Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng vànăng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủcạnh tran
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 4
1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh 4
1.2 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế và đối với các doanh nghiệp 6
1.2.1 Đối với nền kinh tế 6
1.2.2 Đối với doanh nghiệp 8
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 9
1.3.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô 9
1.3.2 Các nhân tố môi trường vi mô (môi trường ngành) 11
1.3.3.Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp 13
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 16
1.4.1 Các tiêu chí định lượng 16
1.4.2 Các tiêu chí định tính 19
1.5 Mối quan hệ giữa phát triển các sản phẩm mới và năng lực cạnh tranh .21
1.6 Quy trình phát triển sản phẩm mới 28
1.6.1 Hình thành ý tưởng 29
1.6.2 Lựa chọn ý tưởng 29
1.6.3 Soạn thảo dự án và thẩm định dự án 30
1.6.4 Soạn thảo chiến lược marketing 30
1.6.5 Phân tích khả năng sản xuất và tiêu thụ 31
1.6.6 Thiết kế sản phẩm 31
1.6.7 Thử nghiệm thị trường 31
1.6.8 Triển khai sản xuất đại trà 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÚ THÀNH 33
2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty 33
Trang 22.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.1.2 Các sản phẩm dịch vụ của Công ty cổ phần Phú Thành LED 36
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty 37
2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty trong thời gian qua 43
2.2.1 Sản lượng và doanh thu 43
Tổng doanh thu 44
2.2.2 Cạnh tranh bằng sản phẩm 47
2.2.3 Hệ thống phân phối 48
2.2.4 Hình ảnh về thương hiệu và sản phẩm của Công ty đối với khách hàng 49
2.2.5 Các đối thủ cạnh tranh của Công ty 51
2.3 Phân tích thực trạng về công tác phát triển sản phẩm của Công ty trong thời gian vừa qua 56
2.3.1 Quy trình phát triển sản phẩm mới 56
2.3.2 Hoạt động marketing sản phẩm mới 65
2.3.3 Các phương pháp xúc tiến bán hàng mà công ty đang áp dụng 66
2.3.4 Chiến lược kinh doanh sản phẩm mới 70
2.4 Phân tích ảnh hưởng của việc phát triển sản phẩm mới đến đến năng lực cạnh tranh của công ty 71
2.4.1 Các ảnh hưởng tích cực 71
2.4.2 Những tồn tại và hạn chế 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY CP PHÚ THÀNH 77
3.1 Đề ra mục tiêu phát triển sản phẩm mới cho Công ty cổ phần Phú Thành giai đoạn từ năm 2012-2015 77
3.1.1 Căn cứ xác định mục tiêu 77
Trang 33.1.2 Mục tiêu của Công ty cổ phần Phú Thành về phát triển sản phẩm
mới từ năm 2012-2015 79
3.2 Các giải pháp chiến lược phát triển sản phẩm mới cho công ty cổ phần Phú Thành 80
3.2.1 Giải pháp về quản trị 80
3.2.2 Giải pháp về nhân sự 81
3.2.3 Giải pháp về marketing 82
3.2.5 Giải pháp về tài chính-kế toán 88
3.2.6 Tổ chức triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) 89
KẾT LUẬN 92
PHỤ LỤC 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt lý luận
Sau hơn bốn năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kinh
tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu sắc vào nền kinh tế thế giới và khuvực Trong bối cảnh đó, nhiều cơ hội đang mở ra nhưng cũng không ít khókhăn, thách thức gay gắt đặt ra trước các doanh nghiệp Để nâng cao năng lựccạnh tranh, doanh nghiệp cần nhận thức đúng cạnh tranh và năng lực cạnhtranh trong tình hình mới Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắngtrong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùngquan tâm tới một đối tượng Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằngthị phần của sản phẩm đó và nó phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cungcấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiệnmua bán, v.v Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực vàlợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơncác đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố vàchịu tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; là quátrình lâu dài, phức tạp và thường xuyên, liên tục và là vấn đề sống còn đối vớidoanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Về mặt thực tiễn
Trong những năm gần đây, công nghệ LED đã phát triển vượt bậc và cónhiều ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực Bên cạnh việc sản xuất “Bảngđiện tử LED”, công ty Phú Thành đã mau chóng nghiên cứu, tìm hiểu các ứngdụng của công nghệ LED để bắt kịp công nghệ của Thế giới Và hai trong sốnhững ứng dụng đó đã được công ty Phú Thành triển khai thực hiện hết sứcthành công là sản phẩm “Biển hiệu quảng cáo công nghệ LED” và “Trang tríđường phố, chiếu sáng kiến trúc bằng công nghệ LED” Với 10 năm kinhnghiệm trong lĩnh vực công nghệ LED cùng năng lực tài chính và khả năng
Trang 5chuyên môn, đến nay công ty Phú Thành đã được biết đến như nhà thiết kếánh sáng led, nhà sản xuất Bảng điện tử Led và Biển hiệu Quảng cáo côngnghệ led chuyên nghiệp qua những công trình hoành tráng, ấn tượng và độcđáo trên khắp cả nước trong thời gian qua
Tuy nhirn, hiện nay xuất hiện nhiều đơn vị nhỏ lẻ tham gia thị trường làmcho giá thành của sản phẩm bị hạ xuống rất nhiều, tính cạnh tranh ngày càngkhốc liệt, trong khi chi phí cố định ngày càng tăng làm cho lợi nhuận củaCông ty bị giảm đáng kể Vì vậy, với mong muốn đưa ra những giải phápnhằm tăng khả năng cạnh tranh của Công ty, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển sản phẩm mới nhằm tăng tính cạnh tranh của Công ty Cổ phần Phú Thành” làm đề tài
nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ kinh tế
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung và phân tích năng lực cạnh tranhcủa Công ty Cổ phần Phú Thành, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triểnsản phẩm mới, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty, tạo nền tảngvững chắc cho sự phát triển bền vững
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về năng lực canh tranh của doanh
nghiệp
- Làm rõ năng lực cạnh tranh của Công ty CP Phú Thành,trong đó tập
trung phân tích công tác phát triển sản phẩm mới, đánh giá ảnh hưởngcủa công tác này đến năng lực cạnh tranh của Công ty
- Đưa ra các định hướng, tìm kiếm và đề xuất giải pháp hữu hiệu để nâng
cao năng lực cạnh tranh của Công ty CP Phú Thành trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh
tranh của Công ty CP Phú Thành dựa trên
Trang 6- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác phát triển sản phẩm mới
tại Công ty CP Phú Thành LED
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa họckinh tế là phương pháp duy vật biên chứng và phương pháp duy vật lịch sử,kết hợp giữa logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp Ngoài ra luận văn còn sửdụng phương pháp thông kê, so sánh định lượng nhằm tạo một phương pháptiếp cận phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, cấutrúc luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh;
- Chương 2: Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty cổphần Phú Thành LED;
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp về phát triển sản phẩm mới nhằmnâng cao tính cạnh tranh của Công ty CP Phú Thành LED;
Trang 7Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm kháphổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa,dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp Cách quanniệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998),Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước nhưcủa CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế) Cách quan niệmnhư vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên.Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưaphản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịutrước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sáchnăng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế vềhàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới Ủy ban Quốc gia về Hợp tácKinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của mộtdoanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, hkó cóthể định lượng
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổchức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tốsản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều
Trang 8kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thức đoduy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn vớiviệc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thếcạnh tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới cáclợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tươngtự: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnhtranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh,chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp với năng lực kinh doanh Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa raquan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêmmột số vấn đề sau đây
Thứ nhất, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện,bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh
tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng vànăng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủcạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hjoàn hảo, cạnh tranh trên cơ
sở tối đa háo số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần;còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mởrộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnhtranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnhtranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới
Thứ hai, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranhgiành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu
tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không giansinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới
Trang 9Thứ ba, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện đượcphương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyềnthống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh
mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có năng lực cạnhtranh hoặc năng lực cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn
để tồn tại và phát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệpphải là quá trình lâu dài và liên tục Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó
1.2 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế và đối với các doanh
nghiệp
1.2.1 Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng,
và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển,góp phần vào sự phát triển kinh tế
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắttốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thườngxuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành côngmới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất,trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kémphát triển
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lựccủa sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng
Trang 10năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ
xã hội, cạnh tranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanhnghiệp
Cạnh tranh được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnhtranh đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:
- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ nhữngđộc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh
- Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự
phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc
- Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh nhữngnhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và pháttriển nền kinh tế
- Cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho
doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài
- Cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh tế thị
trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tếthị trường của nước ta
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiệnnhững hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sựbất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêudùng Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnhtranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp mà là nhiệm vụchung của toàn bộ cá nhân
1.2.2 Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt độngkinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứngvững Để đạt được điều đó, doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh
Trang 11tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họcạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giậtkhách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình
là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệpnào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ cácsản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp
đó mới có khả năng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh có vai trò hết sứcquan trọng đối với doanh nghiệp, được thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những
doanh nghiệp Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
có vai trò cực kỳ to lớn
- Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnh
tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩydoanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh
- Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt
đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường
từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó.Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũngnhư tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành
- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất
lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi củangười tiêu dùng Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh,tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của côngnhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn
Trang 121.3 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô
Các nhân tố thuộc về mặt kinh tế: Các nhân tố này tác động đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp theo các hướng
- Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năngthanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụtăng lên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào nắmbắt được điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (sốlượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã…) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽthành công và có khả năng cạnh tranh cao
- Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanhchóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nóiriêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá cácdoanh nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nướcngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn cácđối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhậpkhẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngượclại, khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng
cả trên thị trường trong nước và trên thị trường nước ngoài, vì khi đó giá báncủa các doanh nghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh
- Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thiếuvốn phải vay ngân hàng Khi lãi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phícủa các doanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi suất tiền vay lớn, khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lựclớn về vốn
Các nhân tố về chính trị, pháp luật:
Trang 13Các nhân tố chính trị pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Nó bao gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật,các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy điều hành của chínhphủ và các tổ chức chính trị xã hội.
Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sởcho việc đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnhtranh có hiệu quả Ví dụ các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh,đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếkhác nhau và trên mọi lĩnh vực; thuế xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước
Các yếu tố cơ bản của môi trường thành phần này được lưu ý là:
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển xã hội và nền kinh tế của
Đảng cầm quyền
- Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu của
chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ
- Mức độ ổn định chính trị – xã hội
- Thái độ và phản ứng của các tổ chức xã hội, của các nhà phê bình xã hội.
- Thái độ phản ứng của dân chúng.
Trình độ về khoa học, công nghệ
Nhóm nhân tố này quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnhtranh Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơbản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chấtlượng và giá bán Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của doanhnghiệp, qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung Đốivới những nước chậm và đang phát triển, giá và chất lượng có ý nghĩa ngangnhau trong cạnh tranh Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay, đã chuyển từ cạnhtranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm vàdịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao
Trang 14Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước tạo
ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và táitrang bị toàn bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta Đây
là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh củamình
1.3.2 Các nhân tố môi trường vi mô (môi trường ngành)
Theo Michael Poter, môi trường ngành được hình thành bởi các nhân tốchủ yếu mà ông gọi là năm năng lực cạnh tranh trên thị trường ngành Bất cứmột doanh nghiệp nào cũng phải tính toán cân nhắc tới trước khi có nhữngquyêt định lựa chọn phương thức, nhiệm vụ phát triển của mình Năm lựclượng đó là:
Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trongnhững yếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đốithủ cạnh tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lượclượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của cácdoanh nghiệp Trong một ngành bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau,nhưng thường trong đó chỉ có một số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủcạnh tranh chính có khả năng chi phối, khống chế thị trường Nhiệm vụ củamỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khảnăng của những đối thủ cạnh tranh chính này để xây dựng cho mình chiếnlược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung của ngành
Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường.
Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chấtquy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khốilượng sản xuất trong ngành Trong quá trình vận động của lực lượng thịtrường, trong từng giai đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gianhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường Để chống lạicác đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến
Trang 15lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểmmới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm chosản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thịtrường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ…
Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngànhphụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấpdẫn của thị trường đó
Sức ép của nhà cung ứng
Những nhà cung ứng cũng có sức mạnh thoả thuận rất lớn Có rất nhiềucách khác nhau mà người cung ứng có thể tác động vào khả năng thu lợinhuận của ngành
Các nhà cung cấp có thể gây ra những khó khăn nhằm giảm khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau:
- Nguồn cung cấp doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc vài công ty độcquyền cung cấp
- Nếu các nhà cung cấp có khả năng về các nguồn lực để khép kín sảnxuất, có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẽ thì họ sẽ có thếlựcđáng kể đối với doanh nghiệp là khách hàng
Sức ép của khách hàng
Sức mạnh khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuấtphải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặcđòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn,tính tập trung của khách hàng cao hơn so với các doanh nghiệp trong ngành
Sự xuất hiện của những sản phẩm thay thế
Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức
ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành
Mức độ sẵn có của những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên củagiá cả sản phẩm trong ngành Khi giá của sản phẩm tăng quá cao khách hàng
sẽ chuyển sang sử dụng những sản phẩm thay thế Hoặc do mùa vụ, thời tiết
Trang 16mà khách hàng cũng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Sự sẵn có củanhững sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khảphát triển, khả năng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp.
1.3.3.Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp
Năng lực tài chính
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Bất
cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tínhtoán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm lựclớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong muasắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãingộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình
độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sảnphẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để muasắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán
và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng.Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được và cónguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản Như vậy khả năng tài chính là yếu tố quantrọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển
Năng lực sản xuất
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối vớithủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quátrình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi vì:
Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bịmáy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽđược bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máymóc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòngquay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được
Trang 17bảo đảm hay không Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giáthành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệpthương mại Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trítuệ, về trình độ công nghệ Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lậptiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo
vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanhnghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dànhđược ưu thế trong cạnhh tranh
Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh.Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự,xây dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp Đồngthời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng laođộng, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân năng lựccủa cán bộ quản lý
Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị caonhất của doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến đểsáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầucon người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanhnghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậymuốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quantâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậcthấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quantrọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnhđạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những ngườiđứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người cóquyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ
Trang 18chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, cònthực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫnchưa đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiệnnhững quyết định đó Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả vềtrình độ và tay nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong côngviệc Có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốtmang tính cạnh tranh cao Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kiaban lãnh đạo có thể họ không có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâmniên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và độingũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâudài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào của nền kinh tế thị trườngnếu như nếu ban lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không cónăng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí
nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Các chiến lược cạnh tranh khác
Ngoài các nhân tố kể trên, mỗi một doanh nghiệp còn tạo riêng cho mìnhnhững chiến lược cạnh tranh khác nhau dự trên những đặc thù của mình Có
Trang 19thể kể đến những nhân tố làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, đó là:
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
- Chiến lược Marketing và xúc tiến hỗn hợp
- Năng lực tiếp cận thị trường
- Công tác tổ chức quản lý hoạt động của doanh nghiệp
Đối với mỗi một doanh nghiệp, tùy từng đặc trưng khác nhau mà họ sẽ cónhững hướng đi khác nhau Lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp là yếu tốquan trọng góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh củamình so với các đối thủ
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.4.1 Các tiêu chí định lượng
Doanh thu
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặcdịch vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá nănglực cạnh tranh Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì
và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặcqua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng haygiảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinhdoanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí
đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệpđều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độtăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá làtốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi mộtphần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh,đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v
Thị phần của doanh nghiệp
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là
Trang 20một chỉ tiêu thường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường
mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phầncủa doanh nghiệp được xác định:
Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệpcàng rộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mứcđộng hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanhnghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn địnhcho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có mộtphạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạngdoanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thịphần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường sovới toàn ngành
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ tadùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty
so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặtmạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này làđơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác sốliệu cụ thể và sát thực của đối thủ
Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phídùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêutổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì nếu doanhnghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao vàchi phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giáđược khả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ Nếu lợi nhuận cao thì khả
Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu toàn ngành Thị phần của doanh nghiệp =
Trang 21năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp rất khả quan.
Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:
Chỉ tiêu này cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được baonhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuậnnhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệpthấp Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Đã cóquá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp Do đó doanhnghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnhtranh Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độtăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp được đánh giá là có hiệu quả Điều này chứng tỏ khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp cao Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế cảu mình mộtcách tối đa và không ngừng đề phòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhậpvào thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao
Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lường được, khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp còn được biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính như
1.4.2 Các tiêu chí định tính
Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, để xác định chính xác khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì không thể không nhắc đếncác chỉ tiêu định tính sau:
Trang 22của phát triển kinh tế trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thịtrường, tham gia vào mậu dịch quốc tế và nâng cao mức sống của dân cư.Mặc dù nắm công nghệ trong tay nhưng việc quản lý công nghệ không chỉ làvấn đề riêng của doanh nghiệp Chính sách của nhà nước sẽ giúp các doanhnghiệp nâng cao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc tựmình phát triển để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trình độ quản lý
Trình độ quản lý của doanh nghiệp được thể hiện thông qua năng lực của nhàquản trị., cụ thể là thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đicho doanh nghiệp Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình độ, giỏi vềchuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải quyếtcác công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục đểngười khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệttình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm việc có tinh thầntrách nhiệm Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanhnghiệp Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người biết nhìn xa trông rộng, vạch
ra những chiến lược kinh doanh trong tương lai với cách nhìn vĩ mô,hợp với
xu hướng phát triển chung trong nền kinh tế thị trường Nhà quản trị chính làngười cầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng người đứng mũi chịu sàotrong mỗi bước đi của doanh nghiệp Họ là những người có quyền lực caonhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là nhứngngười xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp Vì vậy mà nhà quản
trị đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp
Thương hiệu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng đểđánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín
sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng kháchhàng rất lớn Mục tiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi
Trang 23nhuận v.v Nhưng để đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được
uy tín của mình trên thị trường, phải tạo được vị thế của mình trong con mắtcủa khách hàng Cơ sở, tiền đề để tạo được uy tín của doanh nghiệp đó làdoanh nghiệp phải có một nguồn vốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạtđộng kinh doanh, có một hệ thống máy móc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủyêu cầu của hoạt động kinh doanh Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên uy tíncủa doanh nghiệp đó là “ con người trong doanh nghiệp” tức doanh nghiệp đóphải có một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đội ngũnhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làm việc, họ là những con người cótrách nhiệm và nhiệt tình trong công việc, biết khơi dậy nhu cầu của kháchhàng
Khác với các chỉ tiêu định lượng, để đo lường được chỉ tiêu này đòi hỏingười phân tích cần phải thu thập được nhiều thông tin phản hồi từ kháchhàng, xem xem sự đánh giá của họ đối với các nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụcủa doanh nghiệp như thế nào Nếu một doanh nghiệp có uy tín cao thì cácsản phẩm, dịch vụ của nó cũng được khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao và
do đó các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó sẽ có khả năng cạnh tranhcao trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường yếu tố nổi bật nhất để đánh giá khả năngcạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp đó là nhãn hiệu sản phẩm
- Thiết kế nhãn hiệu sản phẩm: Khi xây dựng một sản phẩm, các nhà
quản trị sẽ lưu tâm đến rất nhiều đến nhãn hiệu sản phẩm, một nhãn hiệu sảnphẩm hay và ấn tượng góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản phẩm,
nó giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh khác và
là cộng cụ để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu Khithiết kế nhãn hiệu doanh nghiệp phải xem xét đến các thành phần gồm: đặttên sản phẩm, xây dựng biểu tượng(logo), khẩu hiệu và hình ảnh cho nhãn.Đồng thời phải có chiến lược về nhãn hiệu đối với sản phẩm của doanhnghiệp
Trang 24- Các giá trị tài sản nhãn hiệu: Tài sản nhãn hiệu là giá trị của một
nhãn hiệu của sản phẩm do uy tín của nhãn hiệu sản phẩm đó đem lại Quảntrị giá trị nhãn là một trong các công việc mang tính chiến lược quan trọngnhất, nó được xem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị cao.Trong những năm gần đây, khi các nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệpcạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, hình thức khuyến mại định hướng vàogía là hình thức phổ biến được nhiều doanh nghiệp áp dụng, điều này làm tổnthương nhiều doanh nghiệp
1.5 Mối quan hệ giữa phát triển các sản phẩm mới và năng lực cạnh tranh
Công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thểhiểu là tập hợp các yếu tố, các kế hoạch, các chiến lược, các chính sách,các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnhtranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của kháchhàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao Nghiêncứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn nhữngcông cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh
và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huy được hiệu quả sử dụngcông cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợpkhông theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Một trong số những phươngthức nâng cao năng lực cạnh tranh hiệu quả của doanh nghiệp chính là việcphát triển các sản phẩm mới Sản phẩm mới với những đặc tính mới, nhữngchính sách mới sẽ tạo cho doanh nghiệp những lợi thế mà các đối thủ thủkhác không có được Tuy nhiên, khi lựa chọn phương thức cạnh tranh bằngviệc phát triển sản phẩm mới, doanh nghiệp cần phải lưu ý tới những nộidung dưới đây:
Doanh nghiệp cần tạo ra được sản phẩm với những đặc tính và chất lượng vượt trội
Trang 25Khi nói về sản phẩm, người ta thường quy nó về một hình thức tồn tạivật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thểquan sát được Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm - hànghoá ở một phạm vi rộng lớn hơn Cụ thể là:
Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố cóliên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của kháchhàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo
Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng Theo ISO 8402, chấtlượng là tập hợp các tính chất, đặc trưng của một sản phẩm có khả năng thoảmãn nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặcnhu cầu tiềm ẩn
Sản phẩm và chất lượng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trường, bởi vì khách hàng luôn có xuhướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanhnghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất Người tiêu dùng thườngquan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiềulúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có được sản phẩm tốt hơn
Sản phẩm được doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năngcạnh tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lượng cao nhằm phục vụmột cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt đểthu hút khách hàng Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng càngcao thì uy tín và hình ảnh của nó trên thị trường cũng càng cao Đồng thờichất lượng sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với các nhãnhiệu của doanh nghiệp Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn và lâu dài chodoanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh
Chính vì vậy việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là rất cần thiết Tuynhiên để có căn cứ đánh giá chất lượng, doanh nghiệp phải xác định các tiêuchuẩn chất lượng sản phẩm: chỉ tiêu về hình dáng màu sắc kích thước, trọnglượng, tính chất cơ lý hoá, độ bền, độ an toàn và các chỉ tiêu khác
Trang 26Thực tế cho thấy các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh đều cóthái độ tích cực như nhau trong quản lý chất lượng sản phẩm Nguyên tắcchung của họ là đảm bảo chất lượng tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng
và tính trung thực trong quan hệ mua bán Chất lượng sản phẩm là vấn đềsống còn đối với doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảokhông thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏdoanh nghiệp Do đó, để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh, doanhnghiệp cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính củasản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêudùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trướckia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phảinhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sảnphẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầucủa người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất làtrong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhậpcủa người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoảmãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩmđem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâmđến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng
để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình Điềumong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán làđảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng
ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cầnthiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặcthay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trìnhtiêu dùng và sau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sảnphẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và
Trang 27tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu đượcngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp Làmtăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanhnghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầuđối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chấtlượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽđến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng vàthị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chấtlượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗnâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượnghàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượngsản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớnhay nhỏ đều phải sử dụng nó
Doanh nghiệp cần xây dựng chính sách định giá phù hợp với sản phẩm mới
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá Nó thể hiệnmối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán Đối với các doanhnghiệp, giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế Còn đối vớingười mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần
“được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá Vì vậy, nhữngquyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanhnghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lược cạnh tranh của mình
Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá bán cũng là công cụ cạnh tranhchủ yếu của các doanh nghiệp Giá cả tác động rất lớn đến cạnh tranh, chúngthường được sử dụng khi doanh nghiệp mới ra thị trường hoặc khi muốn thâmnhập vào một thị trường mới hoặc muốn tiêu diệt một đối thủ cạnh tranh khác
Trang 28Cạnh tranh về giá sẽ có ưu thế hơn đối với các doanh nghiệp có vốn và sảnlượng lớn hơn nhiều so với các đối thủ khác.
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chínhsách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường củamình trên cơ sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác Định giá là việc ấnđịnh có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho kháchhàng Có các chính sách định giá sau:
- Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị
trường để thu hút khách hàng về phía mình Chính sách này đòi hỏi doanhnghiệp thực hiện nó phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy
đủ mọi tình huống rủi ro Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếmlĩnh thị trường cũ, thâm nhập vào thị trường mới và bán được khối lượng sảnphẩm lớn
- Chính sách định giá ngang thị trường: Đây là chính sách định giá phổ
biến, doanh nghiệp sẽ định giá bán sản phẩm của mình xoay quanh mức giábán trên thị trường của các đối thủ khác Với chính sách này, doanh nghiệpphải tăng cường công tác tiếp thị, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phísản xuất để đứng vững trên thị trường
- Chính sách định giá cao: Là chính sách giá bán sản phẩm cao hơn giá
thống trị trên thị trường, cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm.Chính sách này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụđộc quyền hoặc với doanh nghiệp có chất lượng cao hơn hẳn Chính sách nàygiúp cho các doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch
- Chính sách định giá phân biệt: Nếu đối thủ cạnh tranh chưa có chính
sách phân biệt thì đây là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hạicủa doanh nghiệp Chính sách này được thể hiện là với cùng một loại sảnphẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó được phân biệttheo nhiều tiêu thức khác nhau Ví dụ người mua nhiều được ưu đãi giá hơn
so với người mua ít (phân biệt theo lượng mua), người thanh toán ngay được
Trang 29ưu đãi giá hơn so với người trả chậm (phân biệt theo phương thức thanhtoán) Ngoài ra còn có phân biệt theo lượng mua, theo phương thức thanhtoán, theo thời gian…
- Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường,
thậm chí còn thấp hơn cả giá thành Doanh nghiệp sử dụng chính sách nàynhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Nhưng để làm được điềunày doanh nghiệp phải có thế mạnh về tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ
và uy tín trên thương trường Việc bán phá giá chỉ thực hiện trong thời giannhất định để có thể loại bỏ được những đối thủ nhỏ, khó loại bỏ được nhữngđối thủ lớn Tuy nhiên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không được sửdụng chính sách này do luật chống bán phá giá mà nhà nước quy định
Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việccung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiệnbằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá đểsản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu.Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, kháchhàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho
là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhauthì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từsản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến sốchiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành côngtrong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiếnthuật giá cả Giá cả đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông quaviệc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngangbằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường
Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp
đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảmgiá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽtăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn
Trang 30Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được
áp dụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi
vốn và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính
sách định giá thấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có
thể để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ
tiềm tàng Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng
nhất định để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng
thị trường.
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán
sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà
lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ
hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính
là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có
chất lượng cao hơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng
chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp
hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý
hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và
thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ
lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là
nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần
phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng
1.6 Quy trình phát triển sản phẩm mới
Thông thường, một quy trình phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp đượcthực hiện thông qua các bước sau:
27
Hình thành ý
tưởng
Lựa chọn ý tưởng
Soạn thảo chiến lược marketing
Soạn thảo dự
án và thẩm định dự án
Triển khai sản xuất đại trà
Thiết kế sản phẩm
Phân tích khả
năng sản xuất
Thử nghiệm thị trường (7)
(6)
(3) (2)
(1)
(5)
(4)
Trang 31Sơ đồ 1.1 Quy trình phát triển sản phẩm mới
(Nguồn: Marketing căn bản – Philip Kotler)
1.6.1 Hình thành ý tưởng
Hình thành ý tưởng về sản phẩm mới là giai đoạn đầu tiên của quátrình phát triển sản phẩm mới Các doanh nghiệp tìm kiếm những ý tưởng sảnphẩm qua các nguồn thông tin như: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, công nhânviên, ban lãnh đạo và các nhà khoa học,…
- Khách hàng: Quản trị marketing khẳng định rằng những nhu cầu
và mong muốn của khách hàng là nơi tập hợp logic để bắt đầu tìm kiếmnhững ý tưởng mới Các doanh nghiệp có thể phát hiện những nhu cầu vàmong muốn của khách hàng thông qua các cuộc thăm dò khách hàng, trắcnghiệm chiếu hình, trao đổi nhóm tập trung, những thư góp ý kiến và khiếunại của khách hàng
- Đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp có thể tìm được những ý tưởnghay qua khảo sát sản phẩm và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh Để pháthiện ra những thứ hấp dẫn nhất đối với người mua
- Những đại diện bán hàng và những người trung gian: Đây đượcxem là nguồn ý tưởng về sản phẩm mới rất tốt, bởi vì họ là những người cóđiều kiện mắt thấy tai nghe những nhu cầu và phàn nàn của khách hàng
- Những nhà khoa học: Họ có thể sáng tạo hay tìm kiếm những vậtliệu thuộc tính mới của sản phẩm để tạo ra những sản phẩm hoàn toàn mớihay cải tiến cho những sản phẩm hiện có
1.6.2 Lựa chọn ý tưởng
Qua các nguồn thông tin khác nhau có nhiều ý tưởng sản phẩm được
đề xuất Do đó, mục đích của việc lựa chọn ý tưởng là loại bỏ những ý tưởng
Trang 32không phù hợp càng sớm càng tốt và chọn lọc những ý tuởng tốt nhất Để làmđược điều này cần phải dựa trên cơ sở phân tích khả năng nguồn lực củadoanh nghiệp, phân tích phác thảo về sản phẩm mới (mô tả sản phẩm, quy môthị trường và thị trường mục tiêu, khả năng thỏa mãn nhu cầu, khả năng thâmnhập thị trường của sản phẩm), khả năng marketing của doanh nghiệp.
1.6.3 Soạn thảo dự án và thẩm định dự án
Ý tưởng về sản phẩm sau khi đã được lựa chọn, mỗi ý tưởng phảiđược xây dựng thành những dự án Bởi vì, ý tưởng là những tư tưởng kháiquát về sản phẩm, còn dự án là sự thể hiện tư tưởng khái quát đó thành cácphương án sản phẩm mới với các tham số về đặc tính hay công dụng hoặc đốitượng sử dụng khác nhau của chúng Do đó, chỉ có dự án mới tạo thành hìnhảnh thực sự về một sản phẩm mà công ty dự định đưa ra thị trường và nó có ýnghĩa đối với khách hàng
Khi đã có dự án thì việc tiếp theo là cần phải thẩm định dự án Thẩmđịnh dự án là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng mụctiêu đối với các phương án sản phẩm đã được mô tả Qua thẩm định sẽ lựachọn được một dự án sản phẩm tốt nhất
1.6.4 Soạn thảo chiến lược marketing
Sau khi dự án sản phẩm mới được thông qua, doanh nghiệp cần soạnthảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới Chiến lược marketing gồm baphần:
- Phần thứ nhất, mô tả quy mô, cơ cấu và hành vi của thị trườngmục tiêu, dự kiến định vị của sản phẩm cũng như các chỉ tiêu về mức tiêu thụ,thị phần và lợi nhuận dự kiến trong một vài năm đầu tiên
- Phần thứ hai, chiến lược marketing trình bày giá dự kiến của sảnphẩm, chiến dịch phân phối và ngân sách marketing cho năm đầu tiên
- Phần thứ ba, trình bày những mục tiêu tương lai của các chỉ tiêumức tiêu thụ và lợi nhuận, cũng như quan điểm chiến lược lâu dài về việchình thành hệ thống marketing mix
Trang 331.6.5 Phân tích khả năng sản xuất và tiêu thụ
Tiếp theo là đánh giá mức độ hấp dẫn về mặt kinh doanh của việccung ứng Muốn vậy, cần phải ước tính mức tiêu thụ, tính chi phí và lợi nhuận
để biết chắc rằng chúng có phù hợp với những mục tiêu của doanh nghiệp
- Thử nghiệm trong doanh nghiệp: Thử nghiệm ở phòng thí nghiệmhay trong nội bộ doanh nghiệp
- Thử nghiệm thị trường: Doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm trênthị trường để qua đó đánh giá lại mức độ hoàn chỉnh của sản phẩm, khả năngsản phẩm phù hợp với thị trường, đánh giá phản ứng của thị trường về sảnphẩm, thử nghiệm hay chương trình marketing gắn với sản phẩm như giá,phân phối, chiêu thị Phương pháp và thời gian thử nghiệm phụ thuộc vào khảnăng tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm sản phẩm và tình hình cạnh tranhtrên thị trường
Trang 341.6.8 Triển khai sản xuất đại trà
Từ những thử nghiệm trên, doanh nghiệp sẽ xác định nên sản xuất vàtung sản phẩm ra thị trường hay không? Nếu quyết định sản xuất được chấpnhận, doanh nghiệp sẽ triển khai phương án tổ chức sản xuất, xây dựngchương trình marketing giới thiệu sản phẩm mới Để tung sản phẩm ra thịtrường có hiệu quả, doanh nghiệp cần xem xét các vấn đề sau:
- Thời điểm tung sản phẩm ra thị trường
- Địa điểm giới thiệu sản phẩm
- Thị trường mục tiêu của sản phẩm
- Chiến lược marketing giới thiệu sản phẩm
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong thời đại quốc tế hóa nền kinh tế hiện nay, để tồn tại và phát triển đượcmột cách bền vững mỗi công ty cần phải khẳng định vị thế riêng của mìnhtrong cạnh tranh Có nhiều tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp như: doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi nhuận, trình độ công nghệ,trình độ quản lý… Cạnh tranh bằng việc phát triển sản phẩm mới với nhữngtính năng ưu việt dẫn đầu thị trường là một phương thức mà rất nhiều Công tyđang mong muốn thực hiện Hình thức này đòi hỏi các công ty phải xây dựng
và thực hiện một quy trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới khoa học
và hiệu quả, bao gồm 8 bước cơ bản: phát ý tưởng về sản phẩm , lựa chọn ýtưởng, lập dự án và thẩm định dự án, lập chiến lược marketing, phân tích khảnăng sản xuất và tiêu thụ, thiết kế sản phẩm, thử nghiệm thị trường và cuốicùng là triển khai sản xuất đại trà
Trang 35Công ty cổ phần Phú Thành có thể coi là một đơn vị gặt hái được nhiều thànhcông từ việc đưa những sản phẩm mới vào thị trường Tuy nhiên, thực tế côngtác phát triển sản phẩm mới của Công ty được thực hiện như thế nào? Đâu làđiểm mạnh, điểm yếu của Phú Thành trong việc cạnh tranh bằng sản phẩmmới? Các câu hỏi này tác giả sẽ trả lời tại chương 2 của đề tài.
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN PHÚ THÀNH 2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên Công ty: Công Ty Cổ Phần Phú Thành
Tên giao dịch quốc tế: Phu Thanh Joint Stock Company
Năm thành lập: 1997
Vốn điều lệ: 45 tỉ đồng
Trụ sở chính: Số 304 Trường Chinh, quận Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: (04) 35 637 636 - 35 638 610 - Fax: (04) 35 637 868
Website: www.phuthanh.com.vn – www.phuthanh.vn - www.phuthanhled.vn
Chi nhánh tại Tp HCM
Trang 36Địa chỉ: Số 236/3B Nguyễn Thái Bình, Phường 12, Q.Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh
- Năm 1997: Phú Thành là nhà sản xuất cung ứng đầu tiên mặt hàng
"Mái hiên di động" tại Miền Bắc và cho đến nay, sản phẩm đã chiếm 80% thiphần toàn Miền Bắc Từ đó đến nay, sản phẩm “mái hiên di động Phú Thành”
đã được người tiêu dùng hết sức yêu mến và bình chọn là “Hàng Việt Namchất lượng cao” trong 10 năm liên tục Hiện nay sản phẩm “mái hiên di độngPhú Thành” đã chiếm tới 80% thị phần tại Việt Nam
- Năm 1999: Phú Thành lại là đơn vị đầu tiên cung cấp dịch vụ chụp ảnhcho bé, tìm tòi và đưa "Ảnh kỹ thuật số" vào Việt Nam Dịch vụ Chụp ảnh vàQuay camera kỹ thuật số của Phú Thành đã thành công rực rỡ với thương hiệu
“Phú Thành Digital” gắn liền với nhiều STUDIO chụp ảnh kỹ thuật số ởkhắp các tỉnh thành trên cả nước
- Năm 2002 Công ty Phú Thành đã bắt tay vào nghiên cứu áp dụngnhững sáng tạo của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và sản xuất thànhcông sản phẩm công nghệ cao “Bảng điện tử LED” lần đầu tiên được sản xuấttại Việt Nam Một lần nữa sản phẩm mới này của công ty Phú Thành lại thànhcông vang dội và đã mau chóng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam Sản phẩmBảng điện tử LED đạt được nhiều giải thưởng trong và ngoài nước như :
"Giải thưởng sản phẩm tiêu biểu hội chợ triển lãm sản phẩm và thành tựudoang nghiệp trẻ Việt nam năm 2002", "Giải sao vàng đất việt năm 2003 vànăm 2005"
Trong những năm gần đây, công nghệ LED đã phát triển vượt bậc và cónhiều ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực Bên cạnh việc sản xuất “Bảng
Trang 37điện tử LED”, công ty Phú Thành đã mau chóng nghiên cứu, tìm hiểu các ứngdụng của công nghệ LED để bắt kịp công nghệ của Thế giới Và hai trong sốnhững ứng dụng đó đã được công ty Phú Thành triển khai thực hiện hết sứcthành công là sản phẩm “Biển hiệu quảng cáo công nghệ LED” và “Trang tríđường phố, chiếu sáng kiến trúc bằng công nghệ LED” Với 10 năm kinhnghiệm trong lĩnh vực công nghệ LED cùng năng lực tài chính và khả năngchuyên môn, đến nay công ty Phú Thành đã được biết đến như nhà thiết kếánh sáng led, nhà sản xuất Bảng điện tử Led và Biển hiệu Quảng cáo côngnghệ led chuyên nghiệp qua những công trình hoành tráng, ấn tượng và độcđáo trên khắp cả nước trong thời gian qua.
Liên tục trong nhiều năm, công ty Phú Thành đã được UBND thànhphố Hà Nội tặng bằng khen về thành tích doanh nghiệp, được Trung ương hộiDoanh nghiệp trẻ Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản HồChí Minh tặng danh hiệu “Doanh nghiệp trẻ tiêu biểu” Cá nhân Tổng GiámĐốc công ty được Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam TP Hà Nội tặng danhhiệu “Doanh nhân trẻ Thăng Long”
Từ khi thành lập đến nay Công ty cổ phần Phú Thành đã biết phát huycác nguồn lực, không ngừng đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại để tổchức sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, công ty đã tuyển chọn được nhiều kỹ
sư giỏi nghề cùng đội ngũ nhân viên năng động, luôn đoàn kết sát cánh cùngBan lãnh đạo công ty Với 15 năm xây dựng và trưởng thành, công ty cổ phầnPhú Thành đã khẳng định vị thế vững chắc trên trên thương trường bằng uytín và sự yêu mến của khách hàng dành cho mình
Hiện nay, Công ty cổ phần Phú Thành đã tác 3 mảng sản phẩm dịch vụthành các công ty con độc lập với nhau về tài chính, bao gồm: Phú ThànhLED, Phú Thành Digital và Mái hiên di động Phú Thành
Như đã nói ở trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đếnvấn đề phát triển sản phẩm mới để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
cổ phần Phú Thành LED
Trang 382.1.2 Các sản phẩm dịch vụ của Công ty cổ phần Phú Thành LED
Lĩnh vực kinh doanh bảng điện tử Led là một lĩnh kinh doanh sản phẩm
có công nghệ khá cao, nó khá mới mẻ với các khách hàng Việt Nam mà chủyếu là khách hàng là tổ chức, các công ty, doanh nghiệp có nhu cầu… và nóchỉ thật sự được khách hàng biết đến khoảng 2 năm gần đây Đối với bảngthông tin điện tử đã đem về cho công ty một giải thưởng rất danh giá đó làgiải thưởng “ Sao Vàng Đất Việt” Có được giải thưởng trên là có sự cố gắnglàm việc của tất cả các thành viên trong công ty
Dựa trên nền tảng của công nghệ chiếu sáng LED, Phú Thành đã pháttriển thành các sản phẩm dịch vụ rất phong phú, bao gồm:
- Cổng chào điện tử tại TP Yên Bái, Hải Dương
- Bảng điện tử tại Đài tiếng nói Việt Nam, tại Công ty Cổ phần Sắt
Thạch Khê - Hà Tĩnh, tại Bệnh viện Hợp Lực - T.p Thanh Hóa,
- Video điện tử tại TP Yên Bái, Quảng Ninh, tại Tổng Công ty Than Việt
Nam, tập đoàn Mai Linh,
- Trang trí ánh sáng trên cầu Chương Dương - Hà Nội
- Trang trí ánh sáng LED tại Rạp xiếc Trung Ương - Hà Nội
- Hệ thống trang trí đèn LED tại Nhà hàng Thủy Tạ - Hà Nội
- Hệ thống chiếu sáng Cầu Thê Húc - Hà Nội
- Mẫu trống đồng , mẫu hoa cúc, mẫu hoa đồng tiền phục vụ Đại lễ 1000
năm Thăng Long - Hà Nội
Trang 39Mẫu Chùa Một Cột và hoa sen phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long
-Hà Nội
Và còn hàng ngàn các sản phẩm, các công trình khác tại khắp mọi miền đấtnước được công ty cổ phần Phú Thành Led làm nên bằng tất cả tâm huyết củamình
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty
Chủ tịch Hội đồng quản trị: Ông Hồ Hoàng Hải
Chi nhánh TP Hồ Chí Minh
Phòng kinh doanh
Xưởng sản xuất, lắp đặt
và bảo hành
Chủ tịch HĐQT
Tổng Giám Đốc
Giám đốc Kinh doanh
Trang 402.1.4 Chức năng nhiệm vụ của các Phòng/Ban Công ty
Với cơ cấu tổ chức bộ máy như trên đã đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tiến một bước khá vững chắc Các bộ phận chịu sự quản lý trực tiếp của các giám đốc của từng lĩnh vực và được liên kết hỗ trợ nhau Nhiệm vụ của từng cá nhân và các phòng ban trong công ty được phân chia như sau:
Chủ tịch Hội đồng quản trị
Là người có quyền lực cao nhất, đại diện trước pháp luật về mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của toàn công ty Giám sát các hoạt động của cácgiám đốc và các phòng ban, trực ký kết các hợp đồng lớn cho công ty
Tổng Giám Đốc
Là người đứng đầu chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, quản lýtình hình sản xuất, đồng thời giám sát việc bán hàng và tình hình tiêu thụ sảnphẩm của công ty
Tổng Giám đốc còn là người đưa ra các phương hướng sản xuất cụ thể
về tất cả các phương diện, đánh giá xem xét khả năng làm việc của nhân viêntrong công ty, tình hình hoạt động của các máy móc thiết bị, trên cơ sở giaonhiệm vụ cho từng phòng ban Sau đó giám đốc có nhiệm vụ tổng hợp cáchoạt động để trình kết quả lên tổng giám đốc và chịu hoàn toàn trách nhiệmtrước tổng giám đốc về các kết quả đã trình
Giám đốc kinh doanh
Là người giúp việc cho Tổng giám đốc và được phân công phụ trách trực tiếplĩnh vực kinh doanh của Công ty Giám đốc kinh doanh tham mưu trực tiếp
cho Tổng giám đốc về công tác kế hoạch kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa trong
công ty, lập kế hoạch tiêu thụ hàng hóa và đưa ra các chương trình thúc đẩybán hàng như xúc tiến bán, khuyếch trương, khuyến mại, quảng cáo… để tăngkhả năng tiêu thụ sản phẩm của công ty