí xuất khẩu gạo lớn trên thế giới giữa Thái Lan và Việt Nam sẽ ngày càng bị thu hẹp Năm
2006 xuất khẩu gạo Thái Lan dự báo sẽ giảm nhẹ so với mức xuất khẩu năm
2005 là 7,3 triệu tấn Do vậy mặc dù tính tới thời điểm này, Thái Lan vẫn giữ
vị trí số 1 trong bảng xếp hạng các nớc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, nhng các nhà xuất khẩu Thái Lan e ngại rằng năm nay Việt Nam sẽ không chỉ thu hẹp đợc khoảng cách với nớc họ mà sẽ còn mở rộng thị trờng sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia hiện đang là các khách hàng tiêu thụ gạo lớn của Thái Lan (AFP, 2006) [25]
Hiện nay, gạo Việt Nam đã có mặt tại nhiều thị trờng tiềm năng nh Mỹ Latinh, Trung Đông và các nớc Châu Phi Nh vậy triển vọng đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam là rất sáng sủa (AFP,2006).
Theo dự báo ngày 12-5-2006 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lợng gạo của Trung Quốc năm 2006/07 sẽ đạt 129,0 triệu tấn tơng đơng 184,29 triệu tấn thóc, tăng 1,6 triệu tấn (1,26%) so với sản lợng 127,4 triệu tấn ớc tính
đạt trong năm 2005/06 nhờ tăng diện tích và năng suất (Grain: WM&T, May 2006) [26]
Sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Trung Quốc cho sản xuất lơng thực dạng hạt trong những năm qua, bao gồm giảm thuế, đảm bảo giá thu mua và trợ cấp giống đã khuyến khích nông dân gia tăng diện tích gieo trồng Diện tích gieo trồng lúa năm 2006/07 dự báo đạt 29,20 triệu ha, tăng so với 29,00 triệu ha của năm 2005/06 và 28,38 triệu ha của năm 2004/05 Năng suất bình
Trang 12quân dự báo sẽ đạt 6,31 tấn thóc/ha trong năm 2006/07, tăng so với 6,28 tấn/ha của năm 2005/06 (WAP, May 2006).
Trên thị trờng gạo trắng, trong khi Pakistan và Việt Nam tiếp tục cạnh tranh mạnh hơn ấn Độ trên thị trờng gạo trắng thế giới thì ấn Độ đang rất hy vọng tình hình sẽ thay đổi Giá gạo trắng đang có chiều hớng tăng Trong hai năm qua, giá đã tăng 35% ấn Độ cho biết họ sẽ có d gạo trắng để xuất khẩu
và sẽ giành đợc thị phần trên thị trờng thế giới, khi mà Pakistan và Việt Nam cạn kiệt gạo dự trữ và sẽ buộc phải giảm xuất khẩu Hiện nay, giá gạo trắng 25% tấm của Thái Lan chào bán trên thị trờng thế giới là 290 USD/tấn trong khi gạo Việt Nam cùng loại chỉ là 245 USD/tấn và của Pakistan là 218 USD/tấn, của ấn Độ là 238 USD/tấn (Xinhua, 2006) [41].
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lợng gạo của Cămpuchia năm 2006/07 sẽ đạt 3,03 triệu tấn, tăng 190 nghìn tấn (+6,7%) so với sản lợng 2,84 triệu tấn của năm 2005/06 nhờ tăng cả diện tích và năng suất, và tăng so với 2,33 triệu tấn năm 2004/05 (Grain: WM&T, May, 2006) [26]
Tổng diện tích gieo cấy lúa của Cămpuchia năm 2006/07 dự báo đạt 2,20 triệu ha, tăng so với 2,15 triệu ha của năm 2005/06 và 2,07 triệu ha của năm 2004/05 Năng suất lúa bình quân dự báo sẽ đạt 2,18 tấn thóc/ha trong năm 2006/07, tăng so với 2,09 tấn/ha của năm 2005/06 và 1,76 tấn/ha của năm 2004/05 (WAP, May, 2006).
Theo dự báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lơng thực của Liên Hợp Quốc (FAO), tổng sản lợng lúa gạo của Châu á năm 2005/06 đạt 562,3 triệu tấn thóc, tăng 2,8% so với 547,0 triệu tấn thóc của năm 2004/05 Sản lợng thóc của các nớc sản xuất chủ yếu ở Châu á năm 2005/06 đợc nêu trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Sản lợng thóc ở Châu á (đơn vị: triệu tấn)
Trang 13Triển vọng sản xuất lúa ở ấn Độ cũng đợc cải thiện so với báo cáo trớc
đây Sản lợng thóc của ấn Độ năm 2005/06 đạt 130,5 triệu tấn, tăng 2,5 triệu tấn so với năm 2004/05 ở Indonexia, theo Bộ Nông nghiệp nớc này, sản lợng thóc đạt 54,0 triệu tấn, ngang với mức 54,1 triệu tấn của năm 2004/05 là năm
đợc mùa Sản lợng thóc của Bănglađét tăng 4 triệu tấn, đạt 42,0 triệu tấn trong năm 2005/06 nhờ có ma thuận lợi gió hoà và giá gạo trong nớc ở mức cao trong suốt cả năm đã khuyến khích nông dân tăng gieo cấy lúa ở Cămpuchia,
ma dồi dào trong tháng 9/2005 đã chấm dứt tình trạng hạn hán kéo dài và tạo
Trang 14điều kiện tăng gieo trồng lúa, góp phần làm cho sản xuất lúa gạo phục hồi ở
n-ớc này
Triển vọng sản xuất lúa gạo ở Myanmar cũng rất khả quan, sản lợng thóc tăng 800 ngàn tấn, đạt 24,5 triệu tấn trong năm 2005/06 ở Philippin, dự báo sản lợng thóc năm 2005/06 (tháng 7/tháng 6) đạt kỷ lục 14,8 triệu tấn nhờ
dự báo bội thu trong thu hoạch trong thời gian từ tháng 11/2005 đến tháng 2/2006 Sản lợng thóc của Nhật Bản đợc điều chỉnh tăng sau đợt khảo sát hồi tháng 8/2005 với đánh giá điều kiện mùa màng “trên mức trung bìn” Sản lợng thóc của Nhật Bản đạt 11,4 triệu tấn, tăng 4,6% so với năm 2004/05 ở SriLanka, sản lợng thóc tăng 19% so với năm 2004/05
ở Thái Lan, sản xuất lúa gạo đợc phục hồi nhờ điều kiện canh tác trở lại bình thờng Ngày 1-11-2005 Chính phủ Thái Lan mở đợt thu mua can thiệp mới để mua 9 triệu tấn với giá tối thiểu khoảng 7000 Bạt (171 USD)/tấn Ch-
ơng trình thu mua này là công cụ để ổn định giá trong nớc Sản lợng thóc của Thái Lan đạt 27,0 triệu tấn, tăng mạnh so với 23,9 triệu tấn của năm 2004/05
Tuy nhiên, sản lợng giảm ở một số nớc trong khu vực, nhất là ở Việt Nam sau khi bị hai cơn bão tàn phá hồi tháng 9 và tháng 11/2005 Sản lợng thóc của Việt Nam năm 2005/06 đạt 35,8 triệu tấn, giảm 300 nghìn tấn so với sản lợng kỷ lục 36,1 triệu tấn của năm 2004/05 ở Hàn Quốc, sản lợng thóc giảm do Chính phủ sẽ ngừng thu mua lúa gạo với giá sản xuất tối thiểu trong niên vụ 2005/06 này Sản lợng thóc ở Lào và Nêpan cũng giảm do hoạt động sản xuất bị trở ngại vì hạn hán và ma lũ ("Food Outlook", FAO, No4, Dec 2005).[33]
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đã lai tạo hàng trăm giống lúa tốt
đợc gieo trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và những giống lúa khác đã tạo sự nhảy vọt về năng suất Các viện khác nh
Trang 15IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn tạo đợc nhiều những giống tốt phục vụ sản xuất (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)[9].
Các chuyên gia Đài Loan đã nghiên cứu thành công các giống lúa giàu dinh dỡng Các giống lúa này không phải là giống biến đổi gen, có nhiều màu sắc khác nhau nh đen, đỏ và vàng, màu sắc phụ thuộc vào hàm lợng dinh dỡng
nh Beta - carotene và anthocyanins - một chất chống oxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm để kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học (ICARD, 2003) [27]
ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu thập và làm thuần một số giống lúa
địa phơng, đa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và Bắc của
đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ 3 dòng, 2 dòng và
đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng và lúa siêu cao sản (Nguyễn Thị Lẫm, 2003)[9]
2.2.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu và nghiên cứu lúa trong nớc
2.2.2.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa trong nớc
Nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam từ bớc sơ khai “ruộng bạc” đến đất đợc đắp bờ giữ nớc để trồng lúa, từ Lạc Việt
đến Việt Nam (Lịch sử nông nghiệp Việt Nam ,1994) [10]
Hiện nay nớc ta có 3,95 triệu ha đất trồng lúa nớc Diện tích này có thể giảm đi một chút do diện tích trồng lúa không hiệu quả chuyển sang cây trồng khác có hiệu quả hơn hoặc do quá trình đô thị hoá Vì vậy cần tập trung thâm canh cao đạt năng suất bình quân 45-50 tạ/ha vào năm 2010 Riêng đồng bằng
Trang 16sông Cửu Long phải đa năng suất bình quân trên 50 tạ/ha và chú trọng phát triển một diện tích đáng kể về giống lúa chất lợng cao.
Năm 1991 diện tích trồng lúa của Việt Nam chiếm 70% tổng diện tích gieo trồng, đến năm 2001, diện tích này chỉ còn 60% Từ năm 2002, diện tích này ngày càng thu hẹp lại, đặc biệt năm 2005 giảm tới 340.000 ha, nhng nhờ các tiến bộ khoa học đợc áp dụng, khả năng thâm canh của nông dân đợc nâng cao trong 5 năm gần đây, mỗi năm sản lợng lúa vẫn tăng trung bình 700.000 tấn
Từ một đất nớc với mức dân số tăng gần 1,5 triệu ngời/năm, từng phải nhập khẩu 199,5 nghìn tấn lơng thực ở năm 1988, thế nhng sang năm 1989, Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu trong 10 năm tiếp theo Năm 2005, đánh dấu mốc quan trọng khi Việt Nam xuất khẩu
đạt kỷ lục 5,2 triệu tấn gạo, với kim ngạch 1,4 tỷ USD, vợt hơn nhiều so với kế hoạch
Theo Hiệp hội Lơng thực Việt Nam, từ đầu năm 2006 tới nay, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nớc ta đã ký đợc các hợp đồng xuất khẩu hơn hai triệu tấn gạo, trong đó đã xuất khẩu hơn 1,5 triệu tấn Ngoài một số thị trờng truyền thống nh Philippin, Trung Đông, Việt Nam đã xuất khẩu gạo với khối lợng lớn sang thị trờng Nhật Bản, Nam Mỹ và Châu Phi
Năm 2005, Việt Nam đã thu hút đợc nhiều khách hàng truyền thống của Thái Lan Điều đó trở thành mối quan ngại của các nhà xuất khẩu gạo nớc này Thái Lan đang theo dõi rất kỹ về tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam Các doanh nghiệp Thái Lan nhận định, nếu không xảy ra ma bất thờng,
dự kiến sản xuất gạo Việt Nam sẽ đạt 38 - 39 triệu tấn gạo trong năm 2006, tăng 15,2% - 18,2 % so với năm 2005 và có thể đe doạ tới xuất khẩu gạo của Thái Lan
Kinh nghiệm của các doanh nghiệp Thái Lan cho thấy, việc nâng giá gạo năm 2005 khiến một số khách hàng chính của họ nh Iran, Uruguay, Syria
và Nigeria đã chuyển hớng sang nhập khẩu gạo Việt Nam với giá rẻ hơn Vì
Trang 17vậy, các doanh nghiệp Thái Lan lo ngại rằng, Việt Nam không những giữ đợc
vị trí khá vững chắc trên thị trờng xuất khẩu gạo Quốc tế mà sẽ còn tăng thị phần hơn nữa thông qua việc mở rộng xuất khẩu hàng sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia những nớc sẽ từ bỏ nhập khẩu gạo Thái Lan
Trong chiến lợc phát triển lúa gạo của Việt Nam thập kỷ 21, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng rất nhiều chơng trình, cụ thể là từ nay đến 2010 đạt 36 triệu tấn Duy trì xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn/năm Xây dựng vùng sản xuất lúa xuất khẩu 1 triệu ha ở Đồng bằng sông Cửu Long và
300 nghìn ha ở khu vực Đồng bằng sông Hồng để sản xuất gạo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng cao năng lực chế biến và kỹ năng kinh doanh chiếm lĩnh thị trờng Quốc tế Thực hiện mục tiêu này, Việt Nam đang đầu t mạnh vào công nghệ tới tiêu và khuyến khích nông dân chọn phơng thức sản xuất hiện đại, bền vững nhằm nâng cao sản lợng lúa Chính phủ cũng tăng cờng cải tiến hầm chứa thóc để có thể bảo đảm dự trữ lâu dài đồng thời hỗ trợ các nhà xuất khẩu quảng bá thơng hiệu nhằm tạo niềm tin cho khách hàng trên thị trờng Quốc tế
về chất lợng và tiêu chuẩn gạo của Việt Nam (Xuất khẩu gạo hớng tới mục tiêu số 1 Thế giới, 2006) [39]
Đến hết tháng 6/2006, Việt Nam đã xuất khẩu đợc trên 2,7 triệu tấn gạo, thị trờng lúa gạo đang biến chuyển thuận lợi, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể xuất khẩu thêm 2,3 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm
2006, đa tổng lợng gạo xuất khẩu cả năm lên 5 triệu tấn, kim ngạch đạt 1,4
- 1,45 tỷ USD
Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang 16 thị trờng chính: trong đó, Philipin l nà ớc nhập khẩu gạo Việt Nam nhiều nhất với 896.226 tấn, trị giá 252.875.786 usd (chiếm 38,31% về lợng v 39à ,81% về kim ngạch của cả nớc ) Sau đó đến Malaysia, Nhật Bản, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ (Xuất khẩu lúa gạo năm, 2006) [40]
Trang 182.2.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa ở Việt Nam
Trong thực tế sản xuất đã khẳng định giống lúa có vai trò quan trọng trong sản xuất lơng thực, nó góp phần tăng năng suất, chất lợng và sản lợng góp phần ổn định an ninh lơng thực và xuất khẩu Công tác chọn tạo giống đ-
ợc chú trọng phát triển, cùng với các biện pháp kỹ thuật phù hợp sẽ tạo cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh chóng cả về số lợng và chất lợng nông sản phẩm
Theo thống kê của Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung
ơng, thì trong vụ lúa đông xuân 2000 riêng ở các tỉnh phía Bắc có 192 giống lúa (cha kể một số giống lúa địa phơng không có tên rõ ràng) đã đợc gieo trồng trong sản xuất, trong đó lúa thuần Việt Nam chiếm 45% diện tích và giống lúa Trung Quốc chiếm 55% diện tích Trong các giống trên thì có 10 giống lúa thâm canh có diện tích gieo trồng lớn nhất là: Khang dân 18, Q5, Sán u 63, IR17494, X21, Nhị Ưu 63, Xi 23, C70, DT10 và CR 20312 (Nguyễn Thiên Lơng, 2000) [12]
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam đã chọn lọc, nhập nội một số giống lúa mới nh: IR64, IR66, NN9A đây là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam và các chuyên gia Trung Quốc (2005) đã thử nghiệm thành công giống lúa lai thơm LVC2 phục vụ cho cánh đồng 50 triệu của tỉnh Nam Định Đây là giống lúa cấy đợc cả 2 vụ xuân
và mùa, năng suất trung bình vụ xuân đạt 75-85tạ/ha, vụ mùa đạt 65-75 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 120 tạ/ha, chất lợng gạo rất tốt, hạt gạo trong, cơm dẻo có mùi thơm (TTXVN, 2005) [34]
Công tác chọn tạo giống chất lợng cao đang đợc chú trọng: Viện cây
l-ơng thực thực phẩm đã chọn tạo ra giống P4 có hàm lợng protein đạt 11%; Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã chọn tạo giống lúa 9810 là giống có chất lợng tốt và năng suất khá
Trang 19Trong khuôn khổ chơng trình lơng thực thực phẩm cấp nhà nớc, Lê Doãn Diên và các cộng sự ,1999 [11] đã tiến hành nghiên cứu chất lợng tập
đoàn lúa gạo ở việt Nam Nghiên cứu đã đánh giá tơng đối toàn diện chất lợng của các tập đoàn giống lúa Việt Nam theo 4 nhóm chất lợng: chất lợng thơng phẩm, chất lợng nấu nớng, chất lợng ăn uống và chất lợng dinh dỡng
Sau 3 năm thử nghiệm đến năm 2006, giống lúa lai hai dòng VL24 của Viện Nghiên cứu lúa trờng ĐHNN I đợc các nhà chuyên môn đánh giá cao cả
về năng suất và khả năng kháng bệnh, chịu hạn tốt
Viện Nghiên cứu lúa trờng ĐHNN I (2006) vừa phối hợp với Trung tâm giống cây trồng Thái Nguyên trình diễn giới thiệu 3 giống lúa mới do các nhà khoa học VN lai tạo gồm VL24, TH3 - 4 và TH3 - 5 tại xã Tân Cơng, tỉnh Thái Nguyên Qua thực tế khảo nghiệm diện tích trồng giống lúa mới của 22
hộ dân cho thấy giống VL24 có nhiều đặc tính nổi trội, đặc biệt thu hút sự chú
ý của nhà nông ông Lê Văn Sinh, xóm Y Na II là ngời trồng thử nghiệm cùng lúc cả 3 giống lúa cho biết, để kiểm chứng khả năng chịu hạn của giống VL24 ông đã chủ động cấy trên nền đất vàn cao, pha cát Kết quả vụ xuân năm nay mặc dù gặp hạn nhng vẫn đạt năng suất 180-200 kg/sào (Việt lai 24 trên đất hạn, 2006) [38]
Sau khi xây dựng thành công mô hình trồng lúa Bắc Thơm số 7 tại 4 xã Hng Đạo, Hoàng Tung, Bế Triều, huyện Hoà An và xã Ngọc Xuân, thị xã Cao Bằng với diện tích 40 ha vào vụ mùa năm 2005, vụ xuân năm 2006, Trung tâm khuyến nông khuyến lâm tỉnh Cao Bằng tiếp tục nhân rộng thêm
50 ha giống lúa chất lợng cao tại xã Bình Long, huyện Hoà An Kết quả khảo nghiệm cho thấy giống lúa Bắc Thơm số 7 hoàn toàn thích nghi với
điều kiện khí hậu của địa phơng, cây chịu hạn tốt và ít sâu bệnh, có thời gian sinh trởng ngắn nên tăng đợc hệ số sử dụng đất, cho năng suất cao và chất lợng gạo thơm ngon nên đợc thị trờng chấp nhận, có giá trị kinh tế cao Theo đánh giá của ngời dân tại xã Hng Đạo, huyện Hoà An: “Giống lúa Bắc Thơm số 7 có năng suất bình quân đạt 56 tạ/ha, cao hơn giống lúa trớc đây
Trang 20địa phơng vẫn sử dụng nh: Tam Nông, Thanh Hoá từ 5 đến 6 tạ/ha, do sản phẩm có giá trị kinh tế cao nên trồng lúa Bắc Thơm cho lãi gấp 3 lần và nhất là có thể gieo cấy đợc cả vụ xuân và vụ mùa” Tại những vùng trồng lúa của huyện Hoà An và thị xã Cao Bằng, ngời dân đã chủ động mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa Bắc Thơm số 7 trong những vụ tiếp theo Hiện đội ngũ khuyến nông thôn, bản cũng tăng cờng tuyên truyền vận động ngời dân đa giống lúa chất lợng cao vào sản xuất, tập huấn kỹ thuật trồng trọt tới bà con nhằm đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng có chất l-ợng cao, góp phần xoá đói giảm nghèo tại địa phơng (Cao Bằng mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản, 2006) [36].
Những năm gần đây, nhu cầu gạo chất lợng cao của thị trờng trong tỉnh tăng mạnh, do vậy tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện đồng bộ các giải pháp giúp đỡ, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản
Từ năm 2001- 2002, nhiều hộ nông dân xã Hng Thành (thị xã Tuyên Quang) đã chuyển sang gieo cấy lúa đặc sản Do mới làm, kinh nghiệm cha
có, việc quảng bá tiêu thụ sản phẩm cha đợc quan tâm nên kết quả đem lại cha cao Năm 2004, trung tâm khuyến nông tỉnh đã phối hợp với ban khuyến nông các huyện, thị xã và một số hợp tác xã nông nghiệp xây dựng mô hình sản xuất lúa đặc sản đã đem lại kết quả Năm 2005 và 2006, trung tâm khuyến nông tỉnh tiếp tục mở rộng mô hình sản xuất lúa chất lợng cao ra nhiều xã trong tỉnh với tổng diện tích trên 200 ha Thấy đợc hiệu quả của mô hình gieo cấy lúa đặc sản, nhiều hộ nông dân đã tự liên hệ mua giống để mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản Vụ xuân 2006, tổng diện tích lúa đặc sản của tỉnh đã lên tới hơn 500 ha, tuy nhiên do chỉ đạo cha kịp thời nên diện tích còn phân tán, khó tạo thành vùng sản xuất hàng hoá lúa gạo chất lợng cao Toàn bộ sản lợng lúa đặc sản sản xuất ra trong vụ xuân 2006 cha đủ phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh Phấn đấu từ nay đến năm 2010 mở rộng diện tích gieo cấy lúa
Trang 21đặc sản lên 10.000 ha, trong những năm đầu 2.000 đến 3.000 ha (Tuyên Quang mở rộng diện tích gieo cấy lúa đặc sản, 2006) [36].
Hợp tác xã nông nghiệp Vũ Xuân (xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tờng, tỉnh Vĩnh Phúc) vừa thu hoạch 13 ha lúa vụ xuân 2006, do 100 hộ nông dân đợc khoán gieo cấy Điều thuyết phục nông dân là năng suất lúa đạt rất cao, nơi thấp nhất 9,5 tấn/ha, nơi cao 12 tấn /ha, bình quân 10 tấn /ha Nh vậy, nếu tính
ra sào thì mỗi sào cho năng suất 370 kg đến 380 kg, gấp đôi các loại giống hiện có vẫn đang sử dụng phổ thông trên địa bàn Đây là giống lúa lai Nghi H-
ơng 2308 có nguồn gốc từ Trung Quốc Việc ứng dụng thành công giống lúa này ở Vĩnh Phúc là kết quả quá trình thử nghiệm của Trung tâm Khuyến nông tỉnh với sự hợp tác, hỗ trợ của Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp TrungTín - Hà Nội và các chuyên gia Trung Quốc Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đang mở rộng diện tích gieo cấy loại lúa này trên các vùng thổ nhỡng,
địa hình, sinh thái khác nhau trong tỉnh (Sản xuất & thị truờng số 25, 2006) [31]
Vụ xuân năm 2006, tỉnh Thái Bình gieo trồng giống lúa lai CNR36 với diện tích hơn 2.000 ha, tại 184 xã trong tỉnh CNR36 là giống lúa lai ba dòng do trờng Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên (Trung Quốc) lai tạo Kết quả, sau 4 tháng gieo trồng, giống lúa lai CNR36 cho thu hoạch bình quân
đạt 8 tấn /ha, đặt biệt có những thửa ruộng đạt 9,5 tấn/ha, cao hơn các giống lúa lai đang trồng tại địa phơng hơn 1 tấn /ha (Sản xuất & thị truờng số 25, 2006) [30]
Tại các tỉnh phía Nam, mấy năm gần đây khi các giống lúa đặc sản
có giá trị cao hơn nhiều so với các giống lúa thông thờng, thì rất nhiều nông dân đã chuyển sang trồng lúa chất lợng cao: tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long vụ Đông xuân 2003-2004 cả huyện gieo cấy đợc gần 2.000 ha lúa thơm trên diện tích 12.500 ha Tại An Giang, toàn tỉnh gieo cấy đợc 52.000
ha lúa thơm trên tổng diện tích 220.000 ha (TTXVN, 2006) [35]
Trang 22Vụ hè thu năm 2006, Thành phố Cần Thơ đã hoàn thành kế hoạch gieo cấy gần 86.000 ha lúa, trong đó, có 90% diện tích đợc sử dụng lúa giống chất lợng cao nh 0M 1490, VND 95-20, OMCS 2000, 0M 2517, OM 3536, OM
2717 (… Sản xuất & thị truờng số 25, 2006) [32]
Năm 2005 huyện Sóc Sơn có tổng diện tích 22.185 ha đất sản xuất cây lơng thực, trong đó 16.281 ha sản xuất lúa hai vụ, các giống lúa chủ
đạo trong sản xuất nông nghiệp (Khang dân, Bồi tạp 49, Bao thai, Bắc thơm
số 7 ) Luá thơm chiếm 10% diện tích lúa của cả huyện (1.625 ha), trong khi đó diện tích lúa thơm năm 2001 chỉ đạt khoảng 3% (420 ha) tổng diện tích trồng lúa Trong các năm tiếp theo, diện tích lúa thơm sẽ đợc mở rộng
để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lợng gạo của ngời tiêu dùng
Nh vậy trong sản xuất lúa của ta hiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng các giống lúa chất lợng cao vào sản xuất nhất là các giống lúa thơm
đang dần thay thế các giống lúa bình thờng, đó là xu thế của nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá chất lợng cao
2.3 Vai trò của vi sinh vật đất với dinh dỡng cây trồng trong hệ sinh thái
nông nghiệp bền vững
Hàng loạt công trình nghiên cứu đã khẳng định: đất là môi trờng thuận lợi nhất cho sinh trởng và phát triển của các loài vi sinh vật Trong thành phần sinh vật đất, vi khuẩn chiếm tới 90%, trong thành phần các bon hữu cơ của đất
vi sinh vật chiếm khoảng 2% Số lợng vi sinh vật trong mỗi gam đất có tới hàng triệu, hàng tỷ và thậm chí lên tới vài chục tỷ tế bào Vi khuẩn là nhóm chiếm số lợng lớn nhất trong đất (106 - 1010 tế bào/g đất) nhng vì kích thớc quá nhỏ (vào khoảng 1àm ) nên chúng chỉ chiếm không quá 20% trọng lợng của vi sinh vật trong đất Sau đó đến xạ khuẩn với số lợng khoảng 107, vi nấm
104- 106 tế bào/g đất và hàng loạt các nhóm khác với số lợng ít hơn (Dilly.O and Blume H.P,1998; Powlson D.S, 1975; Sonani L.L, 1989; Subba Rao N.S, 1965) [48], [64], [65], [66]
Trang 23Vi sinh vật đất tham gia trực tiếp vào quá trình phân giải xác động vật Các nhà nghiên cứu mùn theo quan điểm sinh học đều khẳng định vai…trò không thể thiếu đợc của vi sinh vật trong quá trình tạo thành mùn Tất cả các phản ứng sinh hoá đợc thực hiện nhờ các enzim do vi sinh vật sinh ra (Kononova M.M, and Alexandrova I.V.,1971, 1984) [55], [56].
Vi khuẩn Rhizobium, Azotobacter có thể sinh ra chất keo gắn kết lại…các hạt đất với nhau (Ahmad N, and Jha K.K,1968) [42] Các niêm dịch chất nhầy của vi khuẩn Pseudomonas có tác dụng rất lớn trong việc kết gắn tạo ra
cấu trúc bền của đất (Katznelson h, 1959; Katoh K and Itoh K,1983) [51], [53] Sự kết gắn của các chất nhầy trong vi khuẩn liên quan đến sự có mặt của các chất polisacarit, aminosaccarit
Khu hệ vi sinh vật trong đất lúa nớc, đặc biệt là vi sinh vật vùng rễ lúa
có khả năng hoà tan phốt phát vô cơ khó tan để làm giàu lân dễ tiêu cho đất (Gerrtsen F.C,1948; Guyer G E,1970; Pareek R.P A.C.1973) [49], [50], [62]
Sử dụng Bacillus firmus và Azotobacter nhiễm vào cây lúa sẽ tăng năng suất
lúa 10 - 70% (trung bình là 28%) (Murakami,1990; Pikovskaya, 1948; Vasantharajan V.N, 1996) [61], [63], [67]
* Vi sinh vật cố định đạm
Khí nitơ chiếm khoảng 78,16% thể tích không khí bao quanh chúng ta Con ngời, động vật, thực vật đều cần đạm Song sống giữa bầu không khí mênh mông đạm nh vậy tuyệt đại đa số sinh vật đều không sử dụng trực tiếp khí nitơ, chỉ có nhóm vi sinh vật cố định nitơ là có khả năng này
Hàng năm, nhu cầu về nitơ đối với cây trồng trên toàn thế giới là hàng trăm triệu tấn Tuy nhiên, phân bón hoá học chỉ mới đáp ứng đợc khoảng 30%, lợng còn lại là do quá trình cố định nitơ phân tử cung cấp (Lê Văn Khoa
và cộng sự ,1998) [7]
Khả năng cố định đạm của vi khuẩn cố định đạm hội sinh Azospirillum
đợc Beijerinck phát hiện từ năm 1922, nhng vai trò của nó trong hoạt động cố
định đạm vùng rễ của cây hòa thảo chỉ đợc biết đến vào những năm của thập
Trang 24kỷ 70 nhờ việc tìm ra nơi trú ngụ của chúng Năm 1976 đã phát hiện thấy
Azospirillum bên trong bề mặt của mô rễ, tạo ra mối quan hệ hội sinh với cây,
chúng có thể tồn tại trong đất vùng rễ, trên bề mặt rễ Đây là loài vi khuẩn có khả năng cố định đạm khá lớn, chúng nhận các chất hữu cơ nh Pectin, Axit hữu cơ làm nguồn dinh dỡng để phát triển và cố định đạm, đồng thời cung cấp các hợp chất chứa nitơ cho cây chủ Hiện nay, ngời ta đã sản xuất ra các phân
vi sinh vật cố định đạm cho cây hoà thảo, đặc biệt là cây lúa mang tên là Azogin và đã đợc triển khai cho các cây trồng khác nhau ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, có thể tăng năng suất cây trồng từ 5 - 15% (Lê Văn Tri, 2002)[19]
Chế phẩm vi khuẩn nốt sần đã đợc sản xuất từ rất lâu trên thế giới Năm
1896 ở Đức lần đầu tiên chế ra loại chế phẩm gọi là Nitrazin, ở Mỹ sản xuất chế phẩm Nitroculture, ở Anh sản xuất loại phân Nitrobacterin (Nguyễn Đ-ờng, 1999) [4] Tới nay hầu hết các nớc đều sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần cho cây bộ đậu đặc biệt là cây đậu tơng Tuy nhiên khả năng làm giàu
đạm cho đất tuỳ thuộc vào các loại cây trồng (Lê Văn Tri, 2002) [19]
Trang 25- Đậu đũa, đậu răng ngựa (Vicia faba) cố định đợc 45 – 55 kgN/ha/năm.
- Đậu Hà Lan (Pirum rativum) cố định đợc 52 – 77 kgN/ha/năm.
- Đậu xanh (Phaseolas aureus) cố định đợc 63 – 342 kgN/ha/năm.
- Đậu tơng (Glycine max) cố định đợc 179kgN/ha/năm.
Vi sinh vật cố định đạm tự do trong không khí đã đợc biết đến từ lâu Ngời
ta đã sử dụng chúng để làm phân vi sinh vật Azotobactrin, dùng để xử lý cho
hạt giống hoặc chế khô nuôi cấy trong đất hoặc trộn với than bùn để bón vào
đất Tuy nhiên hiệu lực của chúng không ổn định, năng suất chỉ tăng từ 5 - 10% 20 (Lê Văn Tri, 2004) [20]
Ngoài ra, vi khuẩn Lam (Cyanobacteria) cộng sinh với Bèo hoa dâu (Azolia) có khả năng cố định đợc 20 - 30 kg N/ha/vụ trên ruộng ngập nớc
Có tất cả 1400 loài vi khuẩn Lam, trong đó có rất nhiều loài có khả năng cố
định đạm ở các nớc nh: Nhật Bản, ấn Độ, Senegan, Trung Quốc, ý, Ai Cập, chúng đợc sử dụng nh một nguồn đạm sinh học (Lê Văn Tri, 2002) [19]
Vai trò của vi sinh vật phân giải lân đợc nhiều nhà khoa học trên thế giới biết đến từ năm 1910, với các cây ngũ cốc nh kiều mạch, đại mạch và ngô (NXBNN Hà Nội, 2000)[17] Vi sinh vật phân giải lân không chỉ làm tăng năng suất mà còn làm tăng hiệu quả của phân lân vô cơ từ 15 - 30% Tuy nhiên, tùy từng loại đất mà phản ứng của cây trồng đối với vi sinh vật phân giải lân có khác nhau Năng suất cây trồng tăng hơn đối chứng ở vùng đất chua khoảng 9 - 27% Một số thử nghiệm khi bón quặng phot phat cho thấy sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể tiết kiệm đợc 50kg P2O5/ha/vụ Chúng có
Trang 26thể làm tăng năng suất rau quả từ 5 - 30%, ngoài ra còn làm tăng chất lợng nông sản (Hoàng Hải, 2000) [5].
Bón phân vi sinh vật phân giải lân nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình phân giải hợp chất Phospho khó tiêu thành dễ tiêu đối với cây trồng, qua đó làm giảm các tổn thất to lớn cho quá trình bay hơi rửa trôi gây ra Nó là một biện pháp cải tạo đất và nâng cao độ phì nhiêu của đất, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trờng sinh thái và giảm đợc rất nhiều chi phí so với sử dụng phân hóa học
* Vi sinh vật phân giải xenluloza
Xenluloza là thành phần chủ yếu của màng tế bào thực vật ở cây bông, xenluloza chiếm tới 90%, ở các cây gỗ nói chung xeluloza chiếm 40 – 50% Hàng ngày, hàng giờ, một lợng lớn xenluloza đợc tích lũy trong đất do các sản phẩm tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết đi, cành lá rụng xuống, rễ cây
đã thu hoạch ở trong đất (Hoàng Hải, 2000) [5] Số lợng xác thực vật đa vào
đất hàng năm trên mỗi ha đối với rừng là 5 - 9 tấn, đối với cánh đồng nhiệt đới
là 10 - 15 tấn, đồng cỏ ôn đới là 6 - 10 tấn, thảo nguyên là 1,5 tấn 20 (Lê Văn Tri, 2004) [20] Trong tự nhiên có nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân hủy xenluloza nhờ có hệ enzim xenluloza ngoại bào Trong đó vi nấm là nhóm
có khả năng phân giải mạnh nhất vì nó tiết ra môi trờng một lợng lớn enzim
đầy đủ các thành phần Các nấm mốc cũng có hoạt tính phân giải xelulozo
đáng chú ý là tricoderma (Phạm Văn Toản, 2005) [16] Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ xelulozo
- Nhóm vi khuẩn hiếu khí bao gồm: Pseudomonas, Cellulororio, Achromobacter.
- Nhóm vi khuẩn kỵ khí bao gồm Clostridium
Ngoài vi nấm và vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm cũng có khả năng phân hủy xenluloza Ngời ta thờng dùng xạ khuẩn Streptomyces trong việc phân
hủy rác thải sinh hoạt, những xạ khuẩn này thờng thuộc nhóm a nóng, sinh
Trang 27tr-ởng, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45 - 500C rất thích hợp với quá trình ủ rác thải (Lê Văn Tri, 2002) [19].
Trong sản xuất phân bón vi sinh, ngoài các chủng vi sinh vật cố định
đạm, phân giải lân thì việc phối trộn thêm các loại vi sinh vật phân giải Xelluloza sẽ làm tăng thêm hiệu quả sử dụng phân phức hợp hữu cơ vi sinh
Sử dụng vi sinh vật phân giải Xelluloza sẽ làm tăng khả năng phân giải Xelluloza để tạo ra chất mùn, tăng độ phì nhiêu của đất, duy trì sự cân bằng và
ổn định trong chu kỳ chuyển hóa Cacbon của tự nhiên góp phần cải tạo môi ờng sinh thái
tr-* Vai trò của xạ khuẩn
- Xạ khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất và tạo ra
độ phì nhiêu của đất, chúng đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau trong việc làm màu mỡ thêm cho đất
- Xạ khuẩn tham gia tích cực vào các quá trình chuyển hoá và phân giảI nhiều hợp chất hữu cơ phức tạp và bền vững nh xenlulo, chất mùn kitin, kerati, lignin…
- Hầu hết xạ khuẩn thuộc giống Actinomyces, có khả năng hình thành
chất kháng sinh nh streptomixin, oreomyxin, tetraxyclin, teramyxin đây là…một đặc điểm quan trọng nhất của xạ khuẩn, nên đợc sử dụng rộng rãi trong y học, thú y và bảo vệ thực vật
- Trong quá trình trao đổi chất, xạ khuẩn còn có thể sinh ra các chất hữu cơ nh các loại vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12) một số axit hữu cơ nh axit lactic, axit acetic và nhiều axit amin nh axit glutamic, axit metionin, tryptofan, lizin
- Một số khác còn có khả năng tạo thành chất kích thích sinh trởng của thực vật (Hoàng Hải, 2000) [5]
* Vai trò của nấm
Chúng thờng sống hỗ sinh với vi khuẩn phân giải tinh bột và xellulo trong đất, sử dụng sản phẩm của quá trình phân giải xellulo của vi khuẩn, tạo
Trang 28thành các mắt xích phân giải chất hữu cơ trong đất Chúng tồn tại trong đất quan hệ với thực vật và sinh vật khác tạo thành hệ sinh thái đất, góp phần quan trọng cho các quá trình chuyển hoá trong đất , tạo nên kết cấu và độ phì nhiêu của đất, nhất là nhiều loài thuộc các chi Trichoderma, Mucor có tác…dụng cải thiện kết cấu đất Tuy nhiên cũng có một số loại nấm gây bệnh cho cây trồng (Hoàng Lơng Việt, 1978, Kjoller A and Struwe S, 1982; Hội khoa học đất Việt nam (2000) [23], [54], [6].
Trong tất cả các hệ sinh thái thì đất đai là cơ chất đặc biệt, nó là cầu nối cho sự tác động tơng hỗ qua lại giữa động vật thực vật và vi sinh vật trên trái
đất, là kho chứa vô tận nguồn dinh dỡng cho việc phát triển cây trồng, cho mọi hoạt động sống của vi sinh vật và các quá trình chuyển hoá vật chất, nó
đóng góp vào sự thành công của nền nông nghiệp bền vững (Pimental etal…
1992, Smith 1974) Chất lợng của đất bao gồm thành phần hoá học, vật lý, sinh học cùng với mối quan hệ của chúng Trong đó vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mùn, tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất tạo nên độ phì của đất (Arshad and Coen 1992) Thực chất là tạo nên dinh dỡng cho cây trồng
Trong thiên nhiên, vi sinh vật giữ những mắt xích trọng yếu trong sự chu chuyển liên tục và bất diệt của vật chất Nếu không có vi sinh vật hay một
lý do nào đó mà hoạt động vi sinh vật trong tự nhiên ngừng lại thì dù chỉ một thời gian ngắn cũng có thể làm ngừng mọi hoạt động sống khác trên trái đất Thật vậy, ngời ta đã tính toán nếu không có hoạt động sống của vi sinh vật
để cung cấp CO2 cho khí quyển thì lợng CO2 đến một lúc nào đó sẽ cạn hết Lúc bấy giờ cây xanh không thể quang hợp đợc, sự sống của các loài sinh vật khác không tiến hành bình thờng đợc, bề mặt trái đất sẽ biến thành lạnh lẽo
Đối với sản xuất nông nghiệp, vi sinh vật có vai trò rất lớn Thực tiễn
đồng ruộng, đồi núi, sông ngòi là những hệ sinh thái thờng xuyên chịu tác
động của con ngời và vi sinh vật Vi sinh vật tham gia tích cực vào sự phân
Trang 29giải các hợp chất hữu cơ, chuyển hoá các chất khoáng, cố định nitơ phân tử để làm giàu thêm dự trữ nitơ của đất Trong hoạt động sống, vi sinh vật còn sản sinh ra nhiều chất hoạt động sinh học có tác dụng trực tiếp đối với quá trình sinh trởng và phát triển của cây trồng Các chất hoạt động sinh học này (axit amin, vitamin, enzym, chất kháng sinh, độc tố ) tích luỹ trong vùng rễ cây…trồng, làm tăng cờng sự phát triển của loài cây phù hợp với khu hệ sinh vật này và làm hạn chế sự phát triển của các loài cây khác Ngời ta còn nhận thấy nếu không có vi sinh vật giúp cây trồng tiêu thụ các sản phẩm trao đổi chất do cây trồng tiết ra quanh bộ rễ thì một số các sản phẩm này sẽ đầu độc trở lại cây trồng ( Katznelson h,1959; Jones P.T.C,1984; Mishustin E.N, 1956)
[51], [52], [60]
Trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, ở mỗi khâu vai trò của vi sinh vật đều nổi lên khá rõ rệt Vì vậy, để có thể đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông lâm nghiệp không thể không chú ý đến hoạt
động của vi sinh vật
Mỗi loại cây trồng đều có liên quan trên nhiều mặt với một tập đoàn các loại vi sinh vật nhất định, bao gồm cả những loại có ích và có hại Vì vậy ngay
từ khi quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, bố trí cây trồng cần chú ý đến vấn
đề này để có thể đạt đợc hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Nh Thanh, Nguyễn Xuân Thành, 2000) [15]
Vi sinh vật vùng rễ làm tăng khả năng hút ion khoáng của cây, nhất là
sự hút và vận chuyển P trong cây Vi khuẩn Rhizobium tập trung nhiều ở vùng
rễ cây họ đậu, vi nấm và xạ khuẩn phát triển mạnh ở vùng rễ cây rừng Vi khuẩn cố định nitơ tự do Azotobacter gặp nhiều ở vùng rễ lúa, bèo hoa dâu
Những vi sinh vật hoại sinh phân bố ít trong vùng rễ nhng lại tập trung nhiều trong lông hút mô rễ ( Mishra P.C, 1989; Pareek R.P, and Gaur A.C, 1973; Vidoc C, 1982; Vicent J.M, 1982) [59], [62], [68], [69]
Trang 30Trong đất lúa nớc có mặt tất cả các nhóm vi khuẩn cố định nitơ: hiếu khí, kỵ khí không bắt buộc, kỵ khí bắt buộc, vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn sống tự do và cộng sinh Các nhóm vi khuẩn này làm giàu nitơ sinh học cho
đất lúa hàng năm khoảng 15-50kg N/ha (Brewbacker J.L, 1996; Brockwell J.A, 1982; Lie T.A, 1974; Kostov O.N,1990) [46],[47],[57],[58]
Nh vậy vi sinh vật có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp:
- Chế phẩm vi sinh vật không gây hại đến sức khỏe của ngời, vật nuôi
và cây trồng Không gây ô nhiễm môi trờng sinh thái
- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật trong môi ờng sinh thái
tr Chế phẩm vi sinh vật không làm chai đất, mà làm tăng độ phì nhiêu của đất
- Chế phẩm vi sinh vật đồng hóa các chất dinh dỡng cho cây trồng, tăng năng suất và chất lợng nông sản phẩm
- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng tiêu diệt sâu hại và côn trùng gây hại
- Chế phẩm vi sinh vật có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cây trồng
- Chế phẩm vi sinh vật phân huỷ chuyển hoá các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh hoạt, phế thải nông công nghiệp làm sạch môi trờng
2.4 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh vật trong nớc và ngoài nớc
2.4.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phân bón vi sinh ngoài nớc
Đến nay nhiều nớc trên thế giới đã sản xuất chế phẩm vi sinh vật theo nhiều hớng khác nhau, nhiều dạng khác nhau Bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, trình độ dân trí và điều kiện tự nhiên của
Trang 31mỗi nớc Nhng tất cả đều sản xuất theo hớng đó là: tiện cho ngời sử dụng và cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Các kết quả nghiên cứu từ các nớc Mỹ, Canada, Nga, ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản Cho thấy sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh vật có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 đến 60kg N/ha/năm hoặc thay thế 1/2 đến 1/3 lợng lân vô cơ bằng quặng phốt phát Ngoài ra, thông qua các hoạt động sống của vi sinh vật, cây trồng đợc nâng cao khả năng trao đổi chất, khả năng chống chịu bệnh và qua đó góp phần nâng cao năng suất và chất lợng nông sản
ở ấn Độ do sử dụng phân bón vi sinh vật cho các cây bộ đậu (lạc đậu
t-ơng), lúa, cao lơng đã mang lại lợi nhuận tơng ứng là: 1204, 1015, 1149, và
343 rupi/ha tơng đơngvới sự tăng năng suất lạc, đậu tơng là 13,9%, lúa 11,4%, cao lơng: 18,2% và bông 6,8% (Juwarka, 1994) [21]
Bảng 2.3 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở ấn độ
Cây trồng/phân bón VSV Tỷ lệ tăng năng suất (%) Lợi nhuận (R/ha)
124010151149343
Tại Thái Lan lợi nhuận đem lại do nhiễm vi khuẩn cho đậu tơng 126,7 -
144 USD/ha, lạc 36,2 - 91,5 USD/ha, hay một gói chế phẩm/200g có thể thay thế cho 28,6 kg ure
Tại Trung Quốc phân bón vi sinh vật cố định đạm làm tăng năng suất cây trồng từ 7-15% tiết kiệm 20% phân khoáng, phân vi sinh vật phân giải lân tăng năng suất cây trồng 5 - 30%, phân hỗn hợp vi sinh tăng năng suất cây l-
ơng thực 10 - 30% cây ăn quả trên 40% (Limin P.J.2001- Bảng 2.4) [21]
Bảng 2.4 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Trung Quốc
Trang 32Chủng loại phân vi sinh vật Hiệu quả sử dụng
% tăng năng suất % tiết kiệm phân vô cơ
Nguồn: Pan jiarong Lin Min, 2001
Hiện nay phân bón vi sinh vật đã trở thành hàng hóa đợc sử dụng tại nhiều Quốc gia trên thế giới Riêng vi khuẩn nốt sần hàng năm đem lại 25 triệu USD, trong đó tại Mỹ sản phẩm này đợc bán ra với doanh số 19 triệu USD Tại Thái Lan tỷ lệ tăng trởng của phân vi khuẩn nốt sần từ năm 1980
đến 1993 cho đậu tơng là 199%, lạc 280% Tổng giá trị sản phẩm này năm
1995 đạt 406.571 USD (Cong ngoen 1997) [21]
Bảng 2.5 Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan
Năm Số lợng sản xuất
(tấn)
Số lợng sử dụng (tấn)
Nguồn: Cong ngoen và cộng sự, 1997
Ngoài phân vi khuẩn nốt sần các loại, phân vi sinh vật khác nh cố định nitơ tự do từ Azotobacter, Clostridium, Tảo lam, cố định nitơ hội sinh từ Azopirillum, phân giải phốt phát chậm từ Bacillus, Pseudomonas Phòng trừ
vi sinh vật gây bệnh vùng rễ từ Steptomuces, Bacillus cũng đ… ợc sản xuất với
số lợng lớn Với tính hiệu quả cao của phân vi sinh vật đã thúc đẩy các nớ phát triển sản xuất không ngừng cả về số lợng và chủng loại Theo số liệu thống kê tại ấn Độ (năm 1993) Từ năm 1992-1993 tổng hợp các dạng phân vi sinh vật bón trực tiếp cho cây trồng là 2.584 tấn và năm 2000 là 818.000 tấn (tăng trên
3 lần) tơng đơng gần 2,0 tỷ USD (Juwarkar 1994)
Trang 33Bảng 2.6 Các loại phân vi sinh vật ở ấn Độ
818,00
Nguồn: T Sing và Subodh K Dyrin, 1994
Trung Quốc dự kiến trong vòng 5-10 năm tới tổng giá trị phân vi sinh
Nguồn: Pan Jiarong Lin Min, 2001
Chế phẩm phân vi sinh vật có thể sử dụng nh một loại phân bón hoặc phối trộn với nền hữu cơ tạo thành phân bón hữu cơ vi sinh vật
Hiệu quả phân bón hữu cơ vi sinh đã đợc tổng kết tại một số Quốc gia châu á Kỹ thuật chế biến phân ủ từ phế thải hữu cơ đợc trình bày kỹ hơn
trong phần công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trờng (Nguyễn Văn
Sức, 2004) [21]
Bảng.2.8 Hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với lúa ở một số Quốc gia
Trung Quốc
Triều Tiên
Thái Lan
25,2-32,6 8,0-12,0 2,5-29,5
Trang 34ấn Độ 9,9
Trong đất trồng ở Canada, vi sinh vật đất chứa phân hữu cơ vi sinh gần bằng lợng phân hữu cơ vi sinh của tất cả cây cối trên 1 ha ( cây xanh chứa 2,1 kgP/ha, cây cỏ chết 2,1, rác 0,7, gốc rễ 10,7 và khu hệ vi sinh vật đất 19,8) L-ợng phân hữu cơ vi sinh này đợc cố định một cách tạm thời, bởi vì khi tế bào chết nó lại đợc giải phóng vào đất và cung cấp trở lại cho cây trồng (Ahmad N,1968; Bardiya M.C, 1972; Bisoyi R.N, 1998; Bardiya M.C, and Gaur A.C, 1974) [42], [43], [44], [45]
Xu thế hiện nay phát triển CNVSV là tạo ra một loại chế phẩm có nhiếu công dụng, thuận lợi cho ngời sử dụng ở Việt Nam nói riêng và nhiều nớc trên thế giới nói chung đã sản xuất chế phẩm VSV vừa có tác dụng đồng hoá nitơ không khí vừa có tác dụng phân huỷ chuyển hoá lân khó tan trong môi tr-ờng để cung cấp dinh dỡng cho cây trồng, hoặc là sản xuất ra một loại chế phẩm VSV vừa có cả hai tác dụng trên, ngoài ra còn có khả năng tiêu diệt sâu bệnh và côn trùng có hại Những loại chế phẩm nh vậy đợc gọi là chế phẩm VSV hay phân VSV đa chức năng
Hiện nay bên cạnh các chế phẩm phân bón vi sinh vật ở dạng bột, thì dạng phân bón vi sinh vật ở dạng lỏng đang đợc quan tâm phát triển vì tính tiện lợi của nó Phân bón vi sinh vật dạng lỏng trên thế giới hiện nay đã biết
đến là E2001, Nitragin, EM
Phân bón hữu cơ vi sinh có ý nghĩa quan trong trong việc bảo vệ môi ờng và xây dựng nền nông nghiệp sạch, bền vững, do vậy việc nghiên cứu sử dụng phân hữu cơ vi sinh trong nông nghiệp đang đợc nhiều nớc trên thế giới quan tâm
tr-2.4.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng phân bón hữu cơ vi sinh trong nớc
Phân bón vi sinh vật là sản phẩm chứa 1 hay nhiều loài vi sinh vật sống
đã đợc tuyển chọn có mật độ đảm bảo các tiêu chuẩn đã ban hành, có tác dụng tạo ra các chất dinh dỡng hoặc các hoạt chất sinh học có tác dụng nâng cao năng suất, chất lợng nông sản hoặc cải tạo đất Các loại phân bón vi sinh vật
Trang 35có thể kể đến là phân vi sinh vật cố định nitơ - đạm sinh học (Nitragin, Azotobacterin, Azospirillum), phân vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó
tan - phân lân vi sinh (Photphobacterin), chế phẩm nấm rễ, chế phẩm tảo lam (Nguyễn Xuân Thành và cộng sự, 2003) [14]
Sản xuất phân hữu cơ sinh học, một loại sản phẩm đợc tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt ), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng đợc chuyển hoá thành mùn
Chiến lợc an toàn dinh dỡng cho cây và đất trồng là sử dụng cân đối phân bón hoá học và phân bón sinh học cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dỡng và điều kiện đất đai, khí hậu, trong đó phân bón sinh học có vai trò vô cùng quan trọng Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống tồn tại trong đất, n-
ớc và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng,
đất và phân bón Hầu nh mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, cố định chất vô cơ v.v.) Vì vậy từ lâu vi sinh vật đã đợc coi là một
bộ phận của hệ dinh dỡng cây trồng tổng hợp
Nhận thức đợc vai trò của phân bón vi sinh vật, từ những năm đầu của thập kỷ 80, nhà nớc đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chơng trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986 - 1990 và chơng trình công nghệ sinh học 1991-2005 Dới đây là số liệu tổng hợp một số kết quả chính trong công tác nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật làm phân bón phục
vụ phát triển nông, lâm bền vững tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật làm phân bón
* Thu thập, phân lập, tuyển chọn chủng giống vi sinh vật
Các chủng giống vi sinh vật đợc thu thập, phân lập tuyển chọn và lu giữ tại Quỹ gien vi sinh vật nông nghiệp Đây là bộ su tập giống của 30 họ vi
Trang 36khuẩn, nấm, xạ khuẩn, nấm men, với số lợng gần 700 chủng, bao gồm các sinh vật cố định nitơ sống cộng sinh với cây bộ đậu (Rhizobium, Bradyrhizobium),cố định nitơ sống tự do (Azotobacter, Clotridium, Arthrobacter, Klebsiella, Serratia, Pseudomonas, Bacillus, vi khuẩn lam
hay cố định nitơ sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng (Azospirillum), vi sinh
vật phân giải lân (Bacillus, Pseudomonas, Penicillium, Aspergillus, Fussarium, Candida), vi sinh vật phân giải xenlluloza (Trichoderma, Chetomium, Aspergillus, Gliogladium ) và vi sinh vật kích thích sinh trởng
thực vật (Agrobacterium, Flavobacterium, Bacillus, Enterobacter, Azotobacter, Gibberella ) Hàng năm quỹ gen vi sinh vật bổ sung 30-50
chủng giống vi sinh vật mới từ các nguồn phân lập khác nhau Ngoài ra thông qua các hoạt động hợp tác Quốc tế với các Viện vi sinh vật nông nghiệp liên bang Nga, Viện nghiên cứu cây trồng bán khô hạn (ICRISAT - ấn Độ), trung tâm cố định đạm sinh học (NIFTAL - Mỹ, Thái Lan), Trung tâm lu giữ gen vi sinh vật Đài Loan (CCRC), Cộng hoà liên bang Đức (DSM) quỹ gen vi sinh vật nông nghiệp đợc mở rộng thêm với nhiều chủng giống đa dạng khác
* Nghiên cứu qui trình công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật
Phân bón vi sinh vật đợc sản xuất bằng cách nhân sinh khối vi sinh vật trong môi trờng và điều kiện thích hợp để đạt đợc mật độ nhất định sau đó xử
lý bảo quản và đa đi sử dụng Qui trình chung của quá trình sản xuất phân bón
Chế phẩm VSV
Kiểm tra chất lượng
Trang 37Trong khuân khổ các đề tài nghiên cứu thuộc chơng trình công nghệ sinh học các đơn vị nghiên cứu, triển khai trong cả nớc đã nghiên cứu và triển khai thành công các qui trình sản xuất phân vi sinh vật cố định nitơ, phân vi sinh vật hỗn hợp và vi sinh vật chức năng trên nền đất mang khử trùng và không khử trùng Nhiều sản phẩm đợc tạo ra từ các qui trình nêu trên đã đợc thử khảo nghiệm trên diện rộng và đợc Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận
và cho đăng ký trong danh mục các loại phân bón đợc phép sử dụng tại Việt Nam ( Phân VSV cố định nitơ cho cây họ đậu, Phân lân hữu cơ vi sinh KOMIX, Phân bón sinh tổng hợp BIOMIX, Phân lân vi sinh HUMIX, Phân vi sinh Phytohoocmon, HUDAVIL, Phân vi sinh vật chức năng ) Tuỳ theo công nghệ sản phẩm phân bón vi sinh vật có thể chứa sinh khối từ 1 chủng hay nhiều chủng vi sinh vật đã tuyển chọn và sản phẩm có thể đợc sản xuất ở dạng bột hoặc lỏng [16]
* Đánh giá hiệu lực của phân bón vi sinh vật đối với cây trồng
Trong gần 20 năm qua các công trình nghiên cứu và thử nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Việt Nam cho thấy phân vi khuẩn nốt sần có tác dụng nâng cao năng suất lạc vỏ 13,8 - 17,5% ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung và 22%
ở các tỉnh miền Nam, (Ngô Thế Dân và CTV 2001) Các kết quả cũng cho thấy sử dụng phân vi khuẩn nốt sần kết hợp với lợng đạm khoáng tơng đơng
30 - 40 kgN/ha mang lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất lạc đạt trong trờng hợp này có thể tơng đơng nh bón 60 và 90 kgN/ha Hiệu lực của phân vi khuẩn nốt sần thể hiện rõ nét trên vùng đất nghèo dinh dỡng và vùng đất mới trồng lạc Lợi nhuận do vi khuẩn nốt sần đợc Nguyễn Xuân Thành (1995) xác định
đạt 442.000 VNĐ/ ha với tỷ lệ lãi suất/1 đồng chi phí đạt 9,8 lần Lợi nhuận
t-ơng tự cũng đợc Nguyễn Thị Liên Hoa và CTV (1997) tại các vùng trồng lạc ở các tỉnh phía Nam Phân vi khuẩn nốt sần không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất lạc, tiết kiệm phân đạm khoáng mà còn tăng cờng sức đề kháng cho lạc đối với một số bệnh vùng rễ Ngoài ra dới tác dụng của vi khuẩn nốt sần, lạc có sinh khối chất xanh cao hơn Tàn d thực vật sau thu hoạch nếu đợc vùi trả lại cho đất trở thành nguồn dinh dỡng đạm và chất hữu cơ quan trọng cho các cây trồng vụ sau (Phạm Văn Toản, 2005) [16]
Trang 38Bảng 2.9 Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật cố định ni tơ hội sinh
đối với một số cây trồng
Đất
và cây trồng
Công thức bón phân
Năng suất (tạ/ha)
51,60 53,73 57,86
4,0 12,0 Lúa trên đất bạc
-màu Hà Bắc (cũ)
Nền (NPK: 90.90.60 + 8t PC) 80% nền + phânVKCĐN Nền + Phân VKCĐN
37,76 39,86 44,59
6,0 18,0 Ngô trên đất phù sa
-sông Hồng
Nền (NPK: 180.120.90 + 8t PC) 80% nền + phânVKCĐN
Nền + Phân VKCĐN
41,45 41,73 46,85
1,0 13,0 Ngô trên đất bạc
-màu Hà Bắc cũ
Nền (NPK: 90.90.60 + 8t PC) 80% nền + phânVKCĐN Nền + Phân VKCĐN
36,98 37,42 39,88
1,0 8,0 Chè trên đất đỏ
-Thái Nguyên
Nền (NPK: 120.90.60) 80% nền + phânVKCĐN Nền + Phân VKCĐN
142,90 155,34 178,21
9,0 25,0
-Nguồn: Đề tài KHCN.02.06
Kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nớc KC.08.01 (1991-1995) và KHCN.02.06 (1996-2000) [14] cho biết vi sinh vật cố định nitơ có thể tiết kiệm đợc lợng phân khoáng nhất định, từ 10,08 đến 22,4 kgN/ha/vụ tuỳ theo từng loại đất và thời vụ gieo trồng
Bảng 2.10 Khả năng tiết kiệm đạm khoáng
của phân vi sinh vật cố định nitơ
Đất trồng Khả năng tiết kiệm đạm khoáng theo thời vụ gieo trồng (kgN/ha)
Trang 39Đánh giá hiệu lực phân bón vi sinh vật đối với cây trồng đã xác định phân bón vi sinh không chỉ cung cấp một phần chất dinh dỡng cần thiết cho cây mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng đồng thời có khả năng hạn chế một số bệnh vùng rễ cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cho ngời sử dụng và tác động tích cực đến môi trờng sinh thái đất
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu đã chỉ ra phân vi sinh vật chỉ phát huy hiệu lực tốt đối với cây trồng trên nền dinh dỡng cân đối Điều đó cho thấy môi trờng có vai trò vô cùng quan trọng đến quá trình sinh trởng, phát triển và khả năng tổng hợp các hoạt chất sinh học của VSV Nếu điều kiện không thuận lợi hiệu lực của phân VSV bị hạn chế, và trong một số trờng hợp nhất
định hiệu lực sẽ bị mất
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp, điển hình cho nghiên cứu đó là công trình nghiên cứu ứng dụng sản xuất gạo sạch theo nông nghiệp hữu cơ của T.S Hùng Anh và một số công trình nghiên cứu sau:
Với mục tiêu xây dựng những cánh đồng lúa hữu cơ và một thơng hiệu gạo sạch cho nông dân Việt Nam Đầu vụ lúa xuân năm 2005 T.S Hùng Anh
và cộng sự đã triển khai trồng lúa hữu cơ cho 94 hộ với diện tích 6 ha ở xã Nga Vịnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa
Mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ có dùng giống lúa thuần trong
n-ớc thay thế các giống lúa lai nhập khẩu đa về Nga Sơn, giống lúa này do Giáo
s Vũ Tuyên Hoàng lai tạo với hàm lợng dinh dỡng cao và khả năng kháng bệnh tốt
6 ha lúa hữu cơ đầu tiên tuy phát triển chậm hơn và khó chăm sóc hơn lúa thờng, nhng bù lại ít tốn tiền đầu t và ít nhiễm bệnh hơn Kết quả tuy lúa lai đạt năng suất 6,5 tấn/ha và lúa hữu cơ chỉ đạt 5,4 tấn/ha, nhng làm lúa hữu cơ giá bán cao hơn
Kết quả kiểm tra của Viện cây lơng thực và thực phẩm cho thấy, gạo hữu cơ có hàm lợng protein, amylose, vitamin và khoáng chất cao hơn hẳn gạo
Trang 40bình thờng Gạo hữu cơ không chỉ là gạo sạch, tức không có d lợng hóa chất
mà còn phải ngon và bổ dỡng
Ngoài 6 ha lúa hữu cơ thử nghiệm ở vụ xuân huyện Nga Sơn tiếp tục làm thêm 16 ha lúa vụ hè thu 2005 Và hiện mô hình lúa hữu cơ đang đợc triển khai ở một số vùng nông nghiệp quanh Hà Nội
Dự án sản xuất lúa hữu cơ của T.S Hùng Anh đã đợc nhận giải thởng Ngày sáng tạo 2005 với chủ đề “hành động vì môi trờng” do Ngân hàng Thế giới tổ chức
“Với thành công của dự án, Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất đợc gạo và hàng nông sản chất lợng cao Đó là điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp bền vững và xa hơn là ứng dụng mô hình này cho các loại cây màu khác” (Tiến sỹ gạo sạch, 2006) [22]
Sử dụng chế phẩm sinh học, các chuyên gia thuộc Viện Công nghệ sinh học đã giúp nông dân biến rơm rạ thành mùn bón ruộng Phơng pháp này không chỉ góp phần cải tạo đất mà còn góp phần bảo vệ môi trờng
Các nhà khoa học đã tiến hành xử lý rơm rạ và phế phụ phẩm nông nghiệp bằng một chế phẩm sinh học Với chế phẩm này, sau 17-25 ngày, rơm mủn ra và trở thành một loại phân bón rất tốt cho ruộng, loại phân trên giúp giảm 20-30% lợng phân hoá học và tăng năng suất cây trồng 5-7% Dự án do
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định đầu t kinh phí, đợc bắt đầu từ cuối năm 2004 Cho tới nay đã đợc triển khai thành công trên 75 ha mỗi vụ tại 5 huyện Xuân Trờng, Nam Trực, ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc Theo T.S Mấn, Phó Viện trởng Viện CNSH, Dự án không chỉ giúp nông dân giữ độ phì cho
đất mà còn giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trờng bức xúc bấy lây nay Nếu đợc triển khai trên diện rộng, khi những đống rơm nói trên mọc lên cũng là lúc sẽ không còn cảnh khói bụi do đốt rơm ngay tại ruộng Việc vứt rơm rạ bừa bãi xuống kênh mơng sẽ giảm hẳn Biến rơm thành mùn bón ruộng, nhóm nghiên cứu do PGS.TS Lý Kim Bảng đứng đầu, đã sử dụng một loại chế phẩm sinh học do Viện CNSH sản xuất Chế phẩm dạng bột chứa 12-15 loại vi sinh vật