Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” theo cách gọi ởViệt Nam, đây không phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu
Trang 12015
ANTI DUMPING
Trang 2TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP HCM Khoa Thương Mại-Du lịch-Marketing
NHÓM THỰC HIỆN
Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
Võ Thị Thảo Nguyên
Lê Phan Khắc Sanh
Nguyễn Trung Quân
Lý Thanh Toàn
Trần Ly Ly
Mai Quỳnh Hoa
NHÓM THỰC HIỆN:
Trang 3MỤC LỤC
ChươngI BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN 2
1 Các quy định của WTO về bán phá giá: (ADP) 2
2 Tại sao lại bán phá giá: 3
3 Ảnh hưởng của việc bán phá giá: 4
a Đối với nước xuất khẩu: 5
b Đối với nước nhập khẩu: 6
4 “Vụ kiện” chống bán phá giá là gì? 7
5 Thuế chống bán phá giá là gì? 9
6 Chống bán phá gía được quy định ở đâu: 9
7 Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá là gì? 10
8 Biên độ phá giá được tính như thế nào? 10
9 Yếu tố “thiệt hại “ được xác định như thế nào? 11
10 Ai được quyền kiện chống bán phá giá: 13
11 Một vụ kiện chống bán phá giá được tiến hành như thế nào? 15
12 Quy trình thủ tục , phòng vệ thương mại, kháng kiện ban phá giá : 16
ChươngII THỰC TRẠNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ NGÀNH TÔM VIỆT NAM: 17
1 Tình hình chống bán phá giá trên thế giới: 17
2 Tình hình chống bán phá giá tại Việt Nam: 19
3 Thực trạng xuất khẩu thủy sản và cuộc chiến chống bán phá giá Tôm: 21
4 Kháng kiện của Việt Nam lên WTO: 27
Trang 4a Sử dụng phương pháp “Quy về 0 – Zeroing” trong tính toán biên độ phá giá; 28
b Giới hạn số lượng bị đơn được lựa chọn điều tra trong điều tra ban đầu và rà soát hành chính; 28
c Phương thức xác định thuế suất áp dụng đối với các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn trong điều tra rà soát hành chính lần 2 và 3; 28
d Phương pháp xác định mức thuế suất toàn quốc dựa trên thông tin sẵn có bất lợi đối với những doanh nghiệp Việt Nam không chứng minh được sự độc lập trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ với Nhà nước 28
5 Bài học kinh nghiệm từ vụ kiện 30
a Ý nghĩa của vụ việc 30
b Về vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp 31
6 Tình hình sau kháng kiện: 32
7 Vụ kiện AD đầu tiên của VN và Những bài học kinh nghiệm: 36
8 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP: 37
a Giai đoạn tiền khởi kiện: 37
b Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ: 37
c Giai đoạn điều tra 37
d Một số lưu ý khác 37
9 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CƠ QUAN ĐIỀU TRA 38
10 Ý NGHĨA CỦA CỤ KIỆN 38
ChươngIII ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO DN VN ĐỂ VƯỢT RÀO CẢN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở NƯỚC NHẬP KHẨU 39
1 Nhóm giải pháp để không bị khởi kiện: 39
2 Vận động hành lang 42
3 Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá 42
Trang 54 Những lợi ích mà Hệ thống cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá mang lại?
44
5 Phạm vi và đối tượng cảnh báo? 44
6 Nhóm giải pháp đối phó khi bị khởi kiện: 47
7 Nhóm giải pháp khi bị thua kiện: 48
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chống bán phá giá có thể xem là công cụ bảo hộ hợp pháp được sử dụng nhiều nhất trên thế giới Số liệu điều tra cho thấy, số vụ ngày có xu hướng tăng khi nền kinh tế thế giới càng phát triển theo hướng tăng cường hội nhập và liên kết Vậy nó nói lên điều gì? Liệu có mâu thuẫn không khi chúng ta tăng cường hội nhập là để có thể tận dụng được tài nguyên và nhân lực của từng quốc gia, mặt khác chúng ta lại kiện lẫn nhau vì lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó khiến cho hàng hóa của họ rẻ hơn nội địa? Sẽ ra sao nếu không còn rào cản kinh tế khi cả thế giới là một thị trường, mỗi quốc gia đều chuyên môn hóa, sản xuất và tiêu dùng là một chuỗi liên tục và hoàn thiện ? Có lẽ, đây là tương lai kinh tế mà chúng ta cần hợp sức xây dựng và kiến tạo trong một thời gian lâu dài hơn nữa, tuy nhiên, trước khi có thể đạt đến điều đó, chúng ta vẫn cần tăng cường năng lực nền kinh tế nội địa, tìm được lợi thế cạnh tranh hợp lý Vì thế, đề giúp doanh nghiêp có thể nắm rõ về quy trình cũng như cách thức đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới, nhóm chúng tôi đã đưa ra một số vấn đề và giải pháp từ chính phủ, hiệp hội và ban ngành liên quan…nhằm phần nào hỗ trợ doanh nghiệp trong nước có thể đương đầu với khó khăn và thách thức từ môi trường kinh doanh quốc tế
Trang 7ChươngI BÁN PHÁ GIÁ VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN
1 Các quy định của WTO về bán phá giá: (ADP)
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng tượng xảy ra khi 1 loại hàng hóa được xuất khẩu với giá thấp hơn giá bán mặt hàng đó tại thị trường nội địa nước xuất khẩu
Cụ thể, nếu một sản phẩm của nước A bán tại thị trường nước A với giá X nhưng lại được xuất khẩu sang nước B với giá Y (Y<X) thì sản phẩm đó được xem là bán phá giá từ nước A sang nước B
Hiểu đơn giản: Nếu giá xuất khẩu của 1 mặt hàng thấp hơn nội địa của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá Để xác định hành động bán phá giá ta phải so sánh giá cả ở 2 thị trường.Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá ở thị trường nước xuất khẩu (giá trị bình thường) và giá ở thị trường nước nhập khẩu (giá xuất khẩu) để tạo ra cơ sở chính xác cho sự so sánh giá trên hai thị trường là khá phức tạp Theo WTO, giá trị bình thường của hàng hoá là giá của hàng hoá đã được ấn định phụ thuộc vào sức tiêu thụ trên thị trường nước xuất khẩu Khi không có giá nội địa để so sánh thì gía trị bình thường được coi là tổng các chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hoá cộng với một phần lợi nhuận nào đó Hoặc theo cách khác, giá trị bình thường có thể là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba.Trong trường hợp khi nước xuất khẩu chưa được công nhận là có nền kinh tế
Trang 8thị trường thì giá trị bình thường được xác định trên cơ sở giá hàng hoá tương tự của một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường
Giá xuất khẩu hàng hoá thường được xác định trên cơ sở giá giao dịch giữa người xuất khẩu và nhập khẩu tại nước nhập khẩu Tuy nhiên, giá giao dịch có thể không được chấp nhận là giá xuất khẩu trong trường hợp buôn bán đối lưu, hoặc trao đổi nội bộ
Khi giá xuất khẩu thấp hơn so với giá trị bình thường của hàng hoá thì nước nhập khẩu được quyền áp dụng thuế chống bán phá giá để bảo hộ cho sản xuất trong nước vì bán phá giá bị cho là hình thức cạnh tranh không lành mạnh
Để xem xét có hiện tượng bán phá giá hay không, không những chỉ cần so sánh các mức giá trên hai thị trường mà còn phải xác định được mức độ thiệt hại vật chất mà bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu
Theo WTO, thiệt hại do bán phá giá gây ra có thể là: thiệt hại vật chất đối với sản xuất công nghiệp trong nước; nguy cơ gây ra tổn thất vật chất hoặc gây cản trở đến hoạt động của ngành công nghiệp tương tự trong nước Đây là một tiêu thức khó định lượng một cách rõ ràng, chính xác Vì vậy các nước nhập khẩu có nhiều
cơ hội để áp dụng công cụ bảo hộ sản xuất trong nước bằng áp thuế chống bán phá giá khi họ cho rằng hàng nhập khẩu có thể gây thiệt hại cho sản xuất trong nước
2 Tại sao lại bán phá giá:
Hành động bán phá giá xảy ra do nhiều nguyên nhân, có thể kể đến những nguyên nhân chính sau:
Trang 9- Cố tình bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu để chiếm thế độc quyền
- Tăng thêm lợi nhuận nhờ tăng doanh thu (mức thu lợi nhuận trên từng sản phẩm có thể ít hơn, nhưng tổng lợi nhận tuyệt đối gia tăng), ngoài ra tăng lợi
nhuận nhờ giảm các chi phí do quy mô kinh doanh tăng lên.: Có thể 1 số nc làm
ra sp với giá thành rất thấp do sử dụng lao động trẻ em, tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu Việc sử dụng lao động trẻ em ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận còn là cách để cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh Nhờ giá nhân công rẻ, người ta có thể hạ giá sản phẩm, xuất khẩu hàng hóa bán phá giá ở nước ngoài
- Có thể thu được lợi nhuận siêu ngạch sau khi đã độc quyền chiếm lĩnh thị trường: do thu được lợi nhuận siêu ngạch có được từ trốn thuế nhâp khẩu, hàng ngoại sẽ điều tiết và chiếm lĩnh được thị trường với giá cạnh tranh so với hàng sx trong nước
VD: Hàng vải trên thị trường VN, trên thực tế hàng vải nội chỉ giữ 20% thị phần, còn 80% thị phần là hàng vải ngoại nắm giữ Trong đó Trung Quốc chiếm 60% thị phần, phần lớn số vải từ TQ là do nhập lậu, trốn thuế nên được bán với giá chỉ bằng 1/3 -1/2 hàng sx trong nước
- Củng cố, gia tăng giá trị thương hiệu ở hải ngoại
- Đôi khi việc bán phá giá là do việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, xuất khẩu không bán được hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng nên bán phá giá để thu hồi vốn
3 Ảnh hưởng của việc bán phá giá:
Trang 10Bán phá giá có thể có lợi trong 1 số trường hợp, nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ gây nhiều tác hại đối với nước nhập khẩu cũng như nước xuất khẩu
- Tích cực:
+ Giúp doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường tiêu thị sản phẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được hàng tồn kho, đặc biệt các mặt hàng như lương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt,…
VD: Ở Pháp, khi bắt đầu mùa hè đã có hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết hạn sử dụng, quần áo, dày giép lỗi mốt,…lên tới 50% số dự trữ bán ra Loại này được bán với giá thấp hơn 30% giá thị trường
Đến cuối mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài % và được bán cho những người chuyên nghiệp với giá =1/10 giá cũ Họ sẽ đẩy số hàng này ra nước ngoài bán phá giá
+ Là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại thương của đất nước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước đó
-Tiêu cực:
+ Người tiêu dùng trong nước chị thiệt do phải chịu giá cao hơn so với trước đây
do có sự thỏa thuận về giá giữa các doanh nghiệp
+ Các doanh nghiệp bán phá giá, lượng hàng hóa đó lại được bán cho chính các doanh nghiệp trong nước mình, do đó quay lại lũng đoạn thị trường trong nước
Trang 11+ Việc bán phá giá nhằm mục đích thu được lợi nhuận nên 1 vài nước đã sử dụng lao động trẻ em, phụ nữ, lao động tù nhân với giá rẻ mạt Hậu quả là người lao động bị ngược đãi nặng nề
Ví dụ: Trung Quốc là nước tiểu biểu sử dụng lao động tù nhân Theo số liệu của văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em(BIT) thì trên toàn thế giới có trên 250 triệu trẻ em từ 5-14 tuổi đang tham gia hoạt động kinh tế
-Tiêu cực:
+ Người tiêu dùng nước nhập khẩu họ phải sử dụng những mặt hàng kém chất lượng, hàng giả, đôi khi cả hàng quá thời hạn sử dụng, không đảm bảo về an toàn về an toàn thực phẩm, vệ sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nguời dân
+Các chủ doanh nghiệp, những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận cao, do đó tìm mọi cách nhập lậu hàng hóa, trốn thuế gấy thất thu cho Ngân sách Nhà Nước.Hơn nữa do không thể cạnh tranh với hàng nước ngoài nên nhiều xí
Trang 12nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bị phá sản hoàn toàn.Khi đó nó là nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độ phát triển nền kinh tế của nước nhập khẩu
+Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá sản hoạt động cầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống khó khăn, thất nghiệp tăng, kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước nhập khẩu
4 “Vụ kiện” chống bán phá giá là gì?
Đây thực chất là một quy trình Kiện→Điều tra→Kết luận
Áp dụng biện pháo chống bán phá giá (nếu có) là 1 nước nhập khẩu đối với 1 loại hàng hóa nhập khẩu từ 1 nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng loại hàng hóa đó bị bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu
Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ởViệt Nam), đây không phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính
nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này nhằm giải quyết một tranh chấp thương mại
giữa một bên là nghành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài; nó không liên quan đến quan hệ cấp chính phủ giữa hai nước xuất khẩu và nhập khẩu
Trong WTO,Bán phá giá được xem là“hành vi cạnh tranh không lành mạnh”của các nhà sản xuất,xuất khẩu nước ngoài
đối với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu Và các“vụ kiện chống bán phá giá”và tiếp đó là các biện pháp chống bán phá giá (kết quả của các vụ kiện)là một hình thức để hạn chế hành vi này
Trang 13Vì trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện gần giống như trình tự tố tụng xử lý 01 vụ kiện tại tòa nên thủ tục này còn được xem là “thủ tục bán tử
pháp” Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối cùng của cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Toà án (lúc này, vụ việc xử lý tại toà án thực sự là một thủ tục tố tụng tư pháp)
NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA MỘT VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
Đối tượng: là một loại hàng hóa nhất định nhập khẩu từ một hoặc mọt số nước xuất khẩu
Nguyên đơn: nghành sx nội địa nước NK SX ra sản phẩm tương tự với SP bị cho là bán phá giá gây thiệt hại
Bị đơn: Tất cả các doanh nghiệp nước ngoài SX và xuất khẩu hàng hóa /sản phẩm là đối tượng của đơn kiện
Cơ quan xử lý vụ kiện: là 1 hoặc 1 số cơ quan hành chính được nước NK trao quyền điều tra chống bán phá giá và quyết dịnh áp dụng biên pháp chống bán phá giá
Trang 145 Thuế chống bán phá giá là gì?
Thuế chống bán phá giá được áp dụng đối với các nhà xuất khẩu một sản phẩm cụ thể từ một quốc gia cụ thể khi xét thấy có khuynh hướng giảm mức giá của hàng hóa thấp hơn giá trị thông thường, từ đó ước lượng những thiệt hại đã bị gây ra bới bán phá giá đối với các nghành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Thuế chống bán phá giá áp dụng cho nhà sản xuất sản phẩm đã được bán phá giá và căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm chứ ko áp dụng đối với nước thứ 3(trong trường hợp xuất khẩu qua trung gian 1 nước thứ 3) và quá trình điều tra chỉ áp dụng cho nước xuất xứ Mặc dù bị thanh tra, kiểm soát và phạt do vi phạm Luật chống bán phá giá, các doanh nghiệp vẫn theo đuổi chiến dịch này
Thuế chống bán phá giá là biện pháp được sử dụng phổ biến nhất, được áp dụng đối với sản phẩm bị điều tra và bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại cho nhà sản xuất nước đó
Về bản chất, đây là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu, là đối tượng của quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Điều kiện để áp đặt thuế chống bán phá giá:
Thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng khi xác định được đủ 3 điều kiện:
- Hàng nhập khẩu bị bán phá giá
- Nghành sản xuất sản phẩm tương tự nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên
Bán phá giá được xác định thông qua việc so sánh về giá giữa giá thông thường và giá xuất khẩu theo công thức: Giá thông thường →Giá xuất khẩu = X
(Trong đó các giá này phải được đưa về cùng 1 cấp độ thương mại mà thường là “giá xuất xưởng”)
Nếu X > 0 thì có hiện tượng bán phá giá
6 Chống bán phá giá được quy định ở đâu:
Trong WTO, các nguyên tắc về chống bán phá giá được quy định tại:
Trang 15 Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại(GATT) (bao gồm các nguyên tắc chung về vấn đề này);
Hiệp định về chống bán phá giá( Agreement Anditumping Practises-ADA) chi tiết hóa Điều VI GATT(các quy tắc, điều kiện, trình tự thủ tục kiện- điều tra và
áp dụng biện pháp chống bán phá giá cụ thể)
Mỗi nước lại có quy định riêng về vấn đề chống bán phá giá (xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc chung liên quan cua WTO) Các vụ kiện chống bán phá giá và việc áp thuế chống bán phá giá thực tế ở các nước tuân thủ các quy định nội địa này
Đối với các doanh nghiệp, đề có hiểu biết chung về những vấn đê cơ bản nhất về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, doang nghiệp chỉ cần tiếp cận các quy định của WTO về vấn đề này là đủ Tuy nhiên, để biết chi tiết về trình tự, thủ tục cơ quan có thẩm quyền trong các vụ kiện chống bán phá giá cụ thể ở mỗi thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm nhiều các quy định pháp luật về chống ban phá giá của nước đó
7 Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá là gì?
Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngòa bán phá giá là nước nhập khẩu có thể
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa đó
Theo quy định của Wto thì việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá chỉ có thể thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống bán phá giá, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 3 điều kiện sau:
Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá ( với biên độ phá giá không thấp hơn 2%);
Nghành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của nghành sản xuất trong nước ( gọi chung là yếu tố “thiệt hại”);
Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên
8 Biên độ phá giá được tính như thế nào?
Là khoảng chênh lệc có thể tính được giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu của nước A so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào nước A
Biên độ phá giá được tính theo công thức:
Biên độ bán phá giá = 𝐺𝑖á 𝑡ℎô𝑛𝑔 𝑡ℎườ𝑛𝑔−𝐺𝑖á 𝑥𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢
𝐺𝑖á 𝑥𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢
Trong đó:
Trang 16Giá thông thường là giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu(hoặc
giá bán của sản phẩm tương tự từ nước xuất khẩu sang 1 nước thứ ba, hoặc giá xây dựng từ tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí quản lý, bán hàng và khoản lợi nhuận hợp
lí – WTO có quy định cụ thể các điều kiện để áp dụng từng biện pháp này);
Giá xuất khẩu là giá trên hợp đồng giữa nhà xuất khẩu nước ngoài với nhà nhập khẩu
(hoặc giá bán cho người mua độc lập đầu tiên)
9 Yếu tố “thiệt hại” được xác định như thế nào?
Việc xác định “thiệt hại” là một bước không thể thiếu trong một vụ điều tra chống bán phá giá và chỉ khi kết luận điều tra khẳng định có thiệt hại đáng kể cho nghành sản xuất nội địa nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu mới có thể xem xét việc áp dụng các biện pháp chống bán phá gá
Về hình thức: các thiệt hại này có thể tồn tại dưới 2 dạng: thiệt hại thực tế, hoặc nguy cơ thiệt hại(nguy cơ rất gần);
Về mức độ: các thiệt hại này phải ở mức đáng kể,
Về phương pháp: các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân tích tất cả các yếu tố có liên quan đến thực trạng của nghành sản xuất nội địa (ví dụ tỉ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công,…)
10 Một mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu không nhiều có thể bị kiện
chống bán phá giá không ?
Theo quy định của WTO, nước nhập khẩu không được tiến hành điều tra (và không được
áp thuế chống trợ cấp) nếu nước xuất khẩu là nước đang phát triển và có lượng nhập
Sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tralà:
Trang 17khẩu sản phẩm liên quan dưới 3% tổng nhập khẩu hàng hóa tương tự vào nước nhập
khẩu là một nước đang phát triển, Việt Nam được hưởng quy chế này
Tuy nhiên, quy định này sẽ không được áp dụng nếu tổng số lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan từ tất cả các nước xuất khẩu có hoàn cảnh tương tự ( cũng là nước đang phát
triển co lượng nhập khẩu thấp hơn 3%0 chiếm trên 7% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa
tương tự vào nước nhập khẩu
XÁC ĐỊNH LƯỢNG NHẬP KHẨU
“KHÔNG ĐÁNG KỂ” NHƯ THẾ NÀO?
Giả sử Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ và Camphuchia ( là các nước đang phát triển)
cùng với nhiều nước khác cùng nhập khẩu 1 mặt hàng X vào nước Y
Trong đó:
o Hàng Trung Quốc chiếm 10% tổng lượng nhập khẩu hàng X vào Y
o Các nước Việt Nam, Ấn Độ, Camphuchia mỗi nước chiếm 2,5% tổng lượng
nhập khẩu hàng X vào Y;
o 82,5% tổng lượng nhập khẩu hàng X vào Y đến từ các nước khác
Nếu nghành sản xuất mặt hàng X của nước Y định kiện chống bán phá giá mặt
hàng X chỉ của Việt Nam nhập khẩu vào Y thì đơn kiện sẽ bị bác bỏ hoặc nếu vụ
kiện đã khởi xướng thì cũng sẽ bị đình chỉ do Việt Nam là nước đang phất triển
và có lượng nhập khẩu ít hơn 3% tổng nhập khẩu hàng X vào Y
Nếu vụ kiện chống lại VIệt Nam và Trung Quốc thì cũng theo tiêu chí này, vụ
việc có thể sẽ tiếp tục với hàng Trung Quốc nhưng phải chấm dứt với hàng Việt
Nam.Tuy nhiên nếu vụ kiện tiến hành chống lại cả Việt Nam,Campuchia, Ấn Độ
và Trung Quốc thì vụ kiện sẽ được tiến hành bình thường với tất cả 4 nước này
vì tổng lượng nhập khẩu hàng X vào nước Y từ 3 nước Việt Nam,Ấn Độ,
Campuchia( nước đang phát triển có lượng nhập trong tổng nhập hàng X vào Y
dưới 3%) là 7,5% (cao hơn mức 7% theo quy định)
Trang 1811 Ai được quyền kiện chống bán phá giá:
Một vụ kiện chống bán phá giá chỉ có thể được tiến hành nếu nó được bắt đầu bởi các chỉ thể có quyền khởi kiện là:
Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu (hoặc đại diện của ngành), hoặc
Cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu
Hầu hết các vụ kiện chống bán phá giá trên thực tế đều được khởi xướng từ đơn kiện của nghành sản xuất nội địa nước nhập khẩu
Để được xem xét đơn kiện phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
I Các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 50% tổng sản lượng sản xuất ra bới tất cả các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện, và
II Các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự
của toàn bộ nghành sản xuất trong nước
Trang 19VÍ DỤ VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN CỦA NGHÀNH SẢN
XUẤT NỘI ĐỊA NƯỚC NHẬP KHẨU
Giả sử ngành sx của mặt hàng A của nước B muốn kiện các nhà SX XK VN
vì đã bán ohas giá mặt hàng A vào nước B
Nếu nghành SX mặt hàng A của nước B có tổng cộng 5 nhà sản xuất (NSX), trong đó:
NSX 1 sx ra 9% tổng sản lượng nội địa A của nước B
NSX 2 sx ra 5% tổng sản lượng nội địa A của nước B
NSX 3 và 4 sx ra 15% tổng sản lượng nội địa A của nước B
NSX 5 sx ra 56 % tổng sản lượng nội địa A của nước B
Nếu NSX 4(15%) khởi kiện, các NSX 1(9%), 2(5%),3(15%) đều bày
tỏ ý kiến về việc khởi kiện này và NSX 5(56%) không có ý kiến gì thì:
Nếu NSX 2 ( 5%) ủng hộ, NSX 1(9%) và 3( 15%) phản đối: tổng sản lượng của các NSX ủng hộ (NSX 4 và 2) là 20% nhỏ hơn so với 24% tổng sản lượng của các NSX phản đối ( NSX 1 và 3) => Đơn kiện sẽ
bị bác bỏ do không thỏa mãn điều kiện
Nếu NSX 1(9%) ủng hộ, NSX 2(5%) và 3( 15%) phản đối: tổng sản lượng của các NSX ủng hộ (NSX 4 và 1) là 24% lớn hơn so vwois 20% tổng sản lượng của các NSX phản đối (NSX 2 và 3) nhưng lại nhỏ hơn 25% => Đơn kiện sẽ bị bác bỏ do thỏa mãn điều kiện I nhưng ko thỏa mãn điều iện II
Trang 2012 Một vụ kiện chống bán phá giá được tiến hành như thế nào?
Một vụ kiện chống bán phá giá thực chất là tổng hợp các bước điều tra, xác minh các yêu cầu trong đơn kiện để kết luận có đủ điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa bị kiện hay không
Có thể tóm tắt các bước cơ bản của “vụi kiện chống bán phá giá” như sau:
Bước 1: Nghành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kienj ( kèm theo chứng cứ ban đầu);
Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra( hoặc từ chối đơn kiện, không điều tra);
Bước 3: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc từ chối đơn kiện, không điều tra)
Bước 4: Kết luận sơ bộ (có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạm thời như buộc
đặt cọc, ký quỹ, );
Bước 5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá về thiệt hại ( có thể bao gồm điều tra thực địa tại nước xuất khẩu);
Bước 6: Kết luận cuối cùng;
Bước 7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá( nếu kết luận cuối cùng khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại);
Bước 8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá(hàng năm cơ quan điều tra cso
thể sẽ điều tra lại biên phá giá thực tế của từng nghành xuất khẩu và điều chỉnh
mức thuế)
Bước 9: Rà soát hoàng hôn( 5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chống bán
phá giá hoặc rà sát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xét chấm
dứt việc áp dụng thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa
Từ bước 1 đến bước 7 của một vụ điều tra chống bán phá giá thường kéo dài
khoảng 18 tháng đến 2 năm Tuy nhiên, bước 8 và 0 có thể kéo rất dài sau đó
Trang 2113 Quy trình thủ tục, phòng vệ thương mại, kháng kiện bán phá giá :
Trước khi xảy ra vụ
kiện
- Thu thập thông tin về ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước nhập khẩu;
- Quan sát động thái báo chí khi đề cập đến sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu;
- Thu thập thông tin về thị trường sản phẩm tương tự tiêu thụ tại nước nhập khẩu;
- Cục QLCT sẽ thông tin tới doanh nghiệp về khả năng có thể xảy ra vụ kiện dựa trên phân tích tình hình xuất nhập khẩu;
Khi nguyên đơn nộp
đơn khởi kiện
- Phối hợp với những nhà nhập khẩu sản phẩm tại nước điều tra để thu thập thêm thông tin và sự ủng hộ của họ;
- Nghiên cứu, xem xét phương án thuê luật sư tư vấn trong trường hợp vụ kiện xảy ra;
- Thành lập nhóm phụ trách vụ việc tại đơn vị;
- Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội, các cơ quan trong và ngoài nước để có thêm thông tin vụ việc;
- Nghiên cứu đơn kiện của nguyên đơn để xây dựng lập luận phản bác nếu đơn kiện không đầy đủ và hợp lệ Các doanh nghiệp có thể liên hệ với Cục QLCT
Trang 22ChươngII THỰC TRẠNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ NGÀNH TÔM VIỆT NAM:
1 Tình hình chống bán phá giá trên thế giới:
Theo số liệu của Ban Thư ký WTO, từ năm 1995 đến hết năm 2014 trên thế giới đả tiến hành 4757 cuộc điều tra về chống bán phá giá, đứng đầu danh sách là Ấn độ (740 vụ), Hoa Kỳ (527 vụ) và EU (468 vụ) đây vẫn là những thị trường truyền thống về vấn đề kiện bán phá giá trong suốt hơn 1 thập kỷ qua.Trong số 104 nước bị kiện, các nước đứng đầu
là Trung Quốc (1052 vụ), Hàn Quốc (349 vụ) và Hoa Kỳ (266 vụ) Như vậy, có thể thấy
dù nền kinh tế thế giới không ngừng vận động và biến đổi về mọi mặt, từ chất lượng cho đến số lượng hàng hóa hay biến đổi về quan hệ cung cầu từ sản xuất đến nhu cầu tiêu dùng, nhưng các thị trường lớn trong lĩnh vực Chống Bán Phá Giá vẫn không thay đổi
Khi cơ quan điều tra
khởi xướng điều tra
- Tiếp tục Phối hợp với những nhà nhập khẩu sản phẩm tại nước điều tra để thu thập thêm thông tin và sự ủng hộ của họ;
- Nghiên cứu, xem xét phương án thuê luật sư tư vấn hỗ trợ quá trình kháng kiện;
- Liên hệ chặt chẽ với Hiệp hội, các cơ quan trong và ngoài nước để có thêm thông tin
vụ việc;
- Hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra nước ngoài (trả lời các bản câu hỏi đầy đủ, đúng hạn; hợp tác trong quá trình thẩm tra…) tránh việc bị sử dụng những thông tin bất lợi sẵn có khi ra kết luận;
- Liên hệ với các cơ quan Chính phủ để thực hiện hiệu quả các phương án vận động hành lang;
- Nghiên cứu phương án cam kết giá với cơ quan điều tra để thoát khỏi vụ kiện
Khi cơ quan điều tra ra
quyết định
Trong trường hợp không bị áp thuế, cần tiếp tục theo dõi diến biến thị trường và động thái của ngành sản xuất trong nước tại nước nhập khẩu đề phòng các vụ việc có thể tái diễn trong tương lại
- Trong trường hợp bị áp thuế và nghi ngờ cơ quan điều tra nước ngoài vi phạm quy trình thủ thục nghiên cứu phương án khởi kiện ra WTO;
- Liên hệ và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chính phủ để chuẩn bị cho các đợt rà soát hành chính
- Hợp tác với cơ quan điều tra trong các lần Rà soát hành chính
Trang 23vẫn luôn đi đầu trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá Ấn Độ là nước đang phát triển sử dụng công cụ này nhiều nhất Nhật Bản thì tương đối đặc biệt khi chỉ áp dụng thuế chống bán phá giá có 8 lần nhưng có đến 187 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá Riêng Trung Quốc thì có có thể được coi là quốc gia "đi đầu" trong việc bán phá giá hàng hóa sang các nước khác khi bị kiện đến 1052 lần Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu của Trung Quốc hiện đang phải chịu một bất lợi lớn là nhiều nước phát triển chưa coi nền kinh tế Trung quốc là kinh tế thị trường, do đó hàng xuất khẩu của nước này hay bị coi là bán phá giá, mặc dù trên thực tế có thể không phải như vậy (nguồn www.wto.org)
Tại thị trường EU, tính cho đến 31/04/2015 đã có 81 vụ kiện chống bán phá giá mà sau đó được mở rộng thành 26 vụ kiện chính thức Tại thị trường Hoa Kỳ, chỉ tính trong năm 2014 đã có đến 27 vụ kiện do Hoa Kỳ khởi xướng nhắm vào các thị trường đang phát triển: nhiều nhất là Trung Quốc với 10 vụ, Đài Loan 3 vụ, còn lại Mexico, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc, Malaysia,Thổ Nhĩ Kỳ, Oman mỗi quốc gia 2 vụ Một số mặt hàng của Việt Nam đã bị Hoa kỳ kiện bán phá giá như sau:
Cá philê đông lạnh (A-552-801)
Tôm nước ấm đông lạnh (A-552-802)
Ống thép dẫn dầu (A-552-817)
Túi nhựa PE (A-552-806)
Túi nhựa PE (C-552-805)
Mắc áo thép (A-552-812)
Mắc áo thép (C-552-813)
Lò xo không bọc (A-552-803)
Tuabin điện gió (A-552-814)
Ống thép không gỉ chịu lực (A-552-816)
Trang 242 Tình hình chống bán phá giá tại Việt Nam:
BIỂU ĐỒ SỐ NƯỚC KIỆN VN BÁN PHÁ GIÁ TỪ 1994-T09/2015
Nguồn: Hội đồng tư vấn về Phòng vệ thương mại-VCCI
Các nước khác gồm: CANADA 4 VỤ, THÁI LAN 4 VỤ, MALAYSIA 4 VỤ , INDONESIA … VV
Trong số các vụ kiện chống bán phá giá thì Hoa Kỳ và EU là 2 quốc gia chiếm tỷ trọng lớn nhất, đồng thời đây cũng là 2 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam rất thiếu chuẩn bị khi xuất khẩu hàng hóa hay thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài Bên cạnh đó là việc thiếu quan sát và tìm hiểu nhu cầu cũng như biến động từ thị trường nhập khẩu Để dẫn đến tình trạng là trong
5 vụ kiện đúp Chống bán phá giá và chống trợ cấp thì đã có đến 4 vụ từ thị trường Hoa
Kỳ Liên tiếp các vụ kiện với mức thuế suất cao và bất lợi cho doanh ngiệp xuất khẩu Việt Nam xảy ra chỉ vì các DN của ra không được chuẩn bị và đầu tư kỹ lưỡng về các nguyên tắc và quy định khi quyết định đầu tư ra thị trường nước ngoài
Từ năm 1994 đến 2000 đa phần các vụ kiện đều nhỏ và không để lại hậu quả nhiều, thông thường là tự chấm dứt hay là nguyên đơn rút đơn kiện Có thể do thời gian đầu gia
Trang 25BIỂU ĐỒ SỐ VỤ KIÊN BÁN PHÁ GIÁ QUA TỪNG NĂM (1994-T09/2015)
Nguồn: Hội đồng tư vấn về Phòng vệ thương mại-VCCI
Trang 26Điều đáng nói là chỉ tính từ đầu năm 2015 cho đến nay Việt Nam bị nhận đến 11 đơn kiện bán phá giá, tập trung chủ yếu là các sản phẩm liên quan đến sắt thép như: thép cuộn cán nguội, thép không gỉ cuộn nguội, tôn lạnh,tôn phủ màu,… mà các đơn kiện này lại đến từ chính thị trường láng giềng của chúng ta Chỉ trong vòng 3 ngày từ 18-21/09/2015, Thái Lan đã liên tiếp đưa ra ba vụ điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôn, thép các loại nhập từ Việt Nam Việc Thái Lan đẩy nhanh vụ kiện chống bán phá giá khiến nhiều doanh nghiệp thép Việt Nam lo lắng trước nguy cơ mất thị phần xuất khẩu nhãn tiền Nguyên nhân là do các thị trường khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia đang tiêu thụ tới 50% lượng tôn, thép xuất khẩu của Việt Nam Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, nếu không đáp ứng được những điều kiện về chống bán phá giá, doanh nghiệp nước ta sẽ phải chịu một mức thuế rất cao, thậm chí lên đến 50% Bên cạnh
đó thì Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế Malaysia đã ra thông báo chính thức về
Kết luận sơ bộ đối với vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôn phủ màu nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam Theo đó, mức thuế chống bán phá giá tạm thời áp dụng đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam là từ 5,68% đến 16,45% Điều này đã cho thấy hiện nay CBPG không còn là công cụ của riêng các nước phát triển, mà các nước đang phát triển cũng dần sử dụng thành thạo biện pháp này để bảo hộ các ngành sản xuất chính yếu của mỗi nước Cạnh tranh càng khốc liệt thì tự vệ và phản kháng càng mạnh mẽ, chính vì vậy mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tự bảo vệ chính mình trước “vũ khí” và “rào cản” từ các quốc gia nhập khẩu Điều này không thể thay đổi trong một sớm một chiều, tuy nhiên cũng không thể nào quá bị động đến khi không thể nào “cứu vãn” và “khôi phục” được vị thế của các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Các nhà xuất khẩu Việt Nam phải không ngừng học hỏi và quan sát thị trường, phân tán rủi ro bằng việc tìm kiếm thêm thị trường tiềm năng thuộc nhiều vùng và khu vực trên thế giới, nhằm đảm bảo doanh nghiệp có thể thích nghi và phản ứng kịp thời với những biến động của thị trường thế giới
3 Thực trạng xuất khẩu thủy sản và cuộc chiến chống bán phá giá Tôm:
Trong những năm 1996-2004 xuất khẩu thủy sản (XKTS) có thể coi là thành quả
Trang 27ngành thủy sản đối với nền kinh tế đất nước và trên thị trường quốc tế, từng bước đưa thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu có những bước tiến rõ rệt trong những năm đầu mở cửa hội nhập, nếu như năm 2000 tổng giá trị xuất khẩu là 1,479 tỷ USD thì đến năm 2004 đã tăng lên 2,397 tỷ USD Trong suốt nhiều năm liền, XKTS đứng thứ ba về giá trị xuất khẩu của cả nước, riêng 2004 tụt xuống thứ tư sau ngành giày da, tỷ trọng XKTS so với tổng kim ngạch cả nước ở mức cao trên dưới 10% Như vậy hàng năm XKTS có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu
Con tôm vốn được coi là sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của ngành thủy sản Việt Nam Các loại tôm như: Tôm hùm, tôm sú đen, tôm sú trắng và các loại tôm khác chiếm gần một nửa kim ngạch XKTS của đất nước Trong 2003, Việt Nam đã xuất khẩu được 12.489.749 tấn tôm các loại, tăng 9.8% so với năm 2002 Xuất khẩu tôm chiếm 47.7% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu tôm trên toàn thế giới Năm 2004 giá trị xuất khẩu tôm chiếm 52% tăng 17.3% về giá trị và 11.8% về khối lượng
Ngành công nghiệp thủy sản của Việt Nam đã phải trải qua hai vụ kiện chống bán phá giá khởi kiện bởi các nhà sản xuất Hoa Kỳ chống lại hàng nhập khẩu cá da trơn (3/2002) và tôm (4/2003) Thuế đánh vào các loại hàng hóa này là rất lớn, từ 37% đến 64% cho cá da trơn và 4%-26% đối với tôm - cao hơn rất nhiều so với mức lợi nhuận thông thường
Trong giai đoạn suy thoái, các quốc gia đều sẵn sàng bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi cạnh tranh nước ngoài Do đó, khi Việt Nam tiếp tục xuất khẩu các loại mặt hàng thủy hải sản sang thị trường Mỹ và Liên minh châu Âu thì khả năng có các vụ kiện trong tương lai là đáng kể
Các hành động chống bán phá giá, mặc dù trên lý thuyết có ý nghĩa giải quyết sự không công bằng trong thương mại, nhưng lại đang được sử dụng như một rào cản chống lại sự cạnh tranh công bằng, đặc biệt là chống lại giá lao động hiệu quả / thấp tại các nước đang phát triển Các biện pháp đó mang tính phân biệt đối xử, làm suy yếu các nguyên tắc
Trang 28lợi thế so sánh, và kết quả là người tiêu dùng tại các quốc gia nhập khẩu phải trả nhiều tiền hơn cho mặt hàng đó, cũng như làm giảm lợi nhuận cho các nhà sản xuất và xuất khẩu ở các nước đang phát triển Hầu hết các nhà kinh tế coi luật chống bán phá giá là một điều xấu
Là mặt hàng hải sản bán chạy nhất tại Mỹ, tôm được nhập về từ 20 nước khác nhau Theo Chủ tịch ASDA Wally Stevens, năm 2002 người dân miền nam Nước Mỹ đã tiêu thụ khoảng 636 nghìn tấn tôm cua sò các loại, trong đó sản phẩm nhập khẩu đáp ứng tới 88% nhu cầu trong nước Stevens cho rằng, ngư dân Mỹ cần tự lượng sức mình vì sản lượng của họ không thể cung ứng đủ cho thị trường, ngay cả với mức 20% Tuy nhiên, Liên minh tôm miền Nam (SSA) đã nhóm họp vào ngày 08/08/2003 và quyết định bỏ ra 4 triệu USD nhằm tiến hành vụ kiện chống bán phá giá tôm từ 12 nước vào thị trường Mỹ SSA đã thuê hãng luật Deway Ballantine ở Washington tiến hành nghiên cứu mức độ gây thiệt hại của tôm nhập khẩu đến ngành sản xuất trong nước, đồng thời xác định tôm nhập khẩu có bán phá giá như luật Mỹ quy định hay không Các nước có nguy cơ bị ngư dân
Mỹ kiện gồm Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Ecuador, Brazil và một số nước khác Riêng Việt Nam, tôm đông lạnh xuất khẩu là mặt hàng chủ lực với giá trị xuất 6 tháng đầu năm 2003 đạt gần 412 triệu USD, chiếm 44,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Trong đó, Mỹ là bạn hàng lớn nhất, nhập khoảng hơn 21 nghìn tấn, đạt giá trị hơn 208 triệu USD
Nộp Đơn Khởi Kiện và điều tra:
31/12/2003 SSA chính thức nộp đơn khởi kiện “chống bán phá giá tôm” lên
Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào thị trường Mỹ của một số nước, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam