1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua gia long và vua minh mệnh

80 660 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 704,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay chủ đề tìm hiểu tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước triều Nguyễn vẫn là nội dung quan trọng, nhiều ý nghĩa đối với hiện tại nên được giới sử học trong cả nước quan tâm nghiên

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận “So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh” được hoàn thành tại khoa Lịch Sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Th.s Trần Thị Thu

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới cô Trần Thị Thu Hà - người đã hướng dẫn tận tình, góp ý trực tiếp và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Tôi xin cảm ơn tới các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lịch Sử đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian qua

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, thầy cô trong khoa Lịch Sử, tập thể lớp K35 Cử nhân Lịch Sử, các bạn sinh viên cùng ngành các khóa K36, K37, K38 Cử nhân Lịch Sử đã động viên, góp ý và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Đỗ Thị Phúc

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô Trần Thị Thu Hà Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Đỗ Thị Phúc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 SỰ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC DƯỚI TRIỀU VUA GIA LONG VÀ VUA MINH MỆNH 6

1.1 SỰ XÁC LẬP VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN 6

1.1.1 Vài nét về dòng họ Nguyễn 6

1.1.2 Sự thành lập vương triều Nguyễn 10

1.2 VAI TRÒ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA VUA GIA LONG VÀ VUA MINH MỆNH 12

1.2.1 Triều vua Gia Long 12

1.2.2 Triều vua Minh Mệnh 19

Chương 2 SO SÁNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI GIA LONG VÀ THỜI MINH MỆNH 24

2.1 GIỐNG NHAU 24

2.1.1 Hoàng đế, người đứng đầu nhà nước ở kinh đô Huế 24

2.1.2 Nhiệm vụ của Lục Bộ 30

2.1.3 Mô phỏng bộ máy hành chính như nhà Thanh 31

2.2 KHÁC NHAU 35

2.2.1 Bộ máy hành chính ở trung ương 35

2.2.1.1 Cơ quan văn phòng 35

2.2.1.2 Lục bộ 39

2.2.2 Bộ máy hành chính ở địa phương 46

2.2.2.1 Cấp tỉnh 46

2.2.2.2 Cấp phủ, huyện, châu, tổng 50

2.2.2.3 Cấp làng, xã 52

Trang 4

Chương 3 NHẬN XÉT VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI GIA

LONG VÀ MINH MỆNH 55

3.1 ĐẶC ĐIỂM 55

3.2 ƯU ĐIỂM 59

3.3 HẠN CHẾ 66

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giai đoạn 1802 – 1884 là thời kì phát triển cực thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Việt Nam dưới triều Nguyễn Ở giai đoạn này mọi bản chất của chế độ đều được bộc lộ, bối cảnh xã hội đa diện đều được phơi bày Đó là điều kiện thuận lợi để tạo dựng tính khách quan trong việc nghiên cứu về triều Nguyễn Cho đến nay chủ đề tìm hiểu tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước triều Nguyễn vẫn là nội dung quan trọng, nhiều ý nghĩa đối với hiện tại nên được giới sử học trong cả nước quan tâm nghiên cứu trên các lĩnh vực lịch sử, hành chính và pháp chế Trong đó, nghiên cứu nhiều nhất phải kể đến vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Triều Nguyễn là triều đại có đế quyền mang tính uy lực tuyệt đối, hơn bất

cứ triều đại nào có từ trước đó Bộ máy nhà nước dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh là tổ chức có quyền lực mạnh có khả năng thống nhất lãnh thổ, thế quyền và giáo quyền trong cả nước, có khả năng khống chế toàn xã hội và chinh phục các nước lân bang Bộ máy đó đã thể hiện sức mạnh to lớn trong việc huy động sức dân để kiến tạo kinh thành, xây dựng công trình giao thông thủy lợi, khai khẩn đất hoang, bảo vệ biên giới và hải đảo Gia Long và Minh Mệnh đã tổ chức tốt và phát triển trí lực để có hiệu quả cao trong việc nghiên cứu, biên soạn nhiều công trình lịch sử, địa lý, luật pháp và điển chế thuộc loại đồ sộ nhất của đất nước

Gia Long là người đầu tiên thống nhất đất nước từ Bắc vào Nam và là người chủ trương thiết lập lại chế độ quân chủ chuyên chế của dòng họ Nguyễn trước đó Tuy nhiên, cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh (1831 – 1832) được coi là trọng điểm Nó được nhìn nhận như một sự phát triển của bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến trung ương tập quyền mà

Trang 6

nước ta đã định hướng từ thế kỉ X và từng xác lập hoàn thiện vào thời Hồng Đức ở thế kỉ XV

Với mong muốn gìn giữ những giá trị lịch sử mà vua Gia Long và vua Minh Mệnh đã đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng bộ máy chính quyền cho dân tộc Việt Nam trong thời kì hai ông nắm quyền thống trị, tạo nên những điều kiện thuận lợi để xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh, xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến trung ương tập quyền, hướng dần về pháp trị và chuyên chế cực đoan, cũng như góp phần làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau trong cách thức tổ chức bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương của hai ông vua đầu triều Nguyễn, tác giả đã chọn đề tài

“So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh”

Nghiên cứu đề tài này giúp tôi có thêm nhiều kiến thức lịch sử của dân tộc Những kiến thức này sẽ là hành trang rất bổ ích cho nghề của tôi sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có không ít các tài liệu nghiên cứu về bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh có thể kể đến ở đây:

Trong bộ sử “Đại Nam thực lục chính biên” (1965), (Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội) đã ghi chép các sự kiện, nhân vật của triều Nguyễn Trong đó có những sự kiện nói về sự lên ngôi và tổ chức, điều hành đất nước của vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Trong bộ sử “Khâm định Đại Nam Hội điển sử lệ” (1993), (NxbThuận

Hóa, Huế) đã ghi chép lại Nội các triều Nguyễn về thiết chế hoạt động của lục

Bộ triều Nguyễn Trong bộ sử này, chủ yếu nói về các sự kiện và thiết chế hoạt động của các cơ quan hành chính dưới triều vua Gia Long, vua Minh Mệnh và vua Thiệu Trị

Trang 7

Trong cuốn “Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn Sơ (1802 – 1847)” của tác giả Nguyễn Sĩ Hải (1962), (Nxb Sài Gòn) đã phần nào cung

cấp tài liệu về bộ máy chính quyền trung ương triều Nguyễn từ khi vua Gia Long mới lên ngôi cho đến cuối thời vua Minh Mệnh

Cuốn “Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840), của

Nguyễn Minh Tường (1996), (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội) đã nói về quá trình vua Minh Mệnh cải cách lại tổ chức bộ máy chính quyền từ đời vua Gia Long

Trong cuốn “Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802 – 1884)” của

tác giả Đỗ Bang (1997), (Nxb Thuận Hóa) đã khái quát về tổ chức bộ máy chính quyền của triều Nguyễn Tuy nhiên, nội dung của cuốn sách chủ yếu nói về bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Năm 2005, tác giả Trần Hạnh Minh Phương có bài viết với nhan đề “Tư liệu về hầm bí mật trong gia đình Gia Long”, đăng trên tạp chí xưa và nay số

236 – 2005 Bài viết phần nào cung cấp những thông tin về những tháng ngày khó khăn của Gia Long trước khi lên ngôi

Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử, tạp chí giáo dục và lí luận…

Nhìn chung các công trình, tác phẩm đều đi vào khai thác những vấn đề trung tâm về bộ máy nhà nước dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mệnh Nhưng chưa có tài liệu nào so sánh bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích

Đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu về cách tổ chức bộ máy chính quyền dưới hai đời vua Gia Long và vua Minh Mệnh Qua đó so sánh để thấy sự giống và khác nhau trong cách tổ chức bộ máy chính quyền giữa hai đời vua đầu của triều Nguyễn

Trang 8

Nhiệm vụ

Sưu tầm, xử lý các nguồn tài liệu để xây dựng hình thành khóa luận

Trình bày một cách có hệ thống sự thống nhất đất nước dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mệnh

So sánh để tìm ra điểm giống và khác nhau về tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Đưa ra nhận xét về tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu

Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tư liệu sau:

Nguồn tài liệu thứ nhất: Các bộ sử của Việt Nam

Nguồn tài liệu thứ hai: Các nguồn tài liệu thông sử, lịch sử Việt Nam cổ trung đại và cận đại…

Nguồn tài liệu thứ ba: Các tài liệu chuyên sâu như sách, tạp chí, kỷ yếu… Nguồn tài liệu thứ tư: Các tài liệu từ cuộc hội thảo khoa học quốc gia về lịch sử thời Nguyễn năm 2002

Nguồn tài liệu thứ năm: Khai thác từ các trang web đáng tin cậy

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp logic, lịch sử, phương pháp thu thập tư liệu, phương pháp nghiên cứu liên ngành cùng một số phương pháp khác

về chính sách xây dựng bộ máy quản lý các cấp của Đảng và Nhà nước ta

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu khóa luận sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu về bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh, đồng thời giúp mọi người hiểu rõ hơn vai trò của vua Gia Long và vua Minh Mệnh trong việc nghiên cứu, tổ chức bộ máy chính quyền để xây dựng đất nước giàu mạnh, đóng góp kinh nghiệm đối với bộ máy quản lý của Đảng

và Nhà nước ta

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, khóa luận gồm ba chương

Chương 1 Sự thống nhất đất nước dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Chương 2 So sánh tổ chức chính quyền thời vua Gia Long và vua Minh Mệnh

Chương 3 Nhận xét về tổ chức chính quyền thời Gia Long và Minh Mệnh

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1

SỰ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC DƯỚI TRIỀU VUA GIA LONG

ta Đặc biệt ở chỗ, người đời chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhau trong quan điểm Chẳng hạn như nếu có người cho rằng, nhờ có nhà Nguyễn nên dân tộc ta mới có được một đất nước Việt Nam rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay, thì kẻ khác lại lên án triều Nguyễn là một triều đại bán nước và cực kỳ phản động

Để đánh giá bất cứ sự kiện hay vấn đề nào, một trong những việc phải làm

là cần tìm hiểu về nguồn gốc xuất hiện của nó, bao gồm hoàn cảnh chính trị

xã hội và xuất xứ, lai lịch cũng như thân thế của những cá nhân, dòng họ hoặc cộng đồng có liên quan, tức là căn cơ của sự việc và động cơ cũng như phẩm chất của người trong cuộc

Vương triều Nguyễn tuy chỉ mới thành lập một cách chính thức vào đầu thế kỉ XIX, nhưng sự chuẩn bị để đi đến kết quả ấy thì đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, muộn lắm cũng là vào thế kỉ XVII

Trang 11

Như một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Thanh Hóa là nơi phát tích của những dòng họ vua chúa nổi tiếng trong thời kì lịch sử Trung cận đại Việt Nam: vua Lê, chúa Trịnh, vua chúa nhà Nguyễn Nhưng vì quyền lợi riêng tư, chính dòng họ đồng hương này có lúc đã trở lên thù địch, muốn loại trừ nhau

để tranh bá đồ vương Bi kịch ấy đã diễn ra sau khi nhà Mạc chiếm ngôi vua

Lê vào năm 1527 Từ đó, sự phân cực quyền lực trên chiến trường đầy rối ren

ở đất Bắc giữa các dòng họ Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn Điều đó đã đẩy Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hóa năm 1558, rồi kiêm nghiệm xứ Quảng Nam năm 1570

Đây là những mốc thời gian đáng ghi nhớ trong quá trình hình thành và phát triển lãnh thổ của Đàng Trong Mãi cho đến khi gần lìa đời vào năm

1613, Nguyễn Hoàng còn dặn Nguyễn Phúc Nguyên, người con sắp lên kế vị mình rằng: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang và sông Gianh hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền Núi sẵn vàng sắt, biển

có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời” [20, tr.44]

Bằng chính sách mềm dẻo và chiến lược khôn khéo được lòng dân, chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng và các thế hệ chúa Nguyễn kế vị ông đã tiếp tục thực hiện cuộc Nam tiến của dân tộc khởi đầu từ thời Lí, trải qua các triều đại nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lê và cơ bản hoàn thành sứ mạng lịch sử cao cả này để mở

ra một đất nước Đại Việt tương đối hoàn chỉnh vào giữa thế kỉ XVIII

Tất nhiên, đến bây giờ, sông Gianh vẫn còn là nhát dao oan nghiệt chia cắt đất nước thành Đàng Ngoài và Đàng Trong Trong hai thế kỉ XVII và XVIII, Đàng Trong đã được đặt dưới sự lèo lái của 9 đời chúa Nguyễn:

1 Nguyễn Hoàng (1558 – 1613)

2 Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635)

Trang 12

là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi còn trẻ dại lên nối ngôi để lợi dụng Sự lộng quyền của Trương Phúc Loan đã làm mất nhân tâm từ Trung ương đến địa phương, làm cho bộ máy cai trị của nhà chúa yếu kém dần và lâm vào tình trạng bị “dột từ trên nóc dột xuống”

Đó chính là lí do khiến nhà Tây Sơn nổi dậy ở Quy Nhơn vào năm 1771, chống lại chính quyền sở tại và mở rộng ảnh hưởng ra ở các địa phương lân cận Với chiêu bài “phù Nguyễn diệt Trương”, phong trào khởi nghĩa này đã nắm đến mục tiêu trước mắt là mang lại sự công bằng và no ấm cho người nghèo trong xã hội

Biến động chính trị ấy lại trở thành cái cớ để chúa Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài vận dụng sách lược “đục nước béo cò” bằng cách sai lão tướng Hoàng Ngũ Phúc kéo hàng vạn quân vượt sông Gianh vào Phú Xuân lấy cớ diệt trừ Trương Phúc Loan và xin mượn đường đi thẳng qua bên kia đèo Hải Vân để tiêu diệt loạn Tây Sơn giùm cho nhà Nguyễn Tất nhiên, triều đình Phú Xuân thừa biết âm mưu lợi dụng cơ hội ấy cho nên bố trí một phòng tuyến để đối

Trang 13

phó Nhưng lực lượng chống chọi quá yếu Bắc quân tiến đánh đô thành Phú Xuân, chúa tôi họ Nguyễn đã phải xuống thuyền di tản vào Nam để lánh nạn

và kịp thời khôi phục cơ đồ

Sau khi làm chủ vùng đất Thuận Hóa vào năm 1775, quân Trịnh vượt qua đèo Hải Vân và tạo ra một liên minh bất đắc dĩ với lực lượng Tây Sơn để tìm cách tiêu diệt hẳn triều đình lưu vong của chúa Nguyễn Phúc Thuần ở tận trong Nam Chiếm cứ Quảng Nam trong một thời gian ngắn, quân Trịnh rút

về Thuận Hóa Dù liên minh vừa nói bị đổ vỡ, nhưng quân Trịnh vẫn làm chủ được vùng Thuận Hóa – Phú Xuân cho đến năm 1786

Đây là thời điểm phong trào Tây Sơn đã lớn mạnh Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc cử bào đệ là Nguyễn Huệ kéo quân từ Quy Nhơn ra đánh chiếm Phú Xuân Chiến thắng trận này, ông đã dùng mưu nhiều hơn dùng sức Quân Trịnh đại bại, chỉ còn lại một ít tàn binh chạy chốn ra Bắc với chiêu bài “diệt Trịnh phù Lê” Thành công theo dự kiến, ông đã tiến thêm một bước trong việc xóa bỏ ranh giới Nguyễn Nhạc phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương đóng bản doanh tại Phú Xuân để canh giữ địa bàn từ Thuận Hóa trở ra

Năm 1788, để duy trì cái ngai vàng ọp ẹp của mình, nhà Lê cầu viện Trung Hoa và Tôn Sĩ Nghị đã kéo 29 vạn quân Thanh sang Thăng Long chuẩn bị loại bỏ nhà Tây Sơn Đứng trước tình hình “dầu sôi lửa bỏng” ấy, Bắc Bình Vương lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung, mở cuộc Bắc phạt, và với chiến thuật thần tốc, chỉ sau 5 tuần lễ đã đánh tan quân Thanh ở Thăng Long vào đầu xuân năm Kỷ Dậu (1789) Trong quãng đời làm tướng và làm vua của mình, đây là công trạng to lớn và sáng ngời nhất của vị anh hùng dân tộc Tuy nhiên Quang Trung chết vì bệnh quá sớm (40 tuổi), sau đó là sự kế vị của vua Cảnh Thịnh mới 10 tuổi Tình trạng này làm cho nhà Tây Sơn ngày càng suy yếu Đây là cơ hội cho lực lượng lưu vong của hậu duệ các chúa Nguyễn trong Nam tiến dần ra khôi phụ cơ đồ

Trang 14

Năm 1775 tại Thuận Hóa, khi quân Trịnh đánh chiếm, trong nhóm người thuộc triều đình chúa Nguyễn phải bỏ thành Phú Xuân đi tị nạn vào thời điểm

ấy, có một cậu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Phúc Ánh (sinh năm 1762) Cậu

bé này là con của cố thế tử Nguyễn Phúc Côn (Nguyễn Phúc Luân) và là cháu nội của Nguyễn Phúc Khoát, tuy còn trẻ tuổi, nhưng trên quá trình sống lưu vong, đã nuôi ý chí “khắc phục cựu kinh” của tổ tiên mình một cách bền bỉ Vào thời gian cuối đời, chúa Nguyễn Phúc Khoát có ý định lập người con trai thứ hai là Nguyễn Phúc Côn làm thế tử, vì người con đầu là Nguyễn Phúc Chương đã chết sớm vào năm 1763 Nhưng khi chúa vừa qua đời là quyền thần Trương Phúc Loan thay đổi di chiếu, phế bỏ hoàng tử Côn, lập mưu bắt giam vào ngục và đưa hoàng tử thứ 16 là Nguyên Phúc Thuần mới 11 tuổi lên

kế vị để dễ bề khuynh loát Trong mấy tháng bị giam giữ, hoàng tử Côn lo buồn mà sinh bệnh, đến khi về nhà thì mất, cũng vào năm 1765

Mười năm sau đó, đoàn người lưu vong theo chúa Nguyễn Phúc Thuần vào tá túc trong một thời gian ngắn ở Quảng Nam, rồi vượt biển vào Gia Định năm 1776 Tại đây, họ đã tập hợp được một lực lượng trung thành với các chúa Nguyễn đi theo phò tá, trong đó có Mạc Thiên Tứ, Đỗ Thanh Nhân… Bấy giờ chúa Nguyễn Phúc Thuần giao cho Nguyễn Ánh giữ chức Chưởng

sứ, thường cùng ông bàn tính việc quân

1.1.2 Sự thành lập vương triều Nguyễn

Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân từ Quy Nhơn vào đánh Gia Định, chúa tôi nhà Nguyễn phải chạy xuống Định Tường, Cần Thơ rồi Long Xuyên Quân Tây Sơn đuổi theo, bắt được chúa và đoàn tùy tùng, họ đều bị giết, chỉ trừ Nguyễn Ánh kịp rời đất liền ra chốn tránh ở đảo Thổ Châu Sau đó, ông trở về Long Xuyên tụ tập được một số người thân tín và tái khởi binh đánh chiếm tại Sài Gòn Năm 1778, ông được các tướng tá dưới tương tôn lên làm Đại nguyên soái quyền coi việc nước Năm ấy ông mới 16 tuổi Hai năm sau ông được tôn lên ngôi vương, cũng tại Sài Gòn

Trang 15

Suốt 24 năm trời từ 1778 đến 1802, Nguyễn Ánh đã liên tiếp chống lại

kẻ thù họ Nguyễn Trong thời gian đó, khi thắng, khi bại, khi chơi vơi trên mặt biển, khi lưu lạc đất người, ông không bao giờ nản chí, luôn luôn theo đuổi nghĩa lớn, và nhờ đó, cuối cùng gây dựng được cơ đồ cũ, thống nhất được giang sơn Nguyễn Ánh lên ngôi lấy đế hiệu là Gia Long, cai trị một lãnh thổ rộng lớn hơn bao giờ hết về trước, và lãnh thổ này, chính ông đã đặt tên nước là Việt Nam

Từ một kẻ lưu vong không còn một mảnh đất cắm dùi, Nguyễn Ánh đã kiên trì giữ gìn huyết thống và uy tín của dòng họ, nên đã khôi phục được cho

tổ tiên và thống nhất đất nước sau 275 năm nội chiến (1527 – 1802) Nguyễn Ánh là người đã “đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước

ta thành một nước lớn ở phương Nam” [9, tr.405]

Trước đó, đã có khi dòng máu của thời các chúa Nguyễn suýt bị đứt mạch bởi quân Trịnh rồi nhà Tây Sơn, nhưng do có ý trí sắt đá của một hậu duệ là Nguyễn Phúc Ánh mà nó vẫn tiếp tục chảy và có ảnh hưởng đến lịch sử dân tộc Việt Nam trong một thời gian khá dài về sau Từ một kẻ lưu vong không còn một mảnh đất để cắm dùi, ông đã kiên trì giữ gìn huyết thống và

uy tín của dòng họ, nên đã khôi phục được cơ đồ cho tổ tiên và thống nhất đất nước sau 275 năm nội chiến (1527 – 1802)

Trong “Việt Nam sử lược”, tác giả Trần Trọng Kim đã dành ra một chương với tiêu đề “Nguyễn vương thống nhất nước Nam” để khẳng định Nguyễn Phúc Ánh là người đã đem giang sơn về một mối, nam bắn một nhà, làm cho nước ta trở thành một nước lớn ở phương Nam

Li Tana thì viết: “Chính đồng bằng sông Cửu Long đã cứu họ Nguyễn Đối với Nguyễn Phúc Ánh, nó trở thành một chân trời khác, một căn cứ đầy tiềm lực của đồng bằng sông Cửu Long, cách riêng, thóc gạo tại đây, đã giúp Nguyễn Phúc Ánh có thể đánh bại Tây Sơn… thiết lập triều Nguyễn và một quốc gia thống nhất mới” [33, tr.219]

Trang 16

Đúng một năm, sau ngày lập lại chủ quyền ở kinh đô Phú Xuân, ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1 – 6 – 1802) Nguyễn Ánh làm lễ lên ngôi, đặt niên hiệu Gia Long Ngày 21 tháng 6 năm 1802, từ Phú Xuân, Gia Long xuất quân

ra Bắc đánh bại triều Tây Sơn, xác lập vương triều Nguyễn trên cả nước Gia Long là vị vua khai sang vương triều Nguyễn Nó kéo dài 143 năm (1802 – 1945) qua 13 đời:

1 Nguyễn Phúc Ánh – Gia Long (1802 – 1819)

2 Nguyễn Phúc Đảm – Minh Mệnh (1820 – 1840)

3 Nguyễn Phúc Miên Tông – Thiệu Trị (1841 – 1847)

4 Nguyễn Phúc Hồng Nhậm – Tự Đức (1848 – 1883)

5 Nguyễn Phúc Ưng Chân – Dục Đức (1883 – 3 ngày)

6 Nguyễn Phúc Hồng Dật – Hiệp Hòa (1883 – 4 tháng)

7 Nguyễn Phúc Ưng Đăng – Kiến Phúc (1884)

8 Nguyễn Phúc Ưng Lịch – Hàm Nghi (1885)

9 Nguyễn Phúc Ưng Đường – Đồng Khánh (1886 – 1888)

10 Nguyễn Phúc Bửu Lân – Thành Thái (1889 – 1907)

11 Nguyễn Phúc Vĩnh San – Duy Tân (1907 – 1916)

12 Nguyễn Phúc Bửu Đảo – Khải Định (1916 – 1925)

13 Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy – Bảo Đại (1926 – 1925)

1.2 VAI TRÒ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA VUA GIA LONG

VÀ VUA MINH MỆNH

1.2.1 Triều vua Gia Long

Thống nhất lãnh thổ, biên giới, hải đảo

Vua Gia Long rất có ý thức về bảo vệ lãnh thổ, biên giới và hải đảo Năm 1805, nhà vua cho triển khai vẽ bản đồ nước ta Trong một tờ truyền của công đồng ngày mùng 7 tháng 6 năm Gia Long thứ 4 (1805) cho trấn quan

Trang 17

Gia Định có ghi rằng: “Nay truyền cho các dinh thần vẽ họa đồ của dinh mình hạn đến sang năm nộp tại lưu trấn quan đăng kí và chuyển về kinh” [4, tr.35]

Vua Gia Long rất chú trọng đến biên giới Tây Nam, nhất là ven trấn Hà Tiên, nơi tiếp giáp vùng đất Cao Miên và vùng biển Xiêm La Trong Đại Nam thực lục có xác nhận một sắc chỉ của vua Gia Long, năm 1810 như sau: “Vua thấy Hà Tiên ở biên cương phía đông có quan hệ tin tức với việc động tĩnh ở biển khơi, nên sắc rằng phàm có thuyền buôn nước ngoài đến buôn thì nên hỏi thăm người Xiêm thế nào để tâu lên” [25, tr.111]

Vua Gia Long rất quan tâm đến việc phòng ngự các cửa khẩu và hải đảo Năm 1813, vua cho đổi tên cửa Eo làm cửa Thuận An và cho xây đài Trấn Hải, sai Nguyễn Đức Xuyên trông coi công việc Vua thấy đó là nơi trọng yếu của hải cương

Bàn về cơ lược dùng binh, Gia Long dụ rằng: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông, Trẫm cùng các tướng sĩ đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay, lúc yên đừng quên lúc nguy Đó thực là đạo giữ nước yên dân” [46, tr.184]

Nhà vua rất có ý thức quản lí và xây dựng quần đảo Hoàng Sa Sau khi lên ngôi, tháng 8 năm 1803, lấy cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ; sai mộ dân ngoại tịch làm đội Hoàng Sa ra cai quản đảo Hoàng Sa

Gia Long đã thưởng 20 lạng bạc cho thuyền Ma Cao đậu ở Đà Nẵng dâng địa đồ Hoàng Sa cho triều đình Huế

Và cũng từ Hoàng Sa, Gia Long bắt đầu ý thức về một khả năng viễn dương của hải thuyền nước ta Năm 1815, sai đội quân Hoàng Sa là Phạm Quang Ảnh ra đảo dò tìm đường biển

Với một ý thức vì chủ quyền đất nước mạnh mẽ nên biên giới, hải phận

và hải đảo nước ta dưới thời Gia Long được khẳng định và củng cố

Thống nhất chính trị

Trang 18

Về tổ chức nhà nước: Sau khi lên ngôi, Gia Long cử sứ bộ do Thượng thư Bộ Hộ Trịnh Hoài Đức cầm dấu mang sách ấn nhà Thanh phong cho vương triều Tây Sơn đem trả lại với ý đồ thăm dò thái độ Thanh triều và chính thức báo cáo vương triều Tây Sơn đã bị diệt vong

Tháng 11 năm 1802, vua Gia Long lại cử xứ bộ do Thượng thư Bộ Binh Lê Quang Định dẫn đầu sang Trung Quốc xin phong vương và đặt quốc hiệu Nam Việt Sau nhiều cuộc thương thảo gay cấn trong suốt năm 1803, cuối cùng cả Thanh triều và Nguyễn triều chấp nhận quốc hiệu nước ta đầu thời Nguyễn là Việt Nam Ngày 17 tháng 2 năm Giáp Tý, vua Gia Long tuyên cáo đặt quốc hiệu mới, nhưng đến năm 1806 Gia Long mới làm lễ xưng đế ở điện Thái Hòa

Về triều chính: Sau khi xác lập được cơ sở xã hội và truyền thống dựng

đô, xác định được thế phong thủy và dịch lý, vua Gia Long đã chọn Huế làm kinh đô Đây cũng là đất trung độ giữa Gia Định và Thăng Long cho một nước Việt Nam mới Năm 1803, nhà vua đích thân khảo sát đất kinh đô Ngày

18 tháng 5 năm 1805, kinh thành Huế chính thức được khởi công xây dựng

Từ đó đến cuối đời, kinh thành Huế là một trong những lỗ lực và bận tâm chính trị của Hoàng đế Gia Long

Lúc đất nước mới bình định, vua Gia Long áp dụng chế độ quân quản, chia nước ra làm nhiều vùng Bắc thành và Gia Định thành chia cho 2 đại thần đầu triều là Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt phụ trách Đây là nền tảng

để sau này vua Minh Mệnh dân sự hóa và tập trung quyền lực cao nhất cho kinh đô Huế

Vì chưa đào tạo kịp đội ngũ văn quan có thực tài nên hàng ngũ quan lại triều Gia Long phần lớn do các võ tướng đảm nhận

Một số cựu thần nhà Lê ra tham chính sau lời kêu gọi của Gia Long (6 – 1802) cũng chỉ giữ các chức vụ thừa hành

Trang 19

Sự khủng hoảng bộ máy văn trị sau 5 năm mới ổn định được trong cơ chế nhà nước triều Gia Long

Tư tưởng chính trị và tổ chức nhà nước của triều Gia Long đặt nền móng vững chắc cho chế độ cai trị của triều Nguyễn về sau

Về quân đội: Ra khỏi cuộc chiến tranh với Tây Sơn nhưng Gia Long vẫn sử dụng đội quân thường trực ở kinh đô, các tỉnh, phòng vệ các cửa khẩu Tuy nhiên quân đội triều Gia Long có cải tổ cho phù hợp với hoàn cảnh mới

Trước hết, những binh sĩ già nua, Gia Long cho về quê quán Đặt phép dãn binh để tuyển mộ tân binh Phép tuyển này không đồng đều trên các miền lãnh thổ Các tỉnh miền Trung được tuyển mộ cao hơn cho đội quân ứng trực

ở kinh đô Từ Quảng Bình vào Bình Thuận, cứ 3 suất đinh thì chọn 1 lính Từ

Hà Tĩnh trở ra 5 nội trấn bắc Thành 7 suất đinh chọn một lính Bắc Thành ngoại trấn cứ 10 suất đinh chọn 1 lính Ở kinh đô có than binh, cấm binh, tinh binh và có đội quân nhạc 50 người, ở các trấn có lính cơ, lính mộ

Quân lính chia làm 3 phiên, 2 phiên cho về quê làm ăn và một phiên ở lại, cứ thế thay phiên nhau

Vũ khí phần lớn là gươm, giáo, mã tấu Có súng đại bác, súng điểu thương

Ở cửa bể có đồn bảo, binh sĩ thường xuyên trấn giữ Ở mỗi cửa khẩu có một cơ lính trông coi

Nhà vua cho chế thuyền bọc đồng để ứng trực và phòng thủ trên các mặt biển

Về pháp luật: Sau khi lên ngôi, vua Gia Long tham khảo bộ luật Hồng Đức đặt ra 15 điều khoản để xét xử trong nước Năm 1811, nhà vua sai Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài soạn bộ Hoàng triều hình luật, quen gọi là

bộ luật Gia Long Năm 1812, bộ luật Gia Long soạn xong gồm 398 điều và được ban hành vào năm 1815 Tác giả Trần Trọng Kim cho rằng: Bộ luật ấy

Trang 20

tuy nói theo luật Hồng Đức nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi

Vua Gia Long rất quan tâm đến việc xét xử các vụ án Nhà vua muốn các vụ án xét xử nhanh chóng, công minh và có sự khoan hồng cho các công thần của bản triều

Năm 1812, vua Gia Long ra chỉ dụ cho bộ Hình rằng: “Hình ngục là việc lớn, quan hệ đến sinh mệnh của thiên hạ Gần đây các nha môn hỏi việc hình, có nơi cứ để ứ đọng án tiết làm lụy cho binh dân, ta rất thương Vậy hạ lệnh cho sở tại phải xét văn án soát tội tù, kẻ nào nhẹ thì tha cho, kẻ nào nặng thì tâu xin xử trí để cho hình được thanh, chính được bình, xứng với lòng ta” [19, tr.149]

Với quan điểm xét xử đó nên Gia Long đã giáng chức Thống chế Thị nội Võ Viết Bảo xuống làm cai cơ thay vì xử tội đồ nhu nghị án của bộ Hình

Lý do là năm 1816, Võ Viết Bảo cho thuộc hạ về thăm nhà, việc bị phát giác, vua gọi đến hỏi, Bảo không dám khai thật, vua sai giam vào ngục Bộ Hình đề nghị xử tội đồ, Gia Long cho là Bảo do sợ chứ không cố ý nên chỉ giáng chức

mà thôi

Nhưng bộ Hoàng triều luật lệ và bản thân Gia Long vẫn không cứu

được những đại thần đầu triều là Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường

và sau này là Lê Văn Duyệt nên Gia Long sau này để lại cho lịch sử một bản

án cho chính nhà vua là đã giết hại công thần

Tháng 8 năm 1815, bộ Hoàng triều Luật lệ do Nguyễn Văn Thành làm

Tổng tài được ban hành thì đến cuối năm, Thành dính vào một vụ án do bài thơ của con là Nguyễn Văn Thuyên, Triều thần quy vào tội phản nghịch Thuyên bị tống ngục, Thành bị thu ấn, Gia Long cho rằng Văn Thành làm đại thần mà dung túng cho con kết nạp môn khách Với một bề tôi như thế thì khó

xử trí Vụ án Nguyễn Văn Thành kéo dài Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc

Trang 21

chết Còn để lại một tờ biểu trần tình gửi lại cho Gia Long, nhà vua cầm biểu đọc mà đau xót, nghĩ Văn Thành đã theo mình từ khi còn trẻ, vất vả lắm, có công nhiều mà nay phải chết như vậy Gia Long cho là mình kém đức vì không bảo hộ được Văn Thành

Bộ Hoàng triều luật lệ là một cống hiến quan trọng của Gia Long đối với pháp luật thời Nguyễn

Thống nhất về kinh tế, tài chính

Vua Gia Long cho lập địa bạ để kiểm kê tài nguyên, ruộng đất, lập đinh

bạ để nắm nguồn nhân lực ở các làng Nhà vua cho đào sông, mở đường, tu sửa đê điều để giao thông liên lạc và làm thủy lợi Đo lường, tiền tệ được thống nhất Thuế ruộng đất, thuế đinh, thuế sản vật cũng được quy định lại tùy theo đẳng hạng ruộng đất và khu vực dân cư mà đóng thuế khác nhau Hoạt động kinh tế bắt đầu khởi sắc, nhất là khai hoang vùng Gia Định Tình hình khai thác mỏ cũng được chú ý cho thực hiện với hai phương thức: nhà nước quản chế khai thác và tư nhân lãnh trưng

Buôn bán với phương Tây và trong nước có hạn chế nhưng luồng mậu dịch với Trung Quốc thường xuyên đã tạo được một nguồn thuế đáng kể

Thống nhất về văn hóa, giáo dục, xã hội

Song song với việc xây dựng kinh đô, đàn miếu ở Huế, năm 1809, vua Gia Long cho sửa sang miếu thờ Lê Thánh Tông Năm 1806, Lê Quang Định

đã hoàn thành bộ sách Nhất thống địa dư, 10 quyển… là bộ Dư địa chí đầu tiên và đầy đủ các mục từ sơn xuyên đến sản vật, phong tục cả nước từ Lạng Sơn đến Hà Tiên Năm 1811, nhà vua kêu gọi nhân dân cung cấp tài liệu lịch

sử hoặc biên chép sử sách thời Lê và Tây Sơn và cử Nguyễn Văn Thành làm

Tổng Tài bộ Quốc triều thực lục Chính nhận thức đúng đắn này, triều Gia

Long đã sưu tầm được nhiều tài liệu quý và đặt nền móng cho ngành quốc sử

Trang 22

của triều Nguyễn và đã để lại những tư liệu quan trọng cho nhiều công trình

sử học đồ sộ sau này

Thời Gia Long đã cho cải cách lịch pháp ở nước ta, trước năm 1810,

Việt Nam soạn lịch Vạn Toàn trên cơ sở tham trước lịch Đại Tống của nhà

Minh Sau khi Nguyễn Hữu Thuận đi sứ Trung Quốc về và mang theo sách

Đại Thanh lịch tượng khảo thành, lịch có tham khảo lịch Phương Tây nên

chính xác hơn, Khâm Thiên Giám nghiên cứu và cho sử dụng chính thức từ

sĩ suất sắc trong cả nước Mở khoa thi hương để chọn người làm quan

Ở các trấn đặt chức Đốc học, sử dụng các khoa mục thời Lê làm đội ngũ thầy giáo

Thời Gia Long đã sản sinh ra nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng như: Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác văn chương của nước ta

Gia Long lên ngôi phải đối phó với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, nhất là ở Đàng Ngoài và một số địa phương ở miền Trung như Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định Để đối phó tình hình khởi nghĩa với nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là do dân bất phục, thường hướng về triều cũ (triều Lê và Tây Sơn), chính sách áp bức, thuế má nặng nề, mất mùa, đói kém, Gia Long một mặt đưa quân đi đàn áp, mặt khác phủ dụ, miễn giảm thuế hoặc lấy lúa dự trữ trong kho phát chẩn cho dân Gia Long đã thực hiện

Trang 23

chính sách an dân có hiệu quả Các cuộc khởi nghĩa ngày càng giảm dần và quy mô nhỏ hơn

Như vậy có thể thấy, trong vòng 18 năm trị vì (1802 – 1819) của Gia Long lần đầu tiên đất nước Việt Nam được thống nhất từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau Tuy nhiên nền thống nhất mới trên phương diện lãnh thổ địa lý

và quân sự, còn trên bình diện chính trị, tổ chức hành chính thì đang trong tình trạng lỏng lẻo, rời rạc

1.2.2 Triều vua Minh Mệnh

Vấn đề thống nhất đất nước dưới triều vua Minh Mệnh vẫn dựa trên những nền tảng mà vua Gia Long đã làm được trước đó

Có lẽ, tư tưởng thống nhất đất nước là tư tưởng thường trực và nung nấu trong con người Minh Mệnh Chính vì vậy khi mới lên ngôi ông đã bắt tay ngay vào việc tiến hành những cải cách bộ máy hành chính nước Việt Nam ngày đó Nói một cách khác, công cuộc cải cách hành chính được triển khai từng bước từ triều đình đến các địa phương nhằm cụ thể hóa tư tưởng chính trị này của Minh Mệnh

Công cuộc củng cố thống nhất đất nước được trở đi trở lại ở Minh Mệnh biểu hiện trên các mặt: Vấn đề thống nhất gắn liền với vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời vấn đề thống nhất còn gắn liền với vấn đề tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương, không chấp nhận sự phân quyền, tản quyền

Thống nhất đế quyền trên phương diện lãnh thổ và chính quyền trung ương

Nền móng ban đầu về xây dựng kinh đô, tổ chức bộ máy nhà nước trung ương tập quyền, chế độ quan lại… dưới triều vua Gia Long được Minh Mệnh củng cố, phát triển và nó đã đạt tới đỉnh cao của sự hoàn thiện Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục… bảo vệ biên giới, phát triển thế lực ra bên ngoài được Minh mệnh quan tâm và đẩy mạnh hơn một bước

Trang 24

Để đáp ứng yêu cầu đất nước mở rộng và quyền hành tập trung, Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính các cấp, các ngành nếu không nhà nước

sẽ bị bất lực, nạn cát cứ và nội chiến sẽ xảy ra

Nội các được thành lập năm 1829 để tăng cường quyền lực thay cho văn thư phòng có từ trước đó Cải tổ và tăng cường có trách nhiệm cho cơ quan Lục Bộ, Lục Tự, thành lập các cơ quan chuyên môn ở Trung ương Về địa phương, xóa bỏ cấp quản lí trung gian giữa triều đình và địa phương là Bắc Thành và Gia Định thành Lập 31 tỉnh trực thuộc triều đình Huế (1832) Việc cải tổ, sắp đặt lại các đơn vị tổ chức bộ máy quản lí nhà nước chủ yếu ở cấp trung ương và cấp tỉnh thời Minh Mệnh đã đánh dấu một bước phát triển trong quá trình củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền với một hệ thống chủ yếu gồm 4 cấp Trung ương – Tỉnh – Phủ, huyện, châu – Làng, xã Với việc sắp đặt, cải tổ này Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn đạt tới mức hoàn chỉnh với một thể chế dầy đủ, chặt chẽ nhất – một nhà nước mạnh so với các nhà nước quân chủ trước đó Đó là một thắng lợi về thống nhất đế quyền trên phương diện lãnh thổ và chính quyền trung ương của triều Nguyễn

Chính vì vậy mà tư tưởng thống nhất đất nước của Minh Mệnh luôn gắn liền với tư tưởng yên dân Nó có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu như đất nước đã được thống nhất mà dân không yên thì đương nhiên nền

Trang 25

thống nhất đó chỉ là hình thức Tư tưởng yên dân, xét ở mặt tăng cường sự bền vững của một triều đại lại có tầm quan trọng sống còn đối với triều đại

đó Tư tưởng yên dân của Minh Mệnh bao trùm suốt thời gian trị vì của ông

Đó là ý thức trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia và sự an toàn của hoàng tộc mà ông là đại diện

Một lần vào thăm Minh Mệnh thứ 20 (1839), trước ngày tế giao mấy ngày, Minh Mệnh trong người không được khỏe Hoàng trưởng tử Miên Dung xin chọn ngày khác làm lễ, Minh Mệnh đã dụ rằng: “Con chỉ biết có một mà chưa biết được hai Làm vua cai trị muôn nước phải kính Trời, bắt chước tổ tiên, chăm chính sự và thương yêu dân, bốn việc ấy không lúc nào lãng quên được Huống chi vì dân cầu phúc, lập lên lễ tế kính cẩn, đã có ngày nhất định thay đổi sao được” [24, tr.145]

Thống nhất về văn hóa, pháp luật

Độc tôn Nho giáo và đề cao pháp trị là tư tưởng chính trị nổi bật của Minh Mệnh Ban đầu hai luồng tư tưởng Tống Nho của Bắc Hà và Minh Nho của Nam Hà có ảnh hưởng đến đường lối trong nước của vua Nguyễn, nhưng

về sau tầng lớp sĩ phu đào tạo dưới triều Minh Mệnh dần dần chiếm ưu thế với một tư tưởng quân quyền độc tôn hỗ trợ đắc lực cho ngôi thiên tử Do đó

tư tưởng Minh Nho dù phóng khoáng, thực tiễn hơn đã có một thời tạo nên khí chất và sự khoáng đạt dưới triều Gia Long và đầu triều Minh Mệnh mà những người tiêu biểu cho tư tưởng này là Đặng Đức Siêu, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, giờ nhường chỗ cho tầng lớp Nho sĩ mới đào tạo từ Kinh sách Tống nho thành hiến, bảo thủ, bài trừ các hệ tư tưởng khác Dù không khắc nghiệt với Phật Giáo nhưng tư tưởng bài trừ Ki Tô Giáo dẫn đến cấm đạo và bài ngoại của Minh Mệnh là do sự cổ vũ của đám quân thần theo Tống Nho thời đó

Trang 26

Tư tưởng Tống Nho đã đưa tới một khả năng vượt trội của đế quyền về việc bình thiên hạ nhưng đã làm trì trệ, thui chột các yếu tố mới trong nền kinh tế, xã hội nảy sinh ra từ thế kỷ XIX vì tính chất bảo thủ, cố chấp của nó

Minh Mệnh cũng đề cao pháp trị, bộ Hoàng Triều luật lệ thời Gia Long ban hành năm 1815 được bổ sung thêm các điều luật mới như việc làm sai trái của các quan thi hành án, tội tham nhũng, hối lộ…

Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng như nhau kể cả hoàng thân quốc thích và quan lại cao cấp trong triều

Nửa đầu thế kỉ XIX, trong bối cảnh quan hệ quốc tế tương đối ổn định, vua Minh Mệnh, hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn đã tiến hành công cuộc xây dựng đất nước Trong giai đoạn này, trên cơ sở của kết quả quá trình “Nam tiến” kéo dài suốt từ thế kỉ X của người Việt, cương vực lãnh thổ tương đương với lãnh thổ của Việt Nam hiện nay kéo dài từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau đã được xác lập

Tiểu kết chương 1

Trong hai thế kỉ XVII và XVIII Đàng Trong được đặt dưới sự thống trị chín đời chúa Nguyễn Tuy nhiên, sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát (1765) đã làm cho bộ máy cai trị của nhà chúa yếu kém dần Đây là lý do khiến cho nhà Tây Sơn nổi dậy và ngày càng lớn mạnh Lúc này, triều đình chúa Nguyễn có Nguyễn Ánh nuôi ý chí “khắc phục cực kinh” của tổ tiên một cách bền bỉ Nguyễn Ánh tập hợp lực lượng, sau nhiều lần giao đấu đã đánh bại nhà Tây Sơn giành lại được đất nước Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam

Ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã bắt tay ngay vào tiến hành sự nghiệp thống nhất đất nước Lần đầu tiên trong lịch sử, đất nước ta được thống nhất từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau Khi vua Minh Mệnh lên ngôi

Trang 27

đã tiếp tục sự nghiệp thống nhất đất nước có từ trước đó của vua Gia Long Minh Mệnh tiến xa hơn một bước trong việc tổ chức lại bộ máy hành chính, kinh tế, văn hóa… Dưới triều vua Gia Long và vua Minh Mệnh, chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền của các chúa Nguyễn một lần nữa đã được xác lập

Trang 28

Chương 2

SO SÁNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN THỜI GIA LONG

VÀ THỜI MINH MỆNH

2.1 GIỐNG NHAU

2.1.1 Hoàng đế, người đứng đầu nhà nước ở kinh đô Huế

Đế quyền có tính tuyệt đối: Bộ luật Gia Long quy định rằng: Bất cứ ai

vô phận sự mà vào cửa Ngọ Môn, Tử Cấm Thành, cửa Đông Ba, cửa Chương Đức, cửa Hiển Nhân, Các Môn và vườn cấm đều bị phạt 100 trượng Nếu tự tiện đi vào nhà bếp vua sẽ bị tử hình (điều 166) Binh sĩ không dược lệnh vua

mà mang vũ khí vào Tử Cẩm Thành bị phạt 100 trượng, phát phối đi biên giới (điều 173) Bất cứ ai phóng đạn, ném gạch, quăng đá, bắn tên hương vào Thái Miếu và cung điện sẽ bị xử tử (điều 174) Ai tự tiện vượt qua Hoàng Thành cũng bị tử hình (điều 179) Ban đêm người nhà quan lại có công chuyện phải

về khuya, gọi cửa ngoài cấm môn phạt 100 trượng (180) Nếu để gia súc chạy vào Tử Cấm Thành người chăn giữ bị phạt 100 trượng [4, tr.12]

Khi vua ra khỏi thành, nhà hai bên đường phải đóng cửa, khi qua cánh đồng vắng nếu không kịp lánh xa phải úp mặt xuống bên đường để xa giá đi qua Nếu ai xông vào đám rước của vua sẽ bị tử hình Kẻ nào đón xe vua để tỏ bày, đề bạt mà việc không thật cũng bị xử tử (điều 177) Lệnh dụ vua ban ra không thi hành bị phạt 100 trượng (điều 60)…

Tên vua không được lấy làm tên người, tên đất Nếu có tên vốn trùng với tên vua thì phải đổi tên Khi đọc, gặp tên vua phải đọc trại ra, như tiếng Đảm (tên vua Minh Mệnh) thì đọc là Đản Khi viết, gặp tên húy của vua thì phải tìm chữ đồng nghĩa Ví dụ khi gặp chữ “Ánh” tên của vua Gia Long thì phải dùng chữ “Chiếu” đồng nghĩa để thay vào Nếu phải đọc hoặc viết đúng

Trang 29

chữ Ánh cũng không được phát âm hay viết nguyên chữ Ánh mà thể hiện là

“chữ mà bên tả chữ nhật, bên hữu chữ anh”

Luật pháp và những quy ước đó dưới triều vua Gia Long và Minh Mệnh ở vào vị trí cực tôn của quyền lực và sự cung kính

Hoàng đế đứng đầu cơ quan lập pháp Hoàng đế và vị nguyên thủ tối cao của cơ quan hành pháp, chủ trì các hội nghị đình thần, phê duyệt và quyết định mọi việc của triều chính, bổ nhiệm hoặc bãi miễn các quan chức Hoàng

đế cũng là người nắm quyền tư pháp tối cao, nhà vua ban hành mệnh lệnh cho các cấp thực thi luật pháp Ở phương diện này, hoàng đế là người đứng đầu tòa án quốc gia Các tử tội hoặc các quan đại thần phạm tội đều có mệnh lệnh của nhà vua trước khi đưa ra thi hành Bản án đã được trung thẩm, nhà vua có quyền gia giảm hoặc đại xá cho tội nhân

Nhà vua có đặc quyền về khen thưởng và xử phạt không những với quan lại, dân chúng mà đến cả quỷ thần, đó là quyền phong sắc, lập đền cho các công thần, phúc thần Các hung thần, gian thần thì bị tước sắc phong và triệt phá đền thờ…

Hoàng đế là người đứng đầu quân đội, là vị tổng tư lệnh tối cao, có quyền tổ chức và bổ nhiệm võ quan, có quyền khiển tướng Chỉ có hoàng đế mới có quyền tuyên chiến hoặc nghị hòa

Hoàng đế là người có quyền tối thượng đặt ra các thứ thuế buộc dân chúng trong nước phải nạp và quan lại phải thi hành Hoàng đế là người duy nhất trong nước định ra các thứ thuế, không ai được quyền đặt ra một thứ thuế khác, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt

Đối với dân chúng, tô thuế là bổn phận của mọi người Với tư cách là thần dân là phải nộp thuế thân và thuế nghề nghiệp (ruộng đất, hóa hạng…) cho miễn thuế, giảm thuế, hoãn thuế cũng là quyền của hoàng đế, không ai có quyền nhân danh hoàng đế hoặc cá nhân để khoan thư cho dân Năm 1841,

Trang 30

nhân ngày sinh nhật lần thứ 50 của Minh Mệnh, nhà vua đã ra dụ tha nửa thuế cho nhân dân

Các biện pháp độc tôn đế quyền: Với những quyền hành tuyệt đối về

hành pháp, lập pháp, tư pháp, quyền quyết định về thuế khóa, quân đội, ngoại giao… thời Minh Mệnh còn áp dụng những biện pháp nhằm độc tôn đế quyền thành một quyền các nhân tuyệt đối, không chia sẻ, không nhân nhượng hoặc

ủy thác cho bất cứ ai

Các hoàng thân không được giao nhiệm vụ về chính trị thì không được can dự vào việc triều chính Vua là thành viên của hoàng tộc, nhân danh hoàng tộc để lập đế quyền Nhưng quyền cai trị đất nước là quyền cá nhân của nhà vua, các hoàng thân không vì danh nghĩa đó mà can thiệp hoặc dùng áp lực với nhà vua trong việc trị nước

Không lập ngôi hoàng hậu: Bởi vì hoàng hậu có một thực quyền chính trị rất lớn Ngôi vị này sẽ trở nên tối thượng khi thành hoàng thái hậu nắm quyền nhiếp chính Lo sợ trước sự khủng hoảng triều chính và sự lạm dụng quyền lực để các họ khác đoạt ngôi, từ kinh nghiệm đó trong lịch sử mà vua Gia Long và vua Minh Mệnh không phong hoàng hậu mà chỉ lập hoàng phi và các cung tần Đây là một biện pháp cực đoan chuyên chế không có trong những triều đại trước Sau khi vua mất, thái tử lên ngôi mới tôn mẹ làm thái hậu

Không lập ngôi Tể tướng: Tể tướng ở cương vị phó vương là người cầm quyền hành pháp trong một vương quốc, mọi việc phải trình qua Tể tướng để tấu lên thiên tử Không đặt chức vụ tương đương tể tướng như tham tụng, bồi tụng… ít người được phong tước hầu Ngay cả hoàng thân là trọng thần cũng chỉ được phong đến tước công mà thôi, không ai được ban tước vương lúc còn sống

Hạn chế quyền hành thái giám và hầu thần trong Nội cung, nhất là các thừa bút thái giám, có trách nhiệm viết những lời vua ban rồi thay vua phê

Trang 31

duyệt công văn và điều hành công vụ Bởi vì, đội ngũ thái giám trở thành tầng lớp trung gian giữa vua và các đại thần, trên thực tế họ có rất nhiều quyền biến nên dễ tạo ra sự ngăn cách, hình thành các phe phái làm hỗn loạn cung đình

Thi cử không lấy Trạng nguyên: Trạng nguyên là học vị cao nhất trong trường thi thời phong kiến Việt Nam Người đỗ trạng nguyên sẽ là bậc thầy trong thiên hạ, được quyền bất khả xâm phạm Với đặc quyền đó, Trạng nguyên sẽ chi phối xã hội bằng giáo dục, văn hóa, tư tưởng và cả quan niệm chính trị Vì thế mà triều Nguyễn không công nhận học vị trạng nguyên

Những giới hạn của đế quyền:

Để hợp lòng dân: Mặc dù uy quyền tuyệt đối, luật pháp trong tay, nhưng vua Gia Long và vua Minh Mệnh vẫn tự kiềm chế, điều tiết bằng đức trị cho hợp lòng dân để ngôi vị được lâu bền Lấy nhân đức, nhân ái để cảm hóa, giáo dục dân chúng

Để thuận ý trời: Thiên tử thay trời trị dân, vua Nguyễn quan niệm rằng trời luôn giám sát mình Mỗi khi gặp quốc biến, luật pháp hà khắc, dân tình than oán thì oán khí xẽ xông lên trời, âm dương bất hòa, sinh tai biến… dó là điểm ứng của trời cho thiên tử răn mình, tu chỉnh phép nước

Quan niệm “dân vi quý”, “quân vi khinh”: Từ quan niệm “trời sinh dân không phải vì vua; trời sinh vua chính là vì dân vậy”, ở Vệt Nam có truyền thống lấy dân làm gốc Các vua Nguyễn mặc dù không đề cao dân là quý nhưng vẫn thể hiện tư tưởng thương dân trong các văn kiện của hoàng đế

Thừa nhận quyền tự trị của làng xã: nhà nước phong kiến đứng đầu là vua quản lí, điều động nhân lực, thuế má của thành viên làng xã gián tiếp qua

bộ máy quản lí xã thôn do dân chúng suy tôn hoặc bầu lên; bởi thế mà “phép vua vẫn thua lệ làng”, nhà nước vẫn thừa nhận quyền tự trị mức độ của làng

xã và quyền sở hữu ruộng đất theo tập quán lâu đời mỗi làng Mọi cố gắng

Trang 32

của Gia Long và Minh Mệnh nhằm can thiệp vào làng xã nhưng cuối cùng cũng phải thừa nhận một “hương thôn tiểu triều đình” có mặt khắp mọi nơi

Khai thông luồng “dân ý”: Chế độ quân chủ không phải lúc nào cũng độc đoán, hà khắc, chỉ biết ngôi vua mà không quan tâm đến dân Sở dĩ vua tồn tại là nhờ “tâm quy”, tâm bất phục thì chế độ sụp đổ “Công tâm” là chiến thuật lấy lòng dân của bất cứ triều đại nào cần duy trì sự ổn định bảo vệ và xây dựng vương quyền Đây là mối quan hệ hữu cơ, sinh tồn của ngôi quân chủ

Năm 1804, Gia Long ra Bắc, Nguyễn Công Trứ lúc đó còn là một thư

sinh nghèo đã đến dâng Thái bình thập sách Để được lời nói thẳng hoặc giải

lời oan trái, người dân được quyền đón xa giá của vua hoặc đến nơi thi hành tại để đề đạt nguyện vọng của mình

Năm 1832, Minh Mệnh lập Đô sát viện với đội ngũ ngôn quan để có lời nói thẳng, nói thật, khuyên ngăn việc nước

Mặc dù hai ông vua đầu triều Nguyễn đã thu tóm mọi quyền hành vào trong tay Hoàng đế và trở thành một thể chế quân chủ tập quyền cực đoan nhất trong chế độ phong kiến Việt Nam nhưng vẫn thực hiện những tập quán, truyền thống dân chủ làng xã và kỉ cương phép nước, dành sự khoan thư cho dân, sự quan tâm đến xã hội và điều chỉnh kỷ cương cho thuận chính đạo, hợp

Trang 33

Thiết triều gồm có Đại triều và Thường triều

Lễ Đại triều được cử hành trọng thể tại Điện Thái Hòa, tất cả các quan chức làm việc ở trung ương từ nhất phẩm đến cửu phẩm, các quan địa phương

về kinh công cán đều tham dự Các hoàng tử, hoàng thân, quan lại các cấp tùy theo phẩm trật mà đứng vào vị trí của mình Khi hoàng đế đã an tọa ở trên ngai vàng, đội nhã nhạc nổi lên, các quan làm lễ lạy 5 lạy Một vị đại thần dâng tờ hạ biểu Các quan lạy thêm 5 lạy Khi lễ tan, kiệu rồng rước hoàng đế

về nội cung, triều thần giải tán

Lễ thường triều được quy định tổ chức vào các ngày 5, 12, 20, 25 hàng tháng ở Điện Cần Chánh

Nghe chính sự: Vào các ngày lẻ trong tháng vua ngự ở Điện Cần Chánh nghe chính sự Các quan văn, võ theo ban ngành, thứ bậc vào chầu Các quan đến “điện tấu” phải tóm tắt nội dung, chép thành hai bản Bản chính do vị quan tấu trình đến cùi và dâng trước ngự tọa Quan Nội Các mở ra và để trên ngự án Quan tấu trình đọc bản phó cho triều thần cùng nghe Đợi hoàng đế phán hỏi hoặc chỉ thị ban lệnh Quan Nội các có nhiệm vụ ghi chép mọi việc diễn ra trong buổi diện tấu của các quan

Hoàng đế phê duyệt: Khi tập tấu của các cơ quan trung ương và địa phương đệ trình, hoàng đế trực tiếp đọc tấu văn và dùng bút son đỏ phê lên bản chương gọi là châu bản Có 4 loại ngự phê:

Châu phê: Là câu phê của hoàng đế

Châu điểm: Vua dùng bút son điểm một chấm ở đầu chữ tấu biểu thị sự chấp thuận

Châu khuyên: Vua dùng bút son vòng tên một người biểu thị sự lựa chọn của vua trong danh sách trình xin hoàng đế lựa chọn

Châu mạt: Còn gọi là châu cải, hoàng đế dùng bút son gạch một đường trên một câu hay tên một người biểu thị sự không chập thuận

Trang 34

2.1.2 Nhiệm vụ của Lục Bộ

Bộ Lại

Nhiệm vụ: Gữ việc bổ dụng thuyên chuyển các quan văn, kỷ lục công tranh, thăng thưởng phẩm trật và quan hàm, giữ phép khảo sát niên khóa và thành tích, phong tước, trao ấn và phong tặng; thảo những chiếu, sắc, cáo, mệnh để tuyên bố ngọc âm (lời của vua), làm sổ ghi rõ các ngạch của quan chức

Bộ Hộ

Nhiệm vụ: Trông coi đinh điền, thuế khóa, giá cả, tiền tệ, hàng hóa, kho tàng, cấp phát, điều tiết kinh tế…

Bộ Lễ

Nhiệm vụ: Phụ trách về triều hội, tế lễ, khánh hạ, tôn phong, việc tuần

du của vua, bang giao, phủ dụ các nước nhỏ, giáo dục và khoa cử…

Trang 35

2.1.3 Mô phỏng bộ máy hành chính như nhà Thanh

Trong thời gian trị vì của mình, vua Gia Long và vua Minh Mệnh đã định ra một số chế độ về mặt tổ chức nhằm sắp xếp bộ máy nhà nước theo hướng ngày càng thể hiện quyền lực tập trung vào tay của nhà vua

Bộ luật Hoàng Triều luật lệ quen gọi là bộ luật Gia Long dưới thời vua

Gia Long được tác giả Trần Trọng Kim nhận xét: “Bộ luật ấy tuy nói theo luật Hồng Đức nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều

mà thôi” [10, tr.177]

Dưới thời Minh Mệnh, mục đích của việc hoàn chỉnh chế độ quan lại

được nêu rõ trong Dụ định quan chế tháng 8 năm Đinh Hợi (1827) kèm theo

chỉ dụ là một bản quy định về phẩm cấp và chức vụ của quan chức từ trung ương đến địa phương được vua phê chuẩn Ngay sau đó thì vua cho soạn bộ

Bách ty chức chế, chỉ dụ ban hành sách này thể hiện quyết tâm của vua Minh

Mệnh muốn tổ chức hoạt động hành chính nhà nước theo phép tắc và làm

chuẩn mực cho đời sau Đến năm 1834, sách được ban hành với tên Hội điển toát yếu, một văn bản pháp luật quan trọng về chức trách của cơ quan nhà

nước triều Nguyễn

Vua Gia Long và vua Minh Mệnh rất có ý thức trong việc mô phỏng cách tổ chức hành chính của nhà Thanh Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt giữa điển chế nhà Thanh và điển chế nhà Nguyễn, nó phản ánh cách thức tham khảo của nhà Nguyễn

Theo Đại Thanh hội điển, quan chức nhà Thanh tại các bộ được chia

thành các cơ quan chuyên môn gọi là Thanh lại ty Bộ lại có các Thanh lại ty: Văn tuyển, Khảo Công, Nhiệm Phong, Kê huân Bộ Hộ thì chia theo địa phương thành 14 Thanh lại ty gọi theo tên của các tỉnh như Giang Nam, Giang Tây, Triết Giang, Hồ Quảng… Bộ Lễ có các Thanh lại ty: Nghị chế,

Tự tế, chủ khách, Tinh thiện Bộ Binh chia thành 4 Lại ty: Vũ tuyển, Quân

Trang 36

giá, Chức phương, Vũ khố Bộ Hình chia thành 17 Thanh Lại ty theo từng khu vực là Trực Lệ, Phụng Thiên, Giang Tô, Giang Tây, An Huy… Ngoài ra, một Thanh Lại ty trong bộ hình có nhiệm vụ đặc biệt “chuyên chức đốc bổ” giữ việc đốc thúc, tra xét bắt bớ Bộ Công chia ra 4 Thanh Lại ty: Doanh thiện, Ngu hoành, Đô thủy, Đồn điền, mỗi Thanh Lại ty của các bộ có các chức Lang trung, Viên ngoại lang, chủ sự Bút thiếp chức thừa hành phận sự

Quan chức các bộ dưới triều Nguyễn được chia ra các nhóm chuyên môn cũng được gọi là Thanh Lại ty như nhà Thanh, nhưng có sự khác biệt về tên gọi, cũng như chức năng Bộ Lại có các Thanh Lại ty: Văn tuyển, Trừng

tự, Phong điển Bộ Hộ có các Thanh lại ty: Kinh trực, Nam kỳ, Bắc kì, Trưởng Lộc, Thuế hạng Bộ Lễ có các Thanh Lại ty: Nghi Văn, Nhân Tự, Tân Hưng, Thù Ứng Bộ Binh có các Thanh Lại ty: Võ tuyển, Kinh kỳ, Trực tỉnh, Khảo Công Bộ Hình có các Thanh Lại ty: Kinh trực kỳ, Nam hiến, Bắc hiến

Bộ Công có các Thanh Lại ty: Quy chế, Doanh thiện, Tu tạo Trong hệ thống các Thanh Lại ty của triều Nguyễn không có bộ phận “chuyên chức đốc bổ” như nhà Thanh Trong bộ không có chức Bút thiếp chức Ấn ty giữ ấn triện và sắp đặt công việc của bộ, tiếp nhận và chuyển giao công văn cho các bộ phận chức năng của bộ giải quyết công việc Trực xứ chuyên tiếp nhận, tập hợp các phiếu thảo, phiếu nghĩ, công văn từ các địa phương trình lên nhà vua, sao chép công văn, đóng ấn của nhà vua để gửi đi các nơi Với các nhiệm vụ đó

Ấn ty và Trực xứ là văn phòng của bộ, có liên hệ với cơ quan văn phòng của nhà vua Ấn ty và Trực xứ không có trong cơ cấu các bộ của nhà Thanh Đây

là bộ phận chuyên trách do triều Nguyễn sắp đặt Chức Thượng thư phụ trách

bộ của nhà Thanh thường có hàm tòng nhất phẩm, luôn do hai viên quan, một người Hán, một người Mãn nắm, cả triều đình có 12 vị Thượng thư Còn triều Nguyễn chỉ có 1 Thượng thư hàm chánh nhị phẩm

Trang 37

Khi thành lập Đô sát viện, cơ quan giám sát của triều Nguyễn, vua Minh Mệnh đã thể hiện một quan niệm tự chủ trong việc khảo sát điển chế nhà Thanh Lời phê cho bản tấu của đình thần bàn định nhiệm vụ cho quan chức Đô sát viện tháng 9 năm Nhâm Thìn (1832) có đoạn: “Đặt chức ngôn quan, từ xưa đã có, trải các đời Hán, Đường, Tống đến Minh, Thanh đời nào cũng có, đặt tên gọi không giống nhau nhưng cốt yếu làm nhiệm vụ kiểm soát

và đàn hặc

Xét hội điển của Bắc triều, quy chế về chức đài hiến đến đời Thanh mới

đủ Triều đại ta tự có chế độ riêng không giống với điển lễ nhà Thanh” [22, tr152]

Có thể thấy rằng lời phê này của vua Minh Mệnh thể hiện được tinh thần tự chủ của tư tưởng “Nam quốc sơn hà nam đế cư” trong lời thơ của Lý Thương Kiệt ở thế kỉ XI, “núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác… mỗi bên hùng cứ một phương” lời của Nguyễn Trãi thế kỷ XV

Vua Gia Long và vua Minh Mệnh có ý thức học tập điển chế nhà Thanh một cách chủ động, chỉ bắt trước hình thức, tên gọi của cơ quan, còn chức năng và phạm vi quyền lực vẫn có chỗ khác với nhà Thanh Theo điều lệ của nhà Minh, Thanh phàm sớ chương của bốn phương chuyên do quan Nội Các Đại Học sĩ phiếu chỉ, phát ra tuân làm, dẫn đến quyền Nội Các quá to, sinh ra lắm chuyện không thể ngăn chặn được Ở nhà Nguyễn, Đại Học sĩ vẫn làm việc Thượng thư các bộ, chứ không cho sung vào Nội Các, lấy đó làm phép thường nhất định Như vậy, chức Đại Học sĩ vẫn có quyền lực lớn trong Nội Các nhà Thanh, được đặt thành một chức quan của triều Nguyễn nhưng không được làm việc ở Nội Các nhà Nguyễn

Khi đặt cơ mật viện vào tháng 12 năm Nhâm Thìn (1832), vua Minh

Mệnh chỉ dụ rằng: “Gần đây, xem Hội điển nhà Thanh, thấy có chức gọi là

Quân cơ đại thần, ta cũng muốn phỏng theo mà làm, song cái tên gọi là quân

Trang 38

cơ tựa hò chỉ điển bàn tính mọi việc quân sự như viên Khu Mật đời Tống Nay nên tham bác cổ kim xưa nay, tùy ghi xếp đặt gọi là Cơ mật viện, lấy nghĩa rằng viện ấy giữ việc bí mật về quân sự và quốc sự Rồi chọn lấy vài người đại thần mỗi ngày thay phiên túc trực, nếu có việc gì cơ mật, thì người đương ở phiên túc trực ấy làm phiếu nghĩ bàn Trong thì Nội Các ở bên tả, Cơ mật viện ở bên hữu, ngoài thì có võ Ngũ quân Đô thống phủ, văn có đường quan lục bộ; tả hữu có người, trong ngoài giúp nhau” [21, tr.266]

Cơ mật viện được thành lập là một cơ quan chỉ có dưới triều Nguyễn,

mô phỏng theo quân cơ xứ nhà Thanh, có kết hợp với tên gọi Khu mật xứ của nhà Tống Ngay sau đó Minh Mệnh đã cho thành lập hai cơ quan trực thuộc

Cơ mật viện là Nam chương kinh và Bắc chương kinh Sau 5 năm (1837), Minh Mệnh đọc sách và nhận ra rằng chương kinh là một từ Mãn, chỉ một chức quan võ trong quân đội có nhiệm vụ thư ký cho Quân cơ xứ được gọi là quân cơ chương kinh, không dùng để gọi tên cơ quan Nhà vua lập tức ra chỉ

dụ đổi lại tên hai bộ phận trực thuộc Cơ mật viện thành Nam ty và Bắc ty Đây là một thái độ chủ động sửa chữa sai lầm

Khi tham khảo mô hình nhà Thanh, vua quan triều Nguyễn có sự đắn

đo, cân nhắc, xem xét cho phù hợp với thực tế Theo Điển chế nhà Thanh, chức Tổng đốc trật chánh nhị phẩm, cai quản việc quân dân trong một nhóm 2 hoặc 3 tỉnh gần nhau, mỗi tỉnh có một tuần phủ giúp việc, Nhà Thanh có 9 đơn vị liên tỉnh như vậy Tổng đốc phải dựa vào một bộ phận tướng soái ở địa phương gọi là Mạc phủ Các chức danh Tổng đốc, Tuần phủ được triều Nguyễn áp dụng khi chi đặt các tỉnh nhưng không có cơ quan tương tự như Mạc phủ của nhà Thanh Các chức Án sát sứ, Bố chính ở mỗi tỉnh của nhà Nguyễn chỉ do một vị quan đảm nhiệm Trong khi ở nhà Thanh luôn do một người Hán và một người Mãn nắm Về tôn ty hành chính của quan chức, những quy định của nhà Nguyễn bắt chước Điển chế nhà Thanh nhưng có sửa

Trang 39

chữa cho phù hợp với ý đồ của vua Nguyễn Quy định về thể thức công văn giữa quan chức các bộ và cơ quan văn phòng của nhà Nguyễn có sự phân biệt

về thứ bậc Quan chức thuộc hạng Cửu khanh gồm Thượng thư 6 bộ cùng 3 vị

đứng đầu Đô sát viện, Đại lý tự, Thông chính sứ ty đều gửi chiếu hội cho Nội Các và nhận lại tư trình Chiếu hội là văn bản gửi đến quan chức cấp thấp hơn

và tư trình là văn bản gửi đến quan chức cấp cao hơn Trong điển lệ nhà Thanh, bộ gửi tư trình cho Nội Các và nhận lại chiếu hội Như vậy trong tôn

ty hành chính thể hiện ở thể thức công văn quan chức Lục bộ của nhà Nguyễn

ở bậc cao hơn quan chức Nội Các, còn nhà Thanh coi trọng Nội Các hơn bộ

Trong việc khảo hạch quan lại, nhà Nguyễn học tập cách thức của nhà Thanh, sử dụng các thuật ngữ điển lệ nhà Thanh như “Kinh sát”, “Đại kế” và thời hạn khảo hạch quan lại là 3 năm một lần

Như vậy qua một số quy định về chức năng hành chính của quan chức

và cơ quan nhà nước của hai ông vua đầu triều Nguyễn, có thể thấy rằng triều Nguyễn đã tham khảo điển chế nhà Thanh một cách có chọn lọc, có tính đến

sự phù hợp với thực tế nước ta và yêu cầu quản lí của vương triều Sự tham khảo này cho thấy mục đích áp dụng mô hình nhà Thanh là nhằm xây dựng và vận hành bộ máy hành chính nhà nước sao cho chặt chẽ, quy củ với kinh nghiệm của Trung Hoa, có thể tăng cường được sức mạnh độc lập với Trung Hoa, thể hiện nét tự chủ của triều đại này

Như vậy, điểm giống nhau trong việc tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua Gia long và vua Minh Mệnh là xây dựng bộ máy quan liêu chuyên chế 2.2 KHÁC NHAU

2.2.1 Bộ máy hành chính ở trung ương

2.2.1.1 Cơ quan văn phòng

Tam nội viện (Văn thư phòng, Nội Các)

Trang 40

Dưới thời vua Gia Long: Các cơ quan văn phòng được đặt ra ngay từ thời vua Gia Long ở trong Đại Nội Đó là Tam Nội viện bao gồm ba cơ quan

là Thị Thư Viện, Thị Hàn Viện và Nội Hàn Viện

Nhiệm vụ của Tam Nội Viện: Nhiệm vụ chính là phụ trách các công việc văn thư giấy tờ và cố vấn cho nhà vua việc quốc gia đại sự khác Nhiệm

vụ của Viện Thị Thư và Viện Thị Hàn là lo việc chuyên trách khởi thảo, phân phát, bảo quản các chiếu dụ cùng văn thư của triều đình, còn viện Nội Hàn lo việc ngự chế, thư từ riêng của vua

Tổ chức: Lúc đầu Tam Nội Viện được đặt trụ sở ở Tả Trực Phòng của nhà Hữu Vu Tam Nội Viện đặt quan thừa chỉ Viện Đãi Chiếu, thừa chỉ Viện Hàn Lâm trông coi và chọn nhân viên để làm việc ở Viện Thị Hàn, Nội Hàn sung vào Viện Thị Thư

Dưới thời vua Minh Mệnh: Vua Minh Mệnh đã đổi Tam Nội Viện thành Văn Thư Phòng (1820) rồi đến Nội Các (1829)

Nhiệm vụ: Ngoài nhiệm vụ chính như nhiệm vụ của Tam Nội Viện dưới thời vua Gia Long là khởi thảo, phân phát và coi giữ các chiếu dụ cùng văn thư của triều đình và thư từ của nhà vua, nhiệm vụ của Văn Thư Phòng và Nội Các còn có điểm khác so với thời vua Gia Long đó là thu giữ các ấn quan phòng và các châu bản của triều đình Thời vua Gia Long, châu bản của cơ quan nào thì cơ quan đó giữ

Hơn thế nữa, Nội Các còn là một cơ quan hành chính trung ương thu nhận và truyền đạt công văn của các cơ quan trung ương và địa phương Nội các còn soạn thảo phiếu nghĩ, thẩm định, duyệt các tấu bản của địa phương,

bộ, nha trước khi chuyển lên Hoàng đế phê duyệt

Như vậy, nhiệm vụ của Văn Thư Phòng và Nội Các dưới thời vua Minh Mệnh nặng nề và quan trọng hơn so với nhiệm vụ của Tam Nội Viện dưới thời vua Gia Long

Ngày đăng: 29/11/2015, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên) (2008), Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến 1858, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến 1858
Tác giả: Nguyễn Cảnh Minh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
17. Nguyễn Quang Ngọc (2000), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ, tập 6, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1993
19. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ, tập 44, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm Định Đại Nam Hội điển sử lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1993
20. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
21. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập 10, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
22. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập11, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
23. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập 15, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
24. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập 23, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
25. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập 41, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
26. Quốc sử quán triều Nguyễn (1965), Đại Nam thực lục chính biên, tập 46, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam thực lục chính biên
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1965
27. Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, toàn tập, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1992
28. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, toàn tập, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Mệnh chính yếu
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Năm: 1994
30. Quốc sử quán triều Nguyễn, (1998), Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, toàn tập, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, toàn tập
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
31. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều chính biên toát yếu
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1998
32. Trương Hữu Quýnh (1998), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1998
33. Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, bản dịch của Nguyễn Nghị, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong
Tác giả: Li Tana
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
34. Nguyễn Minh Tường (1996), Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840)
Tác giả: Nguyễn Minh Tường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
35. Nguyễn Quyết Thắng (2002), Lược khảo Hoàng Việt luật lệ: Bước đầu tìm hiểu thành Gia Long, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo Hoàng Việt luật lệ: Bước đầu tìm hiểu thành Gia Long
Tác giả: Nguyễn Quyết Thắng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
36. Lê Văn Thơm (1914), Gia Long phục quốc, Nxb Xưa nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Long phục quốc
Tác giả: Lê Văn Thơm
Nhà XB: Nxb Xưa nay
Năm: 1914

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức Bộ Lễ thời vua Gia Long - So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua gia long và vua minh mệnh
Sơ đồ t ổ chức Bộ Lễ thời vua Gia Long (Trang 45)
Sơ đồ tổ chức bộ Lễ thời vua Minh Mệnh - So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua gia long và vua minh mệnh
Sơ đồ t ổ chức bộ Lễ thời vua Minh Mệnh (Trang 46)
Sơ đồ cơ cấu quản lý xã thôn thời Gia Long  Dưới thời vua Minh Mệnh: Minh Mệnh cho đổi tên Xã trưởng thành Lý  trưởng, cho tất cả các xã đều đặt một viên Lý trưởng - So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua gia long và vua minh mệnh
Sơ đồ c ơ cấu quản lý xã thôn thời Gia Long Dưới thời vua Minh Mệnh: Minh Mệnh cho đổi tên Xã trưởng thành Lý trưởng, cho tất cả các xã đều đặt một viên Lý trưởng (Trang 56)
Sơ đồ cơ cấu quản lý xã thôn thời Minh Mệnh - So sánh tổ chức bộ máy chính quyền dưới thời vua gia long và vua minh mệnh
Sơ đồ c ơ cấu quản lý xã thôn thời Minh Mệnh (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w