Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa; cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ…
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tham gia nghiên cứu làm đề tài khóa luận tốt nghiệp là một cơ hội vô cùng qúy báu đối với tất cả các sinh viên đang chuẩn bị tốt nghiệp ra trường Khóa luận tốt nghiệp chính là việc mang tính chất lý luận vào thực tiễn trên
cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát cũng như đưa ra được những giải pháp mang tính chất định hướng phục vụ phát triển một loại hình nào đó trong phạm vi nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở đó giúp em có được một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, vừa rèn luyện được kĩ năng làm việc độc lập, vừa trau dồi khả năng tập trung cao độ vào một vấn đề cụ thể, giúp ích rất lớn cho công việc của em trong tương lai
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Lịch sử,
đã đào tạo và trang bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa luận này Đồng thời em xin bày tỏ lòng cám ơn tới gia đình, bạn bè và những người đã động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể tiến hành khóa luận thành công
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Chu Thị Thu Thủy
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi, song do thời gian tìm hiểu không nhiều, lượng kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện Ngô Thị Thùy Trang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của ThS Chu Thị Thu Thủy, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác
Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện Ngô Thị Thùy Trang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục 5
Chương 1: CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN TRƯỚC 1986 7
1.1 Cơ sở ra đời của cồng chiêng Tây Nguyên 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội 10
1.1.3 Điều kiện văn hóa 12
1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cồng chiêng Tây Nguyên 18
1.2.1 Nguồn gốc của cồng chiêng 18
1.2.2 Lịch sử phát triển của cồng chiêng 24
1.3 Cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên trước năm 1986 28
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN THỜI KỲ 1986 – 2011 34
2.1 Cồng chiêng trong đời sống vật chất 34
2.2 Cồng chiêng trong đời sống tinh thần 35
2.2.1 Trong tư tưởng tín ngưỡng 35
2.2.1.1 Âm thanh của cồng chiêng như là sự giao cảm của trời đất 35
2.2.1.2 Cồng chiêng có giá trị linh thiêng trong các nghi lễ tín ngưỡng 36
Trang 42.2.2 Trong âm nhạc 39
2.2.3 Trong lễ hội 42
2.3 Cồng chiêng trong đời sống xã hội 47
2.3.1 Trong lao động 47
2.3.2 Trong sinh hoạt đời thường 48
2.4 Những bước chuyển mình của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong thời kỳ 1986 - 2011 49
2.4.1 Cải tiến cồng chiêng 49
2.4.2 Nguy cơ mai một của văn hóa cồng chiêng 52
2.4.3 Hoạt động duy trì, bảo tồn cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong thời kỳ 1986 – 2011 55
2.4.3.1 Những công việc đã làm để duy trì, bảo tồn cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong thời kỳ 1986 – 2011 55
2.4.3.2 Những công việc cấp bách trước mắt cần thực hiện nhằm duy trì, bảo tồn cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong thời kỳ 1986 – 2011 59
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN THỜI KỲ 1986 – 2011 64
3.1 Đặc điểm của văn hóa cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên thời kỳ 1986 – 2011 64
3.1.1 Cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên thể hiện tài năng sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại 64
3.1.2 Cồng chiêng là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 66
Trang 53.1.3 Cồng chiêng có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng
truyền thống văn hóa Tây Nguyên 68
3.1.4 Cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thời kỷ 1986 – 2011 có chuyển biến mới – cải tiến dàn chiêng 69
3.1.5 Cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thời kỳ 1986 – 2011 được giới thiệu, quảng bá rộng rãi 72
3.2 Giá trị của văn hóa cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên 73
3.2.1 Giá trị lịch sử 73
3.2.2 Giá trị nhân văn 75
3.2.3 Giá trị nghệ thuật 77
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tây Nguyên – vùng đất gồm 5 tỉnh: Lâm Đồng, Đăk Nông, Đăk Lăk, Kon Tum, Gia Lai là địa bàn cư trú lâu đời của hơn 20 trong tổng số 54 dân tộc anh em ở nước ta, như Ba Na, Mnông, Xơ Đăng, Cơ Ho, Giẻ - Triêng, Mạ… (thuộc ngữ hệ Nam Á); Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Raglai (thuộc ngữ hệ Nam Đảo)… Nhắc đến Tây Nguyên là nhắc đến vùng cao nguyên đầy nắng
và gió, nhắc đến núi rừng hùng vĩ mà thơ mộng, nhắc đến tiếng chim, tiếng thú vang vọng cả đất trời Tây Nguyên không chỉ đẹp về cảnh vật thiên nhiên,
mà đặc biệt hơn là vẻ đẹp của con người, vẻ đẹp của cả một nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một trong những vẻ đẹp đáng tự hào đó
Đối với con người Tây Nguyên, âm thanh cồng chiêng như là ngôn ngữ tình cảm máu thịt của đồng bào nơi đây Hầu như mỗi sinh hoạt trong bộ tộc đều dính liền với tiếng cồng chiêng Lúc đứa bé mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhất đến bên giường đánh lên để cho những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé là tiếng của bộ lạc, khẳng định nó là một phần của cộng đồng Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa; cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ… Cồng chiêng được sử dụng trong phạm vi rất rộng, dưới nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu của đồng bào trong các dịp khác nhau Chính điều đó đã làm cho cồng chiêng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên Bên cạnh đó, cồng chiêng Tây Nguyên có những điểm đặc sắc, riêng biệt so với các loại cồng chiêng của các cộng đồng người khác, tạo nên bản sắc đặc trưng của văn hóa cồng chiêng vùng Tây Nguyên Với những giá trị nổi bật
đó, ngày 25/11/2005 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được
Trang 7UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Đây là niềm vui, niềm tự hào vô cùng to lớn không chỉ của riêng
vùng đất Tây Nguyên mà còn là niềm tự hào của nền văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay do sự du nhập của nhiều luồng văn hóa khác nhau, đứng trước sự biến đổi của kinh tế… cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ mai một Đây là một thách thức lớn, đang là điều đáng báo động
Vì vậy việc nghiên cứu cồng chiêng Tây Nguyên vừa có ý nghĩa khoa học, giúp chúng ta hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên – một Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại; đồng thời
việc nghiên cứu cũng góp phần nhằm duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Với những lý do trên tôi quyết định chọn vấn đề: “Cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên thời kỳ 1986 - 2011” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài cồng chiêng ở Tây Nguyên Những công trình này được công bố dưới nhiều hình thức như: sách nghiên cứu, các bài viết đăng trên báo và tạp chí, tiêu biểu như:
Một là, trong tác phẩm “Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của tác giả Tô Ngọc Thanh (Nxb Trung tâm văn hóa dân tộc Tp
Hồ Chí Minh, 1995) cũng đã nghiên cứu và giới thiệu một số nhạc cụ của dân tộc thiểu số, trong đó có cồng chiêng Tây Nguyên Tuy nhiên, nó chưa đi sâu
và chỉ đề cập đến các khía cạnh nhỏ như tên gọi cồng chiêng, một số lễ hội sử dụng cồng chiêng…
Hai là, trong công trình “Tây Nguyên một vùng văn hóa cồng chiêng”
do Dương Thanh Giang (chủ biên, 2004) Cuốn sách là tập hợp hàng trăm các
Trang 8bài nghiên cứu, các bài viết của các tác giả khác nhau về cồng chiêng và văn
hóa cồng chiêng Ví dụ như “Từ âm nhạc cồng chiêng đến văn hóa Tây Nguyên” của Nguyễn Tấn Đắc (đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 3,4/1985), “Vùng văn hóa Tây Nguyên” của Tô Ngọc Thanh (trích từ Đinh
Gia Khánh – Cù Huy Cận (chủ biên), Các vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Văn
học, 1995), “Ký hiệu thẩm mỹ và tính thời đại của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” của Thanh Hà (đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 – 4, 1985)…
Ba là, trong tác phẩm “Kiệt tác di sản truyền miệng và phi vật thể của nhân loại Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” (Nxb Thế giới,
2006), cũng đã đề cập đến sự ra đời của cồng chiêng, sinh hoạt cồng chiêng trong đời sống cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên, cũng như thực trạng cồng chiêng trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, công trình nghiên cứu chưa
đi sâu vào một vấn đề cụ thể, vẫn còn mang tính khái quát
Tiếp theo, là các bài nghiên cứu được đăng trên các báo và tạp chí như:
“Nét độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên” của Nguyễn Phú (đăng trên tạp chí Toàn cảnh đất nước – con người, số 169 năm 2004), “Cồng chiêng Tây Nguyên” của Nguyễn Xuyến (đăng trên tạp chí Đông Nam Á, số 1 – 2 năm 2006), “Nguyên tắc diễn tấu cơ bản của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên”
của Bùi Trọng Hiền (đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 3 năm 2005),
“Tây Nguyên là chiếc nôi của văn hóa cồng chiêng” của Bùi Quang Vinh
(đăng trên tạp chí Toàn cảnh sự kiện – dư luận, số 175 năm 2005)… Những bài viết trên đã nghiên cứu những nét cơ bản cơ bản về cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhưng chưa sâu, vẫn còn chung chung Những công trình nghiên cứu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm thấy nguồn tài liệu và những gợi ý cần thiết cho nội dung khóa luận Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu riêng về cồng chiêng trong đời sống cộng đồng của các dân tộc ở Tây Nguyên
Trang 93 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận là tìm hiểu về cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên thời kỳ 1986 - 2011 Trên cơ sở đó, giúp cho chúng ta hiểu hơn về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, vai trò cũng như những bước chuyển mình của cồng chiêng trong đời sống của con người Tây Nguyên trong thời kỳ 1986 -2011 Qua đó nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng và bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung 3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu về cơ sở ra đời cồng chiêng Tây Nguyên
+ Hoạt động của cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên trước 1986
+ Nghiên cứu về cồng chiêng Tây Nguyên trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên thời kỳ 1986 – 2011
+ Qua việc nghiên cứu, rút ra đặc điểm và giá trị của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khóa luận thuộc chuyên ngành Lịch sử Văn hóa, nghiên cứu về cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên thời kỳ 1986 - 2011 Thời gian đề cập của khóa luận là trong thời kỳ 1986 - 2011
Không gian đề cập của khóa luận chủ yếu trên địa bàn của vùng đất Tây Nguyên, bao gồm 5 tỉnh: Lâm Đồng, Đăk Nông, Đăk Lăk, Kon Tum, Gia Lai
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
+ Các cuốn sách, các công trình nghiên cứu khoa học về cồng chiêng Tây Nguyên ở trong nước và ngoài nước
Trang 10+ Các bài trên báo, tạp chí, các bài tham luận của các nhà khoa học về cồng chiêng Tây Nguyên
+ Các đĩa CD, DVD, VCD về âm nhạc cồng chiêng và cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa ở Tây Nguyên
4.2 Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu đề tài, các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
+ Kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
+ Ngoài ra, trong bài nghiên cứu còn sử dụng phương pháp liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
5 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, khóa luận góp phần vào nghiên cứu cơ sở ra đời, sinh hoạt cồng chiêng và những bước chuyển mình của cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên Từ đó, rút ra đặc điểm và những giá trị cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên, bổ sung vào mảng nghiên cứu còn trống trong lịch sử văn hóa của các dân tộc ở Tây Nguyên
Khóa luận cũng đã hoàn thành nhiệm vụ khoa học đề ra, kết quả nghiên cứu khóa luận sẽ góp phần cung cấp những tư liệu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, giúp cho chúng ta có hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn Từ đó
có ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung khóa luận gồm có 3 chương:
Trang 11Chương 1: Cồng chiêng trong đời sống các dân tộc Tây Nguyên trước
Trang 12Chương 1 CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC
TÂY NGUYÊN TRƯỚC 1986
1.1 CƠ SỞ RA ĐỜI CỦA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
* Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam, là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung Bộ Việt Nam
Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh với vị trí địa lý như sau:
Tỉnh Kon Tum: Đây là tỉnh nằm phía Bắc cao nguyên Gia Lai – Kon Tum, một trong ba cao nguyên lớn của Tây Nguyên Kon Tum có chiều dài biên giới là 275km, tiếp giáp với Hạ Lào và phía Bắc Campuchia Về phía Tây và phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai [6, 2]
Tỉnh Gia Lai: Đây là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc Tây Nguyên, trên độ cao 600 – 800m so với mặt nước biển Phía Bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Campuchia với 90km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên [6, 2]
Tỉnh Đăk Lăk: Nằm trên cao nguyên Đăk Lăk, một trong ba cao nguyên lớn của Tây Nguyên, có độ cao trung bình 400 – 800m so với mực nước biển Phía Bắc và phía Đông giáp với Gia Lai, phía Nam giáp với Lâm
Trang 13Đồng, phía Tây giáp với Campuchia và tỉnh Đăk Nông, phía Đông giáp với Phú Yên và Khánh Hòa [6, 2]
Tỉnh Đăk Nông: Tỉnh Đăk Nông nằm ở phía Tây Nam Trung Bộ, đoạn cuối của dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, có độ cao trung bình 500m so với mực nước biển Phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh Đăk Nông giáp Đăk Lăk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước, và phía Tây giáp nước bạn Campuchia [6, 3]
Tỉnh Lâm Đồng: Lâm Đồng là một tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 – 1000m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km2; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật…
và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng
+ Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận
+ Phía tây giáp tỉnh Đồng Nai
+ Phía nam – đông nam giáp tỉnh Bình Thuận
+ Phía Bắc giáp tỉnh Đăk Lăk
Tỉnh Lâm Đồng gồm hai cao nguyên: Lâm Viên và Di Linh
Lâm Đồng nằm trên ba cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn [6, 3]
- Đất đai: Tây Nguyên là các cao nguyên xếp tầng với diện tích đất feralit hình thành trên đá badan chiếm diện tích 66% diện tích đất badan của
cả nước Vùng còn gần 3 triệu ha rừng, chiếm 21% sản lượng thủy năng của
cả nước Khoáng sản boxit với trữ lượng trên 3 tỉ tấn [3, 65]
- Khí hậu: Tây Nguyên có khí hậu rất đặc biệt Khí hậu ở Tây Nguyên chủ yếu là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 14Riêng thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng đã được các nhà khí hậu học gọi là
“thành phố của mùa xuân” vì nhiệt độ trung bình cao nhất trong ngày là 240C
và nhiệt độ trung bình trong ngày thấp nhất là 150C Lượng mưa trung bình là 1755mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, có nắng trong tất cả các mùa Nhờ khí hậu đó mà ở đây có rất nhiều loài hoa Đến với Tây Nguyên, du khách có dịp tham quan nhiều thác nước đẹp, những hồ nước thơ mộng trên cao nguyên, các khu rừng nguyên sinh, các
di tích lịch sử, các lễ hội độc đáo, ngắm nhìn cảnh sắc vừa nên thơ, vừa hùng
vĩ của vùng đất đầy nắng và gió này Và hơn thế nữa, du khách còn được hòa mình vào một không gian văn hóa đậm chất Tây Nguyên
* Dân cư
Ở Tây Nguyên tập trung hơn 20 dân tộc cùng sinh sống như: Việt (Kinh), Êđê, M’Nông, Gia Rai, Cơ Ho, Bana, Giẻ Triêng, Xơ Đăng Nùng… Đây là các dân tộc chính ở Tây Nguyên
Năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số) Năm 1993, dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó
có đồng bào dân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số) Năm
2004, dân số Tây Nguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) Riêng tỉnh Đăk Lăk, từ 350.000 người (1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485% Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây Nguyên theo hai luồng: Di dân kế hoạch và di dân tự do Người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói, kém phát triển
và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gần 1 nghìn hecta rừng tiếp tục bị phá) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường
Trang 15xuyên dẫn đến xung đột Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2009 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, như thế so với năm 1976 đã tăng 4,17 lần, chủ yếu là tăng cơ học Hiện nay, nếu tính cả những di dân tự do không đăng ký cư trú với cơ quan chính quyền ước lượng dân số Tây Nguyên thực tế và khoảng 5,5 đến 6 triệu người [16, 19]
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Điều kiện kinh tế
Như đã nói ở trên, Tây Nguyên là các cao nguyên xếp tầng với diện tích đất feralit hình thành trên đá badan chiếm diện tích 66% diện tích đất badan của cả nước Loại đất đó rất phù hợp với những cây công nghiệp như
cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số 1 ở Tây Nguyên Diện tích cà phê ở Tây Nguyên hiện nay là hơn 290 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích cà phê của cả nước Đăk Lăk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất (hơn 170 nghìn ha) [3, 65] và cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng với chất lượng cao Đây cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ, chủ yếu tại Gia Lai và Đăk Lăk
Tây Nguyên còn là vùng trồng dâu tằm, nuôi tằm tập trung lớn nhất nước ta, nhiều nhất là ở Bảo Lộc Lâm Đồng Ở đây có liên hiệp các xí nghiệp ươm tơ xuất khẩu lớn nhất Việt Nam
Nhờ địa thế cao nguyên và nhiều thác nước nên tài nguyên thủy năng của vùng lớn và sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn Trước đây đã xây dựng được nhà máy thủy điện Đa Nhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim (thượng nguồn sông Đồng Nai), Đray H’inh (12.000kW) trên sông Serepôk Mới đây công trình thủy điện Yaly (700.000 kW) đưa lên điện lưới năm 2000 và đang
có dự kiến xây dựng các công trình thủy điện khác như Bon Ron – Đại Ninh, Plây Krông [3, 64]
Trang 16Nhờ khí hậu thuận lợi, giao thông mở rộng, Tây Nguyên với những thắng cảnh độc đáo đã thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch Du lịch cũng khá phát triển
* Xã hội
Trong lịch sử của mình, các dân tộc Tây Nguyên có một nền nông nghiệp truyền thống với các hình thức đa dạng, mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc Chính nếp sống gắn bó với nền nông nghiệp này đã duy trì các quan hệ xã hội, cộng đồng gia tộc mẫu hệ, phụ hệ, các quan hệ bình đẳng, dân chủ xã hội nguyên thủy
Đơn vị cư trú của các tộc người này là các plơi, plei, bon, buôn (tên gọi tùy theo từng dân tộc) Điều khiển mọi mặt cuộc sống của các plơi, plei, bon, buôn là hội đồng già làng Tính chất của cộng đồng xã hội các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên kéo dài cho đến ngày nay [1, 14]
Nhìn chung, xã hội truyền thống của các dân tộc ở Tây Nguyên như Êđê, M’Nông, Gia Rai… là xã hội mẫu hệ Dòng họ mẹ thống trị mọi mặt trong đời sống xã hội như quyền thừa kế tài sản, hôn nhân và gia đình
Do vậy, luật tục là công cụ hữu hiệu để bảo vệ xã hội mẫu hệ, khẳng định vai trò của dòng họ nữ, khẳng định vị trí to lớn của người phụ nữ trong
Trang 17Tất cả những cái bát vỏ bầu, cái thúng đựng tro, cái hòn để mái, các cái trã để luộc rau, người chị cả phải là người bảo quản
Các ché tuk đỏ, các ché êbak Mnông, các vòng đeo tay, các chén bát đẹp bằng bạc bằng vàng là những của cải quý giá do tổ tiên xưa kia giàu có
để lại, chính người chị cả là người phải giữ gìn” [15, 35]
Tài sản gia đình đều thuộc quyền quản lý của người mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả Việc thừa kế tài sản chỉ thực hiện theo dòng họ nữ Khi
vợ chết, mọi của cải và cả con cái đều thuộc về phía gia đình vợ (dì, bà ngoại) quản lý, còn người chồng phải trở về sống với cha mẹ mình mà không được mang theo tài sản và con cái
Quan hệ hôn nhân của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, Mnông, Gia Rai… theo chế độ mẫu hệ và tự nguyện Trai gái đến tuổi trưởng thành tự do yêu đương, tự do tìm hiểu người bạn đời của mình mà không phải chịu sức ép nào cả Đây là một nét tiến bộ trong quan hệ hôn nhân Hôn nhân trong xã hội mẫu hệ theo chế độ một vợ một chồng Thế nhưng trong cuộc sống, những kẻ
có thế lực, giàu có vẫn muốn lấy nhiều vợ Trong trường hợp này, người chồng phải thực hiện việc đền bù vật chất cho vợ cả… [6, 10]
1.1.3 Điều kiện văn hóa
Vùng văn hóa Tây Nguyên là nơi cư trú của rất nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống Qua năm tháng với nhiều thay đổi và biến động, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình Thể hiện ở các mặt như sau:
* Nhà ở: Nhà ở của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có thể kể đến các kiến trúc nhà tiêu biểu sau:
+ Nhà Rông: Nhà Rông được coi là biểu tượng văn hóa cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên
Trang 18Tương tự như ngôi đình làng Việt, nhà Rông là nơi diễn ra toàn bộ sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, là trụ ở của bộ máy quản trị buôn làng, nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng…; là nơi thể hiện các lễ hội tâm linh cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt cho thế
hệ trẻ những giá trị văn hóa truyền thống…; nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống: cồng, chiêng, trống, vũ khí…
Người Tây Nguyên quan niệm nhà Rông là nơi khí thiêng của đất trời
tụ lại để bảo trợ cho dân làng, vì thế mỗi nhà Rông đều có một nơi thiêng liêng để thờ các vật thiêng Người ta thường đánh giá sự hùng mạnh, trù phú của một làng Tây Nguyên qua nhà Rông
Nhà Rông không khác biệt nhiều so với nhà Rông của các dân tộc thiểu
số dải Trường Sơn Nóc nhà có 2 mái, nơi chỏm đầu dốc có một đôi sừng Chạy dọc trên sóng nóc nhà có 1 dải trang trí đặc biệt Sàn nhà thường được ghép bằng những tấm đan bằng tre lồ ô, nứa hoặc cây giang Giữa nhà có một hàng lan can chạy dọc… Nhà Rông thường dài khoảng 10m, rộng hơn 4m, cao 15 – 16m, nhưng có những ngôi chỉ cao 7 – 8m… Tính đa dạng trong kiến trúc của mỗi dân tộc ở Tây Nguyên còn là ở kết cấu ngôi nhà Nhà Rông của người Tây Nguyên không dùng đến sắt thép Các chỗ nối, chắp đều được chặt, đẽo cẩn thận rồi dùng mây, lạt tre để buộc Từng mối buộc của mỗi dân tộc cũng khác nhau Cầu thang lên nhà Rông, các dân tộc thườn đẽo từ 7 đến
9 bậc… Hai loại nhà Rông xuất hiện ở Tây Nguyên gồm nhà Rông trống (đực) và nhà Rông mái (cái) [6, 14]
Nổi bật trong trang trí nhà Rông là hình ảnh thần mặt trời chói sáng Nhà Rông càng to đẹp thì càng chứng tỏ buôn làng đó giàu có, mạnh mẽ Nhà Rông là một thiết kế văn hóa tiêu biểu, độc đáo có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa tinh thần, trong đời sống xã hội và trong tín ngưỡng, tâm
Trang 19linh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Nó là một di sản quý cho hôm nay
và mai sau
+ Nhà dài: có kết cấu nhà sàn thấp, dài từ 15m đến hơn 100m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người Nó là ngôi nhà lớn của nhiều thế hệ sống chung như một đại gia đình và là nét đặc trưng của chế độ mẫu hệ
Đặc điểm chính là nhà thường rất dài, được xây dựng bằng vật liệu gỗ, tre nứa lợp mái tranh Nhà có kết cấu cột kèo bằng gỗ tốt có sức chịu đựng dài cùng năm tháng [6, 16]
Nhà dài theo hướng Bắc Nam Chỗ ngủ được ngăn đơn giản bằng những thanh tre làm nhiều ngăn Ngăn đầu tiên là ngăn của vợ chồng chủ nhà, tiếp theo là ngăn người con gái chưa lấy chồng, sau đó đến ngăn của vợ chồng con gái đã lấy chồng, cuối cùng là ngăn dành cho khách
+ Nhà sàn: Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có một kiểu kiến trúc nhà sàn riêng, nhưng chủ yếu là 2 kiểu nhà sàn chính: hình vuông và hình chữu nhật Sàn nhà cách mặt đất 1,5 đến 2 thước, dựa trên những cột gỗ và trụ vững chắc Dưới sàn nuôi gia súc và cũng là chỗ chứa gùi và các dụng cụ lặt vặt hay vài cái quan tài làm sẵn để chon người chết Nhà sàn cổ có phong cách kiến trúc Lào, hai đầu hồi mái nhọn thon vút ba gian, có thể tháo rời ra từng chi tiết Nét độc đáo của ngôi nhà là được làm toàn bằng gỗ từ mái, vách cột, kèo đến đinh vít… [6, 16]
* Ẩm thực
Ngày thường đồng bào Tây Nguyên ăn cơm tẻ với thức ăn nấu từ các loại rau rừng, mộc nhĩ, các loại củ, măng le… Đôi khi kiếm được con cá dưới sông, con thú trong rừng để cải thiện thêm bữa Còn các loại gia súc, gia cầm nhà nào cũng có
Các ngày lễ tết, cơm nếp được thay cho cơm tẻ và được nấu theo cách thức của tổ tiên Đó là cơm lam Họ vào rừng chặt những ống hồ lô còn non,
Trang 20giữ lại mấu ở một đầu ống rồi cho gạo nếp và nước vào, xong nút lại đem đốt bằng lửa và than cho thật khéo Thịt là thực phẩm chủ yếu trong các món ăn ngày tết của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Người Tây Nguyên làm lông con vật bằng cách thui đốt Họ không chế biến được các món ăn đặc biệt như
ở miền xuôi Đáng chú ý là món nướng và làm món như tiết canh, nem sống ở dạng thô sơ Các món này dùng để khoản đãi hay để dâng cúng thần linh
Có thể kể tên một số món ăn đặc trưng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên như cà đắng, măng chua, cá lắng nướng than hồng, cơm lam, gà nướng, cá chua…
Đồ uống đặc trưng nhất của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên là rượu cần Không một dịp lễ quan trọng nào hay dịp vui nào của đồng bào dân tộc Tây Nguyên lại thiếu rượu cần Nó làm không khí của buổi lễ như thiêng liêng hơn, làm cho ngày hội thêm vui hơn, khiến cho con người thêm đoàn kết gắn bó với nhau hơn [6, 28]
Các dân tộc rất hiếu khách, họ đốt bếp ngay giữa chính nhà Bất kỳ khách lạ hay quen cũng được chủ nhân mời ngồi bên bếp lửa, mời hút thuốc
và uống rượu cần, cùng trò chuyện
* Trang phục truyền thống
Về trang phục truyền thống của người Tây Nguyên, cả nam giới và phụ
nữ đều có những trang phục hết sức độc đáo và mang đặc trưng riêng
Trang phục nữ Tây Nguyên rất đẹp vì có nhiều hoa văn và làm nổi bật đường nét kín đáo của cơ thể người phụ nữ Tuy nhiên đặc sắc nhất của dân tộc Tây Nguyên vẫn là ở trang phục nam giới Họ đóng khố, mặc áo, quấn khăn có cài lông chim quý nhiều màu Đó là cả một công trình dệt và thêu và
là cả một nghệ thuật trang trí phục sức Ngày nay nhiều thanh niên vẫn thích mặc khố, có điều họ mặc thêm bên trong khố một cái quần nịt màu da người [6, 59]
Trang 21* Phong tục tập quán
Cũng giống như nhiều đồng bào các dân tộc trên đất nước ta, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên cũng có rất nhiều các phong tục tập quán đặc trưng riêng của dân tộc mình như tục cà răng căng tai, tục đeo vòng ở người Gia Rai, tục cưới xin, tục sinh đẻ…
* Lễ hội
Vùng văn hóa Tây Nguyên là vùng văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, nên có thể khẳng định đây là nơi diễn ra rất nhiều lễ hội truyền thống tiêu biểu mang đậm bản sắc riêng của các dân tộc ở 5 tỉnh Tây Nguyên như: Lễ bỏ mả
Trang 22(Lễ Pơ thi), lễ đâm trâu, lễ cúng đất làng, lễ mừng lúa mới, hội đua voi, hội xuân…
* Âm nhạc
Trải qua quá trình vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, các cư dân ở Tây Nguyên đã sáng tạo ra nhiều loại nhạc khí phục vụ cuộc sống Bên cạnh việc sáng chế là việc du nhập những loại nhạc cụ mà họ chưa có điều kiện để làm
ra Tùy theo chức năng và phong tục, họ cải tiến dần cho phù hợp
Cho đến nay, các dân tộc ở Tây Nguyên còn bảo lưu được một kho tàng nhạc khí rất phong phú, đa dạng cả về chất liệu chế tạo và phương pháp sử dụng Nhạc khí của cư dân nơi đây còn thấy chủ yếu có 3 loại chính sau: + Loại nhạc khí có chất liệu thiên nhiên như: Kèn lá, Sáo Ala, Kèn Tơ nốt, T’rưng, Trống, Goong Đe, Goong tốc lốc… Các nhạc khí này được làm
từ tre, nứa, gỗ, đá, vỏ bầu, dây sừng, sừng trâu, bò
+ Loại nhạc khí có chất liệu thiên nhiên kết hợp kim loại như: Đàn Broh, Kơni, Tinh ning…
+ Loại nhạc khí có chất liệu kim loại: Loại này làm bằng đồng, đồng thau, có loại pha thêm gang, chì và có cả vàng, bạc Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại, có lẽ không ở đâu trên đất nước ta có nhiều và
đa dạng như ở Tây Nguyên Các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk là những vùng văn hóa còn lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng kim loại rất đồ sộ, đó là cồng chiêng Cồng chiêng biểu hiện niềm vui, nỗi buồn, lòng yêu thương, căm giận, tinh thần đoàn kết, bất khuất kiên cường và thượng võ, đồng thời còn biểu hiện cho sự giàu có, sự hùng mạnh và chiến thắng của các dân tộc Tây Nguyên Bên cạnh cồng chiêng còn có lục lạc, chập chõa… [12, 285]
Như vậy có thể thấy cho dù có khá nhiều các dân tộc cùng chung sống
và mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa riêng Song tất cả các dân tộc đều có
Trang 23những điểm chung hòa đồng, cùng tồn tại và phát triển Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hầu như vẫn giữ được bản sắc văn hóa sơ nguyên của chính mình
Đặc trưng lớn nhất của văn hóa các dân tộc nơi đây là các loại hình văn hóa luôn gắn kết với cộng đồng Mỗi cá nhân đều chứng tỏ khả năng sáng tạo văn hóa rất lớn Cho đến nay họ vẫn còn lưu giữ những loại hình văn hóa mang bản sắc riêng của từng dân tộc Đó là nghệ thuật chế tạo và sử dụng nhạc khí, kho tàng văn học dân gian, điêu khắc, kiến trúc, các loại hình lễ hội,
hệ thống phong tục tập quán… đang là niềm say mê, lôi cuốn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
1.2.1 Nguồn gốc của cồng chiêng
Không chỉ riêng Việt Nam mà cả Đông Nam Á có rất nhiều dân tộc khác nhau sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa của mình Song, có thể khẳng định không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là phong phú và rực rỡ nhất Ngay cả khi so sánh với các cộng đồng dân cư trong khu vực Đông Nam Á, thậm chí mở rộng trên thế giới cũng thấy rõ điều này Tuy các vùng phân bố cồng chiêng lan rộng cả vùng Đông Nam Á, nhưng sự hình thành nhu cầu của nền văn hóa bản địa ở Tây Nguyên đã quy tụ cồng chiêng
và đó trở thành một đặc điểm điển hình Chính đặc điểm điển hình ấy là nguồn ánh sáng ảnh hưởng rất quan trọng để cồng chiêng du nhập đến Tây Nguyên rồi tồn tại điển hình đến ngày nay và trở thành một nền âm nhạc bản địa chính thống Nền văn hóa cồng chiêng đã được sinh ra trước những trào lưu văn hóa ngoại lai lúc bấy giờ Vì cuộc sống các dân tộc ở đây có nhu cầu nên các dân tộc khác đi tìm thị trường và sản xuất cồng chiêng để cung cấp cho họ Chính do nội lực của nhu cầu hưởng thụ văn hóa và bản lĩnh dân tộc
Trang 24nên họ đã giữ vững cho mình một loại hình âm nhạc đứng vững và tồn tại suốt thời gian lịch sử, cho dù các trào lưu văn hóa phương Bắc và phương Tây luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có tài liệu nào chỉ ra chính xác cồng chiêng Tây Nguyên xuất hiện trong đời sống văn hóa bản địa từ khi nào Chỉ biết trong các trường ca, trong các câu chuyện cổ tích của các dân tộc Tây Nguyên đã xuất hiện cồng chiêng Nhiều học giả trong và ngoài nước tin rằng nửa đầu thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX là giai đoạn cực thịnh của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Rất nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đi tìm nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên Trong các di chỉ của người cổ Tây Nguyên đã tìm thấy bằng chứng xác thực về các lò đồng, lò sắt Tuy nhiên, chưa có bằng chứng cho thấy người bản địa Tây Nguyên đúc ra các bộ cồng chiêng Trước kia có học giả người phương Tây đưa ra giả thuyết rằng cồng chiêng của đồng bào Tây Nguyên có nguồn gốc từ những nước thuộc nhóm ngôn ngữ Malay Polinedi Đông Nam Á Giả thuyết này dựa trên cơ sở một giả thiết khác cho rằng, nhiều tộc người ở Tây Nguyên có chung nguồn gốc với nhóm ngôn ngữ Malay Polinedi đã vượt biển Đông, mang theo chiêng cồng đến cao nguyên miền Trung cư ngụ Nhưng đến bây giờ, người ta tạm bằng lòng với kết luận chiêng cồng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có nguồn gốc từ khu vực người Kinh và người Lào Trong quá trình đi điền dã của các nhà nghiên cứu,
có thể thấy các dân tộc thường gọi với một số cái tên như: Ching Lào, Ching Joăn, Ching Kur Qua một số tên gọi như vậy chúng ta có thể biết rằng cồng chiêng không phải do đồng bào Tây Nguyên đúc lên mà được du nhập từ nhiều nơi khác đến Bởi lẽ, ở Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc đang ở nền
văn minh “lúa khô nương rẫy cao nguyên” Họ chưa có kỹ nghệ tự đúc được
Trang 25cồng chiêng Một số nhà nghiên cứu đưa ra một số giả thiết về nguồn gốc của cồng chiêng:
+ Ching Lào: Đã được đưa từ Lào sang Có người cho rằng Ching Lào đúc từ Mayanmar, qua con đường trao đổi buôn bán đã đến Tây Nguyên Đây
là loại chiêng rất quý, được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to, vang xa + Ching Joăn: Do người Kinh đúc Đây cũng là vấn đề còn nhiều bàn cãi, tranh luận khá sôi nổi Tại sao người Kinh đúc chiêng mà không sử dụng?
Có lẽ thời bấy giờ người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng và sản suất rồi đem lên Tây Nguyên buôn bán, trao đổi Theo các nghệ nhân thì hiện nay loại Ching Joăn ở Tây Nguyên không còn nhiều Vì qua sử dụng, âm thanh không vang nên đồng bào đã loại dần
+ Ching Kur: Loại này đã được đưa từ Thái Lan, Campuchia sang Theo thống kê bước đầu ở các địa phương, trong các dân tộc bản địa ở Gia Lai và Kon Tum, tộc người Bana còn giữ được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác dọc Trường Sơn [19, tr.42]
Nghiên cứu về cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô Vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị Về cội nguồn, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá – trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo “quy trình tiến hóa” cồng đá, chiêng đá, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng…
Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử hơn 4000 năm Vế lối đánh, “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ
sĩ biểu diễn như các dân tộc ở Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng có ý nghĩa
Trang 26là vật tổ), hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn)
Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự chuyển biến tính năng nhạc khí (ở thời
kỳ bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm
Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự “giao thoa” văn hóa càng hiển nhiên [19, 43]
Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên
sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt
Và có một điều chắc chắn rằng, dù xuất xứ ở đâu nhưng chính mảnh đất Tây Nguyên đã mang đến cho văn hóa cồng chiêng một sức sống, sức hấp dẫn đến kinh ngạc Sau khi được đúc, cho dù được pha bạc, pha vàng hay thậm chí có cả đồng đen thì cồng chiêng cũng chỉ là những nhạc cụ thô, vật liệu khởi đầu Chỉ khi được các nghệ nhân người dân tộc qua công đoạn chỉnh âm
và làm lễ rước thần linh vào mỗi chiếc cồng chiêng thì những nhạc cụ đó mới hoàn chỉnh, mới có hồn và trở thành những thành viên trong gia đình, trong cộng đồng buôn làng
Trang 27Về tên gọi:
Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại có lẽ không đâu trên đất nước ta lại có nhiều và đa dạng như ở Tây Nguyên Tây Nguyên là một vùng văn hóa còn lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng kim loại rất đồ sộ Đó là “chinh chiêng” mà theo cách gọi của người Việt vẫn quen gọi là cồng chiêng Từ “chinh” tương ứng với từ “chiêng”, từ
“chêng” tương ứng với từ “cồng” bên cạnh “ching chêng” còn có Yao Prông, Greng neng (lục lạc, chũm chọe)
Nói đến “cồng chiêng” (theo cách gọi của người Việt) hoặc “chinh chêng” (theo cách gọi của người Gia Rai, Bana) có nghĩa là chỉ hai loại: Có núm và bằng, không có núm Mỗi loại đều có kích thước khác nhau, mỗi dân tộc lại có tên gọi riêng, kể cả thành phần cơ cấu và biên chế
Các nhóm của dân tộc Mnông đều gọi thống nhất loại nhạc cụ này là chêng Chiêng Mnông cũng có 6 chiếc như nhóm chiêng Knah của người Êđê
Dàn chiêng Mnông phổ biến gồm 6 chiếc chiêng bằng, tương ứng với nhóm
chiêng Knah của người Êđê Chiêng mđăm klang là chiêng con ó, chiêng kôih
kút (chiêng ăn là môn), chiêng bur, chiêng yăn, chiêng khăn (chiêng con dọc), chiêng mếch, chiêng moih, chiêng đăm oih, chiêng leng đeng, chiêng oinh, chiêng mer poil, chiêng đăm book, chiêng mddrum, mđruk… Dàn chiêng Mnông phổ biến gồm 6 chiếc chiêng bằng, tương ứng với nhóm chiêng knah của người Êđê, kích thước cũng tương tự (đường kính từ 35 cm đến 45 cm) Bên cạnh dàn chiêng gồm 6 chiếc, người Mnông còn sử dụng một dàn chiêng
có núm, gồm 4 chiếc (hoặc còn gọi là dàn gong) Mỗi chiếc có một tên gọi
riêng: Me gong (hoặc mei, mai gong); Trơ gong; Tru gong (Mnông Prâng) hay Mdu gong (Mnông Rlăm, Mnông Chil); Kon gong, kuoon gong hoặc tê gong, gong wê (xếp theo thứ tự nhỏ dần về kích thước và cao dần về âm thanh) [1, 18]
Trang 28Dân tộc Mạ gọi chiêng là chinh hay chiang (tiếng Mạ ghi là eing) và gọi cồng là Kuong Chiêng hay là những cái có kích thước nhỏ, không có
núm Cồng là những cái to, có núm Bộ chiêng của người Mạ gồm 6 chiếc,
thứ tự từ lớn đến nhỏ có tên: Vàng (còn gọi là chiêng mẹ), rđơm (chiêng cha), dơn (anh cả), thong (anh kế), thơ (anh cận kế) và thê (em út) [1, 19]
Dân tộc Êđê có các loại chiêng có kích thước to nhỏ khác nhau, cái to
nhất có đường kính khoảng 60 đến 75 cm, cái bé nhất có đường kính khoảng
30 – 35 cm Ví dụ dàn chiêng của gia đình anh Ma Ler Mlô Duôn Du ở buôn Ađrơng, xã Chư Pơng, huyện Krông Búk, tỉnh Đắc Lắc [1, 19]
Với dân tộc Brâu, chiêng tha chỉ có 2 chiếc: Jơliêng (chồng) có đường kính 46 cm, không núm, vị trí kích âm 6,3 cm; Chuar (vợ) có đường kính 41
cm không núm, vị trí kích âm 5 cm [1, 20]
Với dân tộc Xơđăng, có 2 loại: Chiêng wăch có 4 chiêng không núm,
có tên gọi, số đo đường kính lòng, thành và nơi kích âm từ nhỏ đến lớn như
sau: Mong: 16 – 2 – 5 (cm), Meng: 26,5 – 4,5 – 5,5 (cm), Mồng: 31,5 – 5 – 6,5 (cm); Can: 37 – 6,5 – 8 (cm); Chiêng meh: số lượng, cách chế tác, tên gọi cũng gần giống như chiêng wăch nhưng kích thước khác: Mong: 19, 5 – 2 – 4,5 (cm), Meng: 32,5 – 4,7 – 8 (cm), Mồng: 41 – 5,5 – 9,2 (cm), Can: 52,5 –
6,6 – 12 (cm) [1, 20]
Với dân tộc Bana, biên chế dàn chiêng thường gặp là 13 chiếc, trong đó
có 5 chiêng (Chơgu, Chiel, Dết, Petdur, Petier) và 8 chinh (djoong, moong, pglẽh, kon djoong, kon moông, sau djoong và sau moông) Ngoài ra, còn có
dàn lên tới 14, 15 chiếc, có dàn lại có 8, 9 chiếc Hiếm gặp trường hợp nào nhiều hon, và tuyệt nhiên không gặp dàn ít hơn nữa (trừ bộ chiêng so – bộ chiêng cổ - gồm 3 chiếc chiêng trầm, chuyên dùng trong lễ hội đâm trâu) [1, 20]
Trang 29Với dân tộc Giarai, chiêng Aráp được đúc bằng đồng thau, có pha
gang, chì và một số hợp kim khác; có loại cồng ở phần núm có pha vàng, bạc Phần đệm gồm 3 chiếc cồng cố núm [1, 21]
Dân tộc Giétriêng có 3 loại cồng chiêng; theo hình dạng và kích thước,
tên gọi từng loại cũng khác nhau Bộ cồng chiêng (có núm) gồm 12 chiếc, gọi
là chinh honh hoặc goong Bộ này gồm 3 chiếc có núm làm chức năng đệm,
còn 9 chiếc chiêng bằng giai điệu (nhưng thông thường bớt đi 2 chiếc nhỏ vì
âm thanh nó quá cao) Bộ chiêng bằng (không có núm) gồm 6 chiếc, gọi là
chinh hlong, 1 chiếc đệm, 5 chiếc đi giai điệu trong đó có 2 chiếc nhỏ [1, 21]
1.2.2 Lịch sử phát triển của cồng chiêng
Dựa trên vết tích trống đồng thì cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất
2000 năm Như vậy, cồng chiêng ở Tây Nguyên ra đời từ rất sớm trải qua một chặng đường phát triển rất dài của lịch sử và nhanh chóng chiếm lĩnh một địa bàn hoạt động rộng lớn Từ xa xưa cồng chiêng đã song song tồn tại cùng với trống đồng trong hoạt động tâm linh, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong đời sống xã hội Khi mới ra đời cồng chiêng chưa được các dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng rộng rãi Họ dùng cồng chiêng để xua đuổi thú, chim muông, để đánh giặc giữ làng… Càng về sau khi vai trò của trống đồng càng thưa vắng thì tính phổ biến của cồng chiêng ngày càng phong phú và đa dạng Sức sống của cồng chiêng đặc biệt bền vững qua bao biến cố thăng trầm trong lịch sử Cho đến nay, cồng chiêng Tây Nguyên phát triển nhất qua 2 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX
Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX là thời kỳ phát triển cực thịnh của cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Trong giai đoạn này, ở Tây Nguyên mật độ chiêng cồng khá dầy, lên tới hàng vạn chiếc Ở
Trang 30mỗi buôn, mỗi p’lei có rất nhiều chiêng, nhà nào cũng có ít nhất một bộ trở lên [18, 13]
Cư dân các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không tự chế tác được cồng chiêng Họ đi mua chiêng của cư dân nơi khác như một hàng hóa rồi chỉnh sửa thành chiêng với tư cách là một dụng cụ âm nhạc Kỹ thuật chế tác từ hàng hóa thành nhạc cụ diễn ra như sau:
Để biến cồng chiêng từ hàng hóa thành nhạc cụ thì người chỉnh sửa chiêng phải là người có tai nghe chính xác, thông hiểu thang ân của từng vùng, từng dân tộc Dụng cụ để chỉnh âm cồng chiêng gồm: 3 chiếc búa từ lớn đến nhỏ, hai đầu thuôn dài; hai mũi de; một con dao nhọn; một khúc gỗ làm đòn kê và một hòn đá làm đe Mỗi dụng cụ này đều có chức năng riêng Búa lớn và mũi de là để tìm tiếng bằng cách đục nhẹ lên chân núm (với cồng), nếu chưa có âm thanh thì dùng búa lớn gõ mạnh vào bên trong cho đến khi có âm thanh Tiếp đến, dùng búa nhỏ để chỉnh âm vực, trường độ, cao độ Dụng cụ nạo như một chiếc đục to bản, mũi cong, hai mép rát lên để dễ nạo Yếu tố quyết định là đôi tai thẩm âm chính xác của người sửa hay chỉnh chiêng Cái chiêng mua từ nơi khác về, chỉ bằng một cái búa nhỏ bằng sắt, một cái đe với
kỹ thuật gõ theo đường vòng tròn quanh núm hoặc tâm điểm, điều chỉnh độ dày, mỏng của từng điểm khác nhau trên thân cồng chiêng, người thợ dân gian đã điều chỉnh sự lan tỏa của các sóng âm trên chiếc chiêng và cho âm thanh mong muốn [18, 14]
* Giai đoạn 2: Từ năm 1945 đến nay
- Từ năm 1945 đến năm 1986
Từ sau Cách mạng tháng Tám và nhất là sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất thì cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng có nhiều điều kiện để quan tâm và phát triển hơn [12, 432]
Trang 31Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thông tin Gia Lai thì trước năm 1980 trong các p’lei của người Gia Lai, Bana của tỉnh có hang chục ngàn bộ cồng chiêng Có gia đình dở hữu 2 đến 3 bộ Mỗi p’lei có hàng chục bộ So với giai đoạn trước, số lượng cồng chiêng đã giảm đi nhiều [12, 439]
Tuy vậy, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn Những dàn chiêng ở nhiều nơi đã vượt ra ngoài khuôn khổ vai trò là một nhạc cụ nghi thức trong các lễ hội theo phong tục cổ truyền Nó đã tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội ở cuộc sống, phát triển thành dàn chiêng đã vang lên cả trong các buổi mít tinh, những ngày kỉ niệm của địa phương, cũng như của cả nước
- Từ năm 1986 đến năm 2011
Giai đoạn này do điều kiện xã hội mới đã mở ra nhiều khả năng to lớn
về kinh tế, văn hóa, khi mà cuộc sống du canh du cư đang cơ bản được chấm dứt, khi mà hang loạt buôn làng đi vào làm ăn tập thể, trở thành thành viên của nông trường, lâm trường quốc doanh… thì cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng đi vào giai đoạn suy thoái [12, 432]
Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thông tin Gia Lai, năm 1999, cả tỉnh
có 99 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ Năm 2002, số còn lại chưa đến 3000 bộ Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ Sở Văn hóa – Thông tin Đăk Lăk cho biết:
Từ năm 1982 – 1992, tỉnh đã mất 5.235 bộ chiêng; từ năm 1993 – 2003, lại mất thêm 850 bộ Hiện tại, cả tình Đăk Lăk chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng [1, 58]
Thực tế trên cho thấy hiện tượng “chảy máu cồng chiêng” đang là vấn
đề báo động Với thực trạng đó trong những năm qua, các cơ quan nghiên cứu, quản lý văn hóa cũng đã tích cực cố gắng trong hoạt động duy trì, bảo tồn cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Sự cố gắng đó đã cải thiện được một phần nào thực trạng “chảy máu cồng chiêng”, đưa hoạt động văn hóa cồng
Trang 32chiêng sử dụng rộng rãi trong đời sống văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên Và đặc biệt trong công cuộc dổi mới, xu thế du lịch sinh thái, du lịch văn hóa phát triển, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ được tận dụng khai thác, phát huy mang lại hiệu quả thiết thực
1.3 CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN TRƯỚC 1986
Cồng chiêng không chỉ gắn liền với người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên mà ngay cả những người Kinh sinh sống nơi đây, người mới tới lần đầu, hay người nước ngoài chỉ mới được một lần đến Tây Nguyên, khi tiếp xúc với tiếng chiêng cồng trong các buôn làng cũng bị chinh phục, mê hoặc
Có lẽ không đâu như ở Tây Nguyên, cồng chiêng có một môi trường không gian thuận lợi để phát triển đến như vậy
Có thể nói, với người Tây Nguyên, cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện cho tinh thần cộng đồng rất cao, mang những giá trị về nghệ thuật âm nhạc, phong tục tập quán và còn nhiều biểu tượng về sức mạnh kinh tế Ở nơi đây, hầu như nhà nào, buôn nào cũng có cồng chiêng Nhà nào ít cũng có một
bộ, có nhà hàng chục bộ Tuy nhiên không phải cồng chiêng nào cũng giống nhau Mỗi một dân tộc, mỗi một vùng đều có các loại cồng chiêng riêng của dân tộc mình, và đặc biệt là phương pháp, mục đích và phạm vi sử dụng Trải qua nhiều thế kỉ vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống kẻ thù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo và định hình những loại nhạc khí phù hợp với cuộc sống ở núi rừng Cồng chiêng là nhạc khí thể hiện tính cộng đồng cao Trong tất cả các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu được tiếng cồng, tiếng chiêng Cồng chiêng đã thực sự gắn bó với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên, không thể tách rời Tiếng cồng chiêng xuyên suốt cả đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của đồng bào các dân tộc ở nơi đây
Trang 33- Theo chu kỳ vòng cây trồng, suốt cả một mùa rẫy (từ tháng 3 Âm lịch cho đến hết tháng 12 hàng năm), nhiều nhi lễ được tổ chức Dân tộc Êđê có các nghi lễ như lễ tìm đất, lễ phá rẫy, lễ gieo hạt, lễ cúng bến nước, lễ cúng hồn lúa, lễ cúng kho lúa, lễ mừng cơm mới… Dân tộc Mnông có các nghi lễ:
lễ khấn đất phát rẫy, lễ cúng trỉa lúa, lễ cúng bắt đầu tuốt lúa, lễ rước hồn lúa,
lễ tạ ơn thần Lúa, lễ cúng bến nước… Các dân tộc khác như Gia Rai, Bana, Churu, Cơho… cũng có các nghi lễ như vậy Như một thành tố không thể thiếu, cồng chiêng gắn bó mật thiết với tất cả các nghi lễ ấy [1, 11]
+ Lễ mừng cơm mới
Sau khi đã thu hoạch mùa màng, người Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai…
thường tổ chức Lễ mừng cơm mới hoặc Mừng được mùa trong toàn buôn làng
hoặc từng gia đình để tỏ lòng biết ơn Giàng Ya Pôm (thần Nông), đồng thời cũng là dịp sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí sau những tháng ngày lao động vất vả (từ tháng 3 đến tháng 11 dương lịch) như trong dân gian thường nói:
cá, mua thêm gà heo, vệ sinh và trang trí gia đình…) Trong ngày hội (thường được tổ chức vào tháng 12 dương lịch) các bếp trong buôn làng đều đỏ lửa cùng một lúc Sau khi đã chuẩn bị mọi thứ xong thì chủ nhà hoặc người chủ
lễ, thầy cúng đọc lên những lời cầu khấn, đại ý như sau:
“Nay mùa đã xong
Lúa đã vào kho
Mời Giàng Ya Pôm
Trang 34Xuống ăn cơm mới
Uống rượu với gan heo
Tạ ơn Giàng mưa thuận gió hòa
Xin cho năm sau được mùa
Thóc nhiều hơn những mùa trước…”
[12, 425]
Tiếng khấn vừa dứt, trống chiêng nổi lên bản nhạc Mừng được mùa,
mở đầu cho cuộc vui bằng tiệc rượu cần theo trật tự truyền thống: người già uống trước, người trẻ uống sau Tiếp theo là thanh niên nam nữ được tổ chức thành đoàn, dẫn đầu là người đánh trống hgơr (gần giống như trống cái) rồi đến đội chiêng mnhum, 3 chiêng núm đi trước, 6 – 8 chiêng bằng đi sau, tiếp theo là từng cặp nam nữ múa theo nhịp chiêng Họ đi đến từng nhà trong buôn làng để chúc mừng và mỗi nhà thường đưa cho họ gạo (1 bát) và thịt dê về làm cúng Giàng Ya Pôm [12, 426]
Theo tục lệ cổ truyền, sau khi tổ chức Lễ mừng cơm mới, các gia đình
mới được lấy thóc trong kho ra ăn, và lễ này cũng coi như mở đầu cho những
lễ hội khác của buôn làng
+ Lễ cúng bến nước
Ý thức được vai trò quan trọng của nước, cư dân ở đây có nhiều nơi đã
lấy từ Nước để đặt tên cho buôn, cho làng mình cư trú Ví dụ: Ya La, Ya Lu,
Ya Blang, Ya Mơ… Ya tiếng Gia Rai có nghĩa là nước, hoặc Ea Sum, Ea Kao, Ea Yong, Ea ug… (ở Đăk Lăk), Ea tiếng Ê Đê cũng có nghĩa là nước Với ý giữ gìn nguồn nước trong sạch, bảo vệ bến nước vì cuộc sống của cộng đồng, nên sau khi thu hoạch xong vụ mùa, người Gia Rai, Ba Na tổ chức Lễ cúng bến nước, cầu mong cho sông nhiều nước, suối đừng cạn để người được mạnh khỏe, cây cối được xanh tươi Ông Pê riu yang ra tại bến nước của buôn làng, đọc những lời thỉnh cầu đại ý rằng:
Trang 35“Ơ Giàng Sông, Giàng Núi
Tôi cúng bến nước
Tôi tưới hàng rào
Trồng cây lại mau lớn
Trồng cây “táp” mau cao
Trồng hàng cây rào quanh làng cho vững
Không giặc nào đến làng cướp phá được…
Cầu Giàng bến nước
Xin giữ nước cho trong lành
Để dân làng được khỏe mạnh
Để cây cối được xanh tươi…”
[12, 426]
Dàn chiêng mnhum nổi lên bản nhạc truyền thống Giai điệu chiêng ngân dài theo dòng sông ngọn suối, đưa rước Ông riu yang về nhà để mở đầu tiệc rượu cần truyền thống trong nhịp chiêng náo nức, rộn ràng của ngày hội bến nước
- Với các sự kiện trong vòng đời con người, cồng chiêng luôn luôn là yếu tố không thể thiếu vắng, tiếng chiêng ngân dài theo suốt cuộc đời con người Dân tộc Mnông có các nghi lễ gắn liền với các sự kiện vòng đời con người như lễ cúng khi có thai, lễ cúng cho người mẹ sau khi sinh, lễ cắt rốn,
lễ thổi tai, lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ tang, lễ mừng nhà mới… Dân tộc Êđê cũng có các nghi lễ cúng khi người mẹ mang thai, lễ thổi tai, lễ hỏi chồng, lễ cưới chồng, cúng sức khỏe, lễ tang, lễ bỏ mả… Các dân tộc khác như Bana, Gia Rai, Xơ Đăng… cũng có các nghi lễ tương tự [1, 12]
+ Lễ mừng nhà mới
Theo phong tục cổ truyền, mỗi khi làm nhà mới xong, người Gia Rai,
Ba Na… làm lễ mừng nhà mới với ước vọng cuộc sống trong mái nhà mới
Trang 36dựng sẽ được mạnh khỏe, hạnh phúc, nhà ở được bền lâu, thoáng mát… như nội dung lời cầu khấn của người chủ lễ, đại ý như sau:
“Hỡi Giàng Núi, Giàng Sông
Bao ngày lên đồi chặt tre, vào rừng đốn gỗ
Nay đã thành nhà cao cửa rộng
Xin Giàng phù hộ cho nhà tôi mới làm
Cầu cho bếp luôn đỏ lửa, sáng nhà
Cầu cho cột chôn sâu, bão to không đổ
Mong con mối không gặm được tre
Con mọt không đục được gỗ
Mong cho gió độc không luồn qua được vách phên…”
[12, 423]
Lời thỉnh cầu vừa dứt, nhạc dàn chiêng nổi lên những âm thanh, nhịp điệu truyền thống, trong khi người chủ lễ lấy một bát rượu gốc hòa vào một chút tiết gà (lợn, bò nếu có) tưới vào bốn góc bếp, chân cầu thang, chân cột chính và vảy lên phên vách, bôi vào xà dọc để trừ tà ma, bệnh tật Sau đó, ông
mở đầu tiệc rượu cần rồi đến chủ nhà và những người trong gia đình, tiếp theo
là họ hàng gần xa và dân làng Nhạc chiêng vẫn hòa tấu làm nền cho nam nữ múa với những động tác uyển chuyển nhịp nhàng, chia vui với củ nhà mới dựng… [12, 423]
+ Lễ trưởng thành
Trong các nghi lễ vòng đời người thì nghi lễ trưởng thành đóng một vai trò rất quan trọng Nghi lễ trưởng thành (hay còn gọi là lễ thành đinh) thường được tiến hành khi con người trưởng thành về mặt giới tính Nếu như các nghi
lễ thời kì phôi thai, sơ sinh, lên lão và tiễn đưa người thường có tính chất gia đình thì nghi lễ trưởng thành lại gắn với cộng đồng mang tính cộng đồng cao Điều này thể hiện rõ ở những dân tộc sống ở thời kì tiền quốc gia, lúc mà cá
Trang 37nhân còn gắn bó mật thiết với cộng đồng thị tộc Con người – gia đình và con người – cộng đồng chưa có sự tách biệt Bởi vì đây là nghi thức công nhận chàng trai trở thành thành viên chính thức của cộng đồng, có quyền lợi và nghĩa vụ với bản làng, có quyền được kết hôn Nghi lễ này có một ý nghĩa đặc biệt, và có những hình thức rất đa dạng phong phú tùy theo mỗi dân tộc, mỗi vùng có cách thức tiến hành với thời điểm và địa điểm khác nhau Song nhìn chung là chúng có tính trang nghiêm và thử thách Các tác giả trong cuốn sách
“Nghi lễ vòng đời người” có nhận xét: “…Như các dân tộc Tây Nguyên, chàng trai lớn khôn, vào một ngày định trước, phải đi vào rừng tìm diệt được thú dữ (lợn lòi, bò rừng, trâu rừng…) đem con mồi về làm chứng tích chiến công với buôn làng, để cầu báo với Giàng (Yang, Thần Trời…), rằng chàng trai này đã đủ dức khỏe và tài năng, ném được cái lao, phóng được mũi tên diệt thú, xứng đáng là con cháu anh hùng Đam San (hay Đam Di, Xing Nhã…) Từ buổi ấy, chàng trai được hội đồng già làng thừa nhận là thành viên của cộng đồng đủ sức bảo vệ buôn, play Cũng từ buổi ấy các cô gái mới
Trang 38tình cảm, mừng vui, buồn đau, căm giận… của con người Tây Nguyên Có thể nói cuộc đời con người “dài theo tiếng chiêng”, cồng chiêng gắn bó với con người mật thiết, không thể tách rời
Trang 39Chương 2 CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÂY
NGUYÊN THỜI KỲ 1986 – 2011
2.1 CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
Tây Nguyên có hai di sản văn hóa vô cùng quý giá đó là sử thi và cồng chiêng Cồng chiêng tồn tại song hành với đời sống nhân dân các dân tộc này
từ lâu Mỗi một dàn cồng, chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động
và sinh hoạt hàng ngày của họ
Cũng chính vì lí do đó mà cồng chiêng là vật có giá trị vật chất rất lớn Những chiêng lâu đời, có thể có giá trị hơn nhiều con trâu, con voi đã thuần dưỡng Ví dụ như ở người Mnông, chiêng kuanh (chiêng vượn trắng) trị giá bằng một con voi, chiêng mẹ drúp trị giá bằng bốn con trâu, chiêng dlăng đăng (trị giá bằng 2, 3 con voi), chiêng mẹ kuanh, mẹ gla, chiêng kớt nrat (đổi
6 con trâu) ở người Brâu, chiêng tha được chế tác bằng hợp kim rất lạ, nặng gần 20kg, khoảng 30 con trâu đổi được một bộ gần hai chiếc Bộ chiêng Aráp của người Gia Rai có khi trị giá bằng 30 con trâu Ở người Giẻ Triêng, loại cồng chiêng nào mà chiếm từ 75 – 80% đồng đen thì trị giá từ 35 – 40 con trâu hoặc con bò Còn loại cồng chiêng mà tỷ lệ đồng đen chỉ có từ khoảng 35 – 40% thì mỗi chiếc trị giá ngang một con bò hoặc con trâu… [18, 37]
Cũng vì giá trị vật chất to lớn của cồng chiêng nên trong luật tục của một số dân tộc ở Tây Nguyên khi thành viên trong cộng đồng vi phạm qui định nào đó thật lớn, thật nặng, cộng đồng sẽ xử phạt người ấy bằng một hay nhiều chiếc cồng chiêng, và coi đó là sự trừng phạt nặng nhất để họ sửa chữa những sai phạm
Trang 40Như vậy có thể thấy cồng chiêng có chức năng là vật thể hiện cho uy tín và quyền lực Người sở hữu nhiều cồng chiêng phải là người có nhiều của cải, uy tín Chính vì vậy, cồng chiêng đã trở thành tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có Người ta đánh giá sự giàu có hay nghèo khổ của mỗi gia đình thông qua số lượng cồng chiêng mà họ sở hữu
2.2 CỒNG CHIÊNG TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
2.2.1 Trong tư tưởng tín ngưỡng
2.2.1.1 Âm thanh của cồng chiêng như là sự giao cảm của trời đất
Với các tộc người Tây Nguyên, cồng chiêng là một vật thiêng Người ta tin rằng trong mỗi cái cồng chiêng đều có một vị thần trú ngụ Vị thần này là
nữ hay nam tùy theo niềm tin của từng tộc người Chẳng hạn, ở tộc người Êđê, còn theo chế độ mẫu hệ, thần chiêng là nữ Ở tộc người Bana, ngành Tồ
Lồ thần chiêng cũng là nữ Sức mạnh thiêng của cồng chiêng không phải có ngay từ lúc nó mới được chế tác Người Tây Nguyên không tự mình đúc được cồng chiêng mà phải mua chủ yếu từ các xưởng đúc của người Việt ở đồng bằng hoặc một số nước láng giềng Chiêng mua về phải trải qua sự gò, sửa để
có được âm thanh phù hợp với hàng âm của tộc người Mỗi tộc người Tây
Nguyên đều có nghệ nhân gò, sửa (tiếng Bana là Book Tul Chêng) Sau khi
có được âm thanh mong muốn, người ta còn làm lễ hiến sinh để mời thần chiêng về trú ngụ trong chiêng, chỉ sau đó, chiêng mới thực sự là của cải vật chất và tinh thần của con người Do đó, cái chiêng càng lâu đời bao nhiêu thì sức mạnh của vị thần trong đó càng lớn bấy nhiêu [12, 419]
Là một vật thiêng nên âm thanh cồng chiêng cũng mang tính thiêng và
nó được sử dụng như một ngôn ngữ, thông qua đó họ “đối thoại” với tổ tiên
và thần linh Qua âm thanh cồng chiêng thể hiện nguyện vọng, ước mong, phù
hộ cho mùa màng bội thu của con người mà thần linh có thể nghe thấy Âm thanh cồng chiêng ngân vang mời gọi các đấng thần linh và tổ tiên của họ về