Những cuốn sách đã nêu lên những con số chính xác về tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh như diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực; giá trị sản xuất nông nghiệp,… Cũng hàng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã ân cần dạy dỗ, chỉ bảo, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập, rèn luyện tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên các phòng ban trong Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc… đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài khóa luận Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Bùi Ngọc Thạch, người thầy đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập ở trường và tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện Khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, nên tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, vụng về rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Người thực hiện
Phạm Thị Ngân
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011”, của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ Bùi Ngọc Thạch
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Những kết quả tôi thu được và trình bày trong khóa luận tốt nghiệp của mình hoàn toàn chân thực và không có trong một đề tài nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2013
Người thực hiện
Phạm Thị Ngân
Trang 4
HỆ THỐNG BẢNG BIỂU
1 Bảng 1: Tình hình hoạt động kinh tế trang trại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009
2 Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
8 Bảng 8: Giá trị sản xuất nông nghiệptheo thành phần kinh tế cá thể tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2011 (giá cố định năm 1994)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997 7
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế 14
1.1.3 Điều kiện xã hội 18
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997 18
1.2.1 Thời kỳ tỉnh Vĩnh Phúc chưa sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú (1950 - 1968) 18
1.2.2 Thời kỳ tỉnh Vĩnh Phúc sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú (1968 - 1996) 21
Chương 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2011 27
2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN TỈNH VĨNH PHÚC SAU KHI TÁI LẬP TỈNH 27
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về nông nghiệp 27 2.1.2 Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi nhằm phát triển nông nghiệp 35
2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2011 36
Trang 62.2.1 Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi và phân vùng
sản xuất nông nghiệp 36
2.2.2 Hoạt động kinh tế trang trại 38
2.2.3 Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 42
2.2.4 Hoạt động cơ giới hóa, thủy lợi hóa trong nông nghiệp 43
2.2.5 Hoạt động chế biến, xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp 45
2.3 THÀNH TỰU VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 46
2.3.1 Về trồng trọt 46
2.3.2 Về chăn nuôi 57
2.3.3 Về xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp 61
2.4 HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 62
2.4.1 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp 62
2.4.2 Cơ chế, chính sách về nông nghiệp còn bất cấp 63
2.4.3 Giá trị sản phẩm nông nghiệp thấp 64
2.4.4 Thị trường tiêu thụ còn hạn hẹp 65
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2011 67
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2011 67
3.1.1 Nhà nước cung ứng các yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh tế nông nghiệp, thực sự đổi mới cơ chế quản lý 67
3.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình làm cơ sở để phát triển nông nghiệp
69
Trang 73.1.3 Nông nghiệp Vĩnh Phúc xác lập được các vùng chuyên
canh hợp lý, phát huy được thế mạnh của từng vùng
71 3.2 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2011
72 3.2.1 Đáp ứng được yêu cầu lương thực- thực phẩm, đời sống nhân dân được cải thiện, đóng góp vào nguồn dự trữ quốc gia đảm bảo an ninh lương thực 72
3.2.2 Thúc đẩy kinh tế phát triển, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, tăng thu nhập quốc dân 73 3.2.3 Tạo điều kiện mở rộng hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, tham gia trao đổi thương mại quốc tế 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vĩnh Phúc là vùng đất cổ giàu truyền thống lịch sử và văn hóa Trải qua các thời kỳ lịch sử, nhân dân Vĩnh Phúc luôn phát huy truyền thống của cha ông, đoàn kết một lòng, kiên cường, bất khuất trong xây dựng và bảo vệ quê hương Vĩnh Phúc là một tỉnh giàu tiềm năng phát triển kinh tế nhất là đối với nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế có vai trò, vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là cơ sở để phát triển công nghiệp, cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp, tiêu thụ hàng hóa cho công nghiệp, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Sau khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập (1/1997), Đảng bộ Vĩnh Phúc đã
đề ra nhiều nghị quyết chỉ đạo việc phát triển kinh tế nông nghiệp
Trên cơ sở đó, nông nghiệp Vĩnh Phúc từng bước đạt được những thành tựu to lớn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp Vĩnh Phúc vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế đặt ra yêu cầu phải giải quyết
Việc nghiên cứu vấn đề nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Không những làm sáng tỏ các vấn đề và đường lối đổi mới phát triển kinh tế nông nghiệp, vấn
đề hiện đại hóa nông nghiệp, vấn đề đổi mới cơ chế quản lý cơ cấu nông nghiệp, vấn đề nông dân nông thôn, vấn đề kinh tế hộ gia đình, vấn đề xây dựng nông thôn mới,…
Với ý nghĩa to lớn đó nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong những từ 1997 đến năm 2011 Vì vậy, việc nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011 là rất cần thiết
Trang 9Trên cơ sở đó, tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng nông nghiệp bao gồm các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, hiểu theo nghĩa hẹp nông nghiệp bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi, đề tài khóa luận “Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 – 2011” chỉ đề cập đến nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc theo nghĩa hẹp là bao gồm trồng trọt và chăn nuôi
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kinh tế nông nghiệp Vĩnh Phúc đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả quan tâm đến Vĩnh Phúc Ngay từ khi tái lập tỉnh năm 1997, các cấp chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chú trọng vào phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa Năm 2000, cuốn sách “Địa chí Vĩnh Phúc sơ thảo”, tác giả Nguyễn
Xuân Lâm (chủ biên), do Sở văn hóa thông tin - thể thao Vĩnh Phúc xuất bản,
đã có những khái quát chung nhất về tình hình nông nghiệp của tỉnh trước khi được tái lập
Năm 2005, sau 8 năm tái lập tỉnh, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
phát triển mau lẹ, Tiến sỹ Nguyến Thế Trường đã viết cuốn “Những biến đổi kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2005” Tác phẩm đã nêu lên
một cách khái quát sự biến đổi đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc trong 8 năm tái lập tỉnh, sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp song tác phẩm mới chỉ đề cập đến một cách khái quát, chưa đi sâu vào nội bộ ngành trong chặng đường 8 năm đầu khi tái lập tỉnh
Năm 2006, tác giả Đoàn Mạnh Phương đã viết cuốn “Vĩnh Phúc đất và người thân thiện”, do NXB Thông tấn và Công ty văn hóa trí tuệ Việt ấn
hành Cuốn sách ngoài việc đề cập đến địa lý hành chính, các chặng đường vẻ vang trong truyền thống lịch sử, các ngành kinh tế của tỉnh…, tác phẩm cũng
Trang 10đã đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp sau 9 năm tái lập tỉnh (1997 - 2006)
Năm 2007, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc cho xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930 - 2005)”, tác phẩm đã đề cập đến nhiều vấn đề kinh
tế - xã hội nói chung ở tỉnh Vĩnh Phúc từ 1930 - 2005, trong đó có nêu lên một cách khái quát tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh từ khi chưa tái lập tỉnh và sau 8 năm tái lập tỉnh
Hàng năm, Cục thống kê Vĩnh Phúc cho ấn hành cuốn “Niên giám thống kê” Những cuốn sách đã nêu lên những con số chính xác về tình hình
kinh tế nông nghiệp của tỉnh như diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực; giá trị sản xuất nông nghiệp,…
Cũng hàng năm, Sở nông nghiệp & Phát triển nông thôn Vĩnh Phúc, Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, có những báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm và kế hoạch những năm kế tiếp, báo cáo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Đó là những báo cáo mang tính thời sự về tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh hàng năm
Ngoài ra, còn có các bài viết trên báo, tạp chí cũng đề cập đến tình hình nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc như: Tạp chí Bản tin tuyên truyền Vĩnh Phúc, Đối ngoại Vĩnh Phúc, đã phần nào mô tả bức tranh sinh động về tình hình kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy
đủ, toàn diện về tình hình nông nghiệp ở Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm
2011 Vì vậy, việc nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong
những năm từ 1997 đến năm 2011 là vấn đề rất cần thiết
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khoá luận dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ, khái quát về
“Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011” Qua đó nêu bật thành tựu và hạn chế trong kinh tế nông nghiệp của
tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011 Đồng thời, rút ra đặc điểm và vai trò của kinh tế nông nghiệp Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu rõ cơ sở, điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp
- Trình bày những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011
- Rút ra đặc điểm và vai trò của kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng các nguồn tài liệu sau đây: Các cuốn sách viết về điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội và kinh tế của
tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ như: Tác phẩm “Địa chí Vĩnh Phúc sơ thảo” của Nguyễn Xuân Lâm xuất bản năm 2000; Tác phẩm “Vĩnh Phúc đất và người thân thiện” của Đoàn Mạnh Phương, xuất bản năm 2006; Tác phẩm
Trang 12“ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930 -2005)”, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, nhà xuất bản chính trị quốc gia (2007); Tác phẩm “Những biến đổi kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2005” của Nguyễn Thế
Trường, xuất bản năm 2008,…
Các văn bản, nghị quyết, các báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Uỷ Vĩnh Phúc, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc về các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 1997 đến năm 2011
Các bài viết trên báo, tạp chí về kinh tế, xã hội và những vấn đề liên quan đến kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc như: Tạp chí bản tin tuyên truyền Vĩnh Phúc, Đối ngoại Vĩnh Phúc… Các niên giám thống kê của tỉnh Vĩnh Phúc (đặc biệt chú ý vào phần có liên quan đến kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc) từ năm 1997 đến hết năm 2011
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp: Toán học, tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh và phương pháp điền dã để xác minh nội dung, sự kiện lịch sử
5 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc từ những năm 1997 đến 2011 có những đóng góp về cả mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể là: Khóa luận dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ, có hệ thống về
“Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011”
Trang 13Khóa luận đánh giá những nét cơ bản về thành tựu, kết quả về vấn đề
“Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011” Qua đó khẳng định đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
ta nói chung, của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng là phù hợp, đúng đắn
Khóa luận cũng đã nêu bật được đặc điểm, vai trò “Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011” Khóa luận
đã khai thác được một nguồn tài liệu địa phương có giá trị, tập hợp các tài liệu
đó thành một hệ thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 1997
Chương 2: Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm 1997 - 2011
Trang 14Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lý:
Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.236,5 km² (tính đến ngày 1 - 1 - 2011) Vĩnh Phúc là tỉnh nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc Việt Nam, nơi tiếp giáp giữa trung du, miền núi Đông Bắc và đồng bằng châu thổ sông Hồng nên tỉnh có 3 vùng sinh thái: Đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh và vùng núi ở huyện Tam Đảo
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong tọa độ địa lý từ 21°06′ đến 21°35′ vĩ độ Bắc
Giữa hai vĩ tuyến theo đường Bắc Nam có chiều rộng 49 km
+ Điểm cực Tây tại xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô, nằm trên kinh tuyến 106°19′ Đông
+ Điểm cực Đông tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, nằm trên kinh tuyến 106°48′ Đông
Giữa hai kinh tuyến, giữa hai chiều Đông Tây có chiều dài 46 km Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, phía Bắc giáp các tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính gồm:
Trang 15Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Lập Thạch, Bình Xuyên, Sông
Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường và Yên Lạc với diện tích tự nhiên 1.236,5 km2, dân số năm 2010 là 1.008,3 nghìn người, mật độ dân số 816 người/km2
Tỉnh lỵ của tỉnh là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm Hà Nội 50km
và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km
Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là cầu nối giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội; liền
kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt đối với thủ đô
Hà Nội, kinh tế Vĩnh Phúc phát triển góp phần cùng Thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hoá, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép
về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của Thủ đô Hà Nội Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong những năm qua
đã tạo cho Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của các quốc gia thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai 4 thành phố Hà Nội
Vị trí địa lý đã mang lại cho Vĩnh Phúc những thuận lợi nhất định trong phát triển kinh tế xã hội: Hiện nay Vĩnh Phúc nằm trong 3 vùng quy hoạch: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ
Đô Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số: 20/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vỉnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Như vậy, trong tương lai Vĩnh Phúc sẽ
Trang 16trở thành trung tâm kinh tế lớn của vùng Thủ đô Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã và đang được đầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan
hệ toàn diện của Vĩnh Phúc với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế
*Địa hình:
Là một tỉnh trung du miền núi với dãy núi Tam Đảo ở phía Đông Bắc
và sông Hồng, sông Lô ở phía Tây Nam nên địa hình tỉnh Vĩnh Phúc thấp dần theo chiều từ Đông Bắc tới Tây Nam Điều kiện địa hình này đã tạo nên cho Vĩnh Phúc ba loại địa hình khác nhau: Địa hình miền núi, địa hình vùng đồi
và địa hình vùng đồng bằng
Địa hình miền núi: Theo nguồn gốc hình thành và độ cao, địa hình miền núi chia làm 3 loại là địa hình núi cao, địa hình núi thấp và địa hình núi sót Một số xã ở vùng cao do địa hình phức tạp nên giao thông nông thôn và
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều khó khăn Trong tương lai vùng này được ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho sản xuất phát triển
Địa hình vùng đồi: Với độ cao từ 20 - 200m, với các dạng đồi xâm thực bóc mòn, đồi tích tụ, đồi tích tụ bóc mòn.Vùng đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Tam Đảo, Lập Thạch Vùng này quỹ đất tương đối lớn, nhiều đất trống đồi trọc, có thể phát triển cây ăn quả nhiệt đới, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc
Địa hình đồng bằng: Gồm 3 dạng là đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi, các thung lũng và bãi bồi sông Chiếm 40% diện tích toàn tỉnh, gồm các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Dương, thành phố Vĩnh Yên Vùng này có bề mặt tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển cây lúa nước, trồng rau màu, cây vụ đông và chăn nuôi gia súc
Trang 17*Khí hậu:
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa ở Vĩnh Phúc vào loại trung bình (1500 - 2000 mm), tập trung vào các tháng 6, 7 và 8 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24°C Độ ẩm trung bình 84 - 89% Số giờ nắng 1340 - 1800 giờ/năm Vĩnh Phúc có tiểu vùng khí hậu Tam Đảo là nơi mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm khoảng 18°C, đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và thực tế đã là trung tâm du lịch của tỉnh Tỉnh lại nằm sâu trong đất liền, không giáp biển nên không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các trận bão
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của Vĩnh Phúc khá thuận lợi về mọi mặt cho phát triển nông nghiệp đây là cơ sở cho sự đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, phát huy lợi thế so sánh của các yếu tố sinh thái của tỉnh Tuy vậy vào mùa mưa với lượng nước tập trung lớn, mực nước các sông trong vùng dâng cao, ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp các huyện dọc sông Lô và sông Hồng
ha, chiếm 37,10% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh; tiếp theo là nhóm đất phù
sa với 32.638 ha, chiếm 26,50%; nhóm đất bạc màu với 21.927 ha, chiếm 17,80% Các nhóm đất còn lại chỉ chiếm 5,40% diện tích tự nhiên toàn tỉnh” [32; tr.7 - 8]
Có thể thấy, đất đai Vĩnh Phúc khá đa dạng về chủng loại mặc dù hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất ở mức nghèo đến trung bình nhưng đất
Trang 18có thành phần cơ giới nhẹ là chủ yếu nên thuận lợi cho canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau như: Cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây rau quả, cây dược liệu, cây ăn quả
*Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước mặt: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều con sông chảy qua, song chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào 2 con sông chính là sông Hồng
và sông Lô Sông Hồng chảy qua Vĩnh Phúc với chiều dài khoảng 50 km, mang theo lượng phù sa màu mỡ cho đất đai, song vào mùa lũ nước từ thượng nguồn đổ về cùng với lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa gây ra ngập lụt ở các huyện ven sông như Vĩnh Tường và Yên Lạc
Sông Lô chảy qua tỉnh Vĩnh Phúc với chiều dài khoảng 35 km, lòng sông hẹp, nhiều thác ghềnh nên thuỷ chế của sông Lô vào mùa lũ rất thất thường Các hệ thống sông nhỏ khác như sông Phan, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ
có mức tác động thuỷ văn rất nhỏ so với sông Hồng và Sông Lô nhưng chúng
có ý nghĩa quan trọng về mặt thuỷ lợi, cung cấp nước sản xuất cho địa bàn tỉnh Hệ thống các sông này kết hợp với các tuyến kênh Liễn Sơn, Bến Tre… cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và tiêu úng về mùa mưa
Trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống các hồ chứa với dung tích hàng triệu m3 (Đại Lải, Đầm Vạc, Vân Trục,…) tạo nên nguồn dự trữ nước mặt phong phú đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh tế và dân sinh
Tài nguyên nước ngầm: Trên địa bàn tỉnh nguồn này có trữ lượng không lớn, đạt khoảng 1 triệu m3/ngày đêm Hiện nay, nguồn nước này đang được khai thác ở thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên với công suất 28.000m3/ngày đêm phục vụ cho nhu cầu dân sinh nhưng đòi hỏi phải xử lý khá tốn kém Tại một số vùng nông thôn, nhân dân khai thác nước ngầm từ các giếng khoan nhỏ (với lưu lượng khoảng 15.000m3/ngày đêm) nhưng chất lượng hạn chế
Trang 19Với các nguồn nước trên địa bàn tỉnh khá phong phú song phân bố không đều theo không gian và thời gian, do vậy vào mùa khô vẫn có nơi, có thời điểm bị thiếu nước đặc biệt ở các huyện vùng núi và trung du như Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên Để khai thác hiệu quả các nguồn nước cho phát triển kinh tế và dân sinh, cần quan tâm xây dựng các công trình điều tiết nước mặt và khai thác hợp lý nguồn nước ngầm
*Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản Vĩnh Phúc chia làm các nhóm sau: Khoáng sản nhiên liệu như than Antraxit ở Tam Đảo (1000 tấn); than nâu ở Sông Lô khoảng vài ngàn tấn; than bùn ở Lập Thạch và Tam Dương trữ lượng khoảng 693 nghìn tấn, đã được khai thác làm phân bón Nhóm khoáng sản kim loại như đồng, sắt, thiếc Nhìn chung nhóm khoáng sản này nghèo và chưa được nghiên cứu
kỹ lưỡng nên ít có ý nghĩa cho phát triển kinh tế của tỉnh Nhóm khoáng sản phi kim loại, chủ yếu là cao lanh trữ lượng khoảng 4 triệu tấn Nhóm vật liệu xây dựng như sét gạch ngói trữ lượng khoảng 52 triệu m3, đã xây dựng và đá
ốp lát khoảng 307 triệu m3, đá ong trữ lượng 49 triệu m3 Nhìn chung, Vĩnh Phúc là tỉnh ở vị trí chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản Khoáng sản có giá trị trên địa bàn chỉ có một số như cao lanh, than bùn song trữ lượng không lớn và điều kiện khai thác hạn chế
*Tài nguyên du lịch:
Du lịch tự nhiên : Vườn quốc gia Tam Đảo có phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, với nhiều loại động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống đầm hồ phong phú cảnh quan đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như Đại Lải, Vân Trục, Đầm Vạc,…
Du lịch nhân văn: Cũng đóng vai trò khá quan trọng trong phát triển du lịch nói riêng và kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung Với hàng trăm di tích
Trang 20lịch sử văn hoá trong đó nhiều di tích được xếp hạng cấp quốc gia như cụm di tích Tây Thiên, cụm đình Hương Canh… và các điểm du lịch lễ hội, ẩm thực
*Tài nguyên sinh vật:
Tập đoàn cây trồng nông nghiệp: Theo kết quả điều tra, trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc có một tập đoàn cây trồng khá phong phú có nguồn gốc từ nhiệt đới đến á nhiệt đới và ôn đới Các cây trồng nhiệt đới gồm: Lúa, ngô, đậu tương, chuối, na… Các cây trồng á nhiệt đới như: Chè, cam, quýt, bưởi
Các cây trồng ôn đới gồm: Khoai tây, rau bắp cải, su su, cây dược liệu…
* Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên đối với phát triển nông nghiệp của Vĩnh Phúc:
Thuận lợi:
- Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân, là cầu nối của các tỉnh phía Bắc với Hà Nội nên thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng
- Vĩnh Phúc nằm trong 3 vùng quy hoạch: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ Đô Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 20/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Trong tương lai Vĩnh Phúc sẽ trở thành trung tâm kinh tế lớn của vùng Thủ đô
- Điều kiện địa hình, đất đai bao gồm cả vùng đồng bằng, trung du và đồi núi thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong sản xuất nông nghiệp tạo cho Vĩnh Phúc phát triển thế mạnh cả về trồng trọt và chăn nuôi
- Tài nguyên nước mặt dồi dào bao gồm các sông lớn và hồ chứa nhân tạo dự trữ đáng kể phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Trang 21Hạn chế:
- Sản xuất nông nghiệp do mang nặng tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, tính rủi ro cao, hiệu quả kinh tế thấp nên khó thu hút các nhà đầu
tư vào nông nghiệp hơn các ngành sản xuất khác
- Diện tích đất canh tác manh mún, bình quân đất sản xuất nông nghiệp 0,25 - 0,3ha/hộ là trở ngại lớn cho việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, đặc biệt là khu vực trung du, đồi núi
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế Vĩnh Phúc trong những năm vừa qua liên tục tăng trưởng
“Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 1991 - 1995 là 7,35%, từ 1995 - 1996
là 8,3%, từ 1996 - 1997 là 19,5% Tính theo giá cố định năm 1994 thì tổng GDP năm 1997 đạt 1.760,4 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 1.607,5 ngàn đồng” [31; tr.5]
Hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc và hệ thống ngân hàng đang trong quá trình nâng cấp và hiện đại hóa nhưng đã đáp ứng tốt yêu cầu của sự phát triển của tỉnh, nhất là yêu cầu phát triển của nông nghiệp
Quốc lộ 2A nối liền từ Thủ đô Hà Nội đến tỉnh Hà Giang, đi qua huyện Bình Xuyên, thành phố Vĩnh Yên, huyện Tam Dương và huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc
Quốc lộ 2B nối liền thành phố Vĩnh Yên đến khu nghỉ mát Tam Đảo,
có chiều dài 25 km
Trang 22Quốc lộ 2C nối liền từ huyện Vĩnh Tường đến tỉnh Tuyên Quang, đoạn chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc có chiều dài 48 km, đi qua huyện Tam Dương, huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô
Quốc lộ 23 nối từ đầu phía Bắc cầu Thăng Long thuộc địa phận huyện Đông Anh (Hà Nội), đi qua huyện Mê Linh (Hà Nội) đến điểm giao nhau với quốc lộ số 2 tại thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc)
Trong đó quốc lộ số 2 là tuyến quan trọng, xuyên suốt từ các tỉnh phía Bắc chạy dọc theo chiều dài của tỉnh về thủ đô Hà Nội và nối liền với các tỉnh phía Nam Từ quốc lộ 2 có thể nối với các quốc lộ 1 và quốc lộ 3 đi các tỉnh phía Nam và Việt Bắc Nối với quốc lộ số 5 ra cảng Hải Phòng (thành phố Hải Phòng) và quốc lộ 18 ra cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh) và hòa nhập vào mạng lưới giao thông của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh quốc lộ 2 đang được từng bước nâng cấp, mở rộng thành 4 làn xe cơ giới đạt tiêu chuẩn cấp II Riêng quốc lộ 2C đã được nhà nước quy hoạch là trục đường từ Sơn Tây đi tỉnh Tuyên Quang, phần chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc có chiều dài 48 km sẽ được nâng cấp đạt tiêu chuẩn tương đương cấp IV
Hiện nay một tuyến đường cao tốc mới từ sân bay Quốc tế Nội Bài đi đến tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc đang được chính phủ xây dựng, đây là tuyến đường đi thẳng tới cảng nước sâu Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa đến mọi đất nước, đến các sân bay, bến cảng thế giới Nối liền tỉnh Vĩnh Phúc với bạn bè trong
Trang 23vùng quy hoạch khu công nghiệp tỉnh sẵn sàng gọi vốn đầu tư của nước ngoài nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa bằng Container
- Đường sắt: Tỉnh Vĩnh Phúc có tuyến đường sắt liên vận từ Thủ đô Hà Nội đến tỉnh Lào Cai và tới tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua tỉnh với 6 ga, trong đó ga Phúc Yên và ga Vĩnh Yên là hai ga chính Đây là tuyến giao thông quan trọng trong vận tải hàng hóa, hành khách đi qua tỉnh Vĩnh Phúc và được tiếp nối với các tuyến đường sắt ra cảng Hải Phòng, đi Việt Bắc, vào miền Trung và Nam Bộ
- Đường sông: Tỉnh Vĩnh Phúc có các sông lớn chảy qua như: Sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy với các cảng sông Chu Phan, Vĩnh Thịnh trên sông Hồng và cảng Như Thụy (trên sông Lô) Đảm bảo được các phương tiện vận tải vận chuyển dưới 30 tấn Có thể vận chuyển nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa thiết bị, máy móc từ cảng biển Hải Phòng (thành phố Hải Phòng) và tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Vĩnh Phúc thuận lợi
- Đường hàng không: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa có sân bay nào Nhưng tỉnh Vĩnh Phúc chỉ cách sân bay Quốc tế Nội Bài (thành phố Hà Nội), khoảng 30 km Sân bay này đang được nâng cấp và mở rộng lên quy mô 4 triệu hành khách/năm và 90.000 tấn hàng hóa năm Do vậy việc vận chuyển,
đi lại rất thuận tiện đến các nơi trên thế giới và trong nước
Tỉnh Vĩnh Phúc vừa sát với Thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, tỉnh lại có một hệ thống giao thông đủ loại và khá thuận lợi cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
*Mạng lưới điện:
Tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh sớm có lưới điện quốc gia Ngay từ năm
1997, mạng lưới điện 220 KV từ nhà máy thủy điện Hòa Bình qua tỉnh Vĩnh Phúc đến huyện Sóc Sơn (Hà Nội) đã được xây dựng Mạng lưới này đã
Trang 24tạo ra khả năng tăng cường công suốt nguồn cung cấp cho các phụ tải có nhu
cầu lớn và thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc đang không ngừng đầu tư phát triển mạng lưới điện Hiện tại tỉnh có 6 trạm 110 KV với tổng dung lượng 375 MVA và 1 trạm
220 KV tại Hương Canh để nâng cấp cho riêng trạm biến áp 110 KV Thiện
Kế Tiêu biểu là các trạm sau đây:
- Trạm 110 KV Vĩnh Yên có công suất 103 MVA gồm 1 máy 63 MVA
và 1 máy 40 MVA
- Trạm 110 KV Vĩnh Tường có công suốt 50 MVA với 2 máy 25 MVA
- Trạm 110 KV Lập Thạch có công suất 32 MVA với 2 máy 16 MVA Vĩnh Phúc là tỉnh có mạng lưới điện năng phát triển, đáp ứng mọi nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có phát triển nông nghiệp
* Mạng lưới bưu chính viễn thông:
Hòa nhịp với chiến lược tăng tốc của tỉnh Vĩnh Phúc, ngành bưu chính viễn thông tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo lập được mạng thông tin phủ khắp các xã trong tỉnh Hiện có 14 tổng đài dung lượng từ 128 đến 2048 số Năm 2009,
137 xã, phường, thị trấn của tỉnh đều có bưu điện, số máy điện thoại trung bình là 66,89 chiếc trên 100 dân Không những thế, tỉnh còn đảm bảo thông tin liên lạc trong nước và quốc tế nhanh chóng và chất lượng cao với hàng trăm tuyến cáp với chiều dài hàng nghìn km Tỉnh đang tập trung nâng cấp đường truyền mạng Internet tốc độ cao đến từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tới các xã, phường, thị trấn trong tỉnh
* Hệ thống cấp nước:
Hiện nay tỉnh Vĩnh Phúc có hai nhà máy nước lớn, xây dựng bằng nguồn vốn ODA của chính phủ Đan Mạch và chính phủ Italia là: Nhà máy
nước Vĩnh Yên và nhà máy nước khu vực Phúc Yên và Bình Xuyên
Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng dự trữ nước mặt trên 10 tỷ m3 Các con sông chảy qua: Sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ không
Trang 25chỉ có ý nghĩa lớn về giao thông mà còn có giá trị về thủy lợi Điều đó giúp tỉnh Vĩnh Phúc luôn đảm bảo nước cho nhu cầu hiện nay và cả mai sau cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của mình
1.1.3 Điều kiện xã hội
Theo kết quả điều tra dân số : “Ngày 01 - 04 - 2009, tỉnh Vĩnh Phúc có 1.000.838 người Trong đó có 629 nghìn người trong độ tuổi lao động, chiếm 62,85% dân số, đây chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa phổ thông trở lên, có thể đào tạo nhanh thành công nhân kỹ thuật” [24; tr.4]
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 96,5% Ngoài ra tỉnh còn có 30 dân tộc thiểu số gồm: “Tày, Thái, Hoa, Khơme, Mường, Nùng, H’Mông, Dao, Ngái, Sán Chay, Sán Dìu, Hà Nhì, La Chỉ, Phù Lá, Lô Lô, Pú Péo, Ê Đê, Xu Đăng, Chăm, Gia Rai, Bru, Vân Kiều, Thổ, Giáy, Cơ Ho, M’Nông, Ba Na, Khơ Mú, Tà Ôi, Mang” [15; tr 99]
Ngày nay, tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 20 trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của trung ương và địa phương, quy mô đào tạo hơn 20.000 học sinh, hàng năm có hơn 10.000 học sinh tốt nghiệp Đây là nguồn nhân lực trẻ có kiến thức văn hóa, kỹ thuật, đủ đáp ứng nhu cầu
về lao động của tỉnh trong mọi thành phần kinh tế
1.2 TÌNH HÌNH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997
1.2.1 Thời kỳ tỉnh Vĩnh Phúc chưa sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú (1950 - 1968)
Sau khi tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập (2 - 1950) đã cùng với cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân trong tỉnh vừa sản xuất vừa chiến đấu, đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến Về kinh tế, để khắc phục khó khăn về lương thực giảm sút do tình hình chiến sự ngày càng lan rộng và ác liệt trên địa bàn tỉnh, tháng 7 - 1950, Tỉnh ủy đã mở cuộc vận động tăng gia sản xuất cứu đói rộng rãi trong quần chúng nhân dân, động viên
Trang 26các cấp, các ngành thực hiện tự cung, tự cấp Để tạo điều kiện cho nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, trong năm 1950 quỹ tín dụng của tỉnh đã cho dân nghèo vay 753.000 đồng mua sắm nông cụ và sức kéo Đồng thời, tỉnh còn đưa nhiều giống lúa, trâu bò vào vùng tạm chiếm và các vùng bị thiên tai ven sông Đáy, sông Lô để phục hồi sản xuất, các hệ thống nông giang và đập nước ở Liễn Sơn, Đồng Quế, Tam Sơn, Ngọc Liễn (Lập Thạch) được tu sửa lại để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất
Năm 1951, toàn tỉnh đã thi hành chính sách giảm tô, chia cấp cho nông dân nghèo Cùng với việc cấp ruộng đất, chính quyền còn cung cấp vốn, giống, trâu bò, nông cụ cho nông dân nghèo sản xuất Từ giữa năm 1951, khi
thực dân Pháp lập vành đai trắng từ Lập Thạch đến Đa Phúc, chính quyền địa
phương đã cho nhân dân lấn vành đai trở về quê cũ, tiến hành sản xuất, đấu tranh với địch “Tính chung trong 4 năm (1950 - 1953), Vĩnh Phúc (chưa có
số liệu của huyện Lập Thạch và Tam Dương) đã tạm cấp, tạm giao 39.125 mẫu ruộng cho 18.534 gia đình gồm 67.335 nhân khẩu” [2; tr.233]
Đến giữa tháng 10 - 1955, công cuộc cải cách ruộng đất trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành, mặc dù trong cải cách có nhiều gay go phức tạp, địch ra sức phá hoại bằng mọi cách, nhưng ta vẫn thu được thắng lợi “Kết thúc cải cách ruộng đất, toàn tỉnh đã tịch thu, trưng thu, trưng mua 22.055 ha ruộng đất; 13.125 con trâu bò; 5.838 căn nhà các loại; 71.055 nông cụ và 634 tấn lương thực Số ruộng đất đã thu được chia cho 40.883 hộ nông dân lao động” [2; tr.266]
“Năm 1959, sản xuất nông nghiệp của tỉnh được mùa lớn, tổng sản lượng lương thực đạt 229.974 tấn, trong đó đạt 200.749 tấn thóc Chăn nuôi của tỉnh bước đầu phát triển, giá trị chăn nuôi năm 1960 so với năm 1957 bằng 123,53%, tốc độ tăng bình quân thời kỳ cải tạo là 7,3%” [2; tr.285] Tính
Trang 27đến năm 1960, công cuộc xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể đã cơ bản hoàn thành trên địa bàn Vĩnh Phúc
Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần II năm 1961 đã cụ thể hoá phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn mới như sau: Ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, đồng thời phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp, tăng cường thương nghiệp hợp tác xã; hoàn thành công cuộc cải cách xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh Phấn đấu đưa một số hợp tác xã đủ điều kiện lên bậc cao
Về sản xuất nông nghiệp, “Trong 2 năm 1961 - 1962, bình quân tăng hàng năm là 7,3% giá trị sản lượng Đi sâu từng ngành tăng bình quân hàng năm: Trồng trọt 10,5%; chăn nuôi 4%; lâm nghiệp 25,8%; riêng cây lương thực cả ba chỉ tiêu là diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng đáng kể Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc năm 1962 tăng hơn năm 1960 là 33.780 tấn” [2; tr.301] Bên cạnh đó, công tác khai hoang, phục hoá cũng được tỉnh đẩy mạnh, tính đến năm 1965 đã khai hoang được 59.732 mẫu, nâng diện tích bình quân toàn tỉnh lên 4 sào/1 người
Năm 1963, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh dẫn đầu toàn miền Bắc
về sản xuất lương thực, trồng cây, làm thuỷ lợi và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp Năm 1964 tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt 256.740 tấn,
vượt kế hoạch 4,39%, là năm có tổng sản lượng cao nhất kể từ khi hoà bình lập
lại Vĩnh Phúc là địa phương dẫn đầu toàn miền Bắc về năng suất lúa với 4.352 kg/ha Nhiều hợp tác xă có năng suất bình quân trên 6000 kg/ha
Từ năm 1965, nhân dân Vĩnh Phúc và nhân dân miền Bắc lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Phát triển kinh tế trong điều kiện chiến tranh là yêu cầu rất quan trọng đặt ra lúc bấy giờ Năm
1966, “Khoán hộ” của Vĩnh Phúc ra đời đã tạo ra một động lực mới, làm cho
Trang 28người lao động gắn bó chặt chẽ hơn với sản phẩm làm ra Chính sách khoán trong nông nghiệp - một hướng đi mới được triển khai đã mở lối cho nông nghiệp Vĩnh Phúc phát triển Nhờ đó, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng sản xuất vẫn được duy trì và giành nhiều kết quả khả quan, nhiều huyện và xã đạt năng suất trên 5 tấn/ha, một số hợp tác xã đạt trên 7 tấn/ha Tổng kết năm 1967, toàn tỉnh có 75% số hợp tác xã thực hiện “Khoán hộ” và
đã thu được thắng lợi đáng kể: Tổng sản lượng qui thóc năm 1967 đạt 222.000 tấn tăng 4.000 tấn so với năm 1966
1.2.2 Thời kỳ tỉnh Vĩnh Phúc sáp nhập với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú (1968 - 1996)
1.2.2.1 Thời kỳ 1968 - 1975
Ngày 26 - 1 - 1968, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH về hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú Trong thời kỳ hợp nhất hai tỉnh, sản xuất gặp không ít khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tai tỉnh đã chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp, đẩy mạnh xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc cao Đến đầu năm 1971, toàn tỉnh đã có 1.064 hợp tác xã bậc cao, thu hút 98% hộ nông dân vào hợp tác xã
“Năm 1973, sản xuất nông nghiệp so với 1970 bị sút kém cả về diện tích và sản lượng, hơn 8.000 ha bị ngập, lương thực quy thóc đạt 36 vạn tấn, thấp hơn
kế hoạch 9 vạn tấn, cây công nghiệp đạt 89% kế hoạch, đàn trâu bò đạt 98%
kế hoạch” [2; tr 431]
Giai đoạn 1973 - 1975, khi Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhân dân Vĩnh Phú bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất trong điều kiện hết sức khó khăn Tỉnh đã tập trung chỉ đạo củng cố hợp tác xã nông nghiệp ở 2 khu vực đồng bằng và trung du nhằm mở rộng và tăng nhanh diện tích gieo trồng, nâng cao năng suất và sản
Trang 29lượng, đẩy mạnh thâm canh, phát triển chăn nuôi, hình thành các vùng chuyên canh theo quy hoạch như lúa, chè, thuốc lá, rau màu,…
1.2.2.2 Thời kỳ 1976 - 1996
Đây là giai đoạn nhân dân Vĩnh Phú bắt tay vào xây dựng quê hương trong điều kiện mới Tuy nhiên, hậu quả sau chiến tranh, cộng với thiên tai địch hoạ và sự thiếu thốn về vật tư, nguyên liệu đã gây không ít khó khăn, cản trở cho việc phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất Cùng đó cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là một trong những lực cản lớn khi bắt tay vào xây dựng cơ
sở vật chất cho sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Trong những năm 1976 - 1980, Vĩnh Phú tiến hành thực hiện kế hoạch
5 năm, tập trung đầu tư phát triển nông - lâm nghiệp, ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Trong điều kiện lương thực khó khăn, Tỉnh uỷ
đã ra Nghị quyết “Về nhiệm vụ phát triển nông nghiệp trong ba năm (1978 - 1980) của tỉnh Vĩnh Phú”, trong đó đề ra nhiệm vụ hàng đầu là phát triển sản
xuất nông nghiệp, giải quyết cho được vấn đề lương thực, thực phẩm và tạo được sự chuyển biến cơ bản trong nền nông nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Nhờ đó, sản xuất nông đã có những chuyển biến quan trọng: “Sản lượng lương thực quy thóc trung bình hàng năm đạt 340.000 tấn Các loại cây công nghiệp chè, sơn, dứa; cây hoa màu ngô, khoai, sắn
được chú trọng và đầu tư phát triển Một số vùng sản xuất tập trung được hình
thành như vùng lúa Vĩnh Tường, vùng dứa Tam Đảo” [2; tr.463]
Trong 5 năm, tỉnh đã tập trung 35% tổng số vốn đầu tư cho nông nghiệp vào công tác thuỷ lợi, huy động hàng vạn ngày công để làm mới và củng cố hàng trăm công trình thuỷ lợi lớn nhỏ, chủ động tưới tiêu cho trên 70% diện tích canh tác Hệ thống xí nghiệp và các xưởng cơ khí hoạt động có hiệu quả, bình quân mỗi hợp tác xã có 5 máy động lực Công tác cơ khí phục
Trang 30vụ sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh Các trạm máy kéo phục vụ nông nghiệp mỗi năm cày bừa từ 30 đến 60 nghìn ha
Năm 1981 Ban Bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị số 100-CT/TW “Về cải tiến công tác khoán mở rộng khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã” Năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý trong nông nghiệp” Nghị quyết 10 xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản, hộ xã viên là đơn vị nhận khoán với hợp tác xã “Khoán 100” và “Khoán 10” đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của nông dân Vĩnh Phú Từ 1981 - 1983 sản xuất nông nghiệp
có bước chuyển biến khá hơn, kinh tế gia đình được chăm lo, đời sống nhân dân đỡ khó khăn Từ 1986 trở đi, vận dụng đường lối đổi mới toàn diện và những chính sách khuyến khích của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của tỉnh, sản xuất nông nghiệp đã phát triển khá toàn diện, nhất là lương thực Sản lượng thóc bình quân tăng 11% so với 5 năm trước Riêng năm 1989 được mùa, đạt sản lượng lương thực ở đỉnh cao mới Đặc biệt thời kỳ 1991 -
1996, Vĩnh Phú tiếp tục đạt được những thành tựu rất đáng tự hào
Nhịp độ tăng GDP bình quân 7,2% trong đó giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 5,2% là một tốc độ khá nhanh và đã cơ bản giải quyết được vấn đề lương thực, khắc phục được nạn đói giáp hạt, có thêm điều kiện phát triển chăn nuôi và có phần lương thực hàng hóa Những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phú bắt nguồn từ một cuộc chuyển dịch, chuyển đổi to lớn từ một nền nông nghiệp quảng canh, năng suất thấp,
tự cấp tự túc sang một nền nông nghiệp toàn diện, thâm canh năng suất cao và sản xuất hàng hóa Về trồng trọt, sự chuyển đổi lớn nhất, đem lại hiệu quả cao nhất là quá trình đổi mới cơ cấu mùa vụ, đổi mới cơ cấu cây trồng, đổi mới cơ cấu giống và đi theo là đổi mới kỹ thuật canh tác theo hướng tăng diện tích
Trang 31bằng tăng vụ, thâm canh tăng năng suất, thu được hiệu quả kinh tế ngày càng cao trên đơn vị diện tích
“Những bước ngoặt quyết định trong sản xuất lương thực là chuyển từ
vụ lúa chiêm bấp bênh, năng suất thấp sang vụ lúa xuân cho năng suất cao và
ổn định hơn trong thập kỷ 70 Và bắt đầu từ 1988 chuyển đổi từ vụ lúa xuân sớm, xuân chính vụ sang lúa xuân muộn, an toàn hơn và năng suất cao hơn Bước ngoặt thứ hai là sự ra đời vụ đông, trong đó cây ngô đông trên đất 2 vụ lúa đã là một chìa khóa vàng, một khâu đột phá để giải quyết vấn đề lương thực cho Vĩnh Phú và cả vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ mà đi tiên phong là
hợp tác xã Hợp Thịnh (Tam Dương) Bước ngoặt thứ ba là sau “Khoán 10”,
hộ đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, người lao động làm chủ sản xuất nên đã tạo ra một xung lực mới đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện, tạo tốc độ nhanh và ngày càng hiệu quả” [18; tr.118 - 120]
Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), cùng với sự chuyển mình của
đất nước, Vĩnh Phú đã có nhiều thay đổi quan trọng Quán triệt các chủ
trương của Đại hội lần thứ VI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VI đã xác định những nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch 5
năm 1986 - 1990 là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp,
trong đó tập trung cho sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Với quan điểm coi sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu, sản xuất lương thực là mục tiêu số một, các địa phương trong tỉnh đã tích cực áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình thâm canh, nâng cao năng suất lao động, sử dụng các loại giống cây trồng có năng suất cao, đồng thời tăng cường các biện pháp kỹ thuật, từng bước chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, mở rộng
sản xuất vụ đông Do gắn lao động với đất đai thông qua cơ chế khoán sản
phẩm, nông dân đã đầu tư vốn, sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất
Trang 32Vì vậy, đã có tới 70% diện tích cấy giống lúa mới cho năng suất cao, gần 50% diện tích lúa chiêm xuân đã được sử dụng làm vụ đông, 30% diện tích đất canh tác đã được gieo trồng 3 vụ Nhờ đó sản lượng lương thực đã tăng thêm từ 3 - 4 vạn tấn mỗi năm, đảm bảo được nhu cầu lương thực cho người chăn nuôi Đây cũng là thời kỳ kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển Nhiều hộ gia đình đã cải tạo vườn tạp, trồng các loại cây ăn quả có năng suất
và hiệu quả kinh tế như nhãn, vải, hồng, xoài, na… Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng có những chuyển biến quan trọng Nhờ cơ chế “Khoán 10”, đàn trâu bò tăng nhanh Trong các năm 1988 - 1989, đàn trâu bò có khoảng trên
68.000 con đã tăng lên 77.000 con (1993) Đàn lợn cũng tăng lên đáng kể từ
trên 18.000 con (1989) lên trên 281.000 con (1993) Trong những năm đầu thực hiện đổi mới, Vĩnh Phú đã phát triển nhanh, theo hướng chuyển đổi vật nuôi, thích nghi với cơ chế thị trường, góp phần tạo công ăn việc làm, mang lại nguồn thu nhập cao cho người lao động
Trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới, quá trình xây dựng cơ sở hạ
tầng diễn ra với tốc độ nhanh Phần lớn các công trình công cộng, kiên cố của các địa phương trong toàn tỉnh như thuỷ lợi, trường học, trạm điện, đường giao thông được xây dựng trong thời kỳ này Với vị trí địa lý và các điều kiện
tự nhiên thuận lợi, Vĩnh Phú có tiềm năng lớn để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển toàn diện, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch
vụ, đồng thời mở rộng giao lưu văn hoá - xã hội trong và ngoài nước Tuy vậy, sau 10 năm đổi mới, Vĩnh Phú vẫn là tỉnh nghèo, với xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung của cả nước Kinh tế hàng hoá phát triển chậm Sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ yếu, chiếm 52.5% giá trị GDP toàn tỉnh, 90% dân số vẫn sống tập trung ở nông thôn
Trang 33Tiểu kết chương 1
Là một trong những trung tâm sinh tụ của người Việt cổ cách đây vài ngàn năm về trước, nay lại nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vĩnh Phúc là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng và lợi thế cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, lại có truyền thống lịch sử lâu đời và hào hùng Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nhân dân trong tỉnh luôn có lòng tin sắc son vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, phấn đấu xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh và phồn vinh hơn Truyền thống lịch sử đó không những thể hiện trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn thể hiện trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta Tỉnh Vĩnh Phúc không giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, có nguồn lao động dồi dào, có hệ thống giao thông và cơ sở vật chất khá phát triển… điều này tạo thuận lợi cho tỉnh phát triển kinh tế phát triển, thuận lợi trong hoạch định các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển nông nghiệp nhằm đưa nông nghiệp chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa, tạo nền tảng vững chắc cho những bước phát triển tiếp theo của tỉnh Vĩnh Phúc, đưa Vĩnh Phúc sớm trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2020
Trang 34Chương 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2011
2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC SAU KHI TÁI LẬP TỈNH
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về nông nghiệp
Ngày 6 - 1 - 1996, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Trong đó, tỉnh Vĩnh Phú được tách thành hai tỉnh là Phú Thọ và Vĩnh Phúc Sau 29 năm hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 - 1 - 1997 Những thành tựu của đất nước và của tỉnh sau 10 năm đổi mới là cơ sở động lực để nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Vĩnh Phúc nói riêng thêm vững tin bước tiếp trên con đường mới Bên cạnh những thuận lợi, sau khi tái lập, tỉnh Vĩnh Phúc cũng phải đối mặt với những khó khăn, thử thách Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Vĩnh Phúc vẫn là tỉnh nghèo, với xuất phát điểm của nền kinh tế rất thấp Song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, nhân dân trong tỉnh đã có nhiều cố gắng, đạt được những kết quả tương đối toàn diện, nỗ lực phấn đấu đạt và vượt mức hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1997 - 2000, định hướng đến năm 2005
Năm 1997, thấy rõ thực trạng của tỉnh khi mới tái lập, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 - 11 - 1997
đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh những năm 1997 - 2000 là: “Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, nhất là đối với công nghiệp, sớm thoát khỏi tình trạng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định, vững chắc sau năm 2000, thu hẹp khoảng
Trang 35cách so với bình quân chung của cả nước Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ” [2; tr.565]
Đại hội nhất trí đề ra chỉ tiêu về nông nghiệp chủ yếu phấn đấu trong 4 năm 1997 - 2000 là: “Nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm 18 - 20%/năm, giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp tăng bình quân 4,5 - 5%/năm Tổng sản lượng lương thực quy thóc bình quân 35 vạn tấn/năm, đến năm 2000 đạt 37-
38 vạn tấn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
và xây dựng, giảm tỷ trọng nông nghiệp - lâm nghiệp Cụ thể giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong GDP từ 48,27% năm 1996 xuống còn 25% năm 2000; tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng từ 13,98% năm 1996 lên 44% năm 2000; giảm tỷ trọng dịch vụ từ 37,75% năm 1996 xuống còn 31% năm 2000” [2; tr.566]
Đại hội đề ra các phương hướng cụ thể cho ngành nông nghiệp như sau: Phát triển nông theo hướng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa có khối lượng sản phẩm lớn, đạt chất lượng cao, nhằm đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu Trên cơ sở đảm bảo lương thực, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ tập trung phát triển mạnh các cây, con như các loại rau quả, hoa cao cấp, cây ăn quả và chăn nuôi bò, lợn, gà…
Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát kinh tế nông nghiệp đã được Đại hội đề ra, Tỉnh ủy chỉ đạo chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang cơ cấu công, nông nghiệp và dịch vụ, phát huy tiềm lực của các ngành kinh tế, khai thác tốt thế mạnh của tỉnh.Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo giải quyết tốt vấn đề lương thực, ổn định đời sống nhân dân
Trang 362.1.1.2 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2005, định hướng đến năm 2010
Kết thúc năm 2000, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cùng với cả nước bước sang một thiên niên kỷ mới Đất nước ta đã trải qua 15 năm đổi mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mở ra nhiều cơ hội mới Trong bối cảnh đó, từ ngày 12 đến ngày 15 - 3 - 2001, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII được tổ chức long trọng tại thị xã Vĩnh Yên; Đại hội
đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhiệm kỳ (1997 - 2000) và đề ra mục tiêu tổng quát của tỉnh trong nhiệm kỳ (2001 - 2005) là: “Phát huy và khai thác cao độ tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tận dụng mọi nguồn lực bên trong và ngoài tỉnh, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế theo cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ” [15; tr.146]
Đại hội đã đề ra các mục tiêu cụ thể trong 5 năm 2001 - 2005, đặc biệt là
về nông nghiệp: “Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân hàng năm 4,5 - 5%; sản lượng lương thực bình quân đạt 40 vạn tấn/năm; cơ cấu kinh tế đến năm 2005 bao gồm: Công nghiệp và xây dựng đạt 46%, nông - lâm nghiệp đạt 24,5%, du lịch - dịch vụ đạt 29,5% Đại hội đề ra nhiệm vụ trong nông nghiệp đó là phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng” [2; tr.590 - 591]
Để thực hiện phương hướng, mục tiêu và những nhiệm vụ chủ yếu mà Đại hội đã đề ra Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của tỉnh đã đề ra 10 chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm của tỉnh, trong đó có 4 chương trình liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế nông nghiệp là: Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn; Chương trình trồng 6.000 ha rừng và bảo
Trang 37vệ rừng hiện có; Chương trình phát triển khoa học, công nghệ và môi trường; Chương trình dân số, việc làm và xóa đói giảm nghèo [15]
Là tỉnh nông nghiệp với đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông, để kinh tế phát triển bền vững và từng bước nâng cao mức sống của đại bộ phận nhân dân, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh
tế nông nghiệp theo hướng tăng cường chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi Ngày 1 - 11 - 2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 10-NQ/TU “Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001 - 2005” Sau khi đánh
giá thực trạng và kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khi tái lập tỉnh đến cuối năm 2001, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, Tỉnh ủy đề ra phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001 - 2005: “Xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới một nền nông nghiệp sạch phát triển bền vững Tập trung sản xuất nông nghiệp theo hướng: Hiện đại hóa, tập trung hóa và chuyên môn hóa, đạt tốc độ tăng trưởng cao trên tất cả các lĩnh vực sản xuất Lấy hiệu quả kinh tế, xã hội là mục tiêu hàng đầu… Chuyển mạnh nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, lấy năng suất cao, chất lượng cao, hiệu quả kinh tế cao và sức cạnh tranh cao làm mục tiêu phấn đấu Trên cơ sở nâng cao năng suất và chuyển dần diện tích cây lương thực sang cây trồng khác, tạo sự phân công lao động mới ở nông thôn” [2; tr.598]
Tỉnh ủy chỉ rõ phương châm phát triển kinh tế nông nghiệp trong
những năm 2001 - 2005 là “sáu tăng, năm giảm”: Tăng hiệu quả kinh tế trên
đơn vị diện tích; tăng năng suất - chất lượng cây trồng, vật nuôi; tăng sản lượng nông sản hàng hóa; tăng kim ngạch xuất khẩu; tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản; tăng thu nhập cho nông dân Giảm dần tỷ trọng cây lương thực; giảm nhanh đất trống, đồi núi trọc; giảm thấp nhất ô nhiễm môi trường; giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh, dịch bệnh; giảm hộ đói nghèo ở nông
Trang 38thôn Trong sản xuất nông nghiệp ưu tiên phát triển sáu loại cây: Lúa, ngô, dâu tằm, rau, hoa, cây ăn quả và ba loại con: Lợn, bò, thủy sản
Đại hội Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ XIII còn lập ra kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2001 - 2005 là:
- Chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, tăng tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn Phát triển nền nông nghiệp thâm canh theo hướng nâng cao giá trị, gắn với thị trường, từng bước tạo khối lượng hàng hóa lớn, có chất lượng cao, bảo đảm đủ lương thực, tiến tới một nền nông nghiệp sạch, sinh thái bền vững
- Ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, đời sống, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phòng trừ sâu bệnh
- Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2001 - 2005 đạt trên 10 Đến năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 40 triệu USD, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là: Công nghiệp - xây dựng đạt 44,8%, nông nghiệp - lâm nghiệp đạt 25,4%, thương mại - dịch vụ đạt 29,8%
Đại hội Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ XIII đã tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chuyển dịch mạnh mẽ hơn nữa nền kinh tế của tỉnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, bên cạnh việc phát triển bền vững nông nghiệp - nông thôn và phát triển dịch vụ - thương mại phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Chủ trương đúng đắn này tạo nên bước phát triển mới cho kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2001 - 2005
2.1.1.3 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020
Sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển tương đối đồng bộ, toàn diện, nhiều
Trang 39lĩnh vực tăng nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực đúng hướng, việc tổ chức thực hiện 10 chương trình kinh tế - xã hội đem lại kết quả cao Trước sự đổi mới nhanh chóng của quê hương, để tiếp tục phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình, từ ngày 6 đến ngày 8 - 12 -
2005, Đại hội đại biểu Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005 -
2010 đã được tổ chức tại thị xã Vĩnh Yên Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020
Tỉnh Vĩnh Phúc vẫn coi phát triển sản xuất nông nghiệp - nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu Tiếp tục xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; Hướng tới một nền nông nghiệp sạch, ứng dụng thành công kỹ thuật tiên tiến về công nghệ sinh học và các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa; Mặt khác cần phát triển nông nghiệp theo hướng tập trung hóa và chuyên môn hóa sản xuất; Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng cây lương thực; Tăng giá trị sản xuất và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, tăng sản lượng nông sản hàng hóa và tăng kim ngạch xuất khẩu Đầu
tư có hiệu quả chương trình kiên cố hóa kênh mương, chương trình cải tạo vùng trũng, phát triển trang trại Tập trung làm tốt công tác khuyến nông, bảo
vệ thực vật, chọn giống Thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa; Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân; Phát triển nông nghiệp gắn với việc giảm tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn và nâng cao đời sống của người dân cả về vật chất lẫn tinh thần
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Chương trình công tác toàn khóa của Tỉnh ủy; để tiếp tục đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
Trang 40nông thôn, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020 với quan điểm:
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là trong điều kiện nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập ngày càng sâu rộng, toàn diện với nền kinh tế thế giới
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất, trong đó chú trọng phát huy tiềm lực con người, tạo môi trường thuận lợi để giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế và tạo điều kiện cho nông dân chủ động đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, xây dựng nông thôn mới nhằm giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nông dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng khó khăn, các xã nghèo Từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nông dân và các thành phần xã hội khác; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn với giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân, phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân với phương châm: Giảm đóng góp, tăng đầu tư, phát triển nông thôn toàn diện Mục tiêu định hướng cụ thể trong phát triển nông nghiệp giai đoạn (2006 - 2010) của tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm một số nội dung chủ yếu sau: