1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường

107 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (NLCT) VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NLCT CỦA DOANH NGHIỆP 8

1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh doanh nghiệp 8

1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 8

1.1.2 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 15

1.1.3 Vai trò của cạnh tranh 24

1.2 Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 27

1.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 28

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 33

1.2.2.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 33

1.3 Kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của một số tập đoàn kinh tế 44

1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty cổ phần xây dựng XNK Việt Nam Vinaconex 44

1.3.2 Kinh nghiệm của Công ty cổ phần VINCOM 45

CHƯƠNG 2 49

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN NAM CƯỜNG 49

2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường 49

2.1.1 Quá trình hình thành phát triển, cơ cấu tổ chức và lĩnh vực kinh doanh 49

2.1.2 Hoạt động kinh doanh của TTĐKTTN Nam Cường trong thời gian gần đây 52

2.1.2.1 Tình hình chung 52

2.1.2.2 Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản 54

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường 55

2.2.1.Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của TĐKTTN Nam Cường 55

2.2.1 1.Năng lực tài chính của Nam Cường 55

2.2.1.2 Nguồn vốn huy động cho các dự án 55

2.2.1.3 Đội ngũ lãnh đạo và đội ngũ triển khai 58

2.2.1.4 Marketing và thương hiệu 59

2.2.2.Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của TĐKTTN Nam Cường 60

2.2.2.1 Diễn biến chính sách tiền tệ 61

Trang 2

2.2.2.2 Nguồn cung hàng trong tương lai 63

2.2.2.3.Tính chu kỳ của thị trường bất động sản 63

2.2.2.4 Sự thiếu đồng bộ và hạn chế trong khâu đào tạo ngành bất động sản 64

2.2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh của tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường 65

2.2.3.1.Gia tăng năng lực cạnh tranh nhờ phát huy tốt hiêu quả hoạt động kinh doanh của TĐKTTN Nam Cường 65

2.2.3.2 Xây dựng lợi thế cạnh tranh nhờ quỹ đất sạch 67

2.2.3 3.Cạnh tranh nhờ chiến lược định giá thấp hơn mức trung bình của ngành 68

2.2.3.4 Chiến lược phân phối trực tiếp, công khai, minh bạch thông qua sàn giao dịch bất động sản của Nam Cường đã tạo ra thành công vang dội 69

2.3 Đánh giá tổng quát về năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường 70

2.3.1.Ma trận đánh giá các yếu tô bên trong củaTĐKTTN Nam Cường 70

Stt 71

Các yếu tố bên trong chủ yếu 71

Tổng số điểm quan trọng 71

2.3.2.Ma trận đánh giá các yếu tô bên ngoài của TĐKTTN Nam Cường 72

2.3.3 SWOT TĐKTTN Nam Cường 73

2.3.4 Những hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra 74

CHƯƠNG 3 77

NHỮNG GIAI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰCCẠNH TRANH CHO TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN NAM CƯỜNG 77

3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế Nam Cường 77

3.1.1Bối cảnh hiện nay và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn 77

3.1.2 Phương hướng hoạt động kinh doanh và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn 83

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tập đoàn 85

3.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển TĐKTTN Nam Cường tới năm 2020 86

3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và sự đa dạng của các dịch vụ cung cấp 87

3.2.3 Xây dựng chính sách giá bất động sản mang tính cạnh tranh cao 87

3.2.4 Xây dựng giải pháp khách hàng tối ưu 88

3.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90

3.2.7 Xây dựng cho mình một hình tượng tốt đẹp với công chúng 91

3.2.8 Giải pháp tài chính 92

Trang 3

3.2.9.Hoàn thiện cơ cấu tổ chức 95

3.2.10 Một số khuyến nghị và tóm lược giải pháp 96

3.3 Một số kiến nghị với cơ quan Nhà nước 97

3.1.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 97

3.1.2 Kiến nghị đối với Bộ xây dựng 98

KẾT LUẬN 99

PHỤ LỤC 1 100

PHỤ LỤC 2 102

PHỤ LỤC 3 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Từ Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) đến nay, Đảng ta luôn khẳng định nhất quán mục tiêu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế

cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) và nhấn mạnh các thành phần kinh tế đó đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Có thể nói đây là quá trình đổi mới tư duy của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thác phát huy tiềm năng, nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xá hội chủ nghĩa Những thành phần kinh tế này có diện mạo riêng nhưng đều nằm trong sự thống nhất của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa lâu dài, vừa hợp tác vừa cạnh tranh lành mạnh góp phần phát triển vững mạnh nền kinh tế nước ta trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Hưởng ứng nghị quyếtcủa Đảng, được sự đồng tình tích cực của nhân dân, các thành phần kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước, các doanh nghiệp trong nước không ngừng nâng cao hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh, tạo thêm nhiều việc làm, đầu tư nhiều hơn vào khu vực sản xuất, tham gia ngày càng nhiều vào hoạt động công ích, hợp tác liên doanh với nhau để phát triển

Trang 5

Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường được thành lập từ năm 1984 khởi đầu từ một xí nghiệp vận tải thủy, đến nay đã trở thành một tập đoàn kinh tế tư nhân với quy

mô 30 đơn vị thành viên, nhân sự khoảng 5.000 người, tổng mức vốn điều lệ hơn 20.000 tỷ đồng, hoạt động trên các lĩnh vực chính là: Xây dựng cơ bản; Kinh doanh bất động sản; Thương mại; Khách sạn du lịch Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và được tiếp cận khoa học kỹ thuật hiện đại trên thế giới, hiện nay Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường đang trên đà ổn định và phát triển, thực hiện các dự

án tại nhiều tỉnh thành nhưu Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Kiên Giang để góp phần xây dựng kinh tế xã hội của đất nước ngày càng giàu mạnh

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội là sự hình thành nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận cho mình Các doanh nghiệp này không ngừng nâng cao chất lượng các nguồn lực, đổi mới công nghệ để mong chiếm được vị thế tốt trên thị trường Do vậy mà môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

và phức tạp hơn

Trước những cơ hội và thách thức đó, Tập đoàn Nam Cường cần nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế của mình trên thị trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Để tìm được phần nào câu trả lời cho vấn đề trên, cần có phương pháp nghiên cứu sâu sắc về lý luận cũng như thực tiễn để đưa ra các giải pháp hữu hiệu

nhất Đây là lý do tác giả chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cảu Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ kinh tế.

2 Tình hình nghiên cứu

Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới quan tâm Đối với Việt Nam, vấn đề cạnh tranh bắt đầu được nhắc đến nhiều khi Việt Nam chuyển đổi nên kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đã có nhiều cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu, luận văn nghiên cứu vấn đề này Một số nghiên cứu tiêu biểu như: 1) Nguyễn

Trang 6

Vĩnh Thanh, 2009, Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 143-03 2) PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, 2009, Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam 3)TS Lê Đăng Doanh, 2003, Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam

Các nghiên cứu trên đã hệ thống được cơ sở lý luận về cạnh tranh và những kinh nghiệm thực tế quý báu Tuy nhiên nghiên cứu về đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp tư nhân chưa được chú trọng, và đặc biệt là đề tài nghiên cứu

về nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường vẫn chưa được thực hiện Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu theo hướng này

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

• Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường, đánh giá những thành công đã đạt được trong những năm qua, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng, từ đó chỉ ra định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn trong thời gian tới, đặc biệt trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

• Nhiệu vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về năng lực canh tranh của doanh nghiệp

- Nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm của các tập đoàn

kinh tế khác của Việt Nam, rút ra bài học về năng lực cạnh tranh

- Làm rõ năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường, đánh

giá thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó

- Đưa ra các định hướng, tìm kiếm và đề xuất giải pháp hữu hiệu để nâng cao

năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường

Trang 7

• Phạm vi nghiên cứu: Các lĩnh vực chính của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường là: Xây dựng cơ bản; Kinh doanh bất động sản: Thương mại; Khách sạn

du lịch Do thời gian có hạn nên trong phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Tập đoàn trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản

Phạm vi thời gian: Luận văn chọn mốc thời gian từ năm 2005 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận băn sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh tế là phương pháp duy vật biên chứng và phương pháp duy vật lịch sử, kết hợp giữa logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thông kê, so sánh định lượng nhằm tạo một phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

- Về lý luận: Khái quát những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong nền kinh tế thị

trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay Trên cơ sở đó chỉ ra cách thức vận dụng các lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong thời gian tới

- Về thực tiễn:

• Khái quát một số bài học về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những vấn đề quan tâm khi xây dựng chiến lược cạnh tranh một sản phẩm nào

đó cho doanh nghiệp

• Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cho thấy toàn cảnh nội dung về năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường, những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thực trạng đó

• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 8

Chương 2:Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân

Nam Cường

Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (NLCT)

VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NLCT CỦA DOANH NGHIỆP1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Trang 9

Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp - các hoạt động sản xuất kinh doanh đều được chỉ đạo từ trung ương, từ trên xuống dưới Quan hệ cung cầu cũng như tất cả các quy luật của kinh tế thị trường không được tồn tại theo đúng nghĩa của

nó Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế hầu như không có mâu thuẫn về lợi ích Chính vì vậy mà cạnh tranh không có chỗ đứng trong nền kinh tế

Thời điểm đánh đấu công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta bắt đầu từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) Từ đây cơ chế quản lý kinh tế có bước đổi mới cơ bản, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện Đặc biệt từ khi nước ta tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới thì cạnh tranh được nhìn nhận theo hướng tích cực hơn Môi trường cạnh tranh được mở rộng trên

cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế

Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh

gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất

và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứu sâu về nền sản

xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh

cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành

Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ

chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”.

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh

Có thể nói hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con người cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh Ví như các quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để

Trang 10

con người cạnh tranh nhau để vươn lên khẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên, môn nghiệp vụ để những người dưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế trong quan hệ với các đối tác Cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thể toàn xã hội

Thực tế cho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trì trệ

và yếu kém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận động của nền kinh tế thị trường Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hoá các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục

vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Cạnh tranh là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu cực đó là sự phân hoá sản xuất hàng hoá, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp những rủi ro khách quan mang lại như thiên tai, hoả hoạn.v.v hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là

cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận Các doanh nghiệp thương mại cần nhận thức đúng đắn về canh tranh để một mặt chấp nhận canh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng,

Trang 11

mặt khác tránhtình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình.

1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh

- Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại:

Cạnh tranh giữa người mua và người bán

Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên

Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc này hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua

để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau

Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình

- Căn cứ theo phạm vi nghành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại:

Cạnh tranh trong nội bộ nghành

Trang 12

Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng

sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản

Cạnh tranh giữa các nghành

Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện

kỹ thuật và các điều kiện khác khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh

ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng tỷ suất lợi nhuận

- Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại:

Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Cometition)

Trang 13

Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác động đên giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định.

Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition)

Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các dịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại:

+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể

có ảnh hưởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá rất cao và những người này có thể làm thay đổi giá cả thị trường Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán tức là trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua, lúc này người bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thu được là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trường

có ít người mua và nhiều người bán khi đó khách hàng được coi là thượng

đế, được chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những người bán sẽ không lôi kéo được khách hàng về phìa mình Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản

Trang 14

xuất và làm tổn hại đến người tiêu dùng Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh.

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành

sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽ xảy

ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào

số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác Những doanh nghiệp tham gia thị trường này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tư lớn Do vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là rất khó

- Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành 2 loại:

Cạnh tranh lành mạnh

Cạnh tranh lành mạnh là loại cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật, đạo đứcxã hội, đạo đức kinh doanh Cạnh tranh có tính chất thi đua, thông qua đó mỗi chủ thể nâng cao năng lực của chính mình mà không dùng thủ đoạn triệt hạ đối thủ Phương châm của cạnh tranh lành mạnh là “không cần phải thổi tắt ngọn nến của người khác để mình tỏa sáng”

Có thể thấy, kinh doanh như một cuộc chơi nhưng không giống như chơi thể thao, chơi bài hay chơi cờ, khi mà phải luôn có kẻ thua – người thắng (lose – win); trong kinh doanh, thành công của doanh nghiệp không nhất thiết đòi hỏi phải có những

kẻ thua cuộc Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thành công (sự “cộng sinh của hai bên”) Đây là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là cạnh tranh làm hại lẫn nhau Tình huống này được gọi là “cùng thắng” (win – win)

Trang 15

Cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.Trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên công nghiệp, các công ty, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranh khốc liệt trong tình huống đối đầu để duy trì

sự phát triển và gia tăng lợi nhuận Do đó các nhà kinh doanh cho rằng cạnh tranh thuộc phạm trù tư bản nên quan điểm về cạnh tranh trước kia được hầu hết các nhà kinh doanh đều nhầm tưởng “cạnh tranh” với nghĩa đơn thuần theo kiểu “thương trường là chiến trường”

1.1.2 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Dưới đâylà một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệp thương mại thường phải dùng đến chúng

1.1.2.1.Cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm

Khi nói về sản phẩm, người ta thường quy nó về một hình thức tồn tại vật chất

cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát được

Trang 16

Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm - hàng hoá ở một phạm vi rộng lớn hơn Cụ thể là:

Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo

Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng Theo ISO 8402, chất lượng

là tập hợp các tính chất, đặc trưng của một sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn

Sản phẩm và chất lượng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường, bởi vì khách hàng luôn có xu hướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất Người tiêu dùng thường quan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiều lúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có được sản phẩm tốt hơn

Sản phẩm được doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năng cạnh tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lượng cao nhằm phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt để thu hút khách hàng Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng càng cao thì uy tín và hình ảnh của nó trên thị trường cũng càng cao Đồng thời chất lượng sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với các nhãn hiệu của doanh nghiệp Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn và lâu dài cho doanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh

Chính vì vậy việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là rất cần thiết Tuy nhiên để

có căn cứ đánh giá chất lượng, doanh nghiệp phải xác định các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: chỉ tiêu về hình dáng màu sắc kích thước, trọng lượng, tính chất cơ lý hoá,

độ bền, độ an toàn và các chỉ tiêu khác

Trang 17

Thực tế cho thấy các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh đều có thái độ tích cực như nhau trong quản lý chất lượng sản phẩm Nguyên tắc chung của họ là đảm bảo chất lượng tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và tính trung thực trong quan hệ mua bán Chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo không thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp Do đó, để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện

để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và sau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có

Trang 18

nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp Làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.

Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó

1.1.2.2.Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm

Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá Nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán Đối với các doanh nghiệp, giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế Còn đối với người mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu

và tiêu dùng hàng hoá Vì vậy, những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lược cạnh tranh của mình

Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá bán cũng là công cụ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp Giá cả tác động rất lớn đến cạnh tranh, chúng thường được sử

Trang 19

dụng khi doanh nghiệp mới ra thị trường hoặc khi muốn thâm nhập vào một thị trường mới hoặc muốn tiêu diệt một đối thủ cạnh tranh khác Cạnh tranh về giá sẽ có

ưu thế hơn đối với các doanh nghiệp có vốn và sản lượng lớn hơn nhiều so với các đối thủ khác

Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chính sách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường của mình trên cơ sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác Định giá là việc ấn định có hệ thống giá

cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng Có các chính sách định giá sau:

- Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường để thu

hút khách hàng về phía mình Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện nó phải

có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường cũ, thâm nhập vào thị trường mới và bán được khối lượng sản phẩm lớn

- Chính sách định giá ngang thị trường: Đây là chính sách định giá phổ biến,

doanh nghiệp sẽ định giá bán sản phẩm của mình xoay quanh mức giá bán trên thị trường của các đối thủ khác Với chính sách này, doanh nghiệp phải tăng cường công tác tiếp thị, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đứng vững trên thị trường

- Chính sách định giá cao: Là chính sách giá bán sản phẩm cao hơn giá thống trị

trên thị trường, cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm Chính sách này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền hoặc với doanh nghiệp có chất lượng cao hơn hẳn Chính sách này giúp cho các doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch

- Chính sách định giá phân biệt: Nếu đối thủ cạnh tranh chưa có chính sách phân

Trang 20

Chính sách này được thể hiện là với cùng một loại sản phẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó được phân biệt theo nhiều tiêu thức khác nhau Ví dụ người mua nhiều được ưu đãi giá hơn so với người mua ít (phân biệt theo lượng mua), người thanh toán ngay được ưu đãi giá hơn so với người trả chậm (phân biệt theo phương thức thanh toán) Ngoài ra còn có phân biệt theo lượng mua, theo phương thức thanh toán, theo thời gian…

- Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường, thậm chí

còn thấp hơn cả giá thành Doanh nghiệp sử dụng chính sách này nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Nhưng để làm được điều này doanh nghiệp phải có thế mạnh về tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ và uy tín trên thương trường Việc bán phá giá chỉ thực hiện trong thời gian nhất định để có thể loại bỏ được những đối thủ nhỏ, khó loại bỏ được những đối thủ lớn Tuy nhiên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không được sử dụng chính sách này do luật chống bán phá giá mà nhà nước quy định

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích

họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá

cả Giá cả đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản

Trang 21

phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường.

Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh giá

được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn

Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được áp dụng

khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giá thấp

Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau này chiếm được

cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu

tóm khách hàng và mở rộng thị trường.

Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sản phẩm

cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá

Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng

Trang 22

1.1.2.3.Cạnh tranh thông qua hệ thống kênh phân phối

Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:

+ Kênh ngắn: Người sản xuất => Người bán lẻ => Người tiêu dùng

+ Kênh cực ngắn: Người sản xuất => Người tiêu dùng

+ Kênh dài: Người sản xuất=>Người buôn bán=>Người bán lẻ=>Người tiêu dùng

+ Kênh cực dài: Người sản xuất=>Đại lý=> Người buôn bán=> Người bán lẻ=> Người tiêu dùng

+ Kênh rút gọn: Người sản xuất=>Đại lý=> Người bán lẻ=> Người tiêu dùng

Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rườm rà

1.1.2.4.Cạnh tranh bằng các công cụ xúc tiến hỗn hợp

Trang 23

Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nội dung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng.

Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường tiềm năng của mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng những thông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh Hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của khách hàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ thế mà không ngừng tăng lên

Thêm vào đó, xúc tiến bán hàng còn kích thích người tiêu dùng mua sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, thu hút được các khách hàng tiềm năng từ đó làm tăng khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp, doanh nghiệp ngày càng được khách hàng ưa chuộng hơn Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh, một vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phải tổ chức tốt xúc tiến bán hàng

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách maketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có

xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sự phân tích

và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì ? kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu Trong khi thực hiện hoạt

Trang 24

động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo được uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán.

Như vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗ trợ các chính sách khác Do vậy chính sách maketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò của cạnh tranh

1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững Để đạt được điều đó, doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng

và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp, được thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò cực

kỳ to lớn

Trang 25

- Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh tạo

ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành

- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn

1.1.3.2 Đối với người tiêu dùng

Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội

Vì vậy, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh có các vai trò sau:

- Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm

phù hợp với túi tiền và sở thích của mình

- Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả

mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được

từ việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

1.1.3.3 Đối với nền kinh tế

Trang 26

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp

Cạnh tranh được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:

- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành

phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh

- Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân

công lao động xã hội ngày càng xâu sắc

- Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng

cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế

- Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh

nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài

- Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị

trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta

Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sự bất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung của toàn bộ cá nhân

Trang 27

1.2 Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự

duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.

Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có năng lực cạnh tranh hoặc năng lực cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để tồn tại và phát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là quá trình lâu dài

và liên tục Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó

Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng, nhưng lại có những nhận thức khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh

Theo định nghĩa của bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực pháp lý và hành vi dân sự của mỗi pháp nhân, cá nhân thì : năng lực là khả năng tiềm ẩn của bản thân chủ thể, nó chỉ bộc lộ sức mạnh, tác dụng khi mà nó được khai thác và sử dụng năng lực đó

Trang 28

Vậy theo cách hiểu của khái niệm năng lực và cạnh tranh thì năng lực cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Năng lực cạnh tranh của một chủ thể chính là khả năng phát huy sức mạnh, những khả năng tiềm ẩn của bản thân chủ thể đó,chứ không phải của một chủ thế khác Và năng lực này chỉ có thể bộc lộ ra ngoài khi nó được khai thác và sử dụng.Tuy nhiên do yếu tố khả năng tiềm ẩn, sức mạnh của chủ thể có thể thay đổi trong từng thời kỳ từng môi trường nên năng lực cạnh tranh trong từng thời kỳ, trong các môi trường khác nhau cũng sẽ có những khác nhau, nó tuỳ thuộc vào những lợi thế mà nó có được so với bên ngoài.

Theo cách hiểu của các nhà kinh tế: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững

Theo cách phân tích theo quan điểm tổng thể, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những lợi thế, những ưu điểm của doanh nghiệp trong sự tương tác với các doanh nghiệp khác trong ngành, và trong từng thị trường, trong một khoảng thời gian xác định Lợi thế của doanh nghiệp có thể là về nguồn nhân lực, tình hình tài chính,quy trình công nghệ sản xuất,hoạt động Marketing, hay hoạt động nghiên cứu phát triển trong cơ hội, thách thức thị trường đem lại

Khi các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm: các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường ngành thay đổi, thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thay đổi

1.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

 Các tiêu chí định lượng

- Doanh thu

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Hơn

Trang 29

khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu

và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu

tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v

- Thị phần của doanh nghiệp

Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định:

Thị phần của doanh nghiệp =

Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành

Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ ta dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ

Doanh thu của doanh nghiệp

Tổng doanh thu toàn ngành

Trang 30

cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và sát thực của đối thủ.

- Tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình

so với đối thủ Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan

Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận =

Chỉ tiêu này cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là có hiệu quả Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế cảu mình một cách tối đa và không ngừng đề phòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao

Tổng lợi nhuận

Tổng doanh thu

Trang 31

Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lường được, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn được biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính như

 Các tiêu chí định tính

Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, để xác định chính xác khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì không thể không nhắc đến các chỉ tiêu định tính sau:

• Trình độ công nghệ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tại Việt Nam nói riêng và tại các nước đang phát triển nói chung, công nghệ đang trở thành một động lực của phát triển kinh tế trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường, tham gia vào mậu dịch quốc tế và nâng cao mức sống của dân cư Mặc dù nắm công nghệ trong tay nhưng việc quản lý công nghệ không chỉ là vấn đề riêng của doanh nghiệp Chính sách của nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc tự mình phát triển để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

• Trình độ quản lý

Trình độ quản lý của doanh nghiệp được thể hiện thông qua năng lực của nhà quản trị., cụ thể là thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đi cho doanh nghiệp Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải quyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục để người khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệt tình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm việc có tinh thần trách nhiệm Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người biết nhìn xa trông rộng, vạch ra những chiến lược kinh doanh trong tương

Trang 32

lai với cách nhìn vĩ mô,hợp với xu hướng phát triển chung trong nền kinh tế thị trường Nhà quản trị chính là người cầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp Họ là những người

có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính

là nhứng người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp Vì vậy mà nhà

quản trị đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp

Thương hiệu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi nhuận v.v Nhưng để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình trên thị trường, phải tạo được

vị thế của mình trong con mắt của khách hàng Cơ sở, tiền đề để tạo được uy tín của doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải có một nguồn vốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, có một hệ thống máy móc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động kinh doanh Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên uy tín của doanh nghiệp đó là “ con người trong doanh nghiệp” tức doanh nghiệp đó phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đội ngũ nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làm việc, họ là những con người có trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc, biết khơi dậy nhu cầu của khách hàng

Khác với các chỉ tiêu định lượng, để đo lường được chỉ tiêu này đòi hỏi người phân tích cần phải thu thập được nhiều thông tin phản hồi từ khách hàng, xem xem sự đánh giá của họ đối với các nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp như thế nào Nếu một doanh nghiệp có uy tín cao thì các sản phẩm, dịch vụ của nó cũng được khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao và do đó các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường

Trang 33

Trong nền kinh tế thị trường yếu tố nổi bật nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp đó là nhãn hiệu sản phẩm

- Thiết kế nhãn hiệu sản phẩm: Khi xây dựng một sản phẩm, các nhà quản trị

sẽ lưu tâm đến rất nhiều đến nhãn hiệu sản phẩm, một nhãn hiệu sản phẩm hay và ấn tượng góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản phẩm, nó giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh khác và là cộng cụ để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu Khi thiết kế nhãn hiệu doanh nghiệp phải xem xét đến các thành phần gồm: đặt tên sản phẩm, xây dựng biểu tượng(logo), khẩu hiệu và hình ảnh cho nhãn Đồng thời phải có chiến lược về nhãn hiệu đối với sản phẩm của doanh nghiệp

- Các giá trị tài sản nhãn hiệu: Tài sản nhãn hiệu là giá trị của một nhãn hiệu

của sản phẩm do uy tín của nhãn hiệu sản phẩm đó đem lại Quản trị giá trị nhãn là một trong các công việc mang tính chiến lược quan trọng nhất, nó được xem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị cao Trong những năm gần đây, khi các nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, hình thức khuyến mại định hướng vào gía là hình thức phổ biến được nhiều doanh nghiệp

áp dụng, điều này làm tổn thương nhiều doanh nghiệp

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.2.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

 Các nhân tố môi trường vĩ mô

Các nhân tố thuộc về mặt kinh tế: Các nhân tố này tác động đến khả năng cạnh

tranh của doanh nghiệp theo các hướng

- Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả

Trang 34

năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã…) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao.

- Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và trên thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của các doanh nghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh

- Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Khi lãi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi suất tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn

Các nhân tố về chính trị, pháp luật:

Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị

xã hội

Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở cho việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệu quả Ví dụ các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm bảo sự bình đẳng

Trang 35

giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Các yếu tố cơ bản của môi trường thành phần này được lưu ý là:

o Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của Đảng cầm quyền

o Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu của chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ

o Mức độ ổn định chính trị – xã hội

o Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã hội

o Thái độ phản ứng của dân chúng

Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước tạo ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ cơ

Trang 36

sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta Đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.

 Các nhân tố môi trường vi mô (môi trường ngành)

Theo Michael Poter, môi trường ngành được hình thành bởi các nhân tố chủ yếu

mà ông gọi là năm năng lực cạnh tranh trên thị trường ngành Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải tính toán cân nhắc tới trước khi có những quyêt định lựa chọn phương thức, nhiệm vụ phát triển của mình Năm lực lượng đó là:

Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành.

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong những yếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lược lượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Trong một ngành bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ có một số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chi phối, khống chế thị trường Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh chính này để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung của ngành

Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường.

Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chất quy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất trong ngành Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường, trong từng giai đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm

Trang 37

nhằm làm cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ…

Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngành phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn của thị trường đó

Sức ép của nhà cung ứng

Những nhà cung ứng cũng có sức mạnh thoả thuận rất lớn Có rất nhiều cách khác nhau mà người cung ứng có thể tác động vào khả năng thu lợi nhuận của ngành Các nhà cung cấp có thể gây ra những khó khăn nhằm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau:

- Nguồn cung cấp doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc vài công ty độc quyền cung cấp

- Nếu các nhà cung cấp có khả năng về các nguồn lực để khép kín sản xuất, có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẽ thì họ sẽ có thế lựcđáng kể đối với doanh nghiệp là khách hàng

Sức ép của khách hàng

Sức mạnh khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuất phải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn, tính tập trung của khách hàng cao hơn so với các doanh nghiệp trong ngành

Sự xuất hiện của những sản phẩm thay thế

Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành

Trang 38

Mức độ sẵn có của những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của giá cả sản phẩm trong ngành Khi giá của sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng những sản phẩm thay thế Hoặc do mùa vụ, thời tiết mà khách hàng cũng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Sự sẵn có của những sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khả phát triển, khả năng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp.

 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp

• Năng lực tài chính

Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản Như vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển

• Năng lực sản xuất

Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi vì:

Trang 39

Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảm hay không Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnhh tranh.

• Nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự, xây dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân năng lực của cán bộ quản lý

Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu con người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ

Trang 40

những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền.

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc Có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ

Trong nề kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình, họ luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển, trách nhiệm và quyền lợi của họ đợc bảo đảm được nâng đỡ và phát huy ở đâu có nhân viên nhiệt tình có trách nhiệm có sự sáng tạo thì ở có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc

Ngày đăng: 29/11/2015, 22:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH CỦA TẬP ĐOÀN NAM CƯỜNG - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH CỦA TẬP ĐOÀN NAM CƯỜNG (Trang 50)
Bảng so sánh các tiêu chí phâp phối của Nam Cường STT Các   tiêu   chí  Thực   trạng   toàn   thị  Chiến lược Nam Cường - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường
Bảng so sánh các tiêu chí phâp phối của Nam Cường STT Các tiêu chí Thực trạng toàn thị Chiến lược Nam Cường (Trang 69)
Bảng 1: Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường
Bảng 1 Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 (Trang 105)
Bảng 2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường
Bảng 2 Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở (Trang 106)
Bảng 3: Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế tư nhân Nam Cường
Bảng 3 Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w