Cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về kinh tế, cộng đồng về văn hóa, tâm lý và tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu một mặt nào của cộng đồng dân tộc”.6 Giáo
Trang 1Khoá luận tốt nghiệp Đại học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục của khóa luận 5
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ 6
1.1 LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 6
1.1.1 Khái niệm dân tộc 6
1.1.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về vấn đề dân tộc 12
1.1.2.1 Chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc 12
1.1.2.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc 16
1.2 THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ 23
1.2.1 Khái quát về bức tranh dân tộc ở Liên Xô 23
1.2.2 Chính sách dân tộc dưới thời Lênin 26
1.2.3 Chính sách dân tộc từ thời Stalin đến Gorbachev 31
1.2.3.1 Thời kỳ Stalin (1924- 1953) 31
1.2.3.2 Thời kỳ Khơrútsốp (1956-1964) 34
1.2.3.3 Thời kỳ Brêgiơnhép (1964- 1982) 35
1.2.3.4 Thời kỳ Gorbachev (1985- 1991) 36
1.3 TIỂU KẾT 38
CHƯƠNG 2: NHÂN TỐ DÂN TỘC TRONG SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT NĂM 1991 40
2.1 SỰ KHỦNG HOẢNG, SỤP ĐỔ NHÀ NƯỚC DÂN TỘC LIÊN XÔ 40
2.1.1 Khủng hoảng ở Liên Xô 46
Trang 2Khoá luận tốt nghiệp Đại học
2.1.2 Công cuộc cải tổ của Gorbachev và sự tan rã của Liên Xô 46
2.1.2.1 Bước đầu cải tổ (4/1985 đến 6/1988) 46
2.1.2.2.Cải tổ sâu rộng và chệch hướng Chủ nghĩa xã hội (7/1988 đến 6/1990) 49
2.1.2.3 Thất bại của cải tổ và sự tan rã của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (7/1990 đến 12/1991) 53
2.2 NHÂN TỐ DÂN TỘC TRONG SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN BANG XÔ VIẾT NĂM 1991 56
2.2.1 Giai đoạn 1: 1985-1987 56
2.2.2 Giai đoạn 2: 1987-1989 60
2.2.2.1 Các nước cộng hòa Baltíc đòi xét lại việc gia nhập Liên bang Xô Viết trước đây (8/1987) 60
2.2.2.2 Xung đột giữa Azerbaijan và Armenia về vấn đề chủ quyền tỉnh tự trị Nagorno - Karabakh (2/1988) 63
2.2.2.3 Bạo loạn giữa người theo đạo Hồi và người Uzơbếc ở Uzơbêkixtan (6/1989) 66
2.2.2.4 Đấu tranh đòi thay đổi chữ viết ở Mônđôva 67
2.2.3 Giai đoạn 3: 1990-1991 69
2.2.3.1 Trở lại Baltic 69
2.2.3.2 Nước Nga thức tỉnh 72
2.3 NGUYÊN NHÂN SỰ BÙNG NỔ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ 75
2.3.1 Nhân tố khách quan 75
2.3.2 Nhân tố chủ quan 77
2.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 81
2.5 TIỂU KẾT 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 3Khoá luận tốt nghiệp Đại học
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nhân tố dân tộc trong sự sụp
đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991”, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc nhất tới thầy giáo Nguyễn Văn Vinh – người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và các bạn trong tập thể k34-Cử nhân lịch sử - những người luôn gần gũi, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vũ Thị Sang
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp Đại học
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Vinh Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Sang
Trang 5Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang ở vào thời kỳ biến chuyển lịch sử sâu sắc Bên cạnh những thuận lợi cơ bản do xu thế hòa dịu, mở rộng giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế đem lại, toàn nhân loại vẫn đang phải đối mặt với nhiều mối hiểm họa, thách thức
đó là vấn đề mâu thuẫn dân tộc, xung đột dân tộc
Vấn đề dân tộc là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nhạy cảm cả trong một xã hội thuần nhất về dân tộc, còn đặc biệt nhạy cảm hơn rất nhiều đối với những xã hội
đa dân tộc Cho đến ngày nay, có thể nói không có quốc gia nào không bao gồm nhiều dân tộc cùng chung sống Mà giữa các dân tộc người lại có sự khác nhau rất lớn về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ phát triển kinh tế, v.v…Tính chất nóng bỏng của mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ: các cuộc xung đột dân tộc diễn ra một cách phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới Mâu thuẫn lớn gây ra nội chiến, mâu thuẫn nhỏ gây ra sự tranh chấp trong việc phân chia chính trị, kinh tế, lãnh thổ… Dù diễn ra dưới bất kỳ hình thức nào thì mâu thuẫn dân tộc vẫn là mâu thuẫn gây ra những hậu quả hết sức nặng nề
Việc giải quyết vấn đề này quả thực không đơn giản chút nào bởi không thể
có một hay một số giải pháp chung để giải quyết một cách hữu hiệu mọi xung đột dân tộc ở những quốc gia khác nhau Trên thực tế chính phủ các nước có tồn tại vấn
đề dân tộc đã đưa ra những biện pháp để ngăn chặn, tiến tới loại trừ nó Tuy nhiên, thành công đến đâu lại tùy thuộc vào khả năng và nỗ lực của bản thân chính phủ các
nước đó
Liên bang Cộng hòa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) thành lập ngày 30/12/1922
Là một nước rộng lớn gồm hơn 100 dân tộc, trong đó dân tộc Nga là chính, các dân tộc thiểu số khác chiếm 57% trong tổng số dân Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc rất chênh lệch Giữa các dân tộc có sự khác biệt nhau về ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán… Trải qua 69 năm tồn tại đã bị giải thể ngày 22/12/1991 Mười lăm nước cộng hòa của Liên Xô trước đây đã trở thành
Trang 6Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 2
những nước độc lập, có chủ quyền Mười một nước đã liên kết lại trong cộng đồng quốc gia độc lập (SNG) Nguyên do vì sao? Đến nay nó vẫn là một câu hỏi lớn
Mười năm nay, mọi người từ góc độ khác nhau, chuyên môn khác nhau, viết sách, lập thuyết thảo luận nguyên do với rất nhiều quan điểm và câu trả lời Song
các quan điểm chủ yếu đã chỉ ra sự tồn tại của một vấn đề quan trọng là: Thất bại của chính sách dân tộc
Tìm hiểu nguyên nhân của sự khủng hoảng và tan rã của Liên Xô nhằm rút
ra những kinh nghiệm và những bài học lịch sử nhằm phục vụ cho tiến trình phát triển sau này đã trở thành một hướng nghiên cứu phổ biến và quan trọng của nhiều
cơ quan, học giả nghiên cứu lịch sử
Xuất phát từ tình cảm đặc biệt với đất nước Liên Xô anh hùng và người dân Nga, cùng với việc nhận thấy những giá trị lý luận và thực tế của vấn đề trong tiến trình phát triển chung của lịch sử và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ở Việt Nam, tôi chọn đề tài này để tìm hiểu với các lý do sau:
Trước hết là đối với nước Nga Đối với một quốc gia, việc quay trở lại nhìn nhận những vấn đề trong quá khứ nhằm rút ra những giá trị, những kinh nghiệm là một yêu cầu phục vụ cho định hướng phát triển của quốc gia trong tương lai
Nước Nga hiện nay đã từng trải qua bao nhiêu biến động thăng trầm trong quá khứ, đặc biệt là sự ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ của quốc gia này tới lịch sử nhân loại trong thế kỷ XX, nghĩa là mọi sự vận động trong lòng của nước Nga Xô Viết cùng với bề dày lịch sử đó vốn là rất phức tạp và việc nhìn nhận lại nó không
hề đơn giản thì việc phải nhiều lần quay lại bàn cãi về nó là điều tất yếu
Sự nhìn nhận đó sẽ đem lại cho nước Nga hiện nay nhiều bài học giá trị Không chỉ ở chỗ lý giải được sự ra đi đầy tiếc nuối của Liên bang Xô Viết mà còn góp phần tạo tiền đề lý giải cho những sai lầm của chính quyền Nga thời kỳ hậu Xô Viết trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc thời Tổng thống Nga B.Enxin - một trong những nguồn cội chính của vấn đề “ly khai” mà Nga đang đối mặt trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tìm ra lối thoát cho vấn đề này trong nhiều sự nỗ lực vực dậy nước Nga mà “triều đại Putin” đang thực hiện
Trang 7Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 3
Đối với Việt Nam, những bài học lịch sử rút ra từ các quốc gia khác, đặc biệt
là đối với những quốc gia từng chung một sự lựa chọn con đường phát triển như đất nước ta, cũng không kém phần giá trị
Quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là nói đến quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc Việc giải quyết mối quan hệ đó là điều kiện đảm bảo cho sự tồn vong của các quốc gia Đến thế kỷ XX, trong cả hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, vấn đề dân tộc được giải quyết đúng đắn cũng trở thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy thắng lợi của cách mạng Việt Nam Hiện nay, trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa, quá trình thực hiện công bằng, bình đẳng, tương trợ cùng nhau phát triển giữa các dân tộc ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề chung Nếu không giải quyết kịp thời và có phương pháp thích hợp sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng Bởi vậy, quan tâm tới vấn đề dân tộc
đã từng xảy ra ở Liên Xô là một cách tham khảo thiết thực nhằm tránh những sai sót
có thể có trong quá trình thực hiện đường lối về chính sách dân tộc ở Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu nguyên nhân sụp đổ của Liên bang Chủ nghĩa xã hội Xô Viết không phải là một đề tài mới, nhưng luôn mang tính thời sự sâu sắc, trong đó vấn đề dân tộc được đề cập như một nguyên nhân quan trọng cũng được đề cập nhiều
Trên thế giới, vào những năm 70 khi mà vấn đề dân tộc chưa bùng nổ dữ dội
ở Liên Xô thì các học giả phương Tây chuyên nghiên cứu Liên Xô đã có những công trình khoa học dự đoán về sự bùng nổ của vấn đề này trong tương lai Tiêu
biểu là tác phẩm: “Đế chế tan vỡ, cuộc nổi dậy của các dân tộc ở Liên Xô” của học
giả Halenne Carria Dancausse xuất bản lần đầu tiên năm 1978 và đã được dịch sang Tiếng Việt Ở Việt Nam, sau sự tan vỡ của Liên bang Xô Viết năm 1991, rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này xuất hiện, được lưu hành nội bộ hoặc đăng trên các tạp chí uy tín của khoa học lịch sử Việt Nam Có thể kể đến thông tin chuyên đề
số 4/ 2004 của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nội với
tên gọi: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, sự kiện chính trị tháng 8/ 1991, ở Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay” Hay bài viết của nhà nghiên
Trang 8Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 4
cứu Nguyễn Hồng Vân - Viện sử học đăng trên tạp chí “Nghiên cứu lịch sử” số 2/
1996 với tên gọi: “Vấn đề dân tộc - một trong những nguyên nhân tan rã của Liên bang Xô Viết” cho ta cách nhìn toàn diện về vấn đề này Ngoài ra, còn có tác phẩm
lý luận khác về vấn đề dân tộc như: “ Những vấn đề lý luận cấp bách về quan hệ dân tộc” (chủ biên: Phan Hữu Duật) và các số báo “Quân đội nhân dân” từ năm
1985 đến năm 1991 cũng đề cập nhiều nội dung của vấn đề này
Đây là cơ sở thuận lợi để tôi khai thác tư liệu phục vụ cho đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích nhấn mạnh nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết Qua đó, cho thấy sự cần thiết phải có những giải pháp để giải quyết vấn đề dân tộc, nâng cao tinh thần đại đoàn kết dân tộc ở các nước có nhiều thành phần dân tộc khác nhau, trong đó có Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của đề tài là từ năm 1922 đến năm
1991
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành kháo luận này, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
+ Các công trình nghiên cứu về Liên Xô của các tác giả Nga đã được phiên dịch sang tiếng Việt như: Halenne Carria Dancausse, Martin Mccauley
Trang 9Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 5
+ Các cuốn sách, bài viết về Liên Xô ở Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa học xã hội và nhân văn, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
+ Các bài báo, tạp chí như Tạp chí nghiên cứu châu Âu, Tạp chí cộng sản… lưu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, đây là một đề tài lịch sử nên phương pháp lịch sử (đồng đại và lịch đại) và phương pháp logic đã được vận dụng một cách triệt để trong khóa luận
để phân tích mối liên hệ qua lại giữa các sự kiện, hiện tượng trong chính sách dân tộc của chính phủ Liên Xô
Để có cái nhìn so sánh, khóa luận cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm nêu bật lên những chính sách dân tộc được thực hiện qua các đời Tổng thống ở Liên Xô
5 Đóng góp của khóa luận
Nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết từ lâu đã là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học Song đề tài này cũng có một số đóng góp cụ thể sau:
Tập hợp, xử lý và hệ thống hóa nguồn tư liệu nghiên cứu về Liên Xô nói chung và về chính sách dân tộc nói riêng
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích nguồn tư liệu, sách nghiên cứu viết về Liên
Xô và về chính sách dân tộc của Liên Xô, đề tài đã phân tích nhân tố dân tộc trong
sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991
Bằng việc phân tích những chính sách dân tộc mà chính phủ Liên Xô thực hiện, đề tài đã chứng minh được sự thất bại của chính phủ Liên Xô trong việc giải quyết mâu thuẫn dân tộc
Trên cơ sở tổng hợp các kết quả phân tích trên, đề tài nêu bật được những thành công và hạn chế của chính sách dân tộc thực hiện ở Liên Xô Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Một số lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc ở Liên Xô
Chương 2: Nhân tố dân tộc trong sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết năm 1991
Trang 10Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 6
Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ
1.1 LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1.1 Khái niệm dân tộc
Khái niệm “dân tộc” là khái niệm được các nhà khoa học rất quan tâm, tuy nhiên, do đứng trên quan điểm và góc độ nghiên cứu khác nhau nên có rất nhiều định nghĩa về dân tộc và cũng chưa có định nghĩa nào chung nhất được tất cả mọi người thừa nhận Thuật ngữ “dân tộc” theo gốc Latinh là “Natio” có nguồn gốc từ chữ “Nasei” nghĩa là sinh ra Mặc dù không được sử dụng đầy đủ ý nghĩa như ngày nay nhưng từ cuối thời trung cổ thuật ngữ “dân tộc” đã dùng rộng rãi ở châu Âu Bá tước Đơ Maixtrơ (Pháp) dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ cộng đồng người rất đẹp trong một nước gồm vua và quý tộc Đối lập với quan niệm này, các nhà tư tưởng cách mạng tư sản ở nhiều nước châu Âu dùng khái niệm “dân tộc” để chỉ cộng đồng nhân dân trong một quốc gia: không có vua và quý tộc trong cộng đồng này; những thị dân và đẳng cấp thứ ba được xem như thành phần của dân tộc Như vậy trong giai đoạn này khái niệm dân tộc mang nội dung giai cấp, đẳng cấp và chưa trở thành một khái niệm mang tính học thuật
Đến thời kỳ khai sáng (thế kỷ XVII-XVIII), các nhà tư tưởng tư sản là những học giả đầu tiên đưa ra các định nghĩa học thuật về dân tộc Có người cho rằng dân tộc là một tập hợp dân chúng có một quốc gia Theo Điđơrô (Pháp) thì dân tộc là một
số lượng đáng kể dân chúng sống trên một phạm vi đất nước nhất định và tuân theo
sự cai trị của một chính phủ Như vậy, các nhà tư tưởng tư sản đã gắn dân tộc với quốc gia và nhấn mạnh quan hệ chính trị (quan hệ nhà nước), nhưng không đề cập đến quan hệ cộng đồng về kinh tế
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản phủ nhận quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhấn mạnh yếu tố tinh thần và yếu tố chủng tộc khi đề cập đến vấn đề “dân tộc” So với các nhà tư tưởng tư sản trước đây, các nhà tư
Trang 11Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 7
tưởng tư sản ở giai đoạn này đã xem xét vấn đề dân tộc ở các mức độ khái quát hơn dưới góc độ học thuật Tuy nhiên, trong những quan niệm của họ vẫn chưa thấy rõ dân tộc là hình thức cộng đồng người mang tính lịch sử, chưa thấy rõ cơ sở kinh tế -
xã hội của sự hình thành và sự tồn tại của các dân tộc
Năm 1913, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Stalin cho rằng:
“Dân tộc là một khối người cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”.1 Định nghĩa của Stalin đã ít nhiều khắc phục được những thiếu sót cơ bản của các nhà tư tưởng tư sản khi nêu các định nghĩa về dân tộc Trong định nghĩa của mình Stalin cho rằng dân tộc là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của nhiều nhân tố, trong đó lần đầu tiên nhân tố kinh tế được khẳng định Stalin cũng khẳng định phải có đủ bốn nhân tố (ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, văn hóa) mới hình thành dân tộc Tuy nhiên trong thực tế có những cộng đồng chưa hội tụ đủ cả bốn nhân tố hoặc một nhân tố tạm thời bị phủ định (như lãnh thổ hoặc nền kinh tế tạm thời bị chia cắt) nhưng cộng đồng đó vẫn xứng đáng là dân tộc Định nghĩa này chỉ phù hợp với dân tộc - quốc gia
Trong tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin không chỉ đề cập đến loại hình dân tộc hình thành trong thời đại tư bản chủ nghĩa mà đã đề cập đến các
loại hình dân tộc khác, không phải tư sản Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng: nhà nước là điều kiện tồn tại
của dân tộc Vì vậy, hình thái cộng đồng người dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến cũng là cộng đông dân tộc Do đó, thuật ngữ dân tộc không chỉ để áp dụng cho dân tộc tư sản mà còn để gọi các cộng đồng người trong các xã hội có nhà nước
Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen còn gọi những cộng đồng chưa đạt đến hình thành nhà nước cũng bằng thuật ngữ dân tộc: “nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng thuận lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh”2
Trang 12Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 8
Đã rất nhiều năm qua, đến nay trong các tài liệu nghiên cứu, giảng dạy đến
từ điển, khái nệm dân tộc vẫn được diễn đạt khác nhau Xin nêu một vài ví dụ tiêu biểu:
Từ điển Bách khoa Việt Nam do Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản nêu định nghĩa: “1 Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là
cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh
bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau Bước vào giai đoạn phát triển công nghiệp, rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây,
do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ các lãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị trường chung, nên cộng đồng dân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân
Một cộng đồng dân tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng tộc người, với nhiều ngôn ngữ, yếu tố văn hóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau Ngày nay, do không gian xã hội được rộng mở mang tính toàn cầu, do phương tiện đi lại, mỗi cộng đồng dân tộc này lại có thêm nhiều bộ phận của các cộng đồng tộc người tham gia, nên tình trạng dân tộc đa tộc người rất phổ biến 2 Dân tộc (ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana… Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người”3
Đại Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dân tộc: 1 Cộng đồng người ổn định
hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc 2 Dân tộc thiểu số, nói tắt: ưu tiên học sinh dân tộc, cán bộ dân tộc 3 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một
3
Dẫn theo, Nguyễn Quốc Phẩm (2006), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người, NXB Lý luận chính trị, tr.66-tr.67
Trang 13Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 9
quốc gia gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi: dân tộc Việt Nam”.4
Giáo trình triết học Mác - Lênin của Hội đồng Trung ương biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mục dân tộc đã diễn đạt: “Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất
cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc
Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội
có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên, song, đa số trường hợp được hình thành trên cơ sở nhiều bộ tộc và tộc người hợp nhất lại”5… Giáo trình này còn cụ thể hơn:
“Những cộng đồng người được coi là dân tộc với đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, cộng đồng về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp xã hội, trước hết là công cụ giao tiếp trong cộng đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Các thành viên của một dân tộc có thể dùng nhiều ngôn ngữ trong giao tiếp khác nhau, chẳng hạn dân tộc Thụy Sĩ dùng tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Italia Lại có một số ngôn ngữ được nhiều dân tộc sử dụng, chẳng hạn tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha…Song, điều quan trọng là mỗi dân tộc có một ngôn ngữ chung thống nhất mà các thành viên của dân tộc coi là tiếng mẹ đẻ của họ Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho từ vựng cơ bản Ngôn ngữ dân tộc là ngôn ngữ đã phát triển Thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc
Hai là, cộng đồng về lãnh thổ
Mỗi dân tộc có lãnh thổ riêng thống nhất, không bị chia cắt Khái niệm lãnh thổ bao gồm cả vùng đất, vùng biển, hải đảo, vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia Lãnh thổ dân tộc ổn định hơn nhiều so với lãnh thổ bộ tộc
Trang 14Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 10
Trong trường hợp quốc gia nhiều dân tộc thì lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ của các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành Phạm vi lãnh thổ dân tộc hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là một khái niệm xác định, thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc
tế Thực tế lịch sử có những trường hợp lãnh thổ dân tộc bị chia cắt tạm thời, nhưng không thể căn cứ vào đó mà vội cho rằng - cộng đồng ấy đã bị chia cắt là một thử thách đối với tính bền vững của cộng đồng dân tộc Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng quan trọng không thể thiếu được của dân tộc…
Ba là, cộng đồng về kinh tế
Từ các cộng đồng thời nguyên thủy chuyển sang bộ tộc, yếu tố liên kết cộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống dần bị suy giảm, vai trò của nhân tố kinh tế - xã hội ngày càng tăng Tuy nhiên, với dân tộc, tác dụng của nhân tố kinh tế - xã hội được biểu hiện ra thật sự mạnh mẽ C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh rằng tác nhân cơ bản dẫn tới việc chuyển từ hình thức cộng đồng trước dân tộc sang dân tộc
là tác nhân kinh tế Những mối liên hệ kinh tế thường xuyên và mạnh mẽ đặc biệt là mối liên hệ thị trường đã làm tăng tính thống nhất, tính ổn định, bền vững của cộng đồng người đông đảo sống trong một lãnh thổ rộng lớn Dân tộc điển hình là dân tộc
tư sản, dân tộc này bao gồm các giai cấp, tầng lớp khác nhau, trong đó tư sản và vô sản đối lập nhau về địa vị kinh tế, song hai giai cấp đối lập này có quan hệ kinh tế chặt chẽ trong một hệ thống kinh tế duy nhất hình thành trên địa bàn dân tộc, đó là
hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Thiếu sự cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh
tế thì cộng đồng người chưa phải là dân tộc
Bốn là, cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách
Văn hóa là yếu tố đặc biệt quan trọng trong sự liên kết cộng đồng Văn hóa dân tộc mang nhiều sắc thái của các địa phương, các sắc tộc, các tập đoàn người… song nó vẫn là một nền văn hóa thống nhất không bị chia cắt Tính thống nhất trong
đa dạng là đặc trưng của văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của mình
Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển, nếu không giao lưu với văn hóa dân tộc khác Tuy nhiên, trong sự giao lưu văn hóa các dân tộc không
Trang 15Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 11
ngừng đấu tranh để bảo tồn và phát triển bản sắc của mình Văn hóa dân tộc thường
có sức đề kháng rất lớn chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa
Cộng đồng về ngôn ngữ, cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về kinh tế, cộng đồng về văn hóa, tâm lý và tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu một mặt nào của cộng đồng dân tộc”.6
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, khi bàn về khái niệm dân tộc có viết:
“Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa, trong đó có hai nghĩa chính được dùng phổ biến nhất:
Chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc,
kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó
Chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước”7
Dẫn ra những quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm dân tộc như trên
để thấy các cách tiếp cận rất “đa dạng, phong phú” về phương diện khoa học (triết học, chính trị- xã hội, lịch sử, dân tộc học v.v.) sẽ đưa đến cách định nghĩa khác nhau
Bởi vậy, khái niệm dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, đa cấp độ, được xây
dựng tùy theo hoàn cảnh cụ thể Hiện nay có thể hiểu khái niệm dân tộc theo hai nghĩa: dân tộc được hiểu là dân tộc- quốc gia với tư cách là cộng đồng chính trị -
xã hội rộng lớn và dân tộc được hiểu là cộng đồng dân tộc- tộc người
Dân tộc - quốc gia là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, có
chung một ngôn ngữ, một lãnh thổ, cùng chung một vận mệnh lịch sử, có những lợi
6 Giáo trình Triết học Mác- Lênin, sđd, tr 476-479
7 Dẫn theo, Nguyễn Quốc Phẩm, Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa dân tộc, NXB lý luận chính trị, tr.70
Trang 16Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 12
ích chung (về kinh tế, chính trị) có chung nền văn hóa (thể hiện trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống…)
Dân tộc - tộc người là một cộng đồng người ổn định hoặc tương đối ổn định,
có chung một ngôn ngữ, một nền văn hóa, có ý thức tự giác tộc người Với ba tiêu chí này đã tạo ra sự ổn định trong mỗi dân tộc trong quá trình phát triển Rõ ràng là
cả những khi có sự thay đổi về lãnh thổ hay thay đổi về phương thức sinh hoạt kinh
tế, cộng đồng dân tộc vẫn tồn tại trên thực tế
1.1.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin bàn về vấn đề dân tộc
về sự hình thành dân tộc: từ bản chất bộ lạc lên nhà nước, từ tính địa phương lên tính
dân tộc một lần nữa được thể hiện qua tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Trong tác phẩm Biện chứng tự nhiên, Ăngghen cũng đã nêu lên quan điểm về con đường hình thành
dân tộc và quốc gia: các bộ lạc biến thành những dân tộc và quốc gia
Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời trong thời đại tư bản chủ nghĩa Quan điểm của Mác và Ăngghen về vấn đề dân tộc hoàn toàn đối lập với quan điểm của các giai cấp bóc lột nói chung và giai cấp tư sản nói riêng, của các nhà nước, nói riêng là nhà nước của giai cấp bóc lột về vấn đề dân tộc
Trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa tư bản ra đời và dựa trên sự xâm lược các quốc gia nhỏ yếu, sự nô dịch các dân tộc nhược tiểu, để vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công và làm nơi tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”
Đứng trên lập trường chân chính của giai cấp vô sản, Mác và Ăngghen đã kiên quyết chống lại đường lối dân tộc của giai cấp tư sản C.Mác từng chỉ trích giai cấp tư sản, không chỉ về phương diện quốc tế sẽ đẩy vấn đề dân tộc thành chủ nghĩa
Trang 17Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 13
dân tộc cực đoan, dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, mà cả phương diện đối nội - vì lợi ích giai cấp riêng mà sẵn sàng bán rẻ Tổ quốc, dân tộc: trường hợp giai cấp tư sản Pháp trong Cách mạng 1848 là một thí dụ điển hình: giai cấp tư sản Pháp đã cấu kết với giai cấp tư sản Phổ để đàn áp công nhân, ủng hộ đội quân xâm lược Phổ
Trong một số tác phẩm, C Mác và Ph Ăngghen đã bàn đến vấn đề dân tộc
về quyền bình đẳng, về việc đoàn kết của vô sản tất cả các nước Cụ thể:
Khi phân tích quá trình phát triển từ thị tộc lên bộ lạc, liên minh bộ lạc thành dân tộc, C Mác từng nêu lên quyền bình đẳng giữa các bộ lạc như là quyền tự nhiên vốn có: “Liên minh vĩnh viễn của năm bộ lạc cùng dòng máu với nhau được xây dựng trên cơ sở quyền bình đẳng và độc lập hoàn toàn của mỗi bộ lạc về vấn đề trong nội bộ của bộ lạc”.8
Bình đẳng về xã hội như là một quyền của công dân, của
cư dân các thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Từ đó quyền bình đẳng giữa các dân tộc cũng là quyền tự nhiên Nhưng do sự xuất hiện của chế dộ chiếm hữu tư nhân, xuất hiện giai cấp bóc lột đã xâm phạm đến công bằng, tự do của các dân tộc
C Mác và Ph Ăngghen đã nêu thực chất của vấn đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc chỉ được thực hiện khi thủ tiêu mọi áp bức giai cấp, coi đó như là điều kiện chế ước cho công bằng, bình đẳng dân tộc Các ông chỉ rõ: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”.9 Từ đó, các ông khẳng định: “Hãy xóa bỏ tình trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ”.10
Bàn về bình đẳng dân tộc, C.Mác và Ph Ăngghen đã luôn gắn với bình đẳng
giữa người và người, gắn với quyền tự do Trong tác phẩm Chống Đuyrinh,
Ph.Ăngghen từng nêu một luận điểm nổi tiếng về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, phải được tuyên bố là những: “quyền của con người”, mang tính chất chung và vượt
ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia:
“…Trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên cơ sở bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ
8 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.21, tr.144
9
C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.4, tr.624
10 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr 19, tr 43- tr 44
Trang 18Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 14
nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người”.11
Tuy nhiên, trong xã hội tư bản quyền bình đẳng giữa các dân tộc, với tư cách
là những quyền của con người đó đã phản ánh “đặc thù tư sản” Ph.Ăngghen đã phê phán cái đặc thù tư sản ấy ngay trong việc phê phán hiến pháp của nước Mỹ đã thần thánh hóa đặc quyền chủng tộc: “Đồng thời sự việc sau đây cũng nói lên tính chất đặc thù tư sản của những quyền của con người ấy: hiến pháp của nước Mỹ, hiến pháp đầu tiên thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng chuẩn y luôn cả chế
độ nô lệ của người da màu đang tồn tại ở nước Mỹ: đặc quyền giai cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa”.12
Theo quan điểm của Ph.Ăngghen, quyền bình đẳng dân tộc phải đặt trong quan hệ với quyền tự do, bình đẳng, gắn với nhân quyền Bình đẳng dân tộc không thể có được trong xã hội tư bản bởi tại đó, chủ nghĩa dân tộc tư sản là bạn đồng hành của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các xã hội dựa trên chế độ người bóc lột người thì không thể có công bằng, bình đẳng trong quan hệ dân tộc, trên tất cả các phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Trong điều kiện lúc đó, hai ông nhận thức rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thắng lợi trong một nước riêng lẻ mà chỉ có thể thắng lợi đồng thời trong một loạt nước, vì vậy, để đạt mục đích lật đổ nhà nước tư sản, giai cấp vô sản tất cả các nước phải liên hiệp lại Nhu cầu tất yếu là phải thiết lập sự đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa quốc tế vô sản là nét rất quan trọng trong thế giới quan cộng sản chủ nghĩa Chính vì vậy, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được kết thúc bằng khẩu hiệu có sức mạnh động viên và cổ vũ lớn lao mang tính thời đại: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”
Ở một phương diện khác, C.Mác và Ăngghen đã khởi xướng tư tưởng về phong trào giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, trong điều kiện các nước lớn
11 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.20
12 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.153
Trang 19Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 15
luôn luôn nô dịch, đồng hóa cưỡng bức các dân tộc nhỏ Khi đề cập đến phong trào giải phóng dân tộc ở Ba Lan, Airơlen…C.Mác và Ph.Ăngghen luôn ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng, giành tự trị, độc lập C.Mác viết: “Người Airơlen thì cần những điều sau đây: 1 Chế độ tự quản và sự độc lập đối với nước Anh, 2 Cách mạng ruộng đất”.13
Như vậy C.Mác và Ph.Ăngghen bước đầu đã nêu quan hệ giữa quyền tự quyết, tự trị dân tộc với bình đẳng dân tộc Mặt khác, các ông cũng xem xét quyền
tự quyết không chỉ là việc tách ra thành lập quốc gia độc lập mà còn bao hàm cả việc tự nguyện thành lập các liên bang khi có điều kiện
Có thể khái quát quan điểm của C Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc như sau:
1 Công bằng bình đẳng giữa người với người phải gắn liền với công bằng, bình đẳng dân tộc
2 Chỉ có xóa bỏ áp bức bóc lột giữa người với người, giữa giai cấp với giai cấp thì mới xóa bỏ được ách áp bức dân tộc này với dân tộc khác
3 Giai cấp công nhân phải giành lấy chính quyền, đại diện cho giai cấp và đại diện cho dân tộc thì công bằng, bình đẳng dân tộc mới được thực hiện
4 Giải phóng dân tộc là điều kiện trước tiên cho thực hiện công bằng, bình đẳng đối với các dân tộc
5 Bình đẳng dân tộc phải được thực hiện trong quyền tự quyết
6 Đoàn kết giai cấp công nhân trong tất cả các quốc gia dân tộc là điều kiện
cơ bản để phát huy bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết giai cấp như
là điều kiện đoàn kết quốc tế, đoàn kết các dân tộc
7 Trong từng quốc gia đa dân tôc - tộc người - chính sách nhà nước sẽ quyết định quan hệ dân tộc, tộc người Chính sách của nhà nước của giai cấp công nhân sẽ bảo đảm bình đẳng dân tộc - tộc người
Những quan điểm cơ bản vừa nêu của C Mác và Ph Ăngghen đã được V.I Lênin chọn lọc, kế thừa, bổ sung và phát triển thành những quan điểm chung của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc
13
C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, sđd, tr.31
Trang 20Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 16
1.1.2.2 Chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc
Các tác phẩm của Lênin đã luận chứng một cách khoa học cho những luận điểm có tính chất cương lĩnh của Đảng mácxít về vấn đề dân tộc, về quyền bình đẳng của các dân tộc và quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số, về quyền tự quyết của các dân tộc kể cả quyền phân lập về mặt nhà nước, về ngôn ngữ và quyền bình đẳng của các ngôn ngữ, về nền văn hóa dân tộc và nội dung giai cấp của nó, về tập trung và tự trị… Lênin đã phê phán các quan điểm của bọn cơ hội chủ nghĩa Nga và quốc tế, đã vạch trần chủ nghĩa dân tộc tư sản và đã đem chủ nghĩa quốc tế vô sản đối lập lại nó
Với Lênin, vấn đề dân tộc luôn được xem xét khi đặt nó trong tiến trình của cách mạng xã hội chủ nghĩa, coi nó như là bộ phận thống nhất, không thể tách rời của cuộc cách mạng đó Từ đó, một mặt ông nhấn mạnh rằng vấn đề dân tộc là vấn
đề bộ phận, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp, vào cách mạng xã hội chủ nghĩa Vì vậy
mà ông phê phán xu hướng tuyệt đối hóa vấn đề dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp trong toàn bộ tiến trình cách mạng Qua đó ông chứng minh một cách rõ ràng và khẳng định đúng những luận điểm mà C.Mác đã nêu “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc khác sẽ mất theo”14 Song mặt khác V.I Lênin cũng khẳng định tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, giải quyết đúng vấn đề dân tộc sẽ góp phần có ý nghĩa quyết định vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa và ông đã kiên quyết đấu tranh chống xu hướng coi nhẹ vấn đề dân tộc, chỉ thấy vấn đề giai cấp mà không thấy vấn đề dân tộc Điều đó cũng chứng minh rằng, trong thực tế khi giải quyết vấn đề dân tộc thì sẽ có tác động tích cực trở lại đối với vấn đề giai cấp, góp phần quyết định vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Ông đã viết các tác phẩm kinh điển về vấn đề dân tộc như Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Quyền dân tộc tự quyết, Tổng kết cuộc tranh luận về quyền dân tộc
tự quyết v.v Lênin đã phát triển học thuyết Mác về vấn đề dân tộc, xuất phát từ
14
V.I Lênin, Giải đáp vấn đề dân tộc ở Liên Xô, NXB Thông tấn xã Nô-vô-XTL, Matxcova, tr 56
Trang 21Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 17
những điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, của cách mạng vô sản, của phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ thứ hai của sự phát triển các phong trào giải phóng khuôn khổ các nhà nước riêng lẻ đã trở nên chặt chội đối với chủ nghĩa tư bản Khi trong thị trường dân tộc, quần chúng lao động bị bần cùng hóa, không có khả năng tiêu thụ tất cả khối lượng hàng hóa sản xuất ra thì Anh, Pháp và một số nước tư bản khác đã đi xâm chiếm các nước nhỏ yếu, thành lập các thuộc địa Vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa Chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ bóc lột các dân tộc tàn bạo nhất Cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức hòa nhịp với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc chống lại toàn bộ hệ thống chủ nghĩa đế quốc, hình thành sự thống nhất quốc tế trong cuộc đấu tranh chung để giải phóng khỏi ách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc Chính trong những điều kiện như vậy, phát triển khẩu hiệu cách mạng của Mác
và Ăngghen, Lênin đã nêu nên khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị
áp bức đoàn kết lại”
Kế tục Mác và Ăngghen, Lênin không những là nhà lý luận thiên tài mà còn
là nhà thực tiễn vĩ đại Trên cương vị là lãnh tụ cách mạng thế giới, Lênin khi nói về vấn đề dân tộc là để chỉ đạo cho cách mạng toàn thế giới Chúng ta đã biết bác Hồ
vô cùng xúc động khi tiếp thu ý kiến của Lênin về vấn đề dân tộc Trên cương vị là lãnh tụ giai cấp vô sản Nga, Lênin khi nghiên cứu thực trạng các dân tộc dưới chế
độ Nga Sa hoàng, đã rút ra những điểm chủ yếu từ đó để nêu lên các nguyên tác cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga
Cương lĩnh nổi tiếng của Lênin về vấn đề dân tộc trong tác phẩm Về quyền
tự quyết được tóm tắt như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”.15
Về quyền bình đẳng dân tộc được Lênin coi là một trong những nội dung cơ
bản của cương lĩnh dân tộc Theo Lênin, bình đẳng dân tộc về thực chất là xóa bỏ tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân tộc này đi áp bức dân
15
Sđd, tr.25, tr.375
Trang 22Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 18
tộc khác Chính vì thế mà Lênin đã xem xét bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng và việc giải quyết nó là một bộ phận không thể thiếu trong cương lĩnh cách mạng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung Việc thực hiện bình đẳng xã hội nói chung là mục tiêu bao trùm, do đó, có ý nghĩa quyết định việc thực hiện bình đẳng dân tộc, ngược lại việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Không xóa bỏ bất bình đẳng giữa người và người thì bất bình đẳng về dân tộc không bao giờ được xóa bỏ; ngược lại không xóa bỏ bất bình đẳng dân tộc thì việc xóa bỏ bất bình đẳng xã hội không bao giờ được thực hiện triệt để đầy đủ
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đây là cơ sở pháp lý chung giải quyết các quan
hệ dân tộc trên thế giới, trong các khu vực hay trong một quốc gia Bởi điều đó công pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhận Bình đẳng giữa các dân tộc cũng chính là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước
Theo Lênin, nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽ với việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số…bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ
Bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trong nội dung kinh tế, hay bình đẳng
về kinh tế Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc vào sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều về lực lượng sản xuất Theo Lênin, lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia, bởi vậy, giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc- quốc gia, dân tộc- tộc người đều phải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế
Bình đẳng về chính trị cũng là quyền của mỗi dân tộc, tộc người Đối với các dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị, chính là điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội Mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, sôvanh nước lớn, sự kỳ thị, phân biệt, đối xử giữa các dân tộc- tộc người đều là những mưu đồ chính trị của các thế lực phản
Trang 23Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 19
động nhằm đồng hóa các dân tộc nhỏ, yếu Việc can thiệt vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc đều vi phạm quyền bình đẳng chính trị của các dân tộc Lênin cũng nêu rõ vấn đề bình đẳng về chính trị liên quan đến quyền tự trị, quyền dân tộc nhất là các dân tộc bị áp bức
Nhận rõ ý nghĩa của văn hóa đối với sự tồn tại bền vững và phát triển của
mỗi dân tộc nên Cương lĩnh về vấn đề dân tộc do Lênin soạn thảo đã vạch trần mưu
đồ chính trị của những kẻ cơ hội khi nêu ra khẩu hiệu: “ tự trị dân tộc về văn hóa” Lênin chỉ rõ rằng đòi: “ tự trị dân tộc về văn hóa chính là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tinh vi nhất, độc hại nhất- thứ chủ nghĩa này là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, hoàn toàn thù địch với chủ nghĩa Mác”
Trong bài Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Lênin còn nêu lên một dẫn
chứng về sự bất bình đẳng về kinh tế và văn hóa liên quan mật thiết với nhau trong vấn đề dân tộc ở Hợp chủng quốc Bắc Mỹ: “ cho tới nay hãy còn tồn tại sự phân chia thành những bang miền Bắc và những bang miền Nam; ở các bang miền Bắc, những truyền thống tự do và đấu tranh chống chủ nô chiếm ưu thế; ở các bang miền Nam, ưu thế thuộc về những truyền thống nô dịch, với những tàn tích của việc hành
hạ những người da đen là những người phải chịu sự áp bức nặng nề về kinh té, tình trạng lạc hậu về văn hóa… Trong số những người da đen có 44% người mù chữ và trong số những người da trắng có 6% người mù chữ”.16
Liên quan trực tiếp đến bình đẳng văn hóa là quyền bình đẳng về ngôn ngữ- một quyền tự nhiên của con người Vấn đề ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngôn ngữ dân tộc- tộc người là nhu cầu máu thịt, thiêng liêng của cư dân các dân tộc Bởi vậy, quyền bình đẳng về ngôn ngữ là đóng góp tích cực của những người: “dân chủ triệt để” Theo Lênin: “Việc tuyên truyền cho quyền bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc và các ngôn ngữ chỉ tập hợp được trong mỗi dân tộc, những người dân chủ triệt
để (những người vô sản) bằng cách liên hợp họ lại không phải theo dân tộc mà theo nguyện vọng muốn có những sự cải thiện sâu sắc và quan trọng về cơ cấu chung của nhà nước Trái lại việc tuyên truyền cho sự “tự trị dân tộc về văn hóa”, mặc dù
16
V.I lênin: Toàn tập: sđ, tr.24, tr.171
Trang 24Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 20
những nguyện vọng chân thành của một số người nào đó và của một vài nhóm người nào đó, sẽ chia rẽ các dân tộc và trên thực tế, sẽ làm cho công nhân thuộc một dân tộc xích lại gần giai cấp tư sản thuộc dân tộc họ Từ đó Lênin chỉ rõ rằng: Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi áp bức hay bất bình đẳng dân tộc, người đó không phải là người mácxít, thậm chí cũng không phải là người dân chủ nữa Lênin còn nhấn mạnh: “giải phóng các dân tộc thuộc địa và tất cả các dân tộc bị áp bức hoặc bị bất bình đẳng, đồng thời phải đem lại cho họ quyền tự do phân lập”.17
Về ý nghĩa sâu xa quyền bình đẳng dân tộc, Lênin chỉ rõ như sau: ý nghĩa thực sự của việc đòi hỏi quyền bình đẳng kinh tế chung quy chỉ là đòi hỏi thủ tiêu giai cấp Bình đẳng văn hóa còn có ý nghĩa là các dân tộc có quyền sử dụng tiếng
mẹ đẻ trong trường học, văn học, nhà hát…Mặt khác, Lênin cho rằng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi các dân tộc sống trong một quốc gia phải học tiếng của dân tộc đa số
Các dân tộc đều có quyền bình đẳng Một quyền thiêng liêng gắn với quyền con người và quyền của các dân tộc đa số cũng như thiểu số Cương lĩnh về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin đặc biệt quan tâm đến quyền bình đẳng đối với dân tộc thiểu số Lênin khẳng định: “Dù sao cũng không phải không thỏa mãn được tất cả các nguyện vọng hợp lý và đúng đắn của các dân tộc thiểu số, trên cơ sở bình quyền, và không một ai lại nói rằng tuyên truyền quyền bình đẳng là có hại cả”18
Tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc nói chung và của các dân tộc thiểu số nói riêng cũng chính là tạo điều kiện xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nô dịch hay đồng hóa đối với các dân tộc thiểu số và cũng là điều kiện đầu tiên trong hợp tác, tương trợ đối với dân tộc- tộc người đang phát triển, khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc người ở các quốc gia đa tộc người
17 V.I lênin: Toàn tập: sđd, tr.38, tr.136
18 V.I lênin: Toàn tập: sđ, tr.24, tr.181
Trang 25Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 21
Tháng 7- 1920, Lênin viết Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản Trong tác phẩm nổi tiếng này, Lênin đã vạch rõ thực chất của bình đẳng dân tộc dưới chủ nghĩa tư bản là gì, và vì sao giai cấp tư sản lại có thể che đậy và lừa dối được nhiều người như vậy Lênin viết: “Chế độ dân chủ tư sản, do bản chất của nó, vốn có cái lối đặt vấn đề một cách trừu tượng hoặc hình thức về quyền bình đẳng nói chung, trong đó bao gồm cả quyền dân tộc bình đẳng Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng của cá nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó đã làm cho những giai cấp bị áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm Ý niệm bình đẳng, bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hóa, đã bị giai cấp tư sản biến thành một vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu giai cấp dưới chiêu bài của quyền bình đẳng tuyệt đối cá nhân”.19
Như vậy, Lênin đã vạch rõ thực chất của bình đẳng xã hội dưới chủ nghĩa tư bản nói chung cũng như bình đẳng dân tộc dưới chủ nghĩa tư bản nói riêng là bình đẳng giả tạo, hình thức, và không thể triệt để bởi
sự bình đẳng đó xây dựng trên quan hệ áp bức, bóc lột giai cấp và được che đậy bởi biểu hiện bề ngoài “bình đẳng”, “thuận mua vừa bán” của quan hệ sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Lênin đã khái quát một cách sâu sắc rằng: “ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp”.20
Đứng trên lập trường giai cấp công nhân để xem xét vấn đề bình đẳng dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, gạt bỏ trở lực tư tưởng và biểu hiện dân tộc chủ nghĩa dưới mọi hình thức…, đó là nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng dân tộc
Quyền tự quyết là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong cương lĩnh của Lênin
về vấn đề dân tộc Lênin luận bàn về quyền tự quyết dân tộc trong điều kiện mà hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đang mở rộng trên thế giới Quyền tự quyết
có giá trị trước hết đối với các dân tộc bị đế quốc Nga Sa hoàng trong thời kỳ đó là
19 V.I lênin: Toàn tập: sđd, tr.41,tr.198
20 V.I lênin: Toàn tập: sđd, tr.41, tr.198
Trang 26Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 22
chính là nhà tù lớn của nhiều dân tộc Các dân tộc bị áp bức và bóc lột nặng nề, không được quyền quyết định vận mệnh của mình Trong điều kiện như vậy, khẩu
hiệu dân tộc tự quyết có sức lôi cuốn mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức vào phong trào
cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo Theo Lênin: “Quyền dân tộc tự quyết, nghĩa
là quyền phân lập và thành lập quốc gia dân tộc riêng biệt”, nhất là đối với các dân tộc bị áp bức Song, Lênin cũng khẳng định rằng quyền tự quyết còn là quyền tự nguyện liên hiệp lại thành liên bang khi có điều kiện
Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng nhân loại bị chia thành những quốc gia nhỏ và xóa bỏ mọi trạng thái thiết lập giữa các dân tộc, không những làm cho các dân tộc gần gũi nhau, mà cũng còn nhằm thực hiện việc hợp nhất các dân tộc…Nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xóa bỏ được các giai cấp, cũng giống như vậy, nhân loại chỉ có thể trải qua thời kỳ quá độ hoàn toàn giải phóng tất
cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc được tự do phân lập, thì mới
có thể đạt tới sự hợp nhất tất nhiên giữa các dân tộc”.21
Sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, quyền dân tộc tự quyết được đi vào cuộc sống các dân tộc ở Liên Xô, thể hiện ở việc thành lập Liên bang Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Xô Viết
“Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” là nguyên tắc thứ ba trong
cương lĩnh của Lênin về vấn đề dân tộc Đây là liên minh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, vì sự giải phóng dân tộc và xã hội Lênin cho rằng, việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vô sản, của tất cả nhân lao động các nước Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản, của những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc, vì nguồn gốc và bản chất, nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây
sự thù hằn và chia rẽ giữa các dân tộc Chủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa quốc
tế, là hai khẩu hiệu đối lập không thể điều hòa được và thích ứng với hai mặt trận
21
V.I lênin: Toàn tập: sđ, tr 27, tr.328
Trang 27Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 23
giai cấp lớn trong thế giới tư bản chủ nghĩa, và biểu thị hai chính sách (hơn thế nữa
là hai thế giới quan) trong vấn đề dân tộc, chủ nghĩa quốc tế vô sản là ngọn cờ của nhân dân lao động thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức dân tộc
Như vậy, theo quan điểm của Lênin thì đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc chính là điều kiện giải quyết tốt các quan hệ dân tộc, thực hiện quyền bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết trên thực tế Từ những vấn đề cơ bản trong giải quyết vấn đề dân tộc trong xã hội, cương lĩnh trong cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, cương lĩnh về vấn đề dân tộc là những cơ sở lý luận để phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nghiên cứu vận dụng trong các vấn đề về phong trào giải phóng dân tộc Kế thừa tinh thần cương lĩnh mà những vấn đề dân tộc thuộc địa, vấn đề phong trào giải phóng dân tộc đã được đưa vào chương trình nghị sự ở Đại hội II - Quốc tế cộng sản (1920) với việc ra đời Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin Điều đó có ý nghĩa to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin là một bộ phận trong cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của các Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.2 THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở LIÊN XÔ
1.2.1 Khái quát về bức tranh dân tộc ở Liên xô
Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết chiếm cả một nửa phía Đông của Châu Âu và những miền phía Bắc và trung tâm của Châu Á Lãnh thổ Liên Xô
là một khối hoàn chỉnh, trên thế giới không có nước nào so sánh được Không kể các đảo, nó rộng đến 21,8 triệu km² Nếu kể cả các đảo thì đến 22,3 triệu km², trong
đó trên 5 triệu là ở Châu Âu Nói một cách khác, Liên Xô rộng hơn 1/6 diện tích đất nổi thế giới, gấp 41 lần nước Pháp, gấp 750 lần nước Bỉ; Liên Xô rộng hơn Bắc Mỹ, Nam Mỹ hay châu Úc; và có thể so sánh với châu Phi (29.940.000 km²)
Vấn đề nhân khẩu là vấn đề chủ yếu của những nước có lãnh thổ rộng lớn Liên xô chiếm hàng thứ ba trên thế giới về mặt dân số, sau Trung Quốc và Ấn Độ
Trang 28Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 24
Dân số Liên xô vượt quá số dân của những lục địa lớn như Bắc Mỹ, Nam Mỹ hoặc châu Phi Theo điều tra ngày 1 tháng 1 năm 1939, dân số Liên Xô đã có đến 170.467.186 người Dân số năm 1940 lên đến 119,3 triệu người Đến thế kỷ XX, mặc dù bị tổn thất ghê gớm trong chiến tranh nhưng dân số Liên Xô vẫn vượt quá
200 triệu người Theo con số của Liên hiệp quốc, năm 1995 dân số Liên Xô là 200 triệu 20 vạn.22 Với điện tích trải dài như vậy, Liên xô là một nước gồm nhiều dân tộc Chính phủ Nga hoàng đã áp bức một cách tàn bạo tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ của đế quốc Nga Chúng ra sức Nga hóa các dân tộc đó Dưới chính quyền
Xô Viết, các dân tộc được hợp nhất trong Liên bang Xô Viết
Trước khi Liên xô tan rã, trên lãnh thổ Liên xô có hơn 120 dân tộc lớn nhỏ bao gồm bốn nhóm chủng tộc sinh sống:
1 Nhóm Xlavơ gồm 3 nhóm chính: Đại Nga, Tiểu Nga (Ucraina) và Bạch Nga (Belôrutxuia) và các nhóm thiểu số người Xlavơ khác như: Ba Lan, Bungari, Tiệp Khắc… Hầu hết người Xlavơ theo Cơ đốc giáo chính thống
2 Người Turkit (hoặc Turko-tacta) hầu hết theo Hồi giáo, phần lớn tập trung
ở vùng Trung Á dọc theo biên giới Trung Hoa
3 Người Transcasian (trong đó có người Grudia và người Acmenia) phần lớn theo Cơ đốc giáo
4 Người Finno-ugrian có liên hệ về ngôn ngữ và chủng tộc với các người Hungaria, Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan Ngoài ra còn có khoảng 5 triệu người Do Thái sống tập trung ở Birobidjan, 1,5 triệu người Đức ở bờ sông Vonga
22
Góoc-giơ-cô-nhi-ô (1957), Tìm hiểu toàn diện về Liên Xô,NXB Sự thật, HN, tr.25
Trang 29Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 25
Bảng 1: Các nhóm dân tộc so với toàn bộ dân số (%) 23
Liên Xô là một quốc gia Sla-vơ lớn nhất thế giới Năm 1939, người Nga,
người U-cơ-ren và người Bi-ê-lô-ruýt-xi họp thành 78% dân số; riêng người Nga là
58% Được hình thành dân tộc sớm hơn những tập đoàn chủng tộc khác ở Liên Xô,
có một sinh hoạt chính trị mạnh mẽ và một nền văn hóa cao, người Nga đã đóng vai
trò lãnh đạo trong công cuộc thành lập và củng cố Liên Xô
Ở Liên Xô, các dân tộc sống theo các đơn vị hành chính (Cộng hòa Liên
bang, Cộng hòa tự trị, Tỉnh tự trị hoặc Khu tự trị) Ở hầu hết các đơn vị hành chính
này đều bao gồm các thành phần dân tộc phức tạp Nhiều dân tộc sống ở ngoài biên
giới nước mình (tổng cộng hiện nay có khoảng hơn 60 triệu người) và trải qua
những năm chiến tranh với việc cưỡng bức các dân tộc di dân đến các vùng khác đã
làm cho vấn đề dân tộc ở Liên Xô ngày càng trở nên phức tạp, khó khăn
23
Halenne Carria Dancausse, Đế chế tan vỡ, cuộc nổi dậy của các dân tộc ở Liên Xô”, Viện thông tin khoa
học xã hội, HN, tr.35
Trang 30Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 26
Do đó bên cạnh những thành tựu to lớn mà nhân dân Liên Xô đã đạt được trong bảy thập kỷ qua dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, thì cũng trong bảy thập kỷ này vấn đề dân tộc ở Liên Xô đã nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc, gay gắt, quyết liệt theo với dòng thời gian Và khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã lâm vào khủng hoảng sâu sắc, toàn diện cùng với những sai lầm nghiêm trọng của công cuộc cải tổ của Gorbachev; thì tất yếu vấn đề dân tộc vốn đã âm ỉ từ các thời kỳ lịch
sử trước đó ở Liên Xô dưới thời kỳ cầm quyền của các Tổng Bí thư như Stalin 1953), Khơrútsốp (1956-1964), Brêgiơnhép (1964-1982) đã bùng nổ Và hậu quả cuối cùng của nó như mọi người đều biết là chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đổ ở Liên Xô
(1924-và nhà nước xã hội chủ nghĩa đa dân tộc lớn nhất thế giới đã bị thủ tiêu
Những sai lầm, thiếu sót của Liên Xô trước đây về vấn đề dân tộc đã được thể hiện ở chỗ quá nhấn mạnh đến cái chung của Liên bang mà chưa quan tâm giải quyết đúng mức đến những đặc điểm riêng của từng dân tộc; sau khi Lênin từ trần những người kế nghiệp Lênin đã vi phạm nghiêm trọng những nội dung chủ yếu của Cương lĩnh dân tộc do Lênin vạch ra
Bước đầu tìm hiểu vấn đề này qua các thời kỳ cầm quyền của Stalin, Khơrútsốp, Brêgiơnhép, Gorbachev; chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến hiện trạng đáng buồn là: sau bảy thập
kỷ tồn tại, nhà nước Liên Xô - con đẻ của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã giải thể; chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đổ trên 1/6 hành tinh của chúng ta - nơi nó ra đời đầu tiên
1.2.2 Chính sách dân tộc dưới thời Lênin
Khác với các nước Tây Âu, nơi mà quá trình thủ tiêu chủ nghĩa phong kiến
và phát triển chủ nghĩa tư bản, đồng thời cũng là quá trình thống nhất đất nước, kết hợp thành dân tộc tư sản; xóa bỏ chế độ phong kiến cát cứ, phân quyền để thành lập nhà nước trung ương tập quyền; trong các quốc gia ấy không có áp bức dân tộc và
là những quốc gia thuần túy dân tộc; đế quốc Nga dưới thời các Sa hoàng không ngừng bành trướng ra xung quanh và áp dụng chính sách áp bức, bóc lột các dân tộc không phải là người Nga một cách dã man, thậm tệ Chính vì thế, nước Nga trước
Trang 31Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 27
Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã được mệnh danh là: “nhà tù của các dân tộc”
Xuất phát từ thực tế đó, V.I Lênin đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc ở Nga Người viết nhiều tác phẩm đề cập đến Cương lĩnh và Chính sách dân tộc của Đảng
Bônsêvích Nga như Về vấn đề dân tộc, hoặc vấn đề “tự trị hóa”; Giai cấp vô sản cách mạng và quyền dân tộc tự quyết; Về vấn đề chính sách dân tộc; Bàn về quyền
tự quyết của các dân tộc…
Sau khi chính quyền công - nông được thành lập, việc đầu tiên chính quyền tiến hành là thực hiện loại bỏ ngay lập tức sự bất công lớn nhất trong quan hệ giữa các dân tộc đó là ách áp bức, xâm lược giữa các dân tộc Người viết: “Chính phủ công - nông… đề nghị với nhân dân tất cả các nước tham chiến và với các chính phủ của họ tiến hành ngay những cuộc đàm phán về một hòa ước dân chủ và công bằng… đó là một hòa ước phải được ký kết ngay lập tức mà không có thôn tính (nghĩa là không xâm chiếm đất đai của nước ngoài, không có cưỡng ép sáp nhập các dân tộc khác) và không có bồi thường” 24…“Tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh này để giải quyết việc các dân tộc giàu mạnh phân chia nhau như thế nào những dân tộc nhược tiểu mà chúng đã xâm chiếm được thì theo chính phủ, đó là một tội ác lớn nhất đối với nhân loại; cho nên chính phủ trịnh trọng tuyên bố quyết tâm ký kết ngay lập tức những điều kiện hòa ước để chấm dứt cuộc chiến tranh này, tức là những điều kiện bình đẳng và công bằng đã nói trên, đối với tất cả các dân tộc, không trừ dân tộc nào cả”.25
Lênin đã chỉ rõ rằng nhiệm vụ của Đảng trong vấn đề dân tộc là chống lại chủ nghĩa Đại Nga, khẳng định lại quyền bình đẳng và quyền tự trị của các dân tộc
Tư tưởng thành lập Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết của Lênin trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của các nước cộng hòa Xô Viết bình đẳng và tự chủ
là hết sức đúng đắn Lênin kiên quyết phê phán ý kiến của Stalin đề nghị thống nhất các nước Ucraina, Bêlarut, Adecbaigian, Grudia, Acmênia vào Liên bang Nga và biến các nước này thành các nước cộng hòa tự trị Lênin cho rằng, chủ trương “tự trị
24 V.I.Lênin: Toàn tập, sđd, tr 35, tr 13-15
25 V.I Lênin: Toàn tập, sđd, tr 35, tr.13-15
Trang 32Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 28
hóa” các nước cộng hòa độc lập là từ bỏ nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản, không đáp ứng được những nhiệm vụ củng cố hơn nữa tình hữu nghị giữa các dân tộc Xô Viết, không đáp ứng được nhiệm vụ làm cho họ cố kết và hợp tác với nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, thực hiện công bằng bình đẳng dân tộc nói riêng giữa các nước cộng hòa Lênin nói rằng: “chúng ta tự thừa nhận chúng ta bình đẳng với các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ucraina
và các nước khác, cùng với các nước đó bình đẳng gia nhập liên minh mới, một liên bang mới… Điều quan trọng là chúng ta không tiếp sức cho phái “độc lập”, không thủ tiêu nền độc lập của họ, mà còn lập nên một tầng nhà mới, một liên bang các nước cộng hòa bình quyền”.26
Ngay từ những ngày đầu tiên thành lập Liên Xô, Lênin đã hết sức chú ý đến biện pháp tăng cường sự đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc trong Liên bang Xô Viết
Người đặc biệt kiên quyết chống chủ nghĩa sôvanh Đại Nga, coi đó là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với khối đoàn kết thống nhất trong Liên bang Lênin trong thư gửi Camênép nói rằng: “Tôi tuyên bố tử chiến với chủ nghĩa sôvanh Đại Nga Ngay sau khi vứt bỏ được cái răng đáng nguyền rủa của tôi, tôi sẽ dùng tất cả những cái răng còn nguyên lành để ăn sống nuốt tươi cái chủ nghĩa đó”
Nhất thiết phải đề nghị Ban chấp hành trung ương các Xô Viết Liên bang phải lần lượt đặt dưới quyền chủ tọa của:
Một người Nga
Một người Ucraina
Một người Grudia,v.v
Nhất thiết phải như thế.27
Đối với vấn đề thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong Liên bang Xô Viết Lênin luôn luôn nhấn mạnh cần phân biệt rõ ràng hai loại chủ nghĩa dân tộc:
“đặt vấn đề chủ nghĩa dân tộc nói chung một cách trừu tượng chẳng có ích lợi gì
26 V I Lênin: Toàn tập, sđd, tr.45, tr 248- 249
27 V I Lênin: Toàn tập, sđd, tr.45, tr.251
Trang 33Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 29
Cần phải phân biệt chủ nghĩa dân tộc của dân tộc đi áp bức với chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc lớn với chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc nhỏ”.28
Nắm chắc đặc điểm của hai loại chủ nghĩa dân tộc để những người cộng sản tránh được những sai lầm trong hoạt động thực tiễn Đối với dân tộc, Lênin chỉ ra rằng: “chủ nghĩa quốc tế của một dân tộc đi áp bức hoặc của cái gọi là dân tộc “lớn” không chỉ ở chỗ tôn trọng quyền bình đẳng về hình thức của các dân tộc, mà còn dân tộc lớn phải chịu, để bù lại cho sự không bình đẳng đang hình thành thực tế trong cuộc sống Người nào không hiểu điều đó thì người ấy không hiểu thái độ vô sản thực sự đối với vấn đề dân tộc”
Về mối quan hệ giữa các dân tộc trong Liên bang, Lênin có quan điểm cần thiết phải xây dựng những quy tắc, và phải sớm có một bộ luật chi tiết về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, để tránh sự lạm dụng và những sai lầm trong hoạt động thực tiễn do ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc: “Cần phải đưa ra những quy tắc hết sức nghiêm ngặt về vấn đề sử dụng tiếng dân tộc ở các nước cộng hòa dân tộc trong liên bang của chúng ta và kiểm tra những quy tắc ấy hết sức chu đáo Không nghi ngờ gì nữa là viện cớ thống nhất ngành đường sắt, thống nhất thuế kháo…Ở ta sẽ có
vô số những sự lạm dụng chính cống Nga… Ở đây phải có một bộ luật chi tiết, mà chỉ có những người dân tộc sống ở các nước cộng hòa ấy mới có thể soạn ra một cách tương đối có kết quả”.29
Như vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền
Xô Viết nói chung và Lênin nói riêng đã nhận thức được nhiệm vụ trọng yếu của mình là phải giải phóng tất cả các dân tộc đang sinh sống trên đất nước Nga, đem lại cho họ quyền bình đẳng Năm 1917, ở Nga đã thành lập Bộ Dân ủy các vấn đề dân tộc nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trên đất nước này Lênin đã chỉ định cho Stalin - người Grudia, Uỷ viên Bộ Dân ủy đảm trách các vấn đề dân tộc Ngày 15/11/1917, chính phủ Xô Viết đã công bố “Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân các dân tộc ở nước Nga” Tuyên bố xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột ở nước
28 V I Lênin: Toàn tập, sđd, tr.45, tr 410- 411
29 V I Lênin: Toàn tập, sđd, tr.45, tr 411- 413
Trang 34Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 30
Nga, đem lại tự do, bình đẳng và quyền tự quyết cho tất cả các dân tộc trên đất nước Nga Bản tuyên ngôn cũng công nhận quyền tự do, bất khả xâm phạm đối với tín ngưỡng, phong tục, tập quán, văn hóa của các dân tộc Ngày 10/7/1918, Đại hội đại biểu Xô Viết toàn Nga lần thứ 5 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nga, xác định quyền bình đẳng, tự nguyện liên minh giữa các dân tộc Có thể nói rằng trong thời kỳ chính quyền Xô Viết mới thành lập, nhờ thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc của Lênin nên mối quan hệ giữa các dân tộc trên nước Nga Xô Viết tương đối tốt đẹp
Nhưng từ đầu những năm 20, do tình trạng sức khỏe của Lênin ngày một xấu
đi, vai trò và vị trí của Stalin ngày càng được đề cao nên tình hình đất nước Nga bắt đầu thay đổi Ngày 3/4/1922, Stalin được bầu làm Tổng bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng, kiêm Uỷ viên Hội đồng Dân tộc và Uỷ viên Ban Kiểm tra công nông
Từ đó ông trở thành nhân vật quan trọng trong bộ máy Đảng và quyền lực của ông ngày một lớn mạnh Và ông cũng từng bước đi ngược lại chính sách dân tộc mà Lênin đã đề ra
Năm 1921, sau khi cuộc nội chiến kết thúc, trên lãnh thổ nước Cộng hòa Liên bang Nga đã hình thành 8 nước cộng hòa tự trị Cùng tồn tại ngang hàng với Cộng hòa Xô Viết Nga có 5 nước Cộng hòa Xô Viết: Ucraina, Bêlêrutxia, Grudia, Acmênia và Azecbaigian
Tháng 9/1922, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Nga (bônsêvích) đã thông qua phương án “tự trị hóa” của Stalin - đi ngược lại với Dự thảo Nghị quyết “về mối quan hệ giữa Liên bang Nga và các nước Cộng hòa độc lập” do Lênin đưa ra trong Ban Chấp hành trung ương Stalin coi 5 nước Ucraina, Bêlerutxia, Grudia, Acmênia và Azecbaigian là các nước Cộng hòa độc lập gia nhập Liên bang Nga và do Liên bang Nga lãnh đạo, quản lý Phương án này không nhằm xây dựng một liên minh bình đẳng
mà là kế hoạch sáp nhập các nước Cộng hòa Xô Viết vào Liên bang Nga, là sự phản bội tư tưởng và chủ trương của Lênin về quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Ngày 26/9/1922, trong bức thư gửi cho Bộ chính trị Đảng cộng sản Nga (bônsêvích), Lênin đã đưa ra phương án mới về việc thành lập liên minh các nước
Trang 35Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 31
Cộng hòa Xô Viết Người chỉ rõ: không nói “gia nhập” Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nga, mà nói là “chính thức hợp nhất với các nước Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nga thành Liên bang các nước Công hòa Xô Viết châu Âu và châu Á” Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta thừa nhận rằng chúng ta bình đẳng với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ucraina và các nước khác, cùng với các nước đó bình đẳng gia nhập một liên minh mới”
Ngày 30/12/1922, Lênin đã gửi 3 bức thư “Về vấn đề dân tộc” hoặc vấn đề
“tự trị hóa” lên án mạnh mẽ phương án “ tự trị hóa” của Stalin và Người đưa ra các quan điểm và các nguyên tắc cơ bản để giải quyết quan hệ dân tôc ở Nga: 1) thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế; 2) cải tổ bộ máy xô viết, giữ lại liên minh các nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết trên lĩnh vực quân sự và ngoại giao; 3) bảo đảm quyền tự do sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc Những bức thư này của Lênin mang ý nghĩa chỉ đạo quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc ở Liên xô
Cũng trong ngày 30/12/1922 đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất Xô Viết toàn liên minh Đại hội đã tuyên bố chính thức thành lập Liên bang cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô)
Nhờ tinh thần đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ ở lẫn nhau trong Liên bang mới này, các dân tộc ở Liên Xô đã dần dần xóa bỏ được sự bất bình đẳng do lịch sử để lại, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và thành lập chế độ nhà nước của từng dân tộc Trong quá trình xây dựng và phát triển, nhân dân xô viết đã từng bước giành được những thắng lợi
to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
1.2.3 Chính sách dân tộc từ thời Stalin đến Gorbachev
1.2.3.1 Thời kỳ Stalin (1924-1953)
Ngày 21/1/1924, Lênin qua đời Ngày 31/1/1924, Đại hội đại biểu Xô Viết toàn Liên Xô lần thứ hai đã thông qua hiến pháp Liên Xô lần thứ nhất do Stalin chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp này một mặt thừa nhận chủ quyền độc lập của các nước Cộng hòa gia nhập Liên minh, mặt khác lại quy định rằng về các lĩnh vực ngoại giao, quân sự, lập pháp, giáo dục quốc dân…do bộ máy Liên Xô thống nhất nắm giữ, thống nhất lãnh đạo Đó là sự phản bội lại tư tưởng và chính sách dân tộc của Lênin
Trang 36Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 32
Trong 10 năm đầu, về cơ bản Stalin vẫn chấp hành chính sách dân tộc do Lênin đề ra Nhưng sau đó Stalin đã xa rời và từng bước đi ngược lại chính sách dân tộc của Lênin, làm cho mâu thuẫn dân tộc ở Liên Xô ngày càng trở nên gay gắt Trong thời kỳ Stalin cầm quyền, ông đã hai lần thực hiện chính sách cưỡng bức di dân: lần đầu vào những năm 30 khi tiến hành định cư dân du mục và trong phong trào tập thể hóa nông nghiệp; lần thứ hai là trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945)
Năm 1929, với khẩu hiệu “tập thể hóa toàn diện”, Stalin đã sử dụng những biện pháp cưỡng chế thô bạo và quá khích đối với những cán bộ dân tộc ít người có tinh thần dân tộc Năm 1930, Stalin lại phát động phong trào tiêu diệt phú nông, tiến hành thanh trừ các phần tử chống đối, làm tổn thương đến một loạt cán bộ dân tộc ít người Stalin đã ra lệnh đưa những phú nông chống đối phong trào tập thể hóa tới các vùng biên giới xa xôi Theo thống kê đã có khoảng 1,5 triệu người phải ra đi Điều đó đã làm tổn hại nặng nề tới tình cảm dân tộc và khoét sâu thêm mâu thuẫn dân tộc ở Liên Xô
Đợt cưỡng bức di dân lần thứ hai diễn ra với quy mô lớn hơn Trong thời kỳ Chiến tranh Bảo vệ tổ quốc (1941-1945), mượn cớ một số người dân tộc có quan hệ với bè lũ phát xít, Chính phủ Liên Xô đã cưỡng ép 12 dân tộc thiểu số phải di cư với tổng số dân là 5 triệu người tới các vùng khác nhau Mùa thu năm 1941, khoảng
80 vạn người German ở lưu vực sông Vonga, Ucraina và Bắc Capcadơ đã bị cưỡng bức di cư đến vùng Trung Á và Xibêri… Cuối năm 1943, chính quyền Xô Viết lại
ra lệnh cho người Karatraev phải chuyển tới vùng Trung Á và Cadăcxtan (đến cuối năm 1989 họ mới được phép trở về nơi ở cũ) Mùa xuân năm 1944, Chính phủ Liên
Xô buộc người Tretrennư-Ingusetia phải chuyển cư tới vùng Trung Á và Cadăxtan Ngày 7/3/1944, nước Cộng hòa Tretrenơ-Ingusetia bị xóa sổ Đầu năm 1944, khoảng 50 vạn người Tacta ở Crưm cũng bị cưỡng bức đến vùng Trung Á và Xibêri
Trong các văn kiện chính thức của Nhà nước Liên Xô lúc đó thì nguyên nhân của việc di dân các dân tộc ít người vào những năm 30-50 được lý giải là Nhà nước
Trang 37Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 33
muốn cố gắng giảm bớt những căng thẳng dân tộc ở vùng khác của đất nước, ổn định tình hình chính trị, tiêu diệt thổ phỉ, trừng trị những kẻ phản bội theo phát xít chống lại chính quyền Xô Viết Dù sao việc cưỡng bức di dân hàng loạt như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc và tổn hại đến tình cảm giữa các dân tộc và giữa họ với người Nga
Ba nước vùng Ban Tích (Litva, Látvia và Extônia) cho rằng họ đã bị ép buộc gia nhập Liên bang Xô Viết do “Điều ước Môlôtôp-Ribentrôp” năm 1937, “Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau” giữa Liên Xô và Đức (ngày 23/8/1939), “Điều ước biên giới và hữu nghị Xô-Đức” (ngày 28/9/1939); và họ đã đấu tranh đòi chính phủ Liên Xô phải thừa nhận tính bất hợp pháp của các điều ước và các nghị định trên
Những đặc điểm cơ bản của chính sách dân tộc Stalin là:
Thứ nhất, đó là quản lý quá tập trung Hệ thống hành chính đã triển khai cơ
chế nhà nước thống nhất và loại trừ khả năng thực hiện quan điểm của Lênin về liên bang các nước cộng hòa tự trị bình đẳng Chế độ liên bang có đặc trưng phân quyền giữa trung ương và cơ quan quyền lực các nước cộng hòa nhưng trên thực tế đặc trưng ấy đã mất hiệu lực Thể chế tập trung có cội nguồn lịch sử sâu xa, song hình thức của nó lại do nó kế thừa quan điểm của Stalin
Thứ hai, đó là chính sách ngôn ngữ Bằng chỉ thị 1938 bắt buộc học tiếng
Nga trong các trường phổ thông dân tộc, nguyên tắc tự nguyện do Lênin đề ra đã bị
vi phạm Không ai phủ nhận vai trò của tiếng Nga với tư cách là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc, nhưng việc đồng hóa cưỡng bức đã dẫn tới hậu quả tiêu cực- làm thương tổn phẩm giá dân tộc, phát sinh chủ nghĩa hư vô dân tộc và tình trạng ngôn ngữ Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề ngôn ngữ đã chiếm vị trí trung tâm trong các cuộc hội thảo về quan hệ dân tộc
Thứ ba, bộ máy nhà nước trung ương và địa phương không phản ánh tính chất
đa dân tộc của xã hội Xô Viết, trở ngại cho việc khắc phục bất bình đẳng thực tế
Thứ tư, nguyên tắc của Lênin là quan tâm đến lợi ích của mọi dân tộc, nhờ
đó mà các nước cộng hòa có chủ quyền bảo toàn được trường học dân tộc, các cơ
Trang 38Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 34
quan văn hóa…Song nền tự trị văn hóa chẳng còn gì, thậm chí nhiều nước cộng hòa
tự trị bị bãi bỏ
Những sai lầm đã ảnh hưởng xấu tới “hệ sinh thái thiên nhiên văn hóa” Những cuộc di dân cưỡng bức, những sai lầm trong kinh tế (triệt tiêu thảm rừng, gây ô nhiễm môi trường, sông ngòi, không khí…) sai sót trong tiến hành cải tạo văn hóa và nhiều lĩnh vực khác đã dẫn tới quan niệm méo mó về lý luận liên bang xã hội chủ nghĩa Không quan tâm đến lợi ích các dân tộc gây ra mối bất bình, dẫn tới căng thẳng trong tình cảm dân tộc
Nhìn chung trong thời gian Stalin cầm quyền, do xa rời chính sách dân tộc của Lênin, nên mâu thuẫn dân tộc ở Liên Xô bắt đầu gay gắt, nhưng nó đã bị che đậy bởi việc xác lập thể chế tập trung cao độ
1.2.3.2 Thời kỳ Khơrútsốp (1956-1964)
Sau Đại hội lần thứ XXII của Đảng cộng sản Liên Xô (1956), các dân tộc thiểu số sinh sống trên đất nước này bị cưỡng di cư đã được phục hồi danh dự Chính phủ Liên Xô cho phép người Tretrenư-Ingusetia trở về Capcadơ, nhưng bản
đồ nước Cộng hòa này không được khôi phục nguyên trạng Người German ở bờ sông Vonga được trút bỏ những lời buộc tội, nhưng không được trở về vùng đất cũ Người Tacta được phục hồi danh dự nhưng họ không được khôi phục quyền tự trị dân tộc, không được phép trở về nơi cư trú cũ
Cũng trong giai đoạn này, tiếng Nga được chính thức áp dụng cho tất cả các dân tộc ở Liên Xô Đại hội lần thứ XXIII của Đảng Cộng sản Liên Xô (1961) đã thông qua Cuơng lĩnh của Đảng, tuyên bố tiếng Nga là thứ tiếng của tất cả các dân tộc Ở Latvia, nơi người Latvia chiếm 53% trong tổng số dân, người Nga chỉ chiếm 34%; nhưng ở đó 50% sách báo xuất bản bằng chữ Nga Ở Cadăcxtan, tiếng Cadăcxtan đã bị thay thế bằng tiếng Nga, toàn bộ sách báo đều sử dụng chữ Nga30
Bên cạnh việc cưỡng bức sử dụng tiếng Nga và chữ Nga, Liên Xô còn tăng cường di dân (người Nga) đến vùng các dân tộc ít người, đẩy mạnh việc “Nga hóa”
30 Nguyễn Hồng Vân (số 2-1996), Vấn đề dân tộc-một trong những nguyên nhân tan rã của Liên bang Viết, Viện sử học, tr.60
Trang 39Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 35
các dân tộc, làm cho quan hệ giữa các dân tộc càng thêm căng thẳng Ở tất cả các nước Cộng hòa đều có những trung tâm sinh sống của người Nga Đông hơn cả là ở
5 nước Cộng hòa sau: Cadăcxtan: 38%; Latvia: 33,8%; Êxtônia: 30,3%; Ucraina: 20,3%; Kirghiza: 21,5%; ở các nước Cộng hòa khác (trừ Acmênia: 1.5%) số lượng người Nga sinh sống chiếm từ 7,4% đến 12,8% trên tổng số dân của các nước Cộng hòa đó.31
Sự di dân và tạp cư dân tộc nói trên đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực Dân tộc Nga di dân tới các vùng dân tộc ít người quá nhiều làm cho tỷ lệ dân số tại chỗ giảm xuống thấp và về những mặt nào đó đã gây thiệt hại lớn đến lợi ích của các dân tộc sinh sống ở các nước Cộng hòa khác nhau cũng có thể gây nên sự căng thẳng giữa các dân tộc Hơn nữa, các nước Cộng hòa khác cũng hoàn toàn có đầy
đủ lý do để tuyên bố thiết lập các khu định cư cho cư dân của họ đang sinh sống tại các nước Cộng hòa anh em như người Nga đã làm Điều đó có thể gây ra sự xung đột giữa các dân tộc khi một nước Cộng hòa nào đó cảm thấy cư dân của họ đang
cư trú ở các nước Cộng hòa anh em bị xúc phạm
2.1.3.3 Thời kỳ Brêgiơnhep (1964-1982)
Trong thời kỳ này, chính phủ Liên Xô vẫn tiếp tục thực hiện việc di dân và tạp cư dân tộc Thêm vào đó, việc quản lý của nhà nước ở các vùng lại có tính chất phiến diện, coi thường các đặc điểm lãnh thổ riêng biệt Có thể lấy việc Liên Xô xác định tiêu chuẩn hoạch định khu vực dân tộc không thống nhất ở nam Capcadơ làm
ví dụ Nước cộng hòa tự trị Nakhêchivan có người Azerbaigian sống tập trung trong vùng Acmnia Còn ở tỉnh tự trị Nagornưi Carabăc, người Acmenia sống tập trung trong vùng Axerbaigian Chính sách của Azerbaigian đối với văn hóa, giáo dục và ngôn ngữ của tỉnh tự trị còn tồn tại vấn đề tín ngưỡng của hai dân tộc khác nhau Vì vậy ở khu vực này luôn luôn ấp ủ những xung đột dân tộc sâu sắc
Trong giai đoạn này, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và các vùng công nghiệp là tư tưởng chủ đạo của Stalin, vẫn được coi là một quy luật tuyệt đối để
31 Nguyễn Hồng Vân (số 2-1996), Vấn đề dân tộc- một trong những nguyên nhân tan rã của Liên Xô, Viên sử học, tr.60
Trang 40Kho¸ luËn tèt nghiÖp §¹i häc 36
phát triển công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa; trọng tâm của nó là xây dựng và phát triển kinh tế ở vùng trung tâm Liên Xô, còn ở các vùng biên cương, kinh tế vẫn kém phát triển, đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số rất lạc hậu Riêng ở ba nước Cộng hòa vùng Bantic, trình độ kinh tế phát triển tương đối cao Nhưng nhìn chung thì trình độ phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc đều kém hơn so với nước Cộng hòa Liên bang Nga Trong xây dựng kinh tế, Liên Xô chỉ nhấn mạnh một cách phiến diện đến lợi ích của quốc gia, coi thường lợi ích của địa phương các dân tộc thiểu số Ví dụ nước Cộng hòa Cadăcxtan chỉ có nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu
và các sản phẩm nông nghiệp cho Liên Xô nên trọng điểm phát triển kinh tế ở đây
là các ngành than, khai khoáng và nông nghiệp; còn ngành chế tạo, gia công rất lạc hậu Xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo “bất bình đẳng giữa các dân tộc” nên Liên Xô rất coi nhẹ việc xây dựng kinh tế cũng như nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa cho nhân dân ở các vùng dân tộc thiểu số Vì vậy tư tưởng ly khai dân tộc và mâu thuẫn dân tộc ngày càng trở nên trầm trọng ở Liên Xô Thế nhưng Brêgiơnhep lại tuyên bố: “Trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên đất nước chúng ta
đã hình thành nên cộng đồng có tính lịch sử mới của con người - nhân dân Liên Xô” (Báo cáo tổng kết tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXIV) Còn Cương lĩnh sửa đổi của Đảng cộng sản Liên Xô được thông qua tại Đại hội lần thứ XXVII của Đảng đã sửa “cộng đồng có tính lịch sử mới” thành “cộng đồng xã hội và quốc
tế mới”; nghĩa là Liên Xô lúc đó hoàn toàn không còn phù hợp với thực tế khách quan của sự phát triển của xã hội Liên Xô nói chung
1.2.3.4 Thời kỳ Gorbachev (1985-1991)
Sau khi Gorbachev lên làm Tổng Bí thư trong một năm đầu, quan hệ dân tộc
ở Liên Xô bề ngoài có vẻ khá yên tĩnh Nhưng cuối năm 1986, sau sự kiện bạo loạn
ở Anma-Ata (liên quan tới việc Bí thư thứ nhất của Đảng là người Cadăcxtan bị người Nga thay thế), mâu thuẫn và xung đột dân tộc ở Liên Xô ngày càng dồn dập
và gay gắt Bước vào năm 1989, khi Gópbachốp tiến hành “Dân chủ hóa”, “công khai hóa” thì những uất ức, những hận thù dân tộc trên đất nước này được dịp bộc phát, các khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa ngày càng lan rộng làm lộ rõ những mâu