1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011

104 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vĩnh Phúc khi tái lập còn là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm của nền kinh tế ở mức rất thấp, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, thu nhập tính theo đầu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 2 – 3 – 1963, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tỉnh Vĩnh Phúc và nói chuyện với nhân dân tại vườn hoa Vĩnh Yên (nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Vĩnh

Phúc), Người đã dạy rằng: “Phải làm cho Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh

giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nước ta” [22, tr.6] Thực hiện lời dạy của

Người, nhân dân Vĩnh Phúc luôn ra sức thi đua xây dựng quê hương ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn Trong những năm đổi mới, Vĩnh Phúc nhanh chóng trở thành một tỉnh đi đầu trong cả nước trong việc tận dụng và khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; mở rộng hợp tác, giao lưu, hội nhập; thúc đẩy nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao, nhất là trong phát triển Công nghiệp – Thương mại – Dịch vụ

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực

Vĩnh Phúc khi tái lập còn là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm của nền kinh tế ở mức rất thấp, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, thu nhập tính theo đầu người còn thấp xa so với bình quân chung của cả nước, cơ sở vật chất – kỹ thuật yếu kém lại chưa được đầu tư Với chủ trương quyết tâm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nhận thức rõ vị thế của một tỉnh là cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi, giàu tiềm năng về du lịch, nguồn lao động dồi dào, tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế công nghiệp Nhờ có các chủ trương, chính sách đúng đắn trên, Vĩnh phúc từ một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, đã vươn lên trở thành một tỉnh thành có nền kinh tế công nghiệp đứng thứ 7 cả nước

Vấn đề “Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm

từ 1997 đến năm 2011” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không những nó làm

sáng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề hội nhập kinh tế, mà còn phản ánh trực tiếp những mặt tích cực và hạn chế về vấn đề tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh phúc, qua đó nêu lên những đặc điểm

và vai trò về vấn đề này

Trang 2

Với ý nghĩa như vậy, tôi quyết định chọn vấn đề: “Tình hình kinh tế công

nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011”, làm đề tài

cho khóa luận tốt nghiệp đại học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc luôn là một vấn đề thời sự, nên có rất nhiều công trình và bài viết đề cập đến vấn đề này:

Năm 2005, trước sự biến đổi kinh tế – xã hội mau lẹ của tỉnh Vĩnh Phúc sau

8 năm tái lập tỉnh Tiến sỹ Nguyễn Thế Trường cho xuất bản cuốn sách: “Những

biến đổi kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh đến nay (1997 – 2005)”

Cuốn sách đã khái quát sự biến đổi đời sống kinh tế – xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc trong 8 năm sau tái lập tỉnh, đặc biệt là công nghiệp Tuy nhiên cuốn sách vẫn rút ra được những, đặc điểm và vai trò của kinh tế công nghiệp trong chặng đường 8 năm tái lập tỉnh

Năm 2006, cuốn sách: “Vĩnh Phúc đất và người thân thiện”, do Đoàn Mạnh

Phương (chủ biên), do nhà xuất bản Thông tấn và Công ty văn hóa trí tuệ Việt xuất bản Cuốn sách đã phản ánh những vấn đề cơ bản về: địa lý hành chính, các chặng đường vẻ vang trong truyền thống lịch sử, những danh nhân, các di tích lịch sử, những làng nghề truyền thống của tỉnh Vĩnh Phúc Đặc biệt, cuốn sách đã nêu bật được tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh ở giai đoạn 2001 – 2005 Tuy vây, tác phẩm vẫn chưa nêu rõ được các đặc điểm của kinh tế công nghiệp ở giai đoạn này

Năm 2011, Sở Ngoại vụ Vĩnh Phúc đã cho xuất bản cuốn sách: “Vĩnh phúc

đổi mới – kết nối – phát triển” Tác phẩm là bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh

tế, chính trị, văn hóa – xã hội và ngoại giao của tỉnh Vĩnh phúc từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2011 Tác phẩm tuy chưa đi sau nghiên cứu, nhưng đã làm nổi bật được những thành tựu về kinh tế công nghiệp của tỉnh từ khi tái lập tỉnh cho đến năm 2011 Điểm hạn chế của của cuốn sách này là chưa làm rõ được đặc điểm và vai trò của kinh tế công nghiệp đối với kinh tế - xã hội của tỉnh

Hàng năm tỉnh Vĩnh Phúc cho ấn hành cuốn: “Niên giám thống kê” Cuốn

sách là tập hợp các số liệu thống kê mang tính chất thời sự nhất về tình hình kinh tế

Trang 3

– xã hội của tỉnh trong một năm, đồng thời cũng cho ta những số liệu chính xác về tình hình kinh tế công nghiệp qua các năm

Cũng hàng năm, Sở công thương tỉnh Vĩnh Phúc có các báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm và kế hoạch năm kế tiếp, báo cáo về kết quả hoạt động công nghiệp Đó là các bản báo cáo mang tính thời sự, phản ánh rõ kết quả hoạt động công nghiệp của tỉnh Ngoài ra, các bài viết trên báo, tạp chí về kinh tế,

xã hội và những vấn đề liên quan đến kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc như: Tạp chí Vĩnh Phúc, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Công nghiệp Vĩnh Phúc…

đã phần nào lột tả bức tranh sinh động về tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh từ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận dựng lại bức tranh lịch sử một cách đầy đủ, khái quát về “tình

hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh phúc trong những năm 1997 đến năm 2011”,

qua đó làm rõ những nguồn lực, lợi thế, chính sách phát triển công nghiệp, tình hình kinh tế công nghiệp, đặc điểm và tác động của tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh (1 – 1997) đến năm 2011

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nêu rõ nguồn lực, lợi thế của tỉnh Vĩnh Phúc trong phát triển kinh tế công nghiệp

- Chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp

- Kết quả và hạn chế của kinh tế công nghiệp ở Vĩnh Phúc

- Đặc biểm và vai trò của tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc

từ năm 1997 đến năm 2011

Trang 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

Các cuốn sách viết về điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội và kinh tế của tỉnh

Vĩnh Phúc qua các thời kỳ như: Tác phẩm “Địa chí Vĩnh Phúc sơ thảo” của Nguyễn Xuân Lâm xuất bản năm 2000; Tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh xuất bản năm 2005; Tác phẩm “Vĩnh Phúc đất và người thân thiện” của Đoàn Mạnh Phương, xuất bản năm 2006; Tác phẩm “Những biến đổi kinh tế –

xã hội ở Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh đến nay (1997 – 2005)” của Nguyễn Thế

Trường, xuất bản năm 2005…

Các văn bản, nghị quyết, các báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Sở công thương tỉnh Vĩnh Phúc, Sở

kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc về các chính sách phát triển kinh tế, xã hội và tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh phúc từ năm 1997 đến 2011

Các bài viết trên báo, tạp chí về kinh tế, xã hội và những vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc như: Tạp chí Vĩnh Phúc, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Công nghiệp Vĩnh Phúc…

Các niên giám thống kê của tỉnh Vĩnh Phúc (đặc biệt chú ý vào phần có liên quan đến tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc) từ năm 1997 đến hết năm 2011

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu

Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp: Toán học, tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh và phương pháp điền dã để xác minh nội dung, sự kiện lịch sử

Trang 5

5 Đóng góp của khóa luận

Nghiên cứu tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2011 có những đóng góp về cả mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể là:

Khóa luận dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ, có hệ thống về “Tình

hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011”

Khóa luận đánh giá những nét cơ bản về thành tựu, kết quả về vấn đề “tình

hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011” Qua đó khẳng định đường lối mở cửa của Đảng ta nói chung, của tỉnh Vĩnh

Phúc nói riêng là phù hợp, đúng đắn

Khóa luận cũng nêu bật những mặt tích cực và hạn chế về “Tình hình kinh tế

công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011”

Khóa luận cũng rút một số đặc điểm và vai trò của công nghiệp Vĩnh Phúc trong những năm 1997 – 2011

Khóa luận đã khai thác được một nguồn tài liệu địa phương có giá trị, tập hợp các tài liệu đó thành một hệ thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Khái quát tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 1997

Chương 2 Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm năm từ 1997 đến năm 2011

Chương 3 Đặc điểm và vai trò của kinh tế công nghiệp Vĩnh Phúc trong những năm từ 1997 đến năm 2011

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC 1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1.231,76 km² (tính đến này 31 – 12 – 2008) Vĩnh Phúc là tỉnh nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc Việt Nam, nơi tiếp giáp giữa trung du, miền núi Đông Bắc và đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên tỉnh có 3 vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh và vùng núi ở huyện Tam Đảo

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong tọa độ địa lý từ 21°06′ đến 21°35′ vĩ độ Bắc và từ 106°19′ đến 106°48′ kinh độ Đông

+ Điểm cực Bắc tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, nằm trên vỹ tuyến 21°35′ Bắc

+ Điểm cực Nam tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh thành phố Hà Nội, nằm trên vỹ tuyến 21°06′ Bắc

Giữa hai vĩ tuyến theo đường Bắc Nam có chiều rộng 49 km

+ Điểm cực Tây tại xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô, nằm trên kinh tuyến 106°19′ Đông

+ Điểm cực Đông tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, nằm trên kinh tuyến 106°48′ Đông

Giữa hai kinh tuyến, giữa hai chiều Đông Tây có chiều dài 46 km

Vĩnh Phúc phía Bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang (đường ranh giới tự nhiên là dãy núi Tam Đảo, Sáng Sơn), phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ (đường ranh giới tự nhiên là dòng sông Lô), phía Nam giáp Hà Nội (đường ranh giới tự nhiên là dòng sông Hồng) và phía Đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Mê Linh của Thủ đô Hà Nội

Trang 7

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trên vành đai phát triển công nghiệp quanh thủ đô Hà Nội, trên trục quốc lộ 2 và đường sắt Hà Nội – Lào Cai, liền kề với sân bay quốc tế Nội Bài Ở vị trí này, Vĩnh Phúc rất tiện lợi về giao thông với thủ đô Hà Nội và từ

đó có nhiều tuyến giao thông tỏa đi khắp mọi miền của đất nước Vĩnh Phúc lại nằm trên trục giao thông Đông – Tây, có đường sắt vận chuyển hàng qua cảng nước sâu Cái Lân – tỉnh Quảng Ninh đến các tỉnh miền Bắc và các khu công nghiệp Sự phát triển của các trục giao thông này tạo điều kiện cho sản phẩm, hàng hóa của các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc có lối ra biển để tới các nước trên thế giới

Với vị trí địa lý và diện tích đất đai như trên, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, phát triển các loại hình dịch vụ, tiếp cận nhanh với các thành tựu khoa học kỹ thuật và thu hút các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như trong nước

* Địa lý hành chính tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ

Tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ lịch sử đã có nhiều thay đổi về địa giới, trước khi có vị trí, giới hạn và diện tích như ngày nay:

Thời Hùng Vương với tên nước là Văn Lang, tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong địa phận bộ Văn Lang, trên lưu hợp của ba con sông: Sông Thao, Sông Hồng, Sông Lô… Ngày nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những vết tích của nền văn minh đồng thau nổi tiếng, tiêu biểu là di chỉ Đồng Đậu ở xã Minh Tân – huyện Yên Lạc và

di chỉ Lũng Hòa ở xã Lũng Hòa – huyện Vĩnh Tường Những công cụ, vũ khí và đồ trang sức được chế tác một cách tinh xảo bằng đồng thau đã cho thấy trình độ phát triển của lớp cư dân Văn Lang, tổ tiên xa xưa của các thế hệ người Việt ngày nay

Từ năm 111 TCN, nhà Hán xâm chiếm nước ta, chia nước ta làm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Khi đó, dưới quận là huyện, tỉnh Vĩnh Phúc cho tới năm 243 SCN nằm trong huyện Mê Linh

Đến thế kỷ thứ III, Vĩnh Phúc bị xé lẻ và nằm trong 2 huyện Gia Ninh và Mê Linh (thuộc quận Tân Xương) Tới thế kỷ VI (thời nhà Tùy), Vĩnh Phúc lại nằm trong địa phận hai huyện Gia Ninh và Tân Xương… Dưới thời Bắc thuộc, vùng đất này nhiều lần bị tách do chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc

Trang 8

Từ khi nước ta giành được quyền tự chủ cho đến thế kỷ XIII,Vĩnh Phúc trải qua nhiều biến động, không xác định được thuộc đơn vị hành chính nào.Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, nhà Trần vẫn chia nước ta thành các lộ; đến nhà Hồ lại đổi thành trấn Dưới lộ (hay trấn) là các phủ, dưới phủ là các châu, dưới châu là huyện, dưới huyện là các xã Lúc này, các huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (thời Trần mạt), nằm trong 3 trấn và lộ sau:

- Lộ Đông Đô: Châu Tam Đới (Vĩnh Tường) có huyện Yên Lạc, huyện Yên Lãng và huyện Lập Thạch

- Lộ Bắc Giang: Châu Bắc Giang có huyện Tân Phúc, châu Vũ Ninh có huyện Đông Ngàn (gồm huyện Kim Anh, huyện Từ Sơn)

- Trấn Tuyên Quang có huyện Tam Dương

Sang thời Lê (1428 – 1786), ban đầu Vĩnh Phúc thuộc đất thừa tuyên Sơn Tây Cho tới cuối thời Hậu Lê, đầu nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XIX), vùng đất Vĩnh Phúc lại nằm trong các trấn sau:

- Trấn Kinh Bắc: Phủ Từ Sơn có huyện Đông Ngàn, phủ Bắc Hà có huyện Tân Phúc, huyện Kim Thoa

- Trấn Sơn Tây: Phủ Tam Đới bao gồm các huyện Bạch Hạc, Lập Thạch, Yên Lạc, Yên Lãng; Phủ Đoan Hùng có huyện Dương

- Trấn Thái Nguyên: Phủ Phú Bình có huyện Bình Tuyền

Dưới triều Nguyễn (thế kỷ XIX), vua Minh Mệnh đổi trấn thành tỉnh, phạm

vi Vĩnh Phúc lại nằm vào 3 tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên

Thời Pháp thuộc (1884 – 1945), nhằm thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp tiếp tục chia cắt và xáo lộn các huyện, các xã ở Bắc Kỳ để thành lập các trung tâm cai trị mới Viên công sứ Pháp ở Hưng Hóa năm 1899 thú nhận rằng:

“Việc làm đầu tiên của chúng ta là chia nhỏ những tỉnh quá rộng lớn ấy Biện pháp

này rất cần thiết, vừa giảm được ảnh hưởng quan lại bản xứ có quá nhiều thế lực, vừa làm cho công việc bình định rõ ràng hơn, áp dụng các luật pháp và một nền cai trị linh hoạt hơn” [7, tr.20] Theo đó các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên

bị cắt xén bớt đi, các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên lần lượt ra đời

Trang 9

- Ngày 6 – 1 – 1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Vĩnh Yên Thi hành nghị định này, ngày 20 – 10 – 1890, thực dân Pháp tách phủ Vĩnh Tường và 5 huyện Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng khỏi tỉnh Sơn Tây, huyện Bình Xuyên khỏi tỉnh Thái Nguyên và một phần huyện Kim Anh khỏi tỉnh Bắc Ninh, sát nhập với nhau thành đạo Vĩnh Yên, lỵ sở ở Hương Canh (Bình Xuyên) Nhưng chỉ 6 tháng sau, vì những lý do hành chính, ngày 12 – 4 – 1981, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định giải thể đạo Vĩnh Yên, đất đai

đạo này trả về tỉnh Sơn Tây Hơn 8 năm sau, ngày 29 – 12 – 1899, do “tình hình

chống đối liên miên của dân chúng và sự cần thiết phải can thiệp trực tiếp vào cuộc cai trị” [7, tr.21], buộc thực dân Pháp lại phải lập lại tỉnh Vĩnh Yên, tỉnh lỵ đặt tại

xã Tích Sơn (huyện Tam Dương) Cuối cùng, ngày 6 – 10 – 1901, khi tỉnh Phủ Lỗ

ra đời, huyện Yên Lãng được tách khỏi Vĩnh Yên và nhập vào tỉnh mới Từ đó trở

đi, tỉnh Vĩnh Yên có một phủ Vĩnh Tường và 4 huyện Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên

- Ngày 6 – 1 – 1901, thực dân Pháp thành lập tỉnh Phù Lỗ gồm phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và một phần huyện Đông Khê (cắt từ tỉnh Bắc Ninh ra), hợp với huyện Yên Lãng (tách từ Vĩnh Yên ra), tỉnh lỵ đặt ở Phù Lỗ huyện Kim Anh Đến ngày 10 – 12 – 1903, tỉnh Phù Lỗ đổi tên thành tỉnh Phúc Yên Ngày 7 – 3 – 1913, tỉnh Phúc Yên đổi thành đại lý Phúc Yên, lệ thuộc tỉnh Vĩnh Yên Cuối cùng ngày

31 – 3 – 1923, Thống sứ Bắc Kỳ lại ra nghị định lập lại tỉnh Phúc Yên Từ đó trở đi, Phúc Yên gồm hai phủ Đa Phúc và Yên Lãng, hai huyện Kim Anh và Đông Anh Tỉnh Phúc Yên là tỉnh nhỏ nhất Bắc Kỳ lúc bấy giờ

Đầu năm 1950, nhằm tăng cường sự chỉ đạo phong trào đấu tranh hậu địch, tăng cường lực lượng ta về mọi mặt, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang giai đoạn mới (tích cực cầm cự chuyển mạnh sang phản công) Ngày 12 – 2 –

1950, theo Nghị định số 03/TT3 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên Trong cuộc cải cách ruộng đất (1955), huyện Phổ Yên được tách khỏi tỉnh Thái Nguyên và sát nhập vào tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng đến đầu năm 1957 lại được cắt trả về tỉnh Thái Nguyên Đầu

Trang 10

năm 1961, huyện Đông Anh và xã Kim Chung huyện Yên Lãng, xóm Núi, xóm Nguyễn, xóm Tiên thuộc thôn Đoài xã Phù Lỗ (huyện Kim Anh) được tách khỏi tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển giao về Thủ đô Hà Nội

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để khôi phục, phát triển kinh tế

và tăng cường đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của cuộc chiến Tháng 3 – 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú Từ đây, nhân dân hai tỉnh luôn kề vai, sát cánh thực hiện những nhiệm vụ mà yêu cầu của lịch sử đặt ra Trước những biến động của tình hình thế giới và trong nước, theo nghị quyết

kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 7 – 11 – 1996, tỉnh Vĩnh Phú được chia thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Ngày 1 – 1 – 1997, tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập, khi đó, tỉnh có 7 đơn vị hành chính là thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ) và 5 huyện: Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo và Mê Linh, có 148 xã, phường, thị trấn, trong đó 39 xã và một huyện miền núi Tỉnh có diện tích 1.370,73 km² Dân số 1,1 triệu người, dân tộc ít người chiếm 2,7% [23, tr.141]

Tháng 9 năm 1998, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định tách huyện Tam Đảo thành hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên Theo Nghị định số 153/2003/NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 9 – 12 – 2003 thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo mới được thành lập Huyện Tam Đảo mới bao gồm các xã: Yên Dương, Đạo Trù, Bồ Lý của (huyện Lập Thạch), Đại Đình, Tam Quan,

Hồ Sơn, Hợp Châu (của huyện Tam Đảo), xã Minh Quang (huyện Bình Xuyên) và thị trấn Tam Đảo của thị xã Vĩnh Yên

Ngày 1 – 12 – 2006, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nghị định số 146/2006/NĐ-CP về việc thành lập Thành phố Vĩnh Yên trên

cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên rộng hơn 50,8 km² và dân số hơn 122.568 người và các đơn vị hành chính thuộc thị xã Vĩnh Yên

Theo chủ trương của chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về

mở rộng địa giới của thủ đô Hà Nội và theo Nghị quyết số 01/2008/NQ-HĐND của

Trang 11

kỳ họp thứ 12 Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về điều chỉnh địa giới hành chính Ngày 24 – 03 – 2008, toàn bộ huyện Mê Linh sát nhập địa giới về thủ đô Hà Nội Ngày 23 – 12 – 2008, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục ra Nghị định số 09/NQ-CP về việc tách huyện Lập Thạch ra làm hai huyện Lập Thạch và Sông Lô Huyện Sông Lô mới gồm 17 xã: Bạch Lưu, Cao Phong, Đôn Nhân, Đồng Quế, Đồng Thịnh, Đức Bác, Hải Lựu, Lãng Công, Nhạo Sơn, Nhân Đạo, Như Thụy, Phương Khoan, Quang Yên, Tam Sơn, Tân Lập, Tứ Yên, Yên Thạch của huyện Lập Thạch cũ Chuyển xã Tam Sơn thành thị trấn Tam Sơn – huyện lỵ của huyện Sông Lô mới

Tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2009 gồm 9 đơn vị hành chính là: Thành phố Vĩnh Yên (tỉnh lỵ), thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Sông Lô, Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo Toàn tỉnh có 13 phường, 12 thị trấn và

112 xã

* Khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng du lịch

Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa ở Vĩnh Phúc vào loại trung bình (1500 – 2000 mm), tập trung vào các tháng 6,

7 và 8 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 – 24°C Độ ẩm trung bình 84 – 89% Số giờ nắng 1340 – 1800 giờ/năm [26, tr.277] Vĩnh Phúc có tiểu vùng khí hậu Tam Đảo là nơi mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm khoảng 18°C, đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và thực tế đã là trung tâm du lịch của tỉnh Tỉnh lại nằm sâu trong đất liền, không giáp biển nên không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các trận bão Khí hậu này tạo điều kiện cho tỉnh phát triển nông nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp và du lịch

Vĩnh Phúc không phải là tỉnh giàu tài nguyên thiên nhiên Tỉnh có đủ các loại khoáng sản như: Khoáng sản cháy có than antraxit trữ lượng khoảng 1.000 tấn (Đạo Trù – Lập Thạch), than nâu trữ lượng vài nghìn tấn (Bạch Lưu, Đồng Thịnh – Sông Lô), chủ yếu là than bùn có ở nhiều điểm, nhưng nhiều nhất ở xã Văn Quán

Trang 12

(huyện Tam Dương) trữ lượng khoảng 500.000 m3, than này chủ yếu làm chất đốt

và phân bón; khoáng sản kim loại có một số như: Barit, Đồng, Vàng, Thiếc, Sắt… Khoáng sản phi kim loại có Cao Lanh là đáng kể nhất, trữ lượng hàng triệu

m3, phân bố ở các huyện Tam Dương, thành phố Vĩnh Yên, huyện Sông Lô và huyện Lập Thạch Mỏ Cao Lanh ở xã Định Trung (thành phố Vĩnh Yên) có diện tích 5,5 m², trữ lượng trên 6 triệu tấn đang khai thác để sản xuất đồ sứ và gạch chịu lửa Ngoài ra Cao Lanh còn có ở các xã Thanh Vân, Hướng Đạo (huyện Tam Dương), xã Yên Dương (huyện Lập Thạch)… nhưng chưa được đánh giá trữ lượng Vật liệu xây dựng có đất sét làm gạch gói, phân bổ ở vùng đồng bằng và vùng đồi diện tích hàng trăm km², trữ lượng hàng tỷ m3 Chỉ tính 3 mỏ ở Đầm Vạc, Quất Lưu (thành phố Vĩnh Yên) và Bá Hiến (huyện Bình Xuyên) đã có trữ lượng hàng chục triệu m3 Cát sỏi ở lòng sông và bậc thềm, trữ lượng hàng chục triệu m3 có ở xã Cao Phong, xã Văn Quán, xã Xuân Lôi, xã Triệu Đề (huyện Lập Thạch), xã Hoàng Đan (huyện Tam Dương), xã Kim Xá (huyện Vĩnh Tường) Đá xây dựng có trữ lượng hàng tỷ m3 gồm đá khối, đá tảng, đá dăm được phân bố ở dãy núi Tam Đảo Tất cả các tài nguyên thiên nhiên này đều có chung trữ lượng ít, phân bố không tập trung ở các vùng đồi núi Tỉnh có tài nguyên đất là đáng kể nhất, với 40%

là đồng bằng, đất ở đồng bằng tương đối bằng phẳng, độ cao không có nhiều dao động, đất ở vùng trung du và đồi núi có diện tích lớn, có đặc tính cơ lý tốt thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, nhất là các khu công nghiệp [7, tr.102 – 106] Đặc biệt là Vĩnh Phúc nằm trong vùng du lịch trọng điểm quốc gia, với quần thể danh lam thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng như: Rừng quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, đầm Và, đầm Vạc… Nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu

ấn lịch sử như: Danh thắng Tây Thiên, đền thời Trần Nguyên Hãn, tháp Bình Sơn… Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Lễ hội chọi Trâu xã Hải Lựu, hội Kéo co xã Tích Sơn, hội thi nấu cơm xã Sơn Đông… Vĩnh Phúc có gần 250 di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng của Vĩnh Phúc đang được đầu tư xây dựng Vĩnh Phúc đang xây dựng 3 sân Golf với tiêu chuẩn quốc tế, trong đó sân Golf Tam Đảo đã đi vào hoạt động vào tháng 10 năm 2005

Trang 13

1.1.2.Điều kiện kinh tế

Hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc và hệ thống ngân hàng đang trong quá trình nâng cấp và hiện đại hóa nhưng đã đáp ứng tốt yêu cầu của sự phát triển của tỉnh và yêu cầu của sự phát triển của công nghiệp, du lịch và dịch vụ

* Hệ thống giao thông

Đây là một thế mạnh của tỉnh so với các tỉnh khác quanh thủ đô Hà Nội với

hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông thông suốt Cụ thể như sau:

- Đường bộ: Toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có hơn 11.000 km đường giao thông, trong đó có đường do trung ương, do tỉnh, do huyện và do xã quản lý Có 4 tuyến quốc lộ chính là các tuyến sau:

Quốc lộ 2A nối liền từ thủ đô Hà Nội đến tỉnh Hà Giang, đi qua huyện Bình Xuyên, thành phố Vĩnh Yên, huyện Tam Dương và huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc

Quốc lộ 2B nối liền thành phố Vĩnh Yên đến khu nghỉ mát Tam Đảo, có chiều dài 25km

Quốc lộ 2C nối liền từ huyện Vĩnh Tường đến tỉnh Tuyên Quang, đoạn chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc có chiều dài 48 km, đi qua huyện Tam Dương, huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô

Quốc lộ 23 nối từ đầu phía Bắc cầu Thăng Long thuộc địa phận huyện Đông Anh thành phố Hà Nội, đi qua huyện Mê Linh thành phố Hà Nội đến điểm giao nhau với quốc lộ số 2 tại thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc

Trong đó quốc lộ số 2 là tuyến quan trọng, xuyên suốt từ các tỉnh phía Bắc chạy dọc theo chiều dài của tỉnh về thủ đô Hà Nội và nối liền với các tỉnh phía Nam Từ quốc lộ 2 có thể nối với các quốc lộ 1 và quốc lộ 3 đi các tỉnh phía Nam

và Việt Bắc Nối với quốc lộ số 5 ra cảng Hải Phòng (thành phố Hải Phòng) và quốc lộ 18 ra cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh) và hòa nhập vào mạng lưới giao thông của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Quốc lộ 2 đang được từng bước nâng cấp, mở rộng thành 4 làn xe cơ giới đạt tiêu chuẩn cấp II

Trang 14

Riêng quốc lộ 2C đã được nhà nước quy hoạch là trục đường từ Sơn Tây đi tỉnh Tuyên Quang, phần chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc có chiều dài 48 km sẽ được nâng cấp đạt tiêu chuẩn tương đương cấp IV

Hiện nay một tuyến đường cao tốc mới từ sân bay quốc tế Nội Bài đi đến tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy qua tỉnh Vĩnh Phúc đang được chính phủ xây dựng, đây là tuyến đường đi thẳng tới cảng nước sâu Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa đến mọi đất nước, đến các sân bay, bến cảng thế giới Nối liền tỉnh Vĩnh Phúc với bạn bè trong và ngoài nước

Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng tuyến xe buýt nối liền bến xe Vĩnh Yên với thủ đô Hà Nội, sân bay quốc tế Nội Bài, các khu công nghiệp và các địa phương trong tỉnh để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang xây dựng một số tuyến đường tỉnh lộ với quy mô mặt cắt từ 36 m trở lên đến tất cả các trung tâm khu công nghiệp và đô thị Đối với vùng quy hoạch khu công nghiệp tỉnh sẵn sàng gọi vốn đầu tư của nước ngoài nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa bằng Container

- Đường sắt: Tỉnh Vĩnh Phúc có tuyến đường sắt liên vận từ thủ đô Hà Nội đến tỉnh Lào Cai và tới tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua tỉnh với 6 ga, trong đó

ga Phúc Yên và ga Vĩnh Yên là hai ga chính Đây là tuyến giao thông quan trọng trong vận tải hàng hóa, hành khách đi qua tỉnh Vĩnh Phúc và được tiếp nối với các tuyến đường sắt ra cảng Hải Phòng, đi Việt Bắc, vào miền Trung và Nam Bộ

- Đường sông: Tỉnh Vĩnh Phúc có các sông lớn chảy qua như: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy với các cảng sông Chu Phan, Vĩnh Thịnh trên sông Hồng và cảng Như Thụy (trên sông Lô) Đảm bảo được các phương tiện vận tải vận chuyển dưới 30 tấn Có thể vận chuyển nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa thiết bị, máy móc từ cảng biển Hải Phòng (thành phố Hải Phòng) và tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Vĩnh Phúc thuận lợi

- Đường hàng không: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa có sân bay nào Nhưng tỉnh Vĩnh Phúc chỉ cách sân bay quốc tế Nội Bài (thành phố Hà Nội), khoảng 30 km Sân bay này đang được nâng cấp và mở rộng lên quy mô 4 triệu

Trang 15

hành khách/ năm và 90.000 tấn hàng hóa năm [2, tr.4] Do vậy việc vận chuyển, đi lại rất thuận tiện đến các nơi trên thế giới và trong nước

Tỉnh Vĩnh Phúc vừa sát với thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, tỉnh lại có một hệ thống giao thông đủ loại và khá thuận lợi cho quá trình xây dựng

và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

* Mạng lưới điện

Tỉnh Vĩnh Phúc là một tỉnh sớm có lưới điện quốc gia Ngay từ năm 1997, mạng lưới điện 220 KV từ nhà máy thủy điện Hòa Bình qua tỉnh Vĩnh Phúc đến huyện Sóc Sơn (thủ đô Hà Nội) đã được xây dựng Mạng lưới này đã tạo ra khả năng tăng cường công suốt nguồn cung cấp cho các phụ tải có nhu cầu lớn và thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc đang không ngừng đầu tư phát triển mạng lưới điện Hiện tại tỉnh có 6 trạm 110 KV với tổng dung lượng 375 MVA và 1 trạm 220 KV tại Hương Canh để nâng cấp cho riêng trạm biến áp 110 KV Thiện Kế Tiêu biểu là các trạm sau đây:

- Trạm 110 KV Vĩnh Yên có công suất 103 MVA gồm 1 máy 63 MVA và 1 máy 40 MVA

- Trạm 110 KV Vĩnh Yên có công suất 80 MVA gồm 2 máy 40 MVA

- Trạm 110 KV Vĩnh Tường có công suốt 50 MVA với 2 máy 25 MVA

- Trạm 110 KV Lập Thạch có công suất 32 MVA với 2 máy 16 MVA

- Trạm 110 KV Quang Minh có công suất 126 MVA với 2 máy 63 MVA

Tỉnh Vĩnh Phúc đã có hệ thống chuyền tải điện trên 1.000 km với các đường dây 22 KV và 35 KV và 493 trạm biến áp trải đều trên toàn tỉnh, 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã được phủ điện lưới quốc gia.Tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tỉnh đang lập kế hoạch xây dựng 2 trạm nguồn khác nhau để đảm bảo điện

sử dụng liên tục cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp [23, tr.265]

Vĩnh Phúc là tỉnh có mạng lưới điện năng phát triển, đáp ứng mọi nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước thực hiện tốt các dự án Mặt khác việc cung cấp điện năng còn đảm bảo an toàn, chất lượng cao, dễ dàng và thuận tiện

Trang 16

* Mạng lưới bưu chính viễn thông

Hòa nhịp với chiến lược tăng tốc của tỉnh Vĩnh Phúc, ngành bưu chính viễn thông tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo lập được mạng thông tin phủ khắp các xã trong tỉnh Hiện có 14 tổng đài dung lượng từ 128 đến 2048 số Năm 2009, 137 xã, phường, thị trấn của tỉnh đều có bưu điện, số máy điện thoại trung bình là 66,89 chiếc trên 100 dân

Không những thế, tỉnh còn đảm bảo thông tin liên lạc trong nước và quốc tế nhanh chóng và chất lượng cao với hàng trăm tuyến cáp với chiều dài hàng nghìn

km Tỉnh đang tập trung nâng cấp đường truyền mạng Internet băng thông rộng, tốc

độ cao đến từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tới các xã, phường, thị trấn trong tỉnh

* Hệ thống cấp nước

Hiện nay tỉnh Vĩnh Phúc có hai nhà máy nước lớn, xây dựng bằng nguồn vốn ODA của chính phủ Đan Mạch và chính phủ Italia là: Nhà máy nước Vĩnh Yên và nhà máy nước khu vực Phúc Yên và Bình Xuyên

Nhà máy nước Vĩnh Yên với công suất 116.000 m3/ngày đêm, đang được

Bắc tỉnh

Nhà máy nước khu vực Phúc Yên sau khi hoàn thành mở rộng sẽ nâng công suất lên 106.000 m3/ngày đêm Kết hợp với nhà máy xử lý nước ngầm khu vực

Tháp Miếu công suất 3.600 m3/ngày đêm, đảm bảo cung cấp đầy đủ cho khu vực

Phúc Yên, Xuân Hòa, Đại Lải và các khu công nghiệp lân cận

Tỉnh Vĩnh Phúc đang xây dựng nhà máy xử lý nước ngầm khu vực Bình

Xuyên và nhân dân Bình Xuyên [23, tr.265]

Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng dự trữ nước mặt trên 10 tỷ m3 Các con sông chảy qua: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ không chỉ có ý nghĩa lớn về giao thông mà còn có giá rị về thủy lợi Điều đó giúp tỉnh Vĩnh Phúc luôn đảm bảo nước cho nhu cầu hiện nay và cả mai sau cho sinh hoạt và sản xuất

Trang 17

* Hệ thống ngân hàng

Ngành ngân hàng Vĩnh Phúc không ngừng vươn lên từng bước xây dựng và trưởng thành Đến nay, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã hình thành một hệ thống Ngân hàng gồm: Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại Tỉnh có đầy đủ các chi nhánh ngân hàng lớn nước ta như: Ngân hàng nông nghiệp, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng công thương, Ngân hàng chính sách xã hội… 40 quỹ tín dụng nhân dân và một số công ty bảo hiểm

Hệ thống ngân hàng Vĩnh Phúc phát huy tốt vai trò phân phối, điều tiết và phân phối vốn đầu tư cho sản xuất của mình Hệ thống cũng không ngừng đổi mới công nghệ, tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện nối mạng thanh toán giữa các ngân hàng trong nước và quốc tế, luôn đảm bảo vốn cho nhu cầu vay của các thành phần kinh tế

1.1.3 Điều kiện xã hội

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01 – 04 – 2009, tỉnh Vĩnh Phúc có 1.000.838 người Trong đó có 629.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 62,85% dân số, đây chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa phổ thông trở lên, có thể đào tạo nhanh thành công nhân kỹ thuật [3, tr.4]

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 96,5% Ngoài

ra tỉnh còn có 30 dân tộc thiểu số gồm: Tày, Thái, Hoa, Khơme, Mường, Nùng, H’Mông, Dao, Ngái, Sán Chay, Sán Dìu, Hà Nhì, La Chỉ, Phù Lá, Lô Lô, Pú Péo, Ê

Đê, Xu Đăng, Chăm, Gia Rai, Bru, Vân Kiều, Thổ, Giáy, Cơ Ho, M’Nông, Ba Na, Khơ Mú, Tà Ôi, Mang Trong đó các dân tộc Sán Chay, Sán Dìu, Dao, Tày, Nùng… đến tỉnh định cư từ sớm và nhiều người hơn cả [23, tr.99]

Ngày nay, tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 20 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của trung ương và địa phương, quy mô đào tạo hơn 20.000 học sinh, hàng năm có hơn 10.000 học sinh tốt nghiệp Đây là nguồn nhân lực trẻ có kiến thức văn hóa, kỹ thuật, đủ đáp ứng nhu cầu về lao động của tỉnh

trong mọi thành phần kinh tế, nhất là công nghiệp và dịch vụ

Trang 18

1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997

1.2.1 Thời kỳ Vĩnh Phúc chưa sát nhập với tỉnh Phú Thọ (1950 – 1968)

Nhìn chung, vĩnh phúc là một tỉnh thuần nông Ngoài nghề nông ra, toàn tỉnh chỉ có ba bốn nghề thủ công cổ truyền và một số nghề phụ gia đình

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở vùng bị địch tạm chiếm, tất cả các nghề thủ công nói trên đều bị đình đốn vì các cơ sở sản xuất đều bị địch tàn phá, thợ thuyền phiêu tán khắp nơi, một số tản cư ra vùng tự do

Ở vùng tự do, chính quyền và ngành Công thương tỉnh đã động viên các người

có tay nghề, có vốn mở lò, mở xưởng phát triển tiểu thủ công nghiệp vừa để đáp ứng nhu cầu một phần hàng hóa tiêu dùng cho nhân dân, vừa để đấu tranh kinh tế với địch Trong năm 1951, toàn tỉnh đã mở được: 1 lò đúc nồi đồng, 1 lò thuộc da, 2 lò nồi đất,

1 lò than, 3 xưởng đúc mũi cày, 2 xưởng ép dầu thảo mộc, 5 nhà dệt chiếu… các lò, các xưởng kể trên đã sản xuất được 14.505 chiếc mũi cày, 6211 bìa da thuộc, 594 cái nồi… Nghề phụ gia đình phát triển nhất là nghề đan thúng, mủng, rổ rá, quang, chạc

vì các mặt hàng này được xuất nhiều vào các chợ vùng địch hậu [7, tr.192]

Tuy nhiên, trong thời kỳ kháng chiến, thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở vùng tự do không phát triển được mạnh vì thiếu nguyên liệu (như nghề dệt vải), kém kỹ thuật, kém kỹ thuật (như thuộc da), hoặc bị hàng ngoại hóa cạnh tranh (như ép dầu)… Trừ nghề đúc nông cụ hoạt động được đều, mỗi năm sản xuất được hai vạn mũi cày đủ dùng cho nông dân, còn các ngành khác hoạt động không ổn dịnh; sản phẩm làm ra không đủ cho tiêu dùng

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1954, các chủ, thợ lò, xưởng hồi cư về cơ sở cũ, hàn gắn vết thương chiến tranh, tổ chức lại sản xuất Ngay từ cuối năm 1955, ngành công thương tỉnh đã nghiên cứu nắm bắt tình hình và đã vượt qua nhiều khó khăn (về xếp sắp tổ chức, về giáo dục tư tưởng cho thợ thủ công cá thể, về thiếu nguyên, vật liệu…) để hướng họ đi dần vào làm ăn có kế hoạch theo sự lãnh đạo của Nhà nước

Trang 19

Năm 1956, trên địa bàn toàn tỉnh đã khôi phục được 19 lò gạch, 2 lò ngói, 5

lò đúc mũi cày, 9 xưởng đúc cày bừa, 141 lò rèn, 10 lò cang chĩnh… sản xuất được 581.450 viên gạch, 167.500 viên ngói, 66.606 mũi cày, 2.202 cày bừa… [7, tr.192] Tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp Vĩnh Phúc, tuy còn nghèo nàn nhưng là vốn quý, là bước khởi đầu đáng trân trọng để phát triển ngành công nghiệp những năm tiếp theo

Năm 1957, toàn tỉnh đã hoàn thành về cơ bản cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh

Về tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp, một số ngành nghề (rèn, đúc mũi cày, cang chĩnh, ghế mây…) tổ chức vào tập đoàn hay tổ sản xuất Nhìn chung, tình hình tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp trong 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế (1955 – 1957) có bước chuyển biến tích cực: tận dụng được khả năng phát triển các mặt hàng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống và xuất khẩu

Trong 3 năm phát triển kinh tế (1958 – 1960) các mặt công tác của tỉnh đều đạt được kết quả tốt; đặc biệt là về hợp tác hóa nông nghiệp, về cải thiện đời sống nhân dân nên đã thúc đẩy công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo

Cho đến cuối năm 1957, công nghiệp quốc doanh cả tỉnh mới có 2 nhà máy điện nhỏ và 1 nhà máy in Đến hết năm 1960, phát triển được 3 xưởng:

Xưởng nông cụ Vĩnh Yên, năm 1958 còn ở tạm mấy quán chợ cũ, máy móc thô sơ, thiếu cán bộ kỹ thuật, thiếu công nhân lành nghề Cuối năm 1960, đã có một nhà máy bán kiên cố, 60 công nhân, 16 máy công cụ các loại; sản xuất được 100 xe trâu bánh có ổ bi, 200 xe bò, 1.600 xe ba gác…

Xưởng vôi có 2 cơ sở với 11 lò, 130 công nhân, sản xuất 15.000 tấn vôi Xưởng gạch Vị Thanh thành lập năm 1959, xây dựng xong 2 lò gạch, 2 lò ngói Năm 1960, xây 5 lò gạch, công xuất mỗi lò 10.000 viên/năm; 5 lò ngói, công xuất 18.000 viên/năm Có 120 công nhân, được trang bị 2 máy nhào đất, 4 máy ép gạch,

6 máy dập ngói, 2 máy galet, 1 máy bơm, 1 mô tơ 100 mã lực, 1 máy phát điện 500KVA [7, tr.194]

Trang 20

Trên cơ sở phát triển tương đối khá, công nghiệp địa phương năm 1960 đạt giá trị tổng sản lượng 444.273 triệu đồng, so với năm 1959 tăng 219%, đã góp một phần cung cấp các nông cụ cải tiến phục vụ phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và các mặt hàng tiêu dùng phục vụ cơ quan và nhân dân [7, tr.194]

Về thủ công nghiệp, đến cuối năm 1960, toàn tỉnh đã căn bản hợp tác hóa với

44 HTX bậc vừa và hơn 6.000 xã viên

Một số ngành nghề thủ công chủ yếu đã khắc phục khó khăn, làm vượt kế hoạch, như ngành rèn đúc đạt 132%, ngành gốm đạt 125% Các HTX thủ công đã phục vụ cho phong trào sản xuất nông ghiệp; bước đầu cải tiến được kỹ thuật nên hạ được giá thành, hàng làm ra có chất lượng tương đối tốt

Nhờ nhịp độ phát triển thủ công nghiệp tương đối nhanh, giá trị sản lượng năm

1960 đạt 11.136.000 đ So với năm 1958 tăng 173% Thủ công nghiệp hợp tác hóa đã kết hợp với công nghiệp đia phương, hỗ trợ cho công nghiệp địa phương phục vụ nông nghiệp, kiến thiết cơ bản và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân [7, tr.194]

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 – 1965 nhu cầu của hợp tác hóa nông nghiệp về công cụ cải tiến, máy móc, phương tiện vận tải; nhu cầu kiến thiết cơ bản của cơ quan và nhân dân; nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội đòi hỏi công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp phải đáp ứng ngày càng nhiều

Xí nghiệp Điện vĩnh Yên được duy trì, củng cố với 25 công nhân và hai máy phát 120KW, chủ yếu cung cấp điện tiêu dùng cho cơ quan và nhân dân

Xưởng nông cụ đổi gọi là xí nghiệp Cơ Khí Vĩnh Yên được củng cố và tăng cường cán bộ, công nhân kỹ thuật, máy móc trang thiết bị cuối năm 1959, tổng số cán bộ công nhân viên có 141 người; đến cuối năm 1965, lên 217 người, trong đó có96 công nhân sản xuất Năm 1963, được trang bị thêm 1 trạm biến thế 200KW, 2 máy tiện chính xác, 1 máy mài, 1 máy khoan hạng nặng…

Căn cứ vào vùng nguyên liệu mía đường ven bãi Yên Lạc, Yên Lãng, năm

1961 tỉnh cho xây dựng nhà máy đường Quyết Tiến với 100 công nhân và lao động, bắt đầu sản xuất vòa ngày toàn quốc kháng chiến 19 - 12 – 1961 Cả năm 1962 sản xuất được 155.344 kg đường

Trang 21

Cũng trong năm 1961 Ty Công nghiệp được cấp vốn xây dựng một xí nghiệp sản xuất bột sắn khoai, công suất 300 tấn/ năm ở Liễn Sơn (Lập Thạch); 1 xưởng khai thác cao lanh và 1 lò bát ở Định Trung (Tam Dương); 1 xí nghiệp sản xuất men giống vi sinh vật để cung cấp cho các huyện về làm phân vi sinh

Ngoài những xí nghiệp kể trên (thuộc ty Công nghiệp quản lý), trong tỉnh còn có 28 xí nghiệp quốc doanh do các ngành khác quản lý, như: gạch ngói vôi, cát sỏi (thuộc Vật liệu kiến trúc), khai thác, xẻ gỗ, chế biến gỗ (thuộc Lâm nghiệp); may mặc, xe đạp (thuộc Công ty bách hóa); in (thuộc Ty Văn hóa); dược phẩm (thuộc Công ty dược phẩm); xay xát gạo (thuộc Ty Lương thực); bánh kẹo, rượu, nước mắm, mổ lợn và làm đậu phụ (thuộc Công ty dược phẩm)

Trong số các xí nghiệp trên, đến năm 1965, tỉnh tách 3 xí nghiệp gỗ giao cho

Ty Công nghiệp quản lý; xí nghiệp gỗ Đa phúc (71 công nhân), xí nghiệp gỗ Bạch Hạc (128 công nhân và lao động), xí nghiệp mộc Cầu Oai (114 công nhân và lao động) [7, tr.194-195]

Tính đến ngày 31 - 12- 1965, khối công nghiệp quốc doanh toàn tỉnh có 28 xí nghiệp và 15 tổ sản xuất thuộc các ngành hàng: điện, cơ khí, gỗ, chế biến nông sản, vật liệu kiến thiết, sử chữa vô tuyến điện, ô tô, xe đạp, may đo, dược phẩm… Tổng

số công nhân lao động là 4052 người, trong đó có 2119 công nhân viên chức và

1933 công nhân sản xuất [7, tr.195]

Về thủ công nghiệp, tỉnh đã hướng dẫn và chỉ đạo thành lập ban vận động HTX thủ công để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự giúp đỡ của Nhà nước đối với thủ công nghiệp, đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp trên cơ sở hợp tác hóa và cải tiến kỹ thuật

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đến ngày 31 - 8 – 1964, toàn tỉnh có

42 HTX thủ công nghiệp chuyên nghiệp với 2174 xã viên, gồm 17 HTX với 614 xã viên ngành chế biến kim loại; 2 HTX với 178 xã viên ngành vật liệu xây dựng; 4 HTX với 614 xã viên ngành tre, gỗ, nứa lá: 2 HTX với 206 xã viên ngành thủy tinh, sành sứ; 13 HTX với 151 xã viên ngành thực phẩm; 1 HTX khuy trai xuất khẩu với

36 xã viên Ngoài ra còn có 10 tổ sản xuất TCN chuyên nghiệp với 570 xã viên kinh

Trang 22

doanh các ngành rèn, gạch ngói, may mặc, thực phẩm; 668 cơ sở HTX nông nghiệp

có sản xuất thủ công nghiệp kinh doanh các ngành rèn, gạch ngói, cát xỏi, gốm, chế biến thực phẩm [7, tr.195]

Tổng giá trị sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhìn chung, tăng đều qua các năm và năm 1965 tăng 132% so với năm 1960

Sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp đã đa dạng, phong phú, phát triển mạnh nhất là ngành vật liệu xây dựng và ngành chế biến lương thực, thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, của công nghiệp kiến thiết đô thị và thỏa mãn được một phần nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân; có một ít hàng hóa xuất khẩu Tuy vậy, cũng có một số sản phẩm, như công cụ cải tiến, đồ gia dụng băng gang đúc các quần áo may sẵn kém chất lượng, dùng màu hỏng nên tiêu thụ chậm hoặc tồn kho lâu

1.2.2 Thời kỳ Vĩnh Phúc sát nhập với tỉnh Phú Thọ (1968 – 1996)

Trong thời kỳ hợp nhất tỉnh 1968 – 1996, tình hình có nhiều khó khăn, biến động, nhất là những khó khăn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra Công nghiệp Vĩnh Phúc đã khắc phục khó khăn, thích ứng với tình hình, giữ vững và đẩy mạnh hoạt động, phục vụ có hiệu quả sản xuất, chiến đấu và đời sống

Thời kỳ 1968 – 1975 (từ hợp nhất tỉnh đến thống nhất cả nước): Được trung ương và tỉnh đầu tư vốn, Ty công nghiệp đã xây dựng thêm 26 xí nghiệp gồm 8 cơ khí huyện, 10 cơ sở nước chấm, 2 xí nghiệp sứ, 2 mỏ than, 1 mỏ cao lanh, 1 xưởng đường, 1 nhà máy rượu và 1 phòng điện lực; đồng thời mở rộng một số xí nghiệp cũ như 2 nhà máy cơ khí Vĩnh Yên và Phú Thọ, các xưởng ép dầu, xẻ gỗ…

Đến năm 1975, điều chỉnh tổ chức 6 xí nghiệp và củng cố lại, còn 31 xí nghiệp với trên 2860 cán bộ, công nhân do Ty công nghiệp quản lý [5, tr.197] Trong thời kỳ này có sự phân công mới của ngành cơ khí Hai xí nghiệp cơ khí tỉnh (Phú Thọ và Vĩnh Yên) chuyên chế tạo các loại công cụ cải tiến và máy móc cung cấp cho cơ sở, 12 xí nghiệp cơ khí vừa và nhỏ ở các huyện, thị có trách

Trang 23

nhiệm sản xuất và sửa chữa toàn bộ các nông cụ, các phương tiện giao thông nông thôn, các loại đồ dùng gia đình, cho các hợp tác xã và nhân dân

Về thủ công nghiệp, sau hai năm củng cố và phát triển, đến cuối năm 1970, toàn tỉnh có 97 HTX chuyên nghiệp, đồng thời có một mạng lưới các đội ngành nghề do HTX nông nghiệp quản lý

Các HTX cải tiến công tác quản lý và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật đã xây dựng thêm 300 gian nhà, xưởng, mua sắm thêm 60 máy móc các loại, như: máy nén khí, máy thổi thủy tinh, máy đột dập, máy cắt gọt Các máy móc này đã giúp người thợ cải thiện nhiều khâu lao động nặng nhọc và đưa năng suất lên ít nhất 4 lần, cao nhất là 37 lần so với làm bằng tay

Tình hình đang tiến triển thì tháng 9 – 1972 đế quốc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc làm cho các HTX thủ công đình đốn, phải đến tháng 1 – 1973 khi chấm dứt chiến tranh phá hoại mới trở lại phục hồi sản xuất bình thường

Tháng 12 – 1973, các HTX lần lượt tiến hành đại hội bầu Ban quản trị, ban kiểm soát và đại biểu đi dự đại hội cấp trên Tháng 5 – 1973, ngành thủ công nghiệp Vĩnh Phú mở đại hội lần thứ nhất Sau đại hội, một không khí thi đua sôi nổi dấy lên trong toàn ngành Tổng kết năm 1973, Liên hiệp xã trung ương trao cờ khá nhất toàn miền Bắc cho ngành thủ công nghiệp Vĩnh Phú và thủ tướng chính phủ tặng bằng khen [7, tr.198]

Năm 1974, 42/89 HTX vượt chỉ tiêu đại hội ngành Năm 1975, có 17 HTX vượt mức kế hoạch Nhà nước trước từ 1 tháng đến 2 tháng Đặc biệt có 5 HTX hoàn thành kế hoạch trước 3 tháng, trong đó có 3 HTX ở Phúc Yên là Đại Đồng, Nề Mộc

và phúc Tiến Cả hai năm 1974 – 1975, Liên hiệp xã đều đạt giá trị tổng sản lượng

37 triệu đồng, so với năm 1971 tăng 15% [7, tr.198]

Từ năm 1975 đến năm 1985, chiến tranh biên giới và mùa màng thất bát triền miên đã gây ra nhiều khó khăn cho đời sống của công nhân và thợ thủ công, về cung cấp vật tư và nguyên liệu cho sản xuất Tình hình ấy kéo dài đã hạn chế sự phát triển của toàn ngành

Trang 24

Thời điểm năm 1982, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú có 57 xí nghiệp địa phương

do 11 sở và 6 huyện quản lý Phần sở Công nghiệp quản lý 16 xí nghiệp trong đó có

cơ khí Vĩnh phúc, mộc Vĩnh Yên, nước chấm Ngoại Trạch, mỏ cao lanh Định Trung, ép dầu Bình Xuyên… Các xí nghiệp trong giai đoạn này từng bước được xắp xếp lại, xác định rõ nhiệm vụ và phương hướng sản xuất Hình thức khoán gọn cho từng xí nghiệp với các đòn bẩy kinh tế thích hợp khuyến khích người lao động Nhờ vậy nhiều xí nghiệp đã ổn định được sản xuất.[7, tr.198]

Từ năm 1976 đến năm 1980, giá trị tổng sản lượng toàn ngành tăng bình quân 5,6% mỗi năm; từ năm 1981 đến 1983 tốc độ tăng lên 6,9% năm

So với công nghiệp địa phương, thủ công nghiệp phát triển khá hơn Năm

1980 toàn tỉnh có 84 HTX với 6320 xã viên chuyên nghiệp, tăng 19% so với năm

1973 Từ năm 1981 – 1985, toàn ngành thu hút thêm được 2355 lao động Tiếp theo vừa củng cố quan hệ sản xuất, vừa tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, ngành

đã đưa 62 HTX lên bậc cao, 4 HTX lên bậc vừa (không còn HTX bậc thấp); mua được 400 máy dệt, 60 máy phát điện, 300 máy công cụ các loại và 40 xe ô tô vận tải, đồng thời giúp 500 đội ngành nghề trong HTX nông nghiệp về phương hướng sản xuất, hoạch toán kinh tế và đào tạo tay nghề

Số mặt hàng làm ra đến cuối năm 1985 đã lên tới con số 400, trong đó có 50 mặt hàng mới ra đời, như màng mỏng PE, vải giả da, liềm Cu Ba, can nhựa, ni lon… [7, tr.199]

Năm 1983, hàng thủ công Vĩnh Phú tham gia triển lãm thành tựu kỹ thuật kinh tế Việt Nam giành 2 huy chương vàng, 4 huy chương bạc Năm 1985, lại giành

2 huy chương vàng là liềm Cu ba và mành cọ; 11 huy chương bạc cho ủ ấm Sơn Vi, đũa công nghệ, kéo đốn chè, mành trúc, làn lá hồ, dép nhựa, phèn chua, giấy nến, gạch lát hoa, khung xe đạp và sơn dầu mai hoa [7, tr.199]

Ngày 29 - 1 - 1986, ngành thủ công nghiệp Vĩnh phúc mở hội thi và triển lãm mùa xuân toàn tỉnh: 170 sản phẩm được lựa chọn trong tổng số hơn 400 sản phẩm của ngành, trong đó có những ngành thủ công truyền thống như: đồ gốm Hương Canh, đồ sắt Lý Nhân, chạm khắc đá Bạch Lưu… kết thúc hội thi, UBND

Trang 25

tỉnh tặng bằng khen cho 11 mặt hàng: mành cọ xuất khẩu, phèn chua, dép nhựa, máy tuốt lúa, mành tăm, thảm đay, mâm nứa sơn mài, gạch lát hoa, giấy nến, kéo cắt chè và đĩa sơn mài [7, tr.199]

Trong 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới(1986 – 1996), toàn ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mất sáu bảy năm chao đảo trong quá trình chống bao cấp, chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Các thành phần kinh tế thuộc ngành công nghiệp quản lý được quy tụ vào hai loại: Quốc doanh và ngoài quốc doanh Ngoài quốc doanh bao gồm một ít HTX và toàn bộ doanh nghiệp tư nhân, tức là lực lượng công nhân, tiểu thủ công nghiệp kinh doanh tự do Về cấp độ doanh nghiệp tư nhân chia làm 3 mức: Kinh tế tư nhân là những công ty xí nghiệp có quy mô khá của tư nhân, kinh tế cá thể là những hộ làm tiểu thủ công nghiệp chuyên, kinh tế hộ gia đình là những hộ bán chuyên trong nông nghiệp còn gọi là thủ công nông thôn

Năm 1993, khối doanh nghiệp công nghiệp trực thuộc Sở Công nghiệp có đà phát triển Trong 21 doanh nghiệp có 15 đơn vị sản xuất có lãi, 4 đơn vị hòa, chỉ có

2 đơn vị lỗ vốn Giá trị tổng sản lượng toàn khối đạt 20 tỷ 860 triệu đồng, tăng hơn năm 1992 là 25,1% Nộp ngân sách 3 tỷ 822 triệu đồng, tăng 69,7% so với năm

1992 Thu nhập bình quân toàn ngành là 190.000 đồng/người/năm [7, tr.200] Khối ngoài quốc doanh do các huyện, thị quản lý, chuyển biến mạnh nhất là kinh tế cá thể và kinh tế hộ gia đình

Về HTX, giải thể 7 HTX; củng cố một số HTX, trong đó có HTX may Thống Nhất (Vĩnh Yên sản xuất 30000 chăn quốc phòng chất lượng tốt, doanh thu

1320 triệu, đủ việc làm cho 100 lao động, thu nhập 180.000 đ/tháng/xã viên); thành lập thêm 4 HTX

Về kinh tế tư nhân, thành lập 1 công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thiếc ở Lập Thạch và 6 doanh nghiệp tư nhân, nâng tổng số lên 3 công ty và 10 doanh nghiệp

Kinh tế cá thể có khoảng 13.300 hộ với 30.000 lao động

Kinh tế gia đình, phát triển rộng rãi ở các làng xóm, tận dụng thời giờ và nguyên liệu tại chỗ, thường làm các nghề đan lát, chế biến thực phẩm, mộc, vật liệu

Trang 26

xây dựng…Các làng nghề truyền thống khôi phục và phát triển mạnh, như nghề ngói Tam Canh (Bình Xuyên), nghề rèn Lý Nhân (Vĩnh Tường), nghề mộc Bích Chu (Vĩnh Tường), Thanh Lãng (Bình Xuyên), nghề đan lát Triệu Đề (Lập Thạch)… Các nghề làm đậu phụ, bún bánh… mọc lên ở bất cứ nơi nào đông đúc dân cư [7, tr 200]

Kết quả sản xuất kinh doanh tăng trên khắp địa bàn, đạt giá trị tổng sản lượng 67,2 tỷ đồng Nếu tính cả thủ công gia đình khoảng 50 tỷ nữa thì đạt 115 đến

117 tỷ đồng [7, tr.200]

Từ năm 1994 trở đi, nền kinh tế nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng triền miên Nền sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc cũng đi vào quỹ đạo ổn định theo chiều hướng phát triển

Qua sàng lọc cơ chế thị trường đến năm 1996 toàn tỉnh dồn còn lại 20 đơn vị doanh nghiệp công nghiệp địa phương 6 tháng đầu năm 1996, đạt giá trị tổng sản lượng 45 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994) Thu nhập toàn ngành bình quân 270.000 đ/người/tháng Cơ khí Tam Canh, vật liệu chịu lửa Vĩnh Yên… thu nhập 300.000 đ/người/tháng Đến năm 1995, trong số 29 HTX thủ công còn lại chỉ có 17 HTX hoạt động tốt, 9 HTX ngừng một phần hoặc thôi sản xuất Trái lại, các thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh, đặc biệt là thủ công cá thể và thủ công trong nông nghiệp Toàn tỉnh có 47 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 7 công ty trách nhiệm hữu hạn và chi nhánh được phép hoạt động với vốn đầu tư 31 tỷ đồng Kinh

tế cá thể với 18.000 cơ sở và 36.650 lao động (vốn bình quân mỗi hộ 3,3 triệu đồng) phát triển ở khắp thị xã, thị trấn, thị tứ và các vùng nông thôn, chiếm tới 87,9% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh, làm ra mấy trăm loại hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội.[7, tr.201]

Nhìn chung, đời sống nhân dân đã có phần dễ chịu hơn trước; đó là nhờ nông nghiệp và kinh tế cả nước khởi sắc trong đó có phần đóng góp của sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh

Trang 27

Tiểu kết chương 1

Tỉnh Vĩnh Phúc là tỉnh có lịch sử lâu đời, có truyền thống lịch sử hào hùng

và vị trí địa lý thuận lợi Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nhân dân trong tỉnh luôn có lòng tin sắc son vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, phấn đấu xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh và phồn vinh hơn Truyền thống lịch sử

đó không những thể hiện trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn thể hiện trong thời kỳ Đổi mới của đất nước ta Tỉnh Vĩnh Phúc không giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, có nguồn lao động dồi dào, có hệ thống giao thông và cơ sở vật chất khá phát triển… điều này thuận lợi cho tỉnh trong hoạch định các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là phát triển kinh tế công nghiệp

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Vĩnh Phúc trong thời kỳ thành lập tỉnh (1950 – 1968) và thời kỳ sáp nhập vào tỉnh Phú Thọ (1968 – 1996) phát triển mạnh mẽ Bên cạnh sự phát triển trên, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vĩnh phúc

ở hai thời kỳ này cũng tồn tại một số hạn chế như: quy mô nhỏ bé, manh mún, vốn

ít, máy móc thiết bị công nghệ cũ và lạc hậu, thiếu thợ lành nghề và thợ quản lý giỏi, nhiều cơ sở làm ăn thua lỗ kéo dài chưa được xử lý

Trang 28

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC

TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1997 ĐẾN NĂM 2011

2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC SAU KHI TÁI LẬP TỈNH

Vĩnh Phúc, khi tái lập tỉnh còn là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp vẫn nhỏ bé, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn yếu kém Nhận thức được những khó khăn của tỉnh, Đảng bộ, UBND, HĐND đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế công nghiệp Cụ thể:

2.1.1 Chủ trương quy hoạch công nghiệp và các nghị quyết phát triển công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc

Đại hội Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ XIV đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2005 – 2010, trong đó công nghiệp được đặc biệt quan tâm phát triển Điều này được thể hiện rõ ràng trong quyết định số 20/2005/QĐ-UBND, ngày 3 – 8 – 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về Quy hoạch và phát triển công nghiệp đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với các nội dung chính sau đây:

* Quan điểm phát triển công nghiệp:

- Ngành công nghiệp Vĩnh Phúc, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cần phải phát triển nhanh, mạnh theo tinh thần Nghị Quyết Trung ương VII về công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới trở thành một trung tâm công nghiệp lớn Phát triển công nghiệp phải đảm bảo trở thành nền tảng kinh tế của tỉnh, quyết định tới sự tăng trưởng và phát triển của tỉnh, đảm bảo đóng góp chính cho nguồn thu ngân sách của tỉnh, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh

Trang 29

- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc phải phù hợp gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quy hoạch phát triển công nghiệp cả nước, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng Sông Hồng và phù hợp với tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cũng như quy hoạch phát triển đô thị, giao thông, du lịch, nông nghiệp

- Phát triển công nghiệp phải toàn diện, vừa phát triển công nghiệp chủ lực quy mô lớn, vừa coi trọng công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp phụ trợ gắn với phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, trên cơ sở lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn xác định định hướng phát triển và lựa chọn dự án đầu tư Phát triển công nghiệp chủ lực trên cơ sở xác đinh cơ cấu các ngành công nghiệp, các sản phẩm công nghiệp và thành phần kinh tế hợp lý

- Phát triển ngành công nghiệp trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, gắn với kinh tế vùng miền, gắn với yêu cầu đảm bảo an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm ngay từ nguồn để phát triển bền vững

- Lấy công nghiệp phụ trợ làm khâu đột phá để phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của Vĩnh Phúc trong quá trình CNH – HĐH; tạo hàng hóa thay thế nhập khẩu, tạo chủ động cho sản xuất hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu Nhóm ngành công nghiệp phụ trợ sẽ định hướng theo các ngành ưu tiên phát triển là: cơ khí, chế tạo, ô tô, điện tử tin học, dệt may, da giày,… Định hướng thu hút các dự án hình thành các khu, cụm công nghiệp phụ trợ cho cơ khí – chế tạo, điện – điện tử tại Vĩnh Phúc, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng của sản phẩm

- Phát triển công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc phải khơi dậy và huy động mọi nguồn lực nội sinh và tạo điều kiện tối đa để thu hút các nguồn lực ngoại sinh, coi trọng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, hợp tác liên tỉnh, liên ngành, liên vùng, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia bình đẳng vào phát triển công nghiệp

* Mục tiêu phát triển công nghiệp: Duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ngành

công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2001-2005 là 22,01%/năm ; 2006 – 2010 là 20,47% và giai đoạn 2011 – 2020 là 13,73% (trong đó, riêng công nghiệp giai đoạn

Trang 30

2006 – 2010 là 21,19% và giai đoạn 2011 – 2020 là 13,64%; Tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong GDP sẽ tăng lên 50,44% năm 2005, 58,44% năm 2010 và 60,55% năm 2020 (trong đó, riêng công nghiệp tăng lên 47,39% năm 2005, 56,59% năm 2010 và 58,18% năm 2020; Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2006 – 2010 là 21,12% và giai đoạn 2011 – 2020 là 14,37% (trong đó, riêng công nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 là 21% và giai đoạn

2011 – 2020 là 14,24%); Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp trong cơ cấu giá trị sản xuất của nền kinh tế tỉnh năm 2010 là 80,25% và năm 2010 là 78,38%; Phấn đấu đến năm 2015, tỉnh Vĩnh Phúc có những yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp [26, tr.1 – 3]

* Định hướng phát triển các ngành công nghiệp: Đẩy mạnh phát triển các

ngành công nghiệp cơ khí; công nghiệp điện tử, tin học; công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp dệt may và da giày; công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, đồ uống; công nghiệp nghiệp dược phẩm và hóa chất tiêu dùng (công nghiệp điện nước, công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề) Tận dụng triệt để lợi thế vị trí địa lý, từng bước hình thành Khu công nghệ cao tập trung, đưa tỉnh Vĩnh Phúc thành một trong những trung tâm phát triển công nghệ cao của vùng, trung tâm chế tạo cơ khí của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

* Định hướng phát triển ngành, khu, cụm công nghiệp theo vùng lãnh thổ:

Tập trung phát triển công nghiệp trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên các huyện sao cho phù hợp để phát huy được thế mạnh của từng vùng một cách hiệu quả nhất Tỉnh đã lập các dự án để xây dựng các khu, cụm công nghiệp cụ thể trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên và các huyện cụ thể

* Định hướng phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc thời kỳ 2011 – 2020: Tỉnh

tập trung phát triển công nghiệp với nhịp độ cao, bền vững làm động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu đưa Vĩnh Phúc trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020; Duy trì cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp theo hướng chủ yếu là công nghiệp cơ khí (chế tạo ô tô, xe máy), vật liệu xây dựng

Ưu tiên phát triển công nghiệp cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử;

Trang 31

Nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới và thu hút các công nghệ tiên tiến Sản xuất các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, nâng cao tỷ lệ nội địa trong kết cấu sản phẩm; thu hút các dự án đầu tư công nghiệp có nguồn vốn và giá trị sản xuất lớn, công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, coi trọng đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và trình độ quản lý

Ngoài chủ trương quy hoạch trên, thì trong những năm qua Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp và khu công nghiệp của tỉnh: Tỉnh ủy đã ban hành nghị quyết số 02 – NQ/TU ngày 15/8/2006 về chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu cho phát triển kinh tế xã hội HĐND tỉnh đã ban hành một số nghị quyết như: số 13/2004/NQ – HĐND ngày 25/5/2004 về hỗ trợ một số hạng mục hạ tầng các KCN; Nghị quyết số 15/2004/NQ – HĐND ngày 25/5/2004 về bố trí sử dụng đất làm dịch vụ cho các hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp; Nghị quyết số 05/2007/NQ – HĐND ngày 11/5/2007 về ưu đãi đầu tư dự án sản xuất máy tính xách tay của Tập đoàn điện tử Compal đầu tư vào khu công nghiệp Bá Thiện, huyện Bình Xuyên; Nghị quyết số 12/2010/NQ – HĐND ngày 30/8/2010 về hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn

2010 – 2015… Đồng thời, tích cực thực hiện công tác cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính [35, tr.5] Như vậy, qua đây chúng ta thấy được bước vào công cuộc đổi mới kinh tế, các cấp lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc luôn tập trung cao vào việc đề ra những mục tiêu, phương hướng để phát triển công nghiệp và đây là tiềm năng thế mạnh của vùng cần được phát huy triệt để

2.1.2 Các giải pháp phát triển công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc

* Giải pháp về vốn và nguồn vốn để thực hiện mục tiêu quy hoạch công nghiệp; xác định nhu cầu vốn và khả năng đáp ứng từ ngân sách, từ vốn của các thành phần kinh tế trong nước, vốn ODA, FDI cho từng thời kỳ Trong khi tích lũy nội tỉnh còn hạn hẹp, chủ trương tranh thủ, huy động các nguồn vốn là giải pháp quan trọng Trong các nguồn vốn, vốn ưu đãi đầu tư, vốn tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn Các hình thức huy động vốn

Trang 32

khác, như: giao dịch cổ phiếu của doanh nghiệp; liên doanh, liên kết thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước; huy động từ quỹ đất; vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, vốn của người Việt Nam định cư ở nước ngoài là những hướng quan trọng để thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu để thực hiện mục tiêu quy hoạch là nguồn vốn huy động từ các nguồn đầu tư trong và ngoài nước với mọi thành phần kinh tế Vốn của Nhà nước cần tập trung đầu tư chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo vốn cho các công trình trọng điểm quốc gia và các mục tiêu lớn của tỉnh, ưu tiên cho việc phát triển nguồn nhân lực và đầu tư nghiên cứu đổi mới khoa học công nghệ Vốn tích lũy của các doanh nghiệp và vốn vay nên tập trung cho đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, một phần dùng xây dựng hạ tầng cơ sở Vốn đầu tư trong nước và nước ngoài

ưu tiên cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh

 Huy động vốn đầu tư nước ngoài

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một cách thức quan trọng để phát triển ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp của tỉnh nói riêng trong bối cảnh nguồn vốn của chúng ta còn eo hẹp Vốn đầu tư nước ngoài có thể huy động nguồn vốn viện trợ phát triểm chính thức ODA, nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc qua đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp của nước ngoài

Về vốn ODA cần tiếp tục tranh thủ nguồn tài trợ của các Chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gắn chặt việc sử dụng vốn vay với trách nhiệm trả nợ Tuy nhiên do đặc thù của nguồn vốn ODA với lãi suất vay thấp, thời hạn trả nợ kéo dài, thường kèm theo các điều kiện của nước cho vay và thủ tục vay vốn phức tạp nên cần cân nhắc về lĩnh vực đầu tư và hiệu quả của dự án Mặt khác cần chuẩn bị

đủ vốn đối ứng, theo dõi kiểm tra đôn đốc việc thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Đây là nguồn vốn quan trọng đối với các nước đang phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ cung cấp vốn mà cả

Trang 33

công nghệ, thị trường, kỹ năng quản lý, bán hàng để đảm bảo lợi nhuận thu được

từ đầu tư Do đó, nguồn vốn này có thể đẩy nhanh năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm Đặc biệt đối với các lĩnh vực công nghệ cao, sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị cao phục vụ xuất khẩu…

Bên cạnh nguồn đầu tư từ các nhà sản xuất, các công ty nước ngoài, cần chú trọng cả nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ (NGO), từ người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, đầu tư về nước (đây cũng là một nguồn vốn đang tăng trưởng trong thời gian qua)

Về vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài: Cần thu hút cả nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài thông qua việc mua chứng khoán, mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước, kể cả các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá; xây dựng các doanh nghiệp liên doanh, các công ty cổ phần có vốn FDI và cho phép các doanh nghiệp có vốn FDI được phát hành trái phiếu để huy động vốn trong khuôn khổ các quy định về chính sách và pháp luật được nhà nước ban hành

Để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, cần xây dựng chiến lược vận động xúc tiến đầu tư trên cơ sở chuẩn bị tốt danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của các địa phương kèm theo các hướng dẫn cụ thể về thủ tục đầu tư, địa điểm, hạ tầng

cơ sở, khả năng cung ứng các tiện ích công cộng đầu vào, mặt bằng giá cả tại địa bàn, các ưu đãi, các chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn Để vận động, thuyết phục các nhà đầu tư Bên cạnh đó cũng cần có sự minh bạch, ổn định, nhất quán trong chính sách, phù hợp với các thoả thuận, cam kết quốc tế và đội ngũ cán bộ thực thi chuyên trách, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư tạo niềm tin cho nhà đầu tư

 Huy động các nguồn vốn đầu tư trong nước

Đầu tư trong nước vào ngành công nghiệp của tỉnh tuy tăng nhanh trong thời

gian gần đây nhưng vẫn còn hạn chế về quy mô và trình độ công nghệ, một mặt do khả năng vốn không lớn, một mặt do các thủ tục, chính sách còn bất cập nên các nhà đầu tư trong nước gặp nhiều khó khăn phức tạp khi tiếp cận với vốn vay Ngân hàng; nhiều cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn phải huy động vốn phi chính

Trang 34

thức, lãi suất cao, nhiều rủi ro để hoat động Cần sớm hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ quỹ phi lợi nhuận của các tổ chức quốc

tế, quỹ đóng góp của các hiệp hội giúp các cơ sở đầu tư phát triển

Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận sau thuế tái đầu tư, huy động vốn từ cán bộ công nhân viên trong đơn vị, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán; tiến hành cổ phần hoá toàn bộ hoặc một phần các doanh nghiệp Nhà nước nhằm huy động vốn trong dân Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh bỏ vốn đầu tư dưới hình thức liên doanh liên kết, đóng góp cổ phần hoặc đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp

* Giải pháp về thị trường và tính cạnh tranh cho các các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh

Hiện nay, nước ta phát triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường thì việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển sản xuất cần phải đi đôi với việc đầu tư

cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông hàng hoá, điều này rất quan trọng và cần thiết Để thực hiện chiến lược thị trường cho các sản phẩm công nghiệp của tỉnh, trong thời gian tới tỉnh cần chú ý các giải pháp sau:

- Phát triển thị trường trong tỉnh gắn với thị trường ngoài tỉnh, đồng thời đẩy mạnh việc xúc tiến thị trường nước ngoài để tăng thị phần xuất khẩu các sản phẩm sản xuất tại Vĩnh Phúc Đối với các sản phẩm đã có thị trường thì cần giữ vững và

mở rộng thêm thị trường mới, đối với sản phẩm chưa có thị trường cần tích cực tìm kiếm và phối hợp nhiều hình thức như quảng cáo, tham gia hội chợ, giới thiệu trên trang Web

- Có chính sách hỗ trợ thị trường nông thôn, thị trường này còn chưa được khai thác nhiều do sức mua còn hạn chế

- Nâng cao khả năng tiếp thị của các doanh nghiệp công nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh

- Để làm tốt công tác tiếp thị, tìm kiếm thị trường tỉnh cần thành lập trung tâm hỗ trợ và xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp, thay vì để các doanh

Trang 35

- Tăng cường việc tham gia các hội chợ chuyên ngành được tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới cũng như nắm bắt kịp thời

xu thế tiêu dùng đối với các loại sản phẩm chủ yếu và có thế mạnh của tỉnh

- Hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá bao gồm: chợ, trung tâm thương mại (bán buôn, bán lẻ hàng hoá), siêu thị và mạng lưới các cửa hàng phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất, liên kết ngang theo hình thức hiệp hội hoặc câu lạc bộ Đồng thời đổi mới tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã thương mại – dịch vụ theo hướng hình thành HTX cổ phần để thực hiện các dịch vụ hai đầu cho kinh tế hộ thông qua phương thức đại lý mua bán và hợp đồng hai chiều giữa một bên là nông dân và một bên là doanh nghiệp, nâng cao vai trò trung gian của lực lượng thương lái trong mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp [32, tr.178]

- Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ độc quyền thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp

- Khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này được ưu tiên vay vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng ở vùng nguyên liệu, phối hợp các hoạt động khuyến nông, chuyển giao giống và kỹ thuật mới

* Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp

Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định Đào tạo nguồn nhân lực giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển nguồn nhân lực

có chất lượng cao cần xác định là yếu tố quyết định để nâng cao vị thế cạnh tranh thu hút đầu tư cho tỉnh Phải có một đội ngũ cán bộ, công nhân đủ về số lượng và chất lượng bảo đảm cho việc tổ chức, triển khai và thực hiện thành công những chủ trương, biện pháp xây dựng và phát triển kinh tế Cơ cấu đội ngũ này phải đồng bộ, bao gồm cả cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ kinh tế, cán bộ trong các ngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật…

Trang 36

Đào tạo nguồn nhân lực vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt vừa có ý nghĩa lâu dài Đào tạo nghề phải tăng nhanh về số lượng học viên, coi trọng chất lượng, hiệu quả để cung cấp lao động với cơ cấu hợp lý cho từng giai đoạn phát triển công nghiệp; xã hội hoá công tác đào tạo nghề; có chính sách thu hút sử dụng người tài phục vụ cho các thời kỳ phát triển công nghiệp Trước mắt, ưu tiên đào tạo nhân lực cho các ngành then chốt, các ngành sản xuất chủ lực, các ngành có xu hướng tăng trưởng nhanh trong từng thời kỳ Song song với việc đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho lao động công nghiệp và dịch vụ cần phải chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn như: chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nông sản và các làng nghề truyền thống Thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nghề nhằm thu hút mọi nguồn lực cho các hoạt động đào tạo nghề, đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề, các loại hình trường lớp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động có cơ hội học nghề, tìm kiếm việc làm Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động chưa có việc làm, tạo việc làm mới cho người lao động mất việc làm trong quá trình sắp xếp lại lao động

Từ nay đến năm 2020 phải phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng theo hai luồng sau để tạo tiền đề cho các năm sau:

- Đào tạo nghề dài hạn để có đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp

vụ làng nghề đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật

và công nghệ hiện đại Theo hướng này sẽ củng cố và nâng cao các trường dạy nghề trọng điểm của tỉnh

- Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề ngắn hạn nhằm tạo cơ hội cho người lao động tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm Theo hướng này có các hình thức đào tạo như: Đào tạo nghề dịch vụ; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đào tạo các nghề truyền thống ở các làng nghề [32, tr.179 – 180]

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cần được qua đào tạo tại trường quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, định kỳ được bổ túc đầy đủ về luật pháp và nắm bắt các thông tin về khoa học công nghệ, về thị trường trong nước và quốc tế nhất là các mặt hàng đang và sẽ được sản xuất trển địa bàn tỉnh Áp dụng

Trang 37

Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp phải được đào tạo qua các trường quản

lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp và khuyến khích những người có năng lực cần được cử đi đào tạo tại các nước phát triển

Đến năm 2010 chú trọng xây dựng trường đào tạo nghề phục vụ cho nhu cầu đào tạo của tỉnh, của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, từng bước đưa Vĩnh Phúc trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Ưu tiên đầu tư các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề hiện có và hình thành các trung tâm mới đào tạo các nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, tăng tỷ lệ đã qua đào tạo đạt 66% vào năm 2015 và 75% vào năm 2020 [32, tr.180]

Có chính sách khuyến khích thoả đáng để phát huy khả năng cao nhất khả năng đóng góp của đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi, nghiệp vụ giỏi ở địa phương

và thu hút các chuyên gia giỏi từ bên ngoài, nhất là đối với những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển ở địa phương mà lực lượng tại chỗ còn quá mỏng

Đối với lao động trẻ hoặc học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, tỉnh nên

có chính sách gửi đi đào tạo các trường trong nước, sau đó trở về làm việc cho tỉnh

Có chính sách đầu tư thêm cho các sinh viên người Vĩnh Phúc đang theo học các trường đại học ở Hà Nội Nên có hợp đồng cụ thể với các em có ý định trở về Vĩnh Phúc làm việc, cung cấp tài chính và sẵn sàng tiếp nhận Ngoài ra đối với người Vĩnh Phúc đang công tác ở các nơi muốn về quê hương làm việc tỉnh sẵn sàng tiếp nhận, tạo mọi điều kiện để cán bộ yên tâm làm việc

* Giải pháp về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Như trên đã trình bày, khoa học công nghệ giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh thì phải tập trung giải quyết tốt vấn đề công nghệ, tạo môi trường thuận lợi cho công tác nghiên cứu, ứng dụng các đề tài khoa học về công nghiệp Khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh, sử dụng các công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ robot để tạo ra các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao, giá trị gia tăng lớn

Trang 38

Khuyến khích các cơ sở công nghiệp ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nguyên nhiên vật liệu thay thế, không ngừng cải tiến sản phẩm thân thiện với môi trường để tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao từ nay đến năm 2010 phải tập trung giải quyết tốt vấn đề trang bị cho công nghiệp trên địa bàn tỉnh những máy móc và công nghệ mới Hướng chính là hiện đại hóa từng phần, từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong

và ngoài nước

Đối với các dự án đầu tư nước ngoài cần đánh giá, xem xét công nghệ sản xuất được sử dụng, không nhập khẩu công nghệ và thiết bị đã lạc hậu Hỗ trợ đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất máy móc, trang thiết bị, nhất là máy móc trang thiết bị phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp, cho chế biến nông lâm sản thực phẩm [32, tr.181]

* Giải pháp về nâng cao năng lực tổ chức quản lý ngành công nghiệp

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh công bằng, bình đẳng Tách mục tiêu phi thương mại ra khỏi các hoạt động kinh doanh; Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử để đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

- Mở rộng tối đa quyền tự chủ, xác định rõ quyền về tài sản pháp nhân của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh theo những gì mà pháp luật không cấm.Thành lập công ty tài chính và công ty mua bán nợ doanh nghiệp

- Chuyển đổi cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động của doanh nghiệp từ cơ chế kiểm soát quá trình ra quyết định của doanh nghiệp sang kiểm tra giám sát hướng vào việc đánh giá thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ lệ lợi tức trên doanh số, lợi tức trên tổng vốn đầu tư, lợi tức trên đất đai, số lượng lao động sử dụng, thu nhập và phúc lợi của người lao động Sở Công Thương thực hiện chức năng quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp trên địa bàn, làm tốt công tác tham mưu theo chức năng với tỉnh

uỷ, UBND tỉnh trong việc quản lý về công nghiệp tại địa phương, làm tốt công tác

Trang 39

chuẩn bị đầu tư và phát triển thị trường nhằm phát huy hơn nữa năng lực quản lý Nhà nước [32, tr.181]

- Công khai thông tin về chính sách phát triển công nghiệp của tỉnh Tổ chức tốt các thông tin hỗ trợ cho các doanh nghiệp về thông tin thị trường, thông tin về khoa học công nghệ, các chính sách khuyến khích đầu tư, các yếu tố đầu vào tại các khu cụm công nghiệp trong từng thời kỳ

- Kết hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch đầu tư, Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh về thủ tục đầu tư cấp phép cho các dự án đầu tư trên địa bàn, để định hướng phát triển công nghiệp tập trung theo khu cụm công nghiệp đã được lập quy hoạch, nâng cao hiệu quả sử dụng đất công nghiệp và đảm bảo được yếu tố môi trường phát triển của tỉnh, kịp thời giải đáp các kiến nghị, thắc mắc của các nhà đầu tư;

- Củng cố và phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống; Hỗ trợ tốt các điều kiện về thực hiện cơ sở hạ tầng cho các dự án công nghiệp

* Giải pháp về bảo vệ môi trường

- Tiến hành sớm việc đánh giá hiện trạng môi trường đối với toàn bộ các khu công nghiệp hiện có, các cơ sở sản xuất bao gồm: đánh giá lượng ô nhiễm do phát thải công nghiệp, khí thải của xe cộ…

- Đánh giá tác động đến môi trường của tất cả các nhà máy sẽ xây dựng, nhất

là đối với những nhà máy đã được cấp giấy phép đầu tư xây dựng nhưng chưa có đánh giá tác động môi trường

- Tăng cường kiểm tra giám sát các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, xử lý bảo

vệ môi trường của các cơ sở có hoạt động sản xuất kinh doanh

- Kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm chính trong công nghiệp, định kỳ quan trắc, phân tích thành phần các chất thải độc hại Hỗ trợ kỹ thuật cho công tác quan trắc, thanh tra và quản lý môi trường

+ Đối với khu công nghiệp:

- Quy hoạch thoát nước thải cho khu công nghiệp phải tính đến nơi thải nước

cụ thể Cần áp dụng 02 hệ thống xử lý nước thải theo tình hình thực tế hiện nay: Hệ thống xử lý nước tại chỗ cho nhà máy và Hệ thống xử lý nước của khu công nghiệp Xác định công nghệ cụ thể để xử lý nước cho từng loại hệ thống [32, tr.182]

Trang 40

- Kiên quyết di dời các doanh nghiệp gây ô nhiễm lớn ra xa các khu dân cư

và đầu tư xây dựng hệ thống thiết bị lọc bụi và hấp thụ khí độc trước khi thải vào môi trường không khí; áp dụng hệ thống xử lý nước thải trước khi xả vào hệ thống sông ngòi; thu gom chất thải rắn và xử lý đúng quy phạm đảm bảo tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam về môi trường

- Đối với khí thải từ các dây truyền sản xuất cần phải thường xuyên định kỳ quan trắc mức độ ô nhiễm, phân tích thành phần khí thải, nước thải từ các nguồn thải và các điểm quan trắc, các khu vực dân cư lân cận Nếu mức độ ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép cần có kế hoạch đình chỉ hoặc di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu vực dân cư

- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát thải các chất gây ảnh hưởng xấu tới môi trường bắt buộc phải có báo cáo đánh giá định kỳ những tác động tới môi trường và các biện pháp xử lý khắc phục

+ Đối với các cụm công nghiệp tập trung:

- Trước khi triển khai xây dựng các cụm công nghiệp tập trung, các cơ sở sản xuất cần lập các báo cáo đánh giá tác động môi trường, đưa ra các phương án khống

chế ô nhiễm môi trường và phải được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

- Không đưa vào khai thác, vận hành các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, các dự án đầu tư khi chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi

trường

- Những cơ sở sản xuất trong khu, cụm công nghiệp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chỉ được xây

dựng, vận hành, khai thác khi đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường

- Không xây dựng mới các cơ sở sản xuất xen kẽ trong khu dân cư; Kiên quyết

di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra xa khu dân cư

- Chỉ hoàn tất các thủ tục pháp lý về đất cho các cơ sở sản xuất khi đã có quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường của cơ quan có thẩm quyền

-Vị trí các cơ sở sản xuất tập trung phải được bố trí ở cuối hướng gió chủ đạo

Ngày đăng: 29/11/2015, 17:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), “Đất nước Việt Nam qua các đời”, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
2. Cục thống kê Vĩnh Phúc (2010), “Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 – 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Cục thống kê Vĩnh Phúc
Năm: 2010
3. Nguyễn Minh Đăng (2010), “Tiềm năng và phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc”, Tạp chí Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc"”
Tác giả: Nguyễn Minh Đăng
Năm: 2010
4. Đảng bộ Vĩnh Phúc (2005), “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Đảng bộ Vĩnh Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
5. Tạ Xuân Hòa (2005), “Công nghiệp Vĩnh Phúc sau 5 năm thực hiện Đại hội Đảng bộ lần thứ XII”, Tạp chí công nghiệp Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp Vĩnh Phúc sau 5 năm thực hiện Đại hội Đảng bộ lần thứ XII"”
Tác giả: Tạ Xuân Hòa
Năm: 2005
6. Nguyễn Hưng (2005), “Tổng quan kinh tế Vĩnh Phúc”, Thời báo kinh tế Việt Nam, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan kinh tế Vĩnh Phúc”, Thời báo kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hưng
Năm: 2005
7. Nguyễn Xuân Lâm (2000), “Địa chí Vĩnh Phúc sơ thảo”, NXB Sở Văn hóa thông tin – thể thao,Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Địa chí Vĩnh Phúc sơ thảo”
Tác giả: Nguyễn Xuân Lâm
Nhà XB: NXB Sở Văn hóa thông tin – thể thao
Năm: 2000
8. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc (1990 – 1996) (1997), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc (1990 – 1996)
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc (1990 – 1996)
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1997
9. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1997 (1998), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1997
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1997
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
10. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1998 (1999), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1998
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1998
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
11. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1999 (2000), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1999
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 1999
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
12. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2000 (2001), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2000
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2000
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
13. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2001 (2002), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2001
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2001
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
14. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2002 (2003), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2002
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2002
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
15. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2003 (2004), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2003
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2003
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
16. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2004 (2005), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2004
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2004
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
17. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2005 (2006), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2005
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2005
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
18. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2006 (2007), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2006
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2006
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
19. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2007 (2008), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2007
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2007
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
20. Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2008 (2009), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2008
Tác giả: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc 2008
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.a. Số lượng cơ sở công nghiệp theo ngành công nghiệp từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 2.1.a. Số lượng cơ sở công nghiệp theo ngành công nghiệp từ 1997 - 2011 (Trang 46)
Bảng 2.1.b. Số lượng cơ sở công nghiệp theo thành phần kinh tế từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 2.1.b. Số lượng cơ sở công nghiệp theo thành phần kinh tế từ 1997 - 2011 (Trang 47)
Bảng 2.2.b. Lực lượng lao động theo thành phần kinh tế Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 2.2.b. Lực lượng lao động theo thành phần kinh tế Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 (Trang 50)
Bảng 2.3. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 -2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 2.3. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 -2011 (Trang 51)
Bảng 2.4. Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành công nghiệp từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 2.4. Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành công nghiệp từ 1997 - 2011 (Trang 52)
Bảng 3.1. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 3.1. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 (Trang 66)
Bảng 3.2. Giá trị, cơ cấu sản xuất ngành công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 3.2. Giá trị, cơ cấu sản xuất ngành công nghiệp Vĩnh Phúc từ 1997 - 2011 (Trang 69)
Bảng 3.3. Giá trị, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư - Tình hình kinh tế công nghiệp của tỉnh vĩnh phúc trong những năm 1997 2011
Bảng 3.3. Giá trị, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w