1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DOTRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRI

86 510 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng Trypanosoma đã được các nhà khoa học phát hiện rất sớm: năm 1837, Donne phát hiện một loài Trychomona

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HOC NÔNG NGHIỆP HÀ

NỘI

HOÀNG QUY

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DO

TRYPANOSOMA EVANSIỞ TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kế t quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và hoàn toàn chư a h ề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Quy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo Bộ môn Kýsinh trùng - Kiểm nghiệm thú sản - Vệ sinh thú y; các thầy, cô giáo Khoa Sau đại họcTrường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội cũng như các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Văn Thọ - người Thầy đã tận tình hướngdẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn này

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT, ChiCục Thú y Lạng Sơn, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoànthành chương trình học tập

Tác giả luận văn

Hoàng Quy

Trang 4

MỤC LỤC

1 Mở đầu 1

1 1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng 3 2.2 Đặc điểm hình thái và phân loại Tiên mao trùng 5

2.3 Một số đặc điểm sinh học của Tiên mao trùng 8

2.4 Những nghiên cứu về dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng 9

2.5 Những nghiên cứu về bệnh lý học Tiên mao trùng 18

2.6 Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng 20

2.7 Các nghiên cứu về phòng trị bệnh Tiên mao trùng 27

2.8 Xây dựng và thực hiện quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng cho trâu, bò 29 3 T V • _ - » * Ả i l ^ T \ Ấ • 1 A • 1 Ạ 1 • A V Địa điêm, thời gian, Đôi tượng, nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 31

Trang 5

3.5 Vật liệu nghiên cứu 32

4.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn ảnh hưởng đến

4.3 Tình hình nhiễm T evansi ở trâu, bò các lứa tuổi nuôi tại Lạng Sơn 574.4 Tình hình nhiễm T evansi ở các giống bò nuôi tại tỉnh Lạng Sơn. 624.5 Tình hình nhiễm T evansi ở trâu, bò nuôi tại các vùng sinh thái 644.6 Tình hình nhiễm T evansi ở trâu, bò nuôi tại tỉnh Lạng Sơn theo mùa 684.7 Đặc tính gây bệnh của T evansi cho chuột bạch, chuột lang, thỏ 704.8 Thành phần loài và hoạt động của ruồi, mòng hút máu truyền bệnh Tiên mao

4 8 Hiệu lực của thuốc Azidin điều trị trâu, bò nhiễm T evansi ở Lạng Sơn 75

4.8.2 Hiệu lực của thuốc Azidin điều trị trâu, bò nhiễm T evansi ở Lạng Sơn79

4.9 Xây dựng biện pháp phòng chống bệnh Tiên mao trùng trâu, bò nuôi tại tỉnh

Trang 6

Phụ lục 92

Trang 7

4.10 Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm T evansi giữa các giống bò. 634.11 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò Lạng Sơn theo vùng sinh thái 65

4.12Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò theo vùng sinh thái

66

4.13 Tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò theo mùa. 69

4.14 Khả năng gây bệnh của T evansi cho chuột bạch, chuột lang, thỏ 714.15 Thành phần ruồi, mòng môi giới trung gian truyền bệnh 734.16Một số chỉ tiêu sinh lý trâu, bò trước và sau khi dùng thuốc Azidin điều trị78

4.17 Kết quả điều trị T evansi ở trâu, bò Lạng Sơn 79

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

4.1 Tình hình nhiễm T evansi ở trâu, bò các địa phương 534.2 Biến đông nhiễm T.evansi ở trâu các lứa tuổi. 584.3 Biến đông nhiễm T.evansi ở bò các lứa tuổi 594.4 Tỷ lê nhiễm T evansi theo giống bò Lạng Sơn 624.5 Tỷ lê nhiễm T.evansi ở trâu, bò nuôi tại Lạng Sơn theo vùng 664.6 Tỷ lê nhiễm T evansi ở trâu, bò Lạng Sơn theo mùa 69

Trang 9

1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới Đông bắc Việt Nam với diện tích tựnhiên 8305,21 km2, có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, đất đai,điều kiện kinh tế xã hội, về phong tục tập quán Đặc biệt là trình độ dân trí còn thấp vìvậy việc tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiềuhạn chế Là một tỉnh có đồng cỏ rộng có nhiều tiềm năng để phát triển đàn trâu bò,ngoài việc cung cấp lượng phân bón và sức cày kéo quan trọng trong nông nghiệp vàcòn là nguồn thực phẩm chất lượng cao cung cấp cho tiêu dùng và xuất khẩu

Để ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng đạt hiệu quả caotương xứng với tiềm năng sẵn có thì ngoài công tác giống, thức ăn, quản lý chăm sócnuôi dưỡng thì công tác phòng chống dịch bệnh là hết sức quan trọng

Cùng với quá trình phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu,

bò nói riêng, bên cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thì các bệnh ký sinh trùng vẫntồn tại gây tác động xấu tới súc vật nuôi Chúng thường làm giảm khả năng sinh trưởng

và phát triển, giảm chất lượng thực phẩm, phẩm chất da lông, giảm sức cày kéo, giảmsản lượng sữa

Tuy nhiên, do phần lớn các ký sinh trùng gây bệnh cho vật nuôi ở thể mạn tính,tác hại của chúng là âm thầm và dai dẳng nên ở nhiều địa phương các cấp chính quyềncũng như người chăn nuôi chưa quan tâm đúng mức tới việc phòng trị các bệnh ký sinhtrùng cho gia súc

Một trong những bệnh ký sinh trùng gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi đó là bệnhTiên mao trùng trâu, bò (Trypanosomiasis) Đây là bệnh ký sinh trùng do loài

Trypanosoma evansi (T evansi) gây ra.

Lạng Sơn có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, thờitiết nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho ruồi trâu, mòng (vật

Trang 10

môi giới trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng) Sự lan truyền căn bệnh phụ thuộc rấtlớn vào sự phát triển của ruồi, mòng Chúng hút máu truyền mầm bệnh Tiên mao trùng

từ trâu bò bệnh sang trâu bò khoẻ làm cho bệnh phát tán, lây lan

Theo số liệu báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn, bệnh Tiên mao trùng trâu

bò năm nào cũng xảy ở hầu hết các huyện, thành phố và gây nhiều thiệt hại cho ngườichăn nuôi Song việc nghiên cứu, tìm hiểu tình hình dịch tễ của bệnh cho từng vùngtrong tỉnh vẫn chưa được tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống Do đó việc nghiêncứu về dịch tễ và đề ra biện pháp phòng chống bệnh Tiên mao trùng trâu bò ở Lạng Sơn

là một yêu cầu cấp thiết

Để thấy rõ thực trạng tình hình bệnh Tiên mao trùng ở trâu bò nuôi tại tỉnh LạngSơn, từ đó làm cơ sở để xây dựng biện pháp phòng trị có hiệu quả, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài ” Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Tiên mao trùng do

Trypanosoma evansi ở trâu, bò tại Lạng Sơn và biện pháp phòng trị

1.2 Mục tiêu của đề tài

-Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma

evansi ở trâu, bò nuôi tại tỉnh Lạng Sơn.

-Tìm hiểu thành phần loài và hoạt động của ruồi, mòng môi giới trung gian truyềnbệnh Tiên mao trùng trâu, bò tại các địa điểm nghiên cứu

-Thử nghiệm thuốc Azidin điều trị trâu, bò nhiễm T evansi.

-Xây dựng biện pháp phòng chống bệnh Tiên mao trùng trâu, bò tại tỉnh LạngSơn

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ xung các cơ sở lý luận về tình hình bệnh

Tiên mao trùng do T evansi ở trâu, bò tại tỉnh Lạng Sơn Đồng thời góp phần ứng dụng

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng

Trypanosoma đã được các nhà khoa học phát hiện rất sớm: năm 1837, Donne

phát hiện một loài Trychomonas trong ruột người, năm 1841, Vanletin đã tìm ra

Trypanosoma đầu tiên trong máu một loài cá Sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác

đã được phát hiện trong máu nhiều loài động vật, trong các loài được phát hiện thì loài

Trypanosoma evansi ký sinh, gây bệnh cho động vật đóng vai trò đặc biệt quan trọng

[14]

Gruby (1843) đã phát hiện thấy Tiên mao trùng trong máu ếch, đặt tên là

Eryganosoma sanguinis Tiếp sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác thuộc giống Trypanosoma Gruby lần lượt được phát hiện ký sinh, gây bệnh cho động vật có vú và

người [14]

Evans (1880), đã tìm thấy Tiên mao trùng gây bệnh trong máu la, ngựa, lạc đà ởbang Punjab, Ản Độ Nó được xác định là một thủ phạm gây bệnh chung cho ngựa, la,lạc đà, trâu bò ở Ản Độ được gọi chung là bệnh “Surra” [14]

Steel (1885), phát hiện Trypanosoma trong máu la Miến Điện, mô tả hình thái

ký sinh trùng, đặt tên Spirochaete evansi, sau đoi là Trypanosoma evansi [14].

Blanchard (1886), cũng thông báo tìm thấy Trypanosoma evansi trong máu la

nhập nội vào Bắc Bộ, Việt Nam Tác giả đã mô tả rất tỷ mỉ hình thái ký sinh trùng,

những biểu hiện lâm sàng ở vật bệnh do Trypanosoma evansi [14].

Laveran và Mesnil (1906), trong tác phẩm kinh điển nói về Tiên mao trùng,những bệnh do Tiên mao trùng đã trình bày về bệnh lý do

Trang 12

Trypanosoma evansi gây ra cho các loài động vật, vai trò ký chủ trung gian của một

loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabanidae [14].

Trong khoảng thời gian 1885 đến 1920, nhiều bệnh ở gia súc, dã thú tương tựnhư bệnh “Surra” lưu hành ở nhiều nước trên thế giới: bệnh “m’bori” của lạc đà cácnước thuộc miền tây Châu Phi Bệnh “eldebab”, bệnh “Tahaga” của lạc đà An-giê-ri vàNi-gie-ria Bệnh “Zousifana” của ngựa, chó các nước ở nam sa mạc Sahara Bệnh “Su-suru” của lạc đà ở tây nam Liên Xô cũ Bệnh “murvina” của ngựa ở Trung Mỹ Bệnhđau mông “mal de cadera” ở ngựa, la các nước Nam Mỹ đã được các nhà khoa họcnghiên cứu, tìm ra nguyên nhân Đó là những Tiên mao trùng có hình thái, tính chất

sinh học gần giống như Trypanosoma evansi, được đặt nhiều tên khác như:

Trypanosoma hippicum, Trypanosoma equinum, Trypanosoma vietnamense, Trypanosoma soudanense, Trypanosoma ninae Kohl - Yakimovi, Trypanosoma berberum, Trypanosoma venezuelense [14].

Hoare C.A, Sulsby E.J (1972) [53] nghiên cứu lịch sử phát triển, hình thái, tínhchất sinh vật học của Tiên mao trùng trên, đi đến kết luận: tất cả đều là những chủnggốc châu Á, gốc châu Phi, gốc châu Mỹ và gốc châu Âu của một loài duy nhất là

Trypanosoma evansi

Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã thông báo hiện nay có 7 loài Tiên mao trùng

gây bệnh cho động vật có vú và người là Trypanosoma evansi, Trypanosoma vivax,

Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolence, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma simiae, Trypanosoma cruzi Trong số các loài Tiên mao trùng kể trên

thì Trypanosoma evansi là loài phổ biến nhất, phân bố ở khắp nơi trên thế giới, gây

bệnh cho hầu hết các loài động vật có vú trừ người, chiếm ưu thế ở vùng cận đông, châu

Á và châu Mỹ la tinh

Trang 13

Nha Trang đã nghiên cứu khá đầy đủ về bệnh và gửi Tiên mao trùng về Viện PasteurParis để xác định rõ thêm về chúng [14].

Tiếp đến các báo cáo về Tiên mao trùng của Lorh, K.F (1986) [58] Đến nay baloài Tiên mao trùng ký sinh ở động vật có vú được tìm thấy ở nước ta là:

1 T evansi, Steel 1885, ký sinh ở trâu, bò.

2 T Theileri, Laveran 1902, ký sinh ở trâu, bò.

3 T.lewisi, Kent 1980, ký sinh ở chuột.

2.2 Đặc điểm hình thái và phân loại Tiên mao trùng

2.2.1 Đặc điểm hình thái Trypanosoma evansi

Chen Qijun (1992) [46] cho biết Trypanosoma evansi được xếp vào loại đơn hình thái Trypanosoma evansi hình suốt chỉ hay hình thoi, ở giữa có nhân, không có

Cytochrome Cuối thân có Kinetoplast và Kinetosome, màng rung động rộng, gấp nếp

rõ Trong nguyên sinh chất có những hạt nhỏ bắt màu

Vickerman, K (1974) [70] cho biết: về cơ bản cấu tạo của các loài Tiên mao

trùng của họ Trypanosomatidae giống nhau Tế bào có hình con suốt là nhờ các vi ống

xếp song song nằm dọc theo chiều dài dưới màng tế bào Chuyển động liên tục của Tiênmao trùng được hoạt hoá bởi một cái roi bắt nguồn từ thể cơ động Ở chỗ cái roi nhậpvào thân tế bào có một chỗ lõm trên bề mặt tế bào gọi là túi roi Chính phần này củamàng tế bào là nơi thực hiện chủ yếu các quá trình bài tiết, quá trình hấp thu các chấtdinh dưỡng của Tiên mao trùng

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14] cho biết: Trypanosoma evansi thuộc giống

Trypanosoma Gruby 1984, là những Tiên mao trùng có hình suốt chỉ thoi, mảnh, hai

đầu thót tròn hoặc nhọn Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa có một nhân, cuốithân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch cơ động Từ thể cơ động hoặcgần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào

Trang 14

thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có một đoạn

tự do ở phía trước Cũng có Tiên mao trùng trong giai đoạn phát triển không có roi

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12]

Trypanosoma evansi là loại ký sinh trùng ký sinh ngoài hồng cầu, có hình thoi, dài 18

-34 ^ giữa thân có một roi bắt nguồn từ thể hình roi, cách đuôi Trypanosoma evansi

khoảng 1,5 Roi này chạy dọc thân, tạo thành nhiều màng ngăn rung động, cuối cùng roinày lơ lửng ở phần đầu thành roi tự do dài 6 Nhờ có roi, màng rung động mà

Trypanosoma evansi chuyển động được trong máu động vật Tiêu bản máu nhuộm

Giemsa, nguyên sinh chất của Trypanosoma evansi bắt màu xanh nhạt Nhân bắt màu

hồng, Tiên mao trùng ký sinh trong máu hoặc ở một số tổ chức của động vật có xươngsống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương thức cơ giới nhờ

những côn trùng hút máu thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae.

Trypanosoma evansi được xếp vào loại đơn hình thái (Monomorpha) Kilick

-Kendrick, R [55] đã gặp những thể bị biến mất thể cơ động (diskinetoplas) Sau khi sử

dụng thuốc điều trị Berenil, Prothidium, Trypanosoma evansi khó nuôi cấy trong môi

trường, những thay đổi tính kháng nguyên mất độc lực, không gây bệnh cho cả nhữngđộng vật dị cảm Một số loài Tiên mao trùng có thể quan sát thấy nhiều hình thái trongquá trình phát triển ở ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng Hình thái Tiên mao trùngthường gặp là:

1 Thể Crithidia: thể cơ động ở trước, gần thân, từ thể cơ động xuất phát một

roi, giới hạn một màng rung động ngắn, roi tự do ở phía trước

2 Thể Leptomonas: thể cơ động hoàn toàn ở phía trước, từ thể cơ động xuất

hiện một roi tự do, không có màng rung động

3 Thể Leishmania: hình bầu dục hay hình cầu có một nhân to, một bào từ thể

hình gậy, từ đó xuất phát một cái roi chưa thành hình kết thúc ở giữa thân

Trang 15

4 Thể Trypanosoma: trong côn trùng có hình dạng bình thường, nhưng có roi

dính vào thân, chạy thẳng lên phía trước, không tạo thành màng rung

2.2.2 Vị trí của Tiên mao trùng trong hệ thống phân loại động vật [36]

Loài : Trypanosoma evansi

Giống Trypanosoma bao gồm rất nhiều loài đã được phát hiện ở động vật có

xương sống thuộc lớp cá, lớp bò sát, lớp ếch, lớp động vật có vú, lớp chim Việc phânbiệt các loài Tiên mao trùng của các lớp động vật khác nhau thì tương đối dễ Nhưngviệc phân biệt các loài tiên mao trùng trong lớp động vật có vú thì phức tạp hơn nhiều

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], cho biết: 1943 Neveu - Lemarie, đã chia các loài

thuộc giống Trypanosoma ký sinh ở động vật có vú và người thành năm nhóm căn cứ theo đặc tính hình thái học, sinh vật học của chúng Các nh óm đó là nhóm Lewisi, nhóm

Evansi, nhóm Vivax, nh óm Congolense, nh óm Brucei.

Theo đề nghị của Lapage [56], nhóm Evansi thuộc nhóm Brucei gồm bảy loài, nhóm này lại chia làm ba nhóm phụ, nhóm phụ Suis có một loài

Trypanosoma suis, nhóm phụ Evansi có 4 loài Trypanosoma brucei, Trypanosomaevansi, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma rhodesiense

Trang 16

Trịnh Văn Thịnh (1982) [36], Trypanosoma evansi được truyền từ động vật này

sang động vật khác bằng phương thức cơ giới, chủ yếu nhờ các loài ruồi họ

Stomoxydinae, các loài mòng họ Tabanidae Trong chu kỳ phát triển của Trypanosoma evansi không có giai đoạn phát triển trong ký sinh trung gian như một số

Tiên mao trùng khác

2.3 Một số đặc điểm sinh học của Tiên mao trùng

Theo Phan Địch Lân (1994) [18], Tiên mao trùng sống trong máu (huyết tương,ngoài hồng cầu), nó có hình chỉ suốt thon và mảnh, hai đầu thót tròn hoặc nhọn ThânTiên mao trùng là một khối nguyên sinh chất, giữa thân có nhân và cuối thân có một thể

cơ động, xuất phát một roi dính vào thân chạy dọc lên phía trước tạo ra một màng rungđộng có nhiều nếp gấp Roi có một đoạn tự do ở phía trước nhìn rất rõ khi tiên maotrùng bơi lội trong máu

Tiên mao trùng sống trong máu nhiều loài động vật như trâu bò, ngựa, chó, mèo,lạc đà, voi, hươu, hoẵng, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch

Tiên mao trùng sinh sản bằng cách trực phân theo chiều dọc Đầu tiên, nó tăngthể tích, thể cơ động phân chia, rồi nhân phân chia hình thành roi mới Lúc này Tiênmao trùng có thể tách ra thành 2 hoặc 4 con mới Trong thời gian sống trong máu nó tiết

ra độc tố Trypanotoxin tác động vào các cơ quan nội tạng của con vật và gây những

biến đổi bệnh lý

T evansi được truyền từ động vật này sang động vật khác bằng phương thức cơ

giới chủ yếu nhờ các loài ruồi giống Stomoxys và các loài mòng họ Tabanidae Trong chu kỳ phát triển của T evansi không có giai đoạn phát triển trong ký chủ trung gian

như một số Tiên mao trùng khác

Về khả năng truyền bệnh Tiên mao trùng của côn trùng, tác giả đã kiểm tra ở

nhiều địa điểm cho thấy hai loài mòng T.rubidus và T.striatus có tỷ lệ mang Tiên mao

Trang 17

Ở ruồi mòng, Tiên mao trùng sau khi theo máu vào cơ thể ruồi mòng, nó vẫnsống và hoạt động đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất từ giờ thứ nhất đếngiờ thứ 34, trung bình là 24 giờ, sự hoạt động của Tiên mao trùng yếu và giảm dần từgiờ thứ 35 đến giờ thứ 42 Từ 46 - 53 giờ sau thì tiên mao trùng ngừng hoạt động.

Ở bê, sau khi bị mòng đốt 24 ngày, do trong máu có Tiên mao trùng, bê phátbệnh kéo dài 90 ngày với các triệu trứng: sốt cao gián đoạn, suy nhược cơ thể

Ngoài ra Tiên mao trùng có thể nuôi cấy trong bào thai gà, môi trường dịch tổ

chức, T evansi rất khó nuôi cấy trong môi trường, trong một số điều kiện đặc biệt

chúng có thể phát triển trong môi trường, nhưng nó thay đổi tính kháng nguyên, mất độclực, không gây bệnh cho các động vật dị cảm, đặc tính đã được dùng để phân biệt với

loài Trypannosoma bruicei, đây là loài rất khó phân biệt với T evansi về hình thái và

khả năng gây bệnh

2.4 Những nghiên cứu về dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng

2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [36], hàng năm khi mùa đông tới, trâu, bò ở cáctỉnh miền Bắc nước ta thường bị đổ ngã Đặc biệt ở Lạng Sơn theo dõi qua các nămchúng tôi thấy hàng năm trâu, bò vẫn bị chết nhiều, tỷ lệ chết phụ thuộc vào thời tiếtnăm đó, giá rét kéo dài trâu, bò chết càng nhiều Như vụ rét Đông xuân 2007 - 2008, cảtỉnh Lạng Sơn số trâu bò chết rét đã lên tới 25.758 con gây thiệt hại to lớn về kinh tế Đểhạn chế, tiến tới ngăn chặn được bệnh Tiên mao trùng, các nhà nghiên cứu ký sinh trùngphải tìm hiểu nguyên nhân gây chết ở trâu, bò Đàn trâu ở miền núi có mang trùng,trong điều kiện thức ăn đầy đủ chúng vẫn khoẻ mạnh Khi chuyển về các tỉnh đồng bằng

do làm việc nặng nhọc, thức ăn quá thiếu thốn, gặp thời tiết giá rét, thể trạng suy yếu

dần, dẫn đến sức đề kháng kém, vì thế T evansi có điều kiện phát triển,

Trang 18

làm cho trâu từ thời kỳ mang bệnh T evansi đã trở thành thời kỳ phát bệnh, chết hàng

loạt với triệu chứng cước chân, có hiện tượng trâu ỉa chảy, trâu ngã nước có liên quanđến bệnh Tiên mao trùng Khi xét nghiệm bệnh Tiên mao trùng ở những hợp tác xã cótrâu, bò chết nhiều, thấy tỷ lệ nhiễm từ 3,5 đến 7% Tác giả kết luận: nguyên nhân trâuchết trong vụ đông xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng là do thức ăn thiếu nghiêm trọng,chế độ dinh dưỡng quá kém, làm việc nhiều, giá rét là điều kiện để Tiên mao trùng pháttriển gây tác hại cho trâu, bò

Trịnh Văn Thịnh (1982) [36], Đoàn Văn Phúc (1985) [27], Phạm Sỹ Lăng

(1982) [14], nghiên cứu, kết luận: T evansi tác nhân gây bệnh Tiên mao trùng, là một trong những tác nhân gây thiệt hại cho đàn trâu, bò ở nước ta T.evansi là nguyên nhân

chủ yếu gây bệnh, kết hợp với một số nguyên nhân khác như các bệnh truyền nhiễm,sán lá gan, thức ăn thiếu nghiêm trọng, làm việc quá nặng nhọc, giá rét kéo dài đã làmcho trâu bò đổ ngã hàng loạt trong vụ đông xuân

2.4.2 Phân bố địa lý của Tiên mao trùng

Tiên mao trùng, nguyên trùng gây bệnh Surra có một phạm vi phân bố địa lý cực

kỳ rộng trước khi nó được phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật hoang dã T.

evansi phân bố rộng nhất trong số các loài Tiên mao trùng, chúng đã gây bệnh ở Bắc

Phi, Trung Đông, dọc theo Ản Độ Dương tới gần đại lục Châu Âu tới châu Á; ở vùng

đất mới như Trung và Nam Mỹ cũng đã tìm thấy T evansi.

Lorh, K.F (1986) [58], đã cho biết: T evansi có sự phân bố sau: Châu Á, các

đảo phụ thuộc: Ản Độ, Srilanca, Mianma, Nam Trung Hoa, Inđônêxia, Malaixia,Pakistan, Thái Lan, Lào, Cam pu chia, Việt Nam, Iran, Irắc, Ả rập (Arabic) Palestin,Philippin

Châu Phi: Marốc, Angieri, Tunisie, Ai Cập, Triponidat

Trang 19

Nam Phi: Soudan, Xomali, Madagasca, Ethiopa, Yemen, Moritani, Zaia,Nigeria.

Châu Âu: Tây Nam Liên Xô

Bắc Mỹ: nước Mỹ

Trung Mỹ: Panama

Nam Mỹ: Venezuela, Brazin, Bolivia, Paraguay, Uruguay, Achentina

Châu Đại Dương: Oxtralia

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14] cho biết: 1949, Brumpt đã tìm thấy T.evansi ký sinh,

gây bệnh cho nhiều loài động vật, trừ người Trâu, bò, ngựa, chó, dê, mèo, ở các nước

châu Á đều cảm nhiễm T evansi tự nhiên Nhưng bò ít mẫn cảm, thường ở thể mãn

tính, mang trùng Trâu, bò truyền bệnh thực nghiệm đều thể hiện trạng thái bệnh lý rõràng, chết trong khoảng thời gian từ 22 đến ngày thứ 96 Tuy nhiên tác giả cũng chobiết có thể gặp một số trường hợp trâu, bò ngoài tự nhiên tự khỏi bệnh, trở thành vật

mang trùng Lạc đà thường bị nhiễm T.evansi, bị chết khá nhiều ở một số nước châu Á,

châu Phi Lạc đà ở Tasken, Samarkan, Boukhara Turkestan bị bệnh Tiên mao trùng do

T.evansi, thường bị chết nếu như không điều trị kịp thời.

Nishikawa, H, Tunlasuvan (1990) [61], điều tra tình hình dịch tễ bệnh Tiên mao

trùng do T evansi phân bố ở hầu khắp các tỉnh của Thái Lan, tỷ lệ nhiễm bệnh ở trâu

thường cao hơn bò

Theo Chen Qijun (1992) [47], Trung Quốc đã xét nghiệm được năm loài Tiên

mao trùng Trypanosoma evansi, Trypanosoma equiperdum, Trypanosoma theileri,

Trypanosoma gallinarum, Trypanosoma brucei, đặc biệt T.evansi đã gây bệnh cho

hầu hết các loài động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], cho biết: các nhà khoa học sau đây đã tìm

Trang 20

thấy Trypanosoma evansi trong máu ngựa ở Nha Trang, Blin (1903), ngựa Hà Tiên

(Kermorgant, 1903)

Yersin (1904), thấy ở ngựa Vinh bị mắc bệnh T evansi.

Montel (1904), thấy ngựa ở Hà Tiên bị mắc bệnh T evansi.

Bodin (1905), thấy ngựa Nam Định bị mắc bệnh T evansi

Brau (1906), nghiên cứu triệu chứng bệnh ở bò, ngựa vùng Sài Gòn

Năm 1906, Viện Pasteur Nha Trang nghiên cứu khá đầy đủ về bệnh, gửi ký sinhtrùng về Viện Pasteur Paris, Laveran, Mesnil (1906), làm miễn dịch chéo với chủng

Maurice và chủng Ản Độ kết luận: không hoàn toàn giống T.evansi, đặt tên là

Trypanosoma annamense (Vietnamese).

Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiềutrường hợp chết tại chuồng ngựa của Công ty Khai thác rừng Hà Nội Năm 1922 -1926

ở Nam Bộ, ngựa, chó mắc bệnh Tiên mao trùng đã chết hàng trăm con, Phạm SỹLăng(1982) [14]

Trịnh Văn Thịnh (1967) [35], cho biết: năm 1925, bệnh Tiên mao trùng xảy ra ởhầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Yên, Yên Bái,

Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Vĩnh Yên làm chết 148 ngựa, bò Trước năm

1945 ngựa nước ta chủ yếu phục vụ cho mục đích của thực dân Pháp như vận chuyển, đilại, chiến đấu Vì thế lúc đó con ngựa được quan tâm bảo vệ sức khoẻ, bệnh tật của ngựađược phát hiện, điều trị trong đó có bệnh Tiên mao trùng Những gia súc khác như trâu,

bò rất quan trọng đối với người nông dân thì không được chú ý tới Năm 1945 sau khiđất nước được giải phóng, đàn trâu, bò mới được quan tâm tới, bệnh tật của nó mớiđược tập trung nghiên cứu phòng trị Những năm sau này Tiên mao trùng và bệnh Tiên

Trang 21

nghiên cứu nhiều.

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ của bệnh Tiênmao trùng đã thấy có ở các vùng: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Tỷ lệ nhiễm

T evansi ở các gia súc, ở các vùng cũng khác nhau, tỷ lệ nhiễm bệnh ở trâu cao hơn ở

bò Tác giả đã khảo sát 2.457 trâu, 364 bò trên 71 cơ sở cho biết, tỷ lệ nhiễm chung của

trâu, bò là 8,8% Trâu đồng bằng nhiễm T evansi từ 3 20% cao hơn vùng núi 2,5 6,3% Trâu, bò nhiễm T evansi ở tất cả các lứa tuổi, nhưng nhiễm cao chủ yếu ở lứa

-tuổi 5 - 8 năm là 16, - 18%

Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng (1994) [19], điều tra tình hình

nhiễm T.evansi ở trâu, bò cho thấy, ở miền núi, trung du, đồng bằng, trâu, bò vẫn còn bị nhiễm T evansi với tỷ lệ tương đối cao Tỷ lệ nhiễm T evansi ở các tỉnh miền núi,

trung du cao hơn trâu ở đồng bằng

Phan Địch Lân (1983) [18], trong đợt điều tra cơ bản về côn trùng thú y tại cácvùng địa lý khác nhau ở miền Bắc cho biết: trâu, bò ở miền núi, trung du nhiễm ký sinhtrùng máu nói chung cao hơn trâu, bò ở vùng đồng bằng ven biển Các giống bò ngoại

có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng máu nói chung cao hơn các giống bò lai, bò nội Bò nhiễm

ghép 2 loài ký sinh trùng máu là phổ biến, ít gặp nhiễm ghép 3 loài Tỷ lệ bò nhiễm T.

evansi chung toàn đàn là 0,29%.

Phan Lục, Trần Văn Quyên, Nguyễn Văn Thọ (1996) [11], điều tra tình hình bò

nhiễm T evansi ở các tỉnh phía Bắc cho biết: bò vùng trung du, miền núi, đồng bằng Bắc Bộ nhiễm T evansi với tỷ lệ 9,9% Bò ở vùng trung du nhiễm T evansi 11,2% cao hơn tỷ lệ nhiễm T evansi ở vùng đồng bằng, ven biển 8,7% Bò từ 2 - 8 năm tuổi nhiễm

T evansi với tỷ lệ 11,5% cao hơn tỷ lệ nhiễm T evansi ở bò dưới 2 năm tuổi 2,8%.

Hồ Thị Thuận và cộng sự [33], [34], Hoàng Thạch, Phan Hoàng Dũng, Hồ ThịThuận [32], điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng máu trên đàn bò ở

Trang 22

các tỉnh phía Nam cho biết: tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng máu nói chung từ 20 - 60%, trong

đó đàn bò sữa ở trại thực nghiệm Đà Lạt nhiễm ký sinh trùng máu với tỷ lệ 22,7%, đàn

bò sữa ở Xí nghiệp bò sữa An Phước, Đồng Nai nhiễm T evansi với tỷ lệ 12,6%.

Lê Đức Quyết, Hà Viết Lượng, Nguyễn Đức Tân, Bùi Lập [28], Nguyễn Đức

Tân, Lê Đức Quyết, Phạm Chiên [29], điều tra tình hình nhiễm T evansi ở một số tỉnh

duyên hải nam Trung Bộ cho biết: bò nhiễm chung toàn đàn 6,0%; trong đó đàn bò ởPhú Yên nhiễm cao nhất 31,6%; đàn bò tỉnh Khánh Hoà nhiễm 7,6%; bò ở Đắk lắknhiễm thấp nhất 3,0%

2.4.3 Những nghiên cứu về loài động vật mắc bệnh Tiên mao trùng

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982) [36], Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ

biến nhất trong các loài Tiên mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc

trên thế giới: trâu, bò, ngựa, chó, mèo Ở các nước trâu, bò đều nhiễm T.evansi tự

nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm

T evansi ở thể cấp tính, chết khá nhiều ở một số nước Châu Phi, Châu Á.

Theo Chen qijun (1992) [47], ở Trung Quốc, T evansi đã gây bệnh cho các gia

súc như trâu, bò, ngựa, la, chó

Gill, B.S Singh, J (1987) [52], cho biết ở Ấn độ đã thấy 13 lợn chết ở trại Khara

(Punab), sau khi tiêm truyền qua chuột bạch, có 7 lợn nhiễm T.evansi.

Tperrone, M.C, Leseur and L., Renveom [74], kiểm tra bò ở Venezuela, thấy bò

dưới 3 tháng nhiễm T evansi 13%, bò trên 36 tháng nhiễm 50% Nishikawa, H,

Tunlasuvan, D.N [61] cho biết ở Thái Lan, trâu, bò của hầu khắp các tỉnh trong cả nước

đều nhiễm T evansi, nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh ở bò cao hơn trâu.

Trang 23

Trịnh Văn Thịnh (1967) [35], cho biết: Launoy (1943), cũng đã phát hiện thấy

mèo nhiễm T evansi.

Hoare, C.A., Sulsby E.J (1972) [53], đã kiểm tra phát hiện các thú hoang Châu Á

nhiễm T.evansi tự nhiên: hươu sao, (cervus unicolor) ở đảo Maurice, nai (cervus

timdressis) ở Indonesia, cừu hoang (ovis amnion), hoẵng (careolus), linh dương ởKazachtan (Liên Xô), tinh tinh (orang outang) ở đảo Soumatra, chuột hamster ở Ấn Độ,khỉ (kacacun rhegus) ở một số nước Ở Nam Mỹ, Trung Mỹ một số loài thú cũng mắc

bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra ở thể cấp tính, chết, chó rừng (canis azarae),

khỉ (mucelles ursimus) ở Vernezuela, con Carpinxo (hyderochoerus hyderochoeris), naiđuôi trắng (odoeciluns chiriquenst), hươu (mazuma hutavi), dơi hút máu (demoduerotundus) ở Panama, Colombia Ngoài ra các tác giả còn phát hiện một số ổ dịch ở hổ,báo nuôi ở vườn bách thú Ấn Độ

Ngoài những động vật nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm có thể

truyền bệnh cho các loài động vật nhỏ: chuột nhắt trắng, chuột cống, thỏ, chuột lang,chồn, cầy hương, chó mèo trong đó chuột nhắt trắng và chuột cống đặc biệt mẫn cảm

với T.evansi (Lemaire, 1943; Lapage, 1968) [56].

2.4.4 Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng Theo

Trịnh Văn Thịnh (1967) [35], cho biết: năm 1949, Brumpt E đã tìm ra những loài ruồi

hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabanidae đóng vai trò môi giới truyền bệnh chủ yếu của T evansi T evansi không có chu kỳ phát triển trong ký chủ trung gian,

mà chỉ được truyền theo phương thức cơ giới

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], ở Nam Mỹ, Ligniere, Elmasson, đã truyền

bệnh thực nghiệm thành công bằng ruồi Stomoxys calcitrans, Snobolosa Ở Angêri cũng truyền T.evansi cho động vật bằng ruồi Stomoxys calcitrans và xác định khoảng

cách ruồi đốt vật ốm sang vật khoẻ không quá 24 giờ Crosse H.E (1932) đã thành công

trong thí nghiệm truyền T.evansi

Trang 24

cho chó bằng ve mềm Ornithodorus roasi ở Ản Độ Một loài dơi hút máu ở Nam Mỹ

cũng đóng vai trò truyền T evansi cho ngựa (Desmodus rotundus) Kasansky, I.I (1957) Kênh đào Panama, một số nước ở Nam Mỹ, T.evansi cũng có thể truyền bệnh

bằng thịt tươi của súc vật bị bệnh

Phan Địch Lân (1983) [18], cho biết: ở nước ta có khí hậu, điều kiện sinh thái

thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi

- 300C), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng phát triển,cuối cùng cần có trâu, bò động vật thích hợp để hút máu, duy trì sự sống đồng thời

truyền bệnh T evansi cho những động vật này Ở miền bắc Việt Nam mòng hoạt động

tới 9 tháng, ruồi hút máu hoạt động quanh năm Nhưng tập trung vào những tháng nóngnực Điều kiện này giải thích tại sao bệnh Tiên mao trùng phân bố rộng rãi, mang tínhchất mùa vụ

Theo Phạm Sỹ Lăng(1982) [14], từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian đềukhẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh xảy ra vào những tháng thời tiết ấm áp ruồi,mòng xuất hiện hoạt động mạnh Ở Liên Xô mùa bệnh khoảng 3,5 tháng, từ tháng 5 đếntháng 8 Ở các nước nhiệt đới thì mùa lây lan bệnh có thể xảy ra quanh năm

Touratier, L, Aims (1979) [67], cho biết: đặc tính này đã được dùng để phân biệt

với T.evansi về hình thái, đặc tính gây bệnh.

Ở nước ta họ mòng môi giới trung gian truyền T evansi đã được các nhà khoa

học nghiên cứu về thành phần, khả năng truyền bệnh của chúng Thành phần họ mòng

Tabanidae ở miền Bắc đã được Trịnh Văn Thịnh (1967) [35], cùng Ban điều tra Côn

trùng thú y công bố 77 loài như sau:

Họ mòng Tabanidae.

Họ phụ Tabaninae

Trang 25

Giống Tabanus: 55 loài

Giống phụ Ochrops: 1 loài Giống

Giống Chrysozona: 12 loài

Trong số những loài đã phát hiện có 47 loài được xác định tên chính thức Loài

mòng pho biến ở các vùng là Tabanus rubidus, Chrysops dispar, một số loài có tính chất khu vực như Chrysops vandervulpi chỉ thấy ở miền núi, trung du Hoạt động của

mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền bệnh của chúng Trong một

ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du, đồng bằng giống nhau xuất hiện lúc 6

- 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, ít nhất và không xuất hiện từ 16 - 18 giờ Ở miền núi

Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ và 10 - 14 giờ xuất hiện ít.

Phan Địch Lân ( 1983) [18], cho biết: thành phần họ mòng Tabanidae ở miền

Bắc gồm có 65 loài thuộc 3 giống và những đặc điểm sinh học của từng loài

Phạm Sỹ Lăng, Chu Huy Bào (1971) [17], đã xác định vai trò của họ mòng

Tabanidae truyền bệnh T evansi cho bê bằng cách cho mòng Tabanus rubidus đốt và

kết luận Tabanus rubidus đã truyền được mầm bệnh cho bê Khoảng cách mòng đốt bê

ốm và bê khoẻ là 43 phút, đã gây cho bê một thể bệnh Tiên mao trùng mãn tính

T.evansi sống tới giờ thứ 53 sau khi xâm nhập vào ruột mòng nhưng chỉ có khả năng

gây bệnh đến giờ thứ 7 Cũng năm 1971, tác giả đã thông báo về tỷ lệ mang mầm bệnh

T.evansi của một số loài ruồi, mòng như sau: ở Hà Nội mòng Tabanus rubidus mang

mầm bệnh 26,58%; mòng Tabanus striatus 25,8%; mòng Chrysops dispar 7,55%; ở Lục Bình mòng Tabanus rubidus 25,1%; Tabanus striatus 24,7% Tabanus

kiangsuensia 19,5%, ruồi Stomoxys calcitrans 20,4%.

Theo Nguyễn Minh Châu (1991) [3], bệnh ký sinh trùng đường máu nói chungtrong đó có bệnh Tiên mao trùng trong quá trình phát sinh và phát

Trang 26

triển có sự tham gia của vật chủ trung gian đó là ve, mòng, mà vật chủ trung gian thìchịu nhiều tác động của môi trường sinh thái và mùa vụ.

2.5 Những nghiên cứu về bệnh lý học Tiên mao trùng

2.5.1 Triệu chứng bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra ở trâu, bò

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [14] cho biết, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâmtheo dõi các triệu chứng lâm sàng của bệnh Tiên mao trùng trên trâu, bò Hytyra, F,

Marik, J, Maninger, R (1949) quan sát triệu chứng lâm sàng của bò nhiễm T evansi thể

cấp tính như sau: sốt cao, gián đoạn, thiếu máu, suy nhược, chảy nước mắt, bại liệt chânsau, thuỷ thũng dưới mõm ức, phần bụng sau, đôi khi bị kéo dài tới 6 tháng Một số

trường hợp bò nhiễm T.evansi thể cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày.

Verma, B.B Gautam, O.P (1988) [69], cho biết: trâu, bò nhiễm T.evansi, thể

hiện rất rõ trạng thái bệnh lý, chết trong khoảng 22 - 96 ngày sau khi gây nhiễm Một số

bò lại khỏi bệnh tự nhiên trở thành vật mang trùng Triệu chứng lâm sàng của nghé 6

tuổi nhiễm T.evansi ở Ản Độ như sau: sốt 390C - 400C, bỏ ăn, đau đớn Khi lấy máu

nghé bị bệnh tiêm truyền cho chuột bạch đã phát hiện thấy T.evansi.

Ở nước ta, Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], Hồ Văn Nam (1963) [24], Đoàn VănPhúc (1985) [26], Trịnh Văn Thịnh (1982) [36], cũng đã phát hiện thấy trâu bị bệnh cấptính rất nặng, sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tínhthường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng,liệt chân sau, chết do kiệt sức Đối với bệnh Tiên mao trùng bò, những biểu hiện lâmsàng gần giống như ở trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật sốt gián đoạn, chậmchạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thuỷ thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưngkhông đau, gần chết thì bại liệt

Nguyễn Văn Duệ và cộng sự (1995) [5], quan sát triệu chứng lâm sàng của bònhiễm bệnh Tiên mao trùng miêu tả như sau: một số bò nhiễm bệnh

Trang 27

Tiên mao trùng cơ thể gầy còm, ỉa chảy dai dẳng, niêm mạc nhợt nhạt, chảy nước mắt,nước mũi liên tục, viêm kết mạc, giác mạc, có hiện tượng thủy thũng, bại liệt chân sau.

Bò thường sốt ngắt quãng, sốt rất cao vào buổi sáng, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, đikhập khiễng đôi lúc còn có triệu chứng thần kinh, run rẩy, sẩy thai, lồng lên trước khichết Ở ngựa, bệnh thường thể hiện cấp tính, rất nặng so với trâu, bò, sốt cao, phù thũng

ở dịch hoàn, trước ngực, chân bị bại liệt nặng, nhưng vẫn ăn cho đến khi chết

Bùi Quý Huy, Trần Ngọc Thắng, Đặng Khánh Vân (1988) [9], cũng cho biết: ởnông trường trâu sữa Phùng Thượng tỉnh Ninh Bình, đàn trâu nái Murra nhập từ Ản Độ

về đã bị sẩy thai Năm 1987 có 65 con chửa từ ngày 3 tháng 5 có một con sẩy thai, sau

đó dồn dập trong 9 ngày có 8 con bị sẩy thai, đến ngày 13 tháng 9 có 28 con sẩy thai

chiếm 43% trong đó nguyên nhân chính là T.evansi gây ra.

Năm 1991 ở huyện Kỳ Sơn, huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình trâu chửa cũng bị sẩythai nhiều Huyện Kỳ Sơn có 63 con bị sẩy thai, đã lấy máu những trâu này tiêm nhiễmchuột bạch 21 con thì 9 con dương tính, huyện Đà Bắc có 35 trâu bị sẩy thai, đã lấy máunhững trâu này tiêm truyền cho 31 con chuột bạch thì 6 con dương tính, Lê Ngọc Mỹ,Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng(1994) [19]

2.5.2 Bệnh tích của bệnh Tiên mao trùng trâu, bò

Trypanosoma evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh toàn thân.

Trong quá trình ký sinh, T evansi lấy các chất dinh dưỡng trong máu, thải ra các chất cặn bã, các chất này là độc tố cho cơ thể, khi T evansi bị tiêu tan cũng là những chất độc, chất độc do T evansi thải ra các tác giả gọi là Trypanotoxin Độc tố theo máu đi

khắp cơ thể, tác động lên các nội quan của vật bệnh, đặc biệt là hệ thống tuần hoàn, gây

ra một số bệnh tích đặc biệt

Ikede, B.O (1975) [54] đã thấy ở những nơi thuỷ thũng của bò bệnh có chất keo

vàng lầy nhầy Theo tác giả thì T evansi sinh sản nhiều trong quá

Trang 28

trình di hành trong máu đã làm tắc các động mạch nhỏ dưới da, gây ra hiện tượng tụmáu, làm tổn thương vách mạch máu nhỏ dưới da, nên huyết dịch tiết ra ngoài tạo thànhcác ổ thuỷ thũng.

Morales, G.A., Caresaure (1976) [60], đã quan sát thấy động vật mắc bệnh Tiênmao trùng có các bệnh tích như sau: thể trạng gầy, bao tim có dịch vàng, tràn dịch màngphổi, lách, gan sưng to, màu nhạt hoặc tụ huyết tuỳ theo giai đoạn phát triển của bệnh

Elamin, E.A (1992) [49], thấy dê nhiễm T evansi thì Hemosderin lắng đọng ở tế

bào Kupffer gan, bạch cầu đơn nhân thấm qua ống cửa gan làm cho tế bào gan bị hoại

tử, dẫn đến cơ tim thoái hoá, bạch cầu đơn nhân chui qua phế quản, gây xung huyết, khíthủng phổi, tế bào ống thận bị hoại tử, bong ra Hồ Văn Nam (1963) [24], cùng các tácgiả khác cũng thấy những bệnh tích đặc trưng ở trâu nước ta Bệnh Tiên mao trùng trâu,

bò chết thường bị thuỷ thũng ở ức có dịch màu vàng lầy nhầy, thịt nhão chứa nhiềunước, trong xoang bụng, xoang ngực có dịch màu vàng chanh, gan sưng to, có khi cứnglại, có màu xám nhạt, cơ tim nhão, đáy tim thuỷ thũng

2.6 Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng

Theo Đặng Đức Trạch, Nguyễn Đình Hường và cộng sự (1987) [39], khi có bất

kỳ virus, ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể có thể chống lại chất lạ tạo ra miễn dịch cho

cơ thể khi chất lạ xâm nhập lần sau Thể hiện dưới hai hình thức đáp ứng miễn dịch:miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào

Vũ Triệu An (1997) [1], cho biết: đáp ứng miễn dịch dịch thể (humoralimmunorseponse) giữ vai trò bảo vệ cơ thể thông qua những kháng thể hoà tan có trongmọi dịch sinh học của cơ thể Kháng thể có bản chất là globulin, nên còn được gọi làglobulin miễn dịch (Immunoglobulin - Ig) Đó là sản phẩm của các tương bào Plasma ởgiai đoạn cuối cùng của quá trình biệt hoá tế bào lymphô B

Trang 29

Khi kháng nguyên tiếp xúc với globulin miễn dịch có trên mặt tế bào lympho B thì đượchoạt hoá thông qua tế bào lympho T hỗ trợ (T.help - Th) Tế bào B được hoạt hoá sảnxuất ra kháng thể dịch thể tương ứng với từng loại kháng nguyên.

Theo Nguyễn Như Thanh (1996) [31], trong các loại Ig thì IgG chiếm 75% vàthường được truyền qua nhau thai, nên con non sinh ra đã được miễn dịch Đối với trâu,

bò do nhau thai có 6 lớp màng nên IgG không truyền qua được nhau thai, mà truyền quasữa đầu, vì vậy việc cho bê, nghé bú sữa đầu sớm là rất quan trọng để tạo miễn dịch chocon non Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào (cell mediated immunoresponse).Thông qua các cơ quan tiếp nhận (recepter) mà đại thực bào trình diễn kháng nguyêncho lympho T Sự kết hợp kháng nguyên ngay trên bề mặt làm chúng được hoạt hoá,kích thích tế bào tiết ra lymphokin đóng vai trò tương tác, điều hoà miễn dịch Khi tếbào lympho T trở thành những tế bào hoạt hoá thành các tế bào như tế bào T quá mẫnmuộn, T độc, T cảm ứng Các lympho T tăng lên nhanh chóng, nhanh chóng hoạt hoáđại thực bào, bạch cầu để tiêu diệt kháng nguyên Nhóm tế bào T là một quần thể hỗntạp, nên được phân biệt theo chức năng, trong đó chức năng điều hoà đáp ứng miễn dịch

là tế bào T hỗ trợ, T ức chế Tuy nhiên, miễn dịch của đơn bào khác với miễn dịch củavirus, vi khuẩn Với mỗi loài virus, vi khuẩn đều có những quyết định kháng nguyênphù hợp trên bề mặt đại thực bào, bạch cầu, do đó sẽ tạo ra kháng thể tương ứng,Interferon để tiêu diệt Còn với đơn bào, chúng có đặc tính chung là luôn luôn thay đổikháng nguyên bề mặt, do vậy khi cơ thể sản xuất kháng thể tương ứng đủ để trung hoàkháng nguyên thì kháng nguyên bề mặt lại biến đổi tạo ra loại kháng nguyên khác, làmcho cơ thể rất khó tạo ra miễn dịch hoàn toàn bền vững, chống lại đơn bào

Theo Zhao, J.Z, Yuan, C.H.G (1992) [72], thành phần C3 và C19 sinh ra từ biểu

mô phế quản gốc của thỏ được phân bổ dọc theo niêm mạc, IgG có

Trang 30

ở phổi, một ít ở tuyến lệ IgG mới sinh ra, được giải phóng cùng với IgG đang có ở tổ

chức trên Kháng nguyên T evansi không tìm thấy ở mũi,, mắt, chứng tỏ ở đó có kháng thể kháng T evansi.

Weir C et al (1986) [71], đã nhận thấy những động vật mẫn cảm, thời gian sinhkháng thể kháng Tiên mao trùng chậm hơn những động vật ít mẫn cảm, tới khi Tiênmao trùng đã xuất hiện ở khắp cơ thể mà vẫn chưa xuất hiện kháng thể Tiên mao trùng,

khi gây nhiễm Trypanosoma brucei, lần thứ nhất chỉ xuất hiện IgG, gây nhiễm lần thứ

hai mới thấy xuất hiện IgG1, IgG2 Các yếu tố vật lý cũng có vai trò trong kháng bệnh

tự nhiên Hàm lượng kẽm trong huyết thanh của loài động vật mẫn cảm cao hơn của loàiđộng vật không mẫn cảm với Tiên mao trùng Giả thiết rằng kẽm tăng quá mức gây cảntrở sự hiện diện của kháng nguyên đồng thời kìm hãm kích thích tạo phân chia tế bàolymphocyte ở động vật mẫn cảm

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], những nghiên cứu rõ nhất về miễn dịch học là

sự ứng dụng các phản ứng huyết thanh học trong chẩn đoán đối với T.evansi Jatkar.

(1973), tại Trung tâm Thú y Nhiệt đới đã xác định lượng IgM, IgG tăng lên trong huyết

thanh lạc đà nhiễm T.evansi đã ứng dụng IFAT, ELISA đã phát hiện kháng thể đặc hiệu

trong huyết thanh lạc đà bệnh Các phản ứng này được xem như chính xác hơn các phảnứng chẩn đoán huyết thanh học trước đây (phản ứng Formol, phản ứngChlorremercure), nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi, dụng cụ đắt tiền, cồng kềnh

Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [10], ký sinh trùng ký sinhtrong máu kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể gia súc sinh ra kháng thể chống lại

ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện làm ngưng kết hoặc tiêu tan ký sinh trùng Quá trìnhnày làm giảm sự sinh sôi, hạn chế quá trình phát triển của ký sinh trùng, kháng thể xuấthiện với nồng độ cao làm ký sinh trùng suy yếu có thể gây nên thể bệnh mãn tính, hoặc

Trang 31

nghiên cứu về miễn dịch của ký sinh trùng đường máu, người ta nhận định về cơ chếđáp ứng miễn dịch của cơ thể, sự lẩn tránh đáp ứng miễn dịch của Tiên mao trùng nhưsau: đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn đối với các loại ký sinh trùng nói chung có tínhmiễn dịch yếu Điều này không đúng trong trường hợp ký sinh trùng có tính khángnguyên đầy đủ, nhưng khi ký sinh trong máu của động vật chủ Tiên mao trùng đã tạo ramột cơ chế cho phép chúng tồn tại trước sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể Tuy nhiên,cũng giống các phần tử kháng nguyên khác, Tiên mao trùng có thể kích thích cơ thể sảnsinh kháng thể dịch thể, kháng thể tế bào Kháng thể phục vụ chủ yếu việc kiểm soát sốlượng ký sinh trùng có tự do trong máu, trong dịch mô, còn kháng thể tế bào có thể trựctiếp chống lại ký sinh trùng ở trong tế bào Kháng thể dịch thể ức chế trực tiếp cáckháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng không chuyển động được Kháng thể cùng vớichất tiết của tế bào (cytotoxit) có thể giết chết Tiên mao trùng Mặt khác, kháng thể cóthể ức chế hoạt động của các men tham gia vào quá trình sinh sản của Tiên mao trùng(sao chép) Song bản thân Tiên mao trùng cũng có cơ chế để chống lại đáp ứng miễndịch của vật chủ rất mạnh Nhưng cách thức hoạt động của nó chưa được làm sáng tỏ,một số quan điểm cho rằng: Tiên mao trùng cũng có khởi động sự phát triển của những

tế bào ức chế (Suppresser cells) hoặc hệ thống tế bào lympho B Trong khi đó một sốnhà nghiên cứu lại cho rằng: Tiên mao trùng giải phóng ra các yếu tố ức chế miễn dịch,Tiên mao trùng còn có 2 phương thức lẩn tránh đáp ứng miễn dịch rất có hiệu quả Thứnhất là trở thành tính kháng nguyên thấp (hypoantigenis) hoặc không có tính khángnguyên (nolmmunogenie) Cách thức thứ hai là có khả năng thay đoi kháng nguyên bề

mặt rất mạnh, giữ được kháng nguyên cũ Trypanosoma theileri ở trâu, bò,

Trypanosoma lewisi ở chuột, cả hai loài này đều là Trypanosoma không gây bệnh.

Cho nên chúng có thể sống được trong máu của các động vật bị nhiễm

Trang 32

Bởi vì chúng được bao phủ một lớp proteine huyết thanh của vật chủ, do đó chúngkhông được nhận biết như là một vật lạ.

Trong điều kiện thí nghiệm, Tiên mao trùng phát triển trong môi trường nuôi cấy

tế bào, cũng cho ta thấy những trường hợp biến đổi kháng nguyên lẻ tẻ Bằng kính hiển

vi điện tử có thể quan sát thấy sự biến đổi kháng nguyên, hình thành một lớp bao phủtrên bề mặt của Tiên mao trùng Khi sự thay đổi kháng nguyên xảy ra, các protein ở lớpbao phủ cũ mất đi, được thay thế bởi loại protein có tính kháng nguyên khác Sự phântích di truyền của quá trình này chỉ ra rằng: Tiên mao trùng có một số lượng gen rất lớn

để chi huy tổng hợp loại protein đó, sự biến đổi tính kháng nguyên xảy ra là do kết quảcủa việc gen sắp xếp lại, chọn lọc, Chard, K., Sinett, R.P (1970) [45]

Chính vì những lý do trên, việc chẩn đoán Tiên mao trùng còn gặp nhiều khókhăn nhất là trong thời kỳ Tiên mao trùng không xuất hiện ở mạch máu ngoại vi Bởivậy việc tìm ra một phương pháp chẩn đoán chính xác, nhanh nhạy đang là một vấn đề

được các nhà khoa học quan tâm đến Đối với bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra,

từ lâu một số nhà khoa học có nhận xét: sau một cơn bệnh cấp tính con vật tiếp tụcmang trùng trong nhiều tháng, đến cả nhiều năm, chỉ phát hiện ký sinh trùng khi tiêmtruyền cho động vật mẫn cảm

Lê Ngọc Vinh (1992) [41], đã nghiên cứu ứng dụng phản ứng ngưng kết trực tiếp

để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng trâu, bò đạt tỷ lệ phát hiện 80

- 85% lại nhanh, thuận tiện, đồng thời cũng sử dụng qui trình phòng trị bệnh của TrịnhVăn Thịnh (1982) [36] và Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], đã công bố cho kết quả tốt

Lê Ngọc Vinh (1992) [41], khi nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng cho biết: trâu

gây nhiễm T.evansi sau 24 đến 30 ngày hàm lượng kháng thể xuất hiện trong máu cao

nhất, giảm dần sau 90 ngày Sau khi điều trị một

Trang 33

tuần bằng Trypamidium với liều 1 mg/kg thể trọng, hàm lượng kháng thể kháng

T.evansi vẫn còn cao trong máu, bắt đầu giảm dần sau từ 2 đến 3 tuần điều trị Bò sau

khi điều trị 3 tháng, hàm lượng kháng thể kháng T.evansi vẫn còn tồn tại trong máu.

Lê Ngọc Mỹ (1991) [20], Lương Tố Thu và cộng sự (1994) [37], Lương Tố Thu,

Lê Ngọc Mỹ (1995) [38], sử dụng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng T.evansi trong máu trâu nhiễm T.evansi cho biết, kháng thể lưu hành được phát hiện trong vòng

7 - 14 ngày sau gây nhiễm Hàm lượng kháng thể trong máu trâu gây nhiễm Tiên maotrùng sau 2 - 5 tuần là cao nhất

Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng (1994) [19], Lê Ngọc Mỹ, VươngLan Phương, Phạm Sỹ Lăng (2001) [21], Lê Ngọc Mỹ (1991-1994) [20], Trần Đình Từ,Hoàng Thạch và cộng sự (1987) [41] đã sử dụng kỹ thuật ELISA để xác định khángnguyên ở những trâu gây nhiễm thấy rằng, kháng nguyên lưu hành được phát hiện trongvòng 7 - 14 ngày sau khi gây nhiễm và sau 83 ngày sau khi điều trị khỏi bằng Berenil

Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Giang Thanh, Lê Minh Hà, Phạm Thị Tâm, NguyễnAnh Dũng (2001) [22], cho biết: bò sau khi nhiễm bệnh Tiên mao trùng, hai tuần trongmáu xuất hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng lưu hành, hàm lượng kháng thể bắt đầucao dần ở tuần thứ 4 đạt hàm lượng cao nhất ở tuần thứ 7 sau khi nhiễm bệnh Bê saukhi điều trị bệnh Tiên mao trùng bằng Trypamidium với liều 1 mg/kg thể trọng trongmột tuần, hàm lượng kháng thể vẫn còn cao trong máu (0,90), bắt đầu giảm dần ở tuầnthứ hai, tuần thứ ba nhưng vẫn còn tồn tại trong máu kéo dài sau khi điều trị 2 - 3 tháng

Weir C.et a (1986) [71], Uilenberg, G (1988) [68], cho biết: Glycoprotein chịu

trách nhiệm về sự thay đổi tính kháng nguyên của T.evansi Cấu trúc kháng nguyên,

đặc tính, chức năng của Glycoprotein bề mặt là khó hiểu nhất của một kháng nguyên kýsinh trùng Giai đoạn nhân lên của

Trang 34

T.evansi ở trong máu dài hơn, còn giai đoạn Trypamastigote ngắn ngủi Sự nhân lên

của T.evansi tiếp tục tới khi ký chủ có kháng nguyên sản sinh kháng thể làm ngưng kết, tiêu tan T.evansi Kháng thể xuất hiện làm số lượng T.evansi giảm tụt xuống T.evansi mới được xuất hiện lần đâu, ngay sau đó T.evansi đợt mới bị kháng thể tiêu diệt, tới khi

T.evansi phát triển giai đoạn thứ ba Quá trình phát triển nhịp nhàng của T.evansi ,

kháng thể của ký chủ đã làm T.evansi suy yếu, trở nên dạng chỉ có thể gây nên thể bệnh

mãn tính Chu kỳ xuất hiện variants thường là bảy ngày Sự thay đổi tính kháng nguyên

là do có sự thay đổi độ dày chất bề mặt của T.evansi.

Phạm Sỹ Lăng, Vương Lan Phương, Lê Ngọc Mỹ (2001) [16] cho biết: khi bị

bệnh do T.evansi, gia súc chứa một lượng lớn các kháng nguyên khác nhau, hàng trăm

glycoprotein khác nhau về tính kháng nguyên được gây nhiễm một lần Sự khác nhaucủa glycoprotein bề mặt trong thời gian gây nhiễm là ngẫu nhiên, mặc dầu không phải làtuyệt đối Những sự thay đổi kháng nguyên đặc biệt tạo ra tần số trong những khoảng

thời gian có thể sớm, muộn hay trung bình Khi gây nhiễm T.evansi, trong thời gian xuất hiện kháng thể của ký chủ, T.evansi biến động có lựa chọn hơn là vai trò kích thích của kháng thể Thường có khoảng 104 - 105 kháng nguyên T.evansi khác nhau.

Garcia, F, Also, P.M (1992) [50], khi nghiên cứu trên ngựa gây nhiễm cho biết,ngựa gây nhiễm 106 T.evansi dạng Trypamastigote hai lần, mười ngày gây nhiễm một lần, thời gian đầu mật độ T.evansi giảm xuống, sự ngưng kết có thay đổi, chứng tỏ ký sinh đã sản sinh kháng thể kháng T.evansi.

Lê Ngọc Vinh (1992) [41] khi theo dõi về sự biến động kháng thể T.evansi

trong máu động vật gây nhiễm cho biết, trâu gây nhiễm từ ngày 24 - 30 thì nồng độkháng thể cao nhất, sau 90 ngày kháng thể giảm dần, sau điều trị 4 - 5 tháng kháng thể

không còn trong máu Thỏ gây nhiễm sau 4 - 5 ngày kháng thể T.evansi bắt đầu xuất

hiện, 8 - 15 ngày kháng thể cao nhất, sau 65

Trang 35

ngày kháng thể thấp dần.

Theo Turner (1984) [66], lứa tuổi cũng có quan hệ đến sức đề kháng bệnh Tiênmao trùng Bê từ hai tháng đến một năm có kháng nguyên sản sinh kháng thể khángTiên mao trùng cao với bò già

Authie, E (1974) [43], cũng cho biết: trong cùng một giống gia súc, sự mẫn cảmcủa các loài Tiên mao trùng cũng khác nhau Ở Châu Phi, bò Taurine như Baoule,N’dama, Muturu vẫn sống được ở những vùng có mật độ côn trùng gây nhiễm cao,trong khi đó bò Zebu bị chết do bệnh Tiên mao trùng Sự gây nhiễm tự nhiên rất quantrọng, thậm chí đến đời thứ ba của động vật mẫn cảm cũng không có kháng nguyênsống sót ở những vùng gây nhiễm nặng

Phan Lục (1996) [12], miễn dịch mang trùng ở bò có thể kéo dài 6 - 10 tháng số

ký sinh trùng ấy chết đi thì con vật lại có thể tái nhiễm Nếu con vật tiếp tục nhiễm bệnhrồi lại qua khỏi nhiều lần thì sức miễn dịch đó càng được củng cố

2.7 Các nghiên cứu về phòng trị bệnh Tiên mao trùng

Trypanosoma evansi đã gây bệnh cho nhiều loài động vật như trâu, bò, lạc đà,

ngựa, nhiều loại thú hoang dã Khả năng phân bố T.evansi rộng rãi trong các loài Tiên

mao trùng, chúng có ở khắp các châu lục, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho ngườichăn nuôi trâu, bò

Ở nước ta bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm trong đó bệnh Tiên maotrùng gây nhiều thiệt hại cho đàn trâu, bò Năm 1963 - 1964 ở miền Bắc đã có trên 2

vạn trâu, bò chết trong vụ đông xuân, Đoàn Văn Phúc (1985) [28] Hiện nay T.evansi

không còn gây chết trâu, bò hàng loạt, nhưng vẫn gây thiệt hại đáng kể cho trâu, bò cầnđược tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả nhất,tiến tới khống chế hoàn toàn được bệnh Để phòng chống bệnh Tiên mao trùng

T.evansi nói riêng, khoa học thế

Trang 36

giới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều loại hoá dược đặc hiệu đã được chế

tạo, sử dụng rộng rãi để phòng chống dịch Naganol được xem như một loại thuốc kinh điển có hiệu lực cao trong điều trị, phòng nhiễm T.evansi cho hầu hết các loại gia súc,

ngựa, lạc đà, trâu, bò, chó, mèo kể cả tự nhiên cũng như thực nghiệm

Theo Touratier, L, Aims (1979) [67], Trypamidium có khả năng điều trị, phòng

bệnh do T.evansi trong thời gian 4 tháng Các loại thuốc có hiệu lực phòng trị T.evansi

đã được sử dụng trong khoảng 20 năm trở lại đây

- Nhóm hợp chất có Phenanthridinium

Haumidium bromide (Ethidium)

Haumidium chloride (Novidium)

Pyrithidium bromide (Prothidium)

Isome’tamidium chloride (Trypamidium)

- Nhóm Quinapyramine

Quinapyramine metha - sulfate (Antrycide)

Quinapyramine chloride (Pyraldin)

Quinapyramine prophyllactik (Antrycide presalt)

- Nhóm Diamidine

Diminazène acéturate (Berénil)

- Nhóm Suramine

Naganol (Naganin, Bayer 205)

Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], cho biết: ở nước ta sau năm 1954 đã áp dụng nhiềutiến bộ kỹ thuật của thế giới trong phòng trị bệnh Tiên mao trùng cho đàn trâu, bò càykéo, lấy thịt, lấy sữa đã đem lại nhiều kết quả Dưới đây là một số hoá dược chính đã sửdụng để phòng chống bệnh Tiên mao trùng ở nước ta

Trang 37

bệnh Tiên mao trùng trâu, bò do T.evansi gây nên ở nước ta, Phan Địch Lân [18], Hồ

Văn Nam [24], Phạm Sỹ Lăng [15], Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn ĐăngKhải [25], Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự [4]

2 Novarsennobenzol, liều 0,01 g/kg trọng lượng, điều trị 2 lần cách nhau 2ngày, hiệu lực của thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80,3% - 825, Hồ Văn Nam [24], Phạm

Sỹ Lăng [14]

3 Trypamidium, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn, hiệu lựccủa thuốc đạt 100% Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Đăng Khải [25], Hồ ThịThuận [33], Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự [5]

4 Berenil, liều điều trị 7 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp, Hồ Thị Thuận [33], LêNgọc Mỹ [23], Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự [5]

5 Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn,hiệu lực của thuốc đạt 100% Lê Ngọc Mỹ[23]

6 Trypazen, liều 3,5 mg/kg trọng lượng, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh100%, Phạm Sỹ Lăng [14], Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự [5], đãnghiên cứu, sử dụng 5 loại hoá dược Naganol, Sulfarsenol, Novarsenobenzol, Berenil,Trypamidium để phòng, điều trị bệnh Tiên mao trùng đã cho kết quả tốt

2.8 Xây dựng và thực hiện quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng cho

trâu, bò

Diệt T evansi trên thân gia súc: định kỳ kiểm tra máu đàn trâu, bò mỗi năm hai

lần tháng 4 và tháng 8, thời gian mà ruồi, mòng hoạt động truyền bệnh Phát hiện trâu,

bò bệnh hoặc mang trùng, để kịp điều trị, thanh toán nguồn tàng trữ mầm bệnh

T.evansi trong tự nhiên bằng các loại thuốc như: Naganol, Trypamidium, Berenil Cùng

với việc tiêm phòng phải tăng sức đề kháng với bệnh T.evansi bằng biện pháp đẩy

mạnh công tác nuôi dưỡng, chăm sóc tốt đàn trâu, bò, đồng thời phải sử dụng cày kéo

hợp lý Chống côn trùng môi giới trung gian truyền bệnh T.evansi tổ chức diệt ruồi,

Trang 38

ruồi có chỗ cư trú, phát triển vòng đời, diệt bằng hoá dược, phun, xua đuổi ruồi, mòng trên đàn trâu, bò khu vực chăn thả.

Trang 39

3 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, đồi núi chiếm hơn 80 % diện tích cả tỉnh, có 7

huyện vùng cao, 4 huyện vùng thấp Để đánh giá khách quan tình hình nhiễm T evansi

ở trâu bò, dựa trên cơ sở những đặc điểm về địa hình, khí hậu cũng như hệ động thựcvật, mật độ phân bố dân cư, trình độ dân trí, tình hình chăn nuôi, dịch bệnh, chúng tôi đãchia địa điểm nghiên cứu làm 2 vùng đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau

Vùng I: Là vùng cao có nhiều đồng cỏ tự nhiên, không có (hoặc rất ít) ruộng, ao,mương ngòi, suối nhỏ Đại diện là 2 huyện Bình Gia và Văn Lãng

Vùng II: Là vùng thấp có nhiều ruộng nước, ao, mương ngòi và khe, suối nhỏ.Đại diện là 2 huyện Hữu Lũng và Lộc Bình

Ở mỗi huyện chúng tôi chọn 2 xã tiến hành lấy mẫu tại các hộ gia đình chăn nuôitrâu, bò

- Huyện Bình Gia lấy mẫu ở xã Bình La và Minh Khai

- Huyện Văn Lãng lấy mẫu ở xã Trùng Khánh và Hội Hoan

- Huyện Hữu Lũng lấy mẫu ở xã Cai Kinh và Yên Vượng

- Huyện Lộc Bình lấy mẫu ở xã Như Khuê và Đồng Bục

3.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 08 năm 2008

3.3 Đối tượng nghiên cứu

- Là Trypanosoma evansi ở trâu, bò các lứa tuổi thuộc các vùng nghiên cứu của

tỉnh Lạng Sơn

- Mòng họ Tabanidae, họ ruồi trâu Stomoxydae.

Trang 40

3.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh Tiên mao trùng do T.evansi ở

trâu, bò Lạng Sơn:

+ Điều tra tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò.

+ Điều tra tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò theo vùng, lứa tuổi, giống bò và mùa

3.5 Vật liệu nghiên cứu

- T evansi do Trung Tâm Chẩn đoán thú y Quốc gia cung cấp để làm kháng

nguyên

- Mẫu huyết thanh, máu được lấy từ trâu, bò ở các địa điểm nghiên cứu

- Các hóa chất, dụng cụ phòng thí nghiệm, động vật thí nghiệm phục vụ công tácchẩn đoán xét nghiệm

3.6 Phương pháp nghiên cứu

- Thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu

ký sinh trùng thường quy hiện đang được áp dụng ở các phòng thí nghiệm ký sinh trùng

ở trong nước và trên thế giới

- Chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu phân tầng và

chọn mẫu chùm Tiến hành điều tra tỷ lệ nhiễm T evansi ở trâu, bò theo phương pháp

nghiên cứu cắt ngang [31]

Ngày đăng: 30/11/2015, 00:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Jean Claude Homberg (1997), Miễn dịch học. Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Trang 60 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Vũ Triệu An, Jean Claude Homberg
Nhà XB: Nhà xuất bản Y họcHà Nội
Năm: 1997
5. Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự (1995), Kết quả điều tra sự phân bố Tiên mao trùng và huyết bào trùng trâu, bò miền Trung. Nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, (10). Tr 386 - 387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra sự phân bố Tiên mao trùng và huyết bào trùng trâu, bò miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh, cộng sự
Nhà XB: Nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm
Năm: 1995
6. Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh và cộng sự (1993), So sánh hiệu lực điều trị bệnh Tiên mao trùng Trypanosomiasis của trâu, bò bằng một số thuốc khác nhau, Tập san khoa học, công nghệ, trang 91 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiệu lực điều trị bệnh Tiên mao trùng Trypanosomiasis của trâu, bò bằng một số thuốc khác nhau
Tác giả: Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Chinh, cộng sự
Nhà XB: Tập san khoa học, công nghệ
Năm: 1993
7. Nguyễn Quốc Doanh, Lương Tố Thu, Lê Ngọc Mỹ, Phạm Sỹ Lăng (12/1996), Kết quả dùng Trypamidium điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu, bò do Trypanosoma evansi gây ra, Tạp chí khoa học công nghệ và quản lý. Trang 500 - 501 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kếtquả dùng" Trypamidium "điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu, bò doTrypanosoma evansi gây ra
8. Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng (1997), Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu do Trypanosoma evansi gây ra, Tạp chí khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của Trypazen trong điều trị bệnh Tiên mao trùng trâu do Trypanosoma evansi gây ra
Tác giả: Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Tạp chí khoa
Năm: 1997
9. Bùi Quí Huy, Trần Ngọc Thắng, Đặng Khánh Vân (1988). Một số ổ dịch sẩy thai ở đàn bò do Tiêu mao trùng, Thông tin thú y. Trang 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ổ dịch sẩy thaiở đàn bò do Tiêu mao trùng
Tác giả: Bùi Quí Huy, Trần Ngọc Thắng, Đặng Khánh Vân
Năm: 1988
10. Lương văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997). Giáo trình ký sinh trùng Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Lương văn Huấn, Lê Hữu Khương
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức
Năm: 1997
11. Phan Lục, Nguyễn Văn Thọ (1996). Tình hình nhiễm đơn bào ký sinh ở trâu, bò ở một số vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ Việt Nam, Khoa học kỹ thuật thú y tập III (4) Trang 59 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm đơn bào ký sinh ở trâu, bò ở một số vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ Việt Nam
Tác giả: Phan Lục, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 1996
12. Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, Trong 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
13. Phạm Văn Khuê (1962). Chẩn đoán phòng trị bệnh Tiên mao trùng trâu, Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, (4). Trang 34 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán phòng trị bệnh Tiên mao trùng trâu
Tác giả: Phạm Văn Khuê
Năm: 1962
16. Phạm Sỹ Lăng, Vương Lan Phương, Lê Ngọc Mỹ (4/2001), Nghiên cứu chế kháng nguyên. Trypanosoma evansi dùng cho phản ứng huỳnh quang kháng thể gián tiếp để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng , Báo cáo khoa học chăn nuôi Thú y 1999 - 2000. Trang 6 - 26. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế kháng nguyên. Trypanosoma evansi dùng cho phản ứng huỳnh quang kháng thể gián tiếp để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Vương Lan Phương, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Báo cáo khoa học chăn nuôi Thú y 1999 - 2000
Năm: 2001
20. Lê Ngọc Mỹ (1991 - 1994). Bước đầu thiết lập ELỈSA để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng, Công trình nghiên cứu Khoa học kỹ thuật thú y. Trang 111 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu thiết lập ELỈSA để chẩn đoán bệnhTiên mao trùng
21. Lê Ngọc Mỹ, Vương Lan Phương, Phạm Sỹ Lăng (4/2001). Nghiên cứu kháng nguyên Trypanosoma evansi dùng cho phản ứng huỳnh quang kháng thể gián tiếp để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y 1999- 2000, Thành phố Hồ Chí Minh. Trang 16 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kháng nguyên Trypanosoma evansi dùng cho phản ứng huỳnh quang kháng thể gián tiếp để chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng
Tác giả: Lê Ngọc Mỹ, Vương Lan Phương, Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y
Năm: 2001
22. Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Giang Thanh , Lê Minh Hà, Phạm Thị Tâm, Nguyễn Anh Dũng (4/2001). Kháng nguyên hoà tan Trypanosoma evansi trong phản ứng ELỈSA chẩn đoán Tiên mao trùng trên bò, Báo cáo khoa học. Chăn nuôi Thú y 1999 - 2000, Thành phố Hồ Chí Minh. Trang 9 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng nguyên hoà tan Trypanosoma evansi trong phản ứng ELỈSA chẩn đoán Tiên mao trùng trên bò
Tác giả: Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Giang Thanh, Lê Minh Hà, Phạm Thị Tâm, Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Chăn nuôi Thú y
Năm: 2001
23. Lê Ngọc Mỹ và cộng sự (1996 - 2000). Độ nhậy của Trypanosoma evansi với các thuốc điều trị Tiên mao trùng, Kết quả nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Thú y. Trang 275 - 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ nhậy của Trypanosoma evansi vớicác thuốc điều trị Tiên mao trùng
25. Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Đăng Khải (1981). Thí nghiệm dùng Trypamidium điều trị Tiên mao trùng, Thông tin Thú y Viện Thú y (1). Trang 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm dùng Trypamidium điều trị Tiên mao trùng
Tác giả: Đoàn Văn Phúc, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Đăng Khải
Nhà XB: Thông tin Thú y Viện Thú y
Năm: 1981
27. Đoàn Văn Phúc, Lương Tố Thu, Phạm Ngũ Doanh, Vũ Văn Xông, Quy trình chẩn đoán bằng phản ứng ngưng kết SAT dùng phát hiện nhanh kháng thể chống tiên mao trùng. Báo cáo tổng kết hoạt động chương trình KN02B, giai đoạn 1986-1990, Hà Nội, 1992 (64-65) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình chẩn đoán bằng phản ứng ngưng kết SAT dùng phát hiện nhanh kháng thể chống tiên mao trùng
Tác giả: Đoàn Văn Phúc, Lương Tố Thu, Phạm Ngũ Doanh, Vũ Văn Xông
Nhà XB: Báo cáo tổng kết hoạt động chương trình KN02B
Năm: 1992
28. Lê Đức Quyết, Hà Viết Lượng, Nguyễn Đức Tân, Bùi Lập (1995). về tình hình trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng (Trypanosoma sp ) ở một số tỉnh Duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên, Khoa học kỹ thuật thú y. Trang 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tình hình trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng (Trypanosoma sp ) ở một số tỉnh Duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên
Tác giả: Lê Đức Quyết, Hà Viết Lượng, Nguyễn Đức Tân, Bùi Lập
Nhà XB: Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 1995
29. Nguyễn Đức Tân, Lê Đức Quyết, Phạm Chiên (1999). Kết quả khảo sát về ký sinh trùng máu trên trâu, bò ở huyện M D rắk (Đắc Lắk), Khoa học kỹ thuật Thú y. Trang 56 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát về kýsinh trùng máu trên trâu, bò ở huyện M D rắk (Đắc Lắk)
Tác giả: Nguyễn Đức Tân, Lê Đức Quyết, Phạm Chiên
Năm: 1999
30. Nguyễn Như Thanh (1996), Miễn dịch học, Nhà xuất bản Nông nghiệp. Trang 148 - 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp. Trang148 - 1960
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.5. Tình hình nhiễm T. evansi ở trâu, bò ở các địa phương - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DOTRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRI
Bảng 4.5. Tình hình nhiễm T. evansi ở trâu, bò ở các địa phương (Trang 56)
Bảng 4.9. Tình hình nhiễm T. evansi ở các giống bò nuôi tại Lạng Sơn. - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DOTRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRI
Bảng 4.9. Tình hình nhiễm T. evansi ở các giống bò nuôi tại Lạng Sơn (Trang 62)
Bảng 4.10 Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm  T. evansi  giữa các giông bò. - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DOTRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRI
Bảng 4.10 Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm T. evansi giữa các giông bò (Trang 63)
Bảng 4.13 Tỷ lệ nhiễm  T. evansi  ở trâu, bò theo mùa. - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DOTRYPANOSOMA EVANSI Ở TRÂU, BÒ TẠI LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRI
Bảng 4.13 Tỷ lệ nhiễm T. evansi ở trâu, bò theo mùa (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w