Tuy nhiên, do đặc thù của vùng Tây Bắc và những hạn chế trước thời mở cửa, nhiều lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng, các dân tộc thiểu số nói chung chỉ còn nằm trong kí ức của
Trang 1Trường Đại học sư phạm hà nội 2
KHOA LỊCH SỬ
ĐOÀN THỊ NGUYấN
LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyờn ngành: Lịch sử Văn húa
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Trường Đại học sư phạm hà nội 2
KHOA LỊCH SỬ
ĐOÀN THỊ NGUYấN
LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyờn ngành: Lịch sử Văn húa
Người hướng dẫn khoa học
ThS HOÀNG THỊ NGA ThS NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài: “Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc”
được em thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự động viên, khích lệ của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Lịch sử đã đào tạo và trang bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa luận này
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể thực hiện khóa luận thành công
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai cô giáo là Th.s Hoàng Thị Nga và Th.s Nguyễn Thị Nga đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Trong quá trình thực hiện khóa luận
, em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô nhận xét
và góp ý để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Nguyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Hoàng Thị Nga và Th.S Nguyễn Thị Nga, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác
Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Nguyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC 7
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA 7
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vùng Tây Bắc 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 11
1.1.2.1 Điều kiện kinh tế 11
1.1.2.2 Điều kiện xã hội 14
1.1.3 Điều kiện văn hóa 18
1.2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI THÁI TRONG LAO ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC 23
Chương 2: LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC 30
2.1 NGHI LỄ TRONG HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI THÁI 30
2.1.1.Xíp xí (Tết cầu mùa) 32
2.1.2 Lễ đón tiếng sấm đầu mùa 33
2.1.3 Lễ cầu mưa 34
2.1.4 Lễ tiến hành trước khi gieo trồng 37
2.1.5.Lễ nghi được tiến hành sau khi hoàn thành việc gieo cấy 38
2.1.6.Lễ khau hạch (tiến hành trước khi gặt lúa) 40
2.1.7.Lễ nghi tiến hành trước khi đập lúa 41
2.1.8 Kháu mơ (lễ cơm mới) 42
2.2 PHẦN HỘI TRONG LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI 44 Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI CẦU MÙA 47
Trang 63.1.ĐẶC ĐIỂM CỦA LỄ HỘI CẦU MÙA 47
3.2 VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI CẦU MÙA 52
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 63
Trang 7xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau Trong các vùng văn hóa ấy, vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái Tây Bắc là một vùng có diện tích lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh
tế, văn hóa, xã hội gồm rất nhiều dân tộc thiểu số Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng độc đáo của mình
Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53 dân tộc thiểu
số ở nước ta Cũng như các dân tộc khác, người Thái ở Tây Bắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang màu sắc riêng và hết sức đặc sắc Nền văn hóa
ấy ảnh hưởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng người Thái, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam
Người Thái ở Tây Bắc là bộ phận tiêu biểu của người Thái Mặc dù có những đặc trưng cơ bản, nhưng người Thái Tây Bắc vẫn chia 2 ngành: Thái Trắng và Thái Đen Những khác biệt trong đời sống văn hóa tinh thần của họ
là những sai biệt không lớn, chỉ là những biểu hiện bên ngoài Còn cái chung nhất, đặc trưng nhất, sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người và cả cộng đồng, thể hiện trong cách cảm, cách nghĩ vẫn là của một tộc Thái ổn định, thống nhất
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài dân tộc Thái đã sáng tạo ra một nền văn hóa dân gian rất phong phú, đa dạng, mang đậm sắc
Trang 82
thái tộc người Trong đó văn học và một số loại hình nghệ thuật như âm nhạc, múa, nghệ thuật tạo hình dân gian đã được giới thiệu trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, nhưng những lễ hội thì ít được nói tới hơn Trong khi
đó, lễ hội truyền thống lại là một mảng rất quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Thái Nó phản ánh thực tại cuộc sống là nơi thể hiện tập trung nhất là tư tưởng tình cảm cũng như ước nguyện thầm kín của cộng đồng Mặt khác, lễ hội còn chứa đựng trong nó hầu như toàn bộ những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Vì vậy, tìm hiểu và nghiên cứu lễ hội Thái là một việc làm quan trọng và cần thiết trong quá trình tìm hiểu bản sắc, giá trị văn hóa tộc người Đây chính là những cơ sở đầu tiên giúp ta có thể thực hiện
mục tiêu mà Đại hội VIII của Đảng năm 1996 đề ra “Khai thác và phát triển
mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta, tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam” [5; 13]
Lễ hội và văn hóa lễ hội không phải là vấn đề mới ở nước ta mà xưa nay đã có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu đặc biệt là từ ngày đất nước
ta bước vào quá trình Đổi mới
Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc là những lễ hội liên quan đến một chu trình sản xuất, từ khi chọn đất, làm đất cho tới khi trồng cấy, thu hoạch…Đây là cả một không gian thời gian lý tưởng cho các hoạt động lễ hội cầu mùa phát triển nảy nở
Tuy nhiên, do đặc thù của vùng Tây Bắc và những hạn chế trước thời
mở cửa, nhiều lễ hội truyền thống của người Thái nói riêng, các dân tộc thiểu
số nói chung chỉ còn nằm trong kí ức của các cụ già, thế hệ trẻ mới chỉ được nghe kể lại chứ không được trực tiếp tham gia
Hơn thế nữa, lễ hội và văn hóa lễ hội là một vấn đề liên quan đến nhiều nội dung sinh hoạt của đời sống tộc người Với sự mong muốn được tìm hiểu
Trang 93
về những phong tục truyền thống của người Thái, của dân tộc ta và nhận thức được tầm quan trọng của lễ hội cầu cho mùa màng tươi tốt của người Thái ở Tây Bắc, cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội, em đã
chọn đề tài “Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc” làm khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian của các dân tộc khác trên đất nước ta tiếp tục ra đời, đóng góp vào việc nghiên cứu một nền văn hóa Việt Nam đa sắc màu Song đối với lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta lại chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng Nếu có,
đó cũng chỉ là những bài báo đăng tải rải rác ở các tạp chí hay kỷ yếu
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu “Người Thái ở Tây Bắc
Việt Nam” của tác giả Cầm Trọng được Nxb khoa học xã hội xuất bản năm
1978 Công trình đã đưa ra nhiều nghiên cứu về những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, con người và lịch sử hình thành, giá trị văn hóa truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta
Năm 1995 và 1996, 2 tác giả Cầm Trọng, Phạm Hữu Dật cho ra 2 công
trình nghên cứu “Văn hóa Thái Việt Nam” và “Văn hóa và lịch sử người
Thái ở Việt Nam” Nxb văn hóa dân tộc Đây là những công trình nghiên cứu
đôi nét về tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán của người Thái (nói chung) và người Thái ở Tây Bắc (nói riêng) nhằm giải thích về người Thái, những nét đặc sắc cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái Công trình góp phần đề cập đến điều kiện văn hóa và lịch sử hình thành của tộc người Thái trong đề tài khóa luận
Đặc biệt hơn phải kế tới công trình “Lễ hội cầu mùa của người Thái ở
Tây Bắc Việt Nam” Vũ Thị Hoa, Nxb văn hóa - thông tin, Hà Nội, 1997; Đây
là công trình nghiên cứu về một hệ thống những lễ hội liên quan đến một chu
Trang 104
kỳ sản xuất cây lúa nước của người Thái ở Tây Bắc Họ cầu mong cho cuộc sống ấm no hạnh phúc , mưa thuận gió hòa Đây là công trình phục vụ chính cho đề tài khóa luận
Nhóm tác giả Đặng Văn Lung - Nguyễn Sông Thao - Hoàng Văn Trụ
cho ra công trình “Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam” Nxb văn hóa
dân tộc, Hà Nội 2000, Công trình nghiên cứu các phong tục tập quán nét văn hóa riêng của từng dân tộc ở Việt Nam trong đó có các phong tục tập quán của người Thái ở Tây Bắc nước ta
Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử, tạp chí giáo dục và lý luận như:
Công trình nghiên cứu trong tạp chí dân tộc học của tác giả Đỗ Đình
Hạng - Vũ Trường Giang về “Lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc
trong giai đoạn hiện nay” 2006 - số 2, Tr25 - 30 Công trình nghiên cứu về
các lễ hội truyền thống của người Thái trong đó nổi bật nhất là lễ hội cầu mùa, là một trong những lễ hội cổ truyền của dân tộc Thái còn tồn tại đến ngày nay
Hay công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Hãng trong tạp chí giáo dục lý
luận “Vấn đề khôi phục lễ hội truyền thống của người Thái vùng Tây Bắc
nước ta hiện nay” 2006 - số 5, Tr.27 - 31 Như chúng ta đã biết khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển thì những truyền thống ngày càng bị lãng quên Trong
đó lễ hội truyền thống là vấn đề đáng quan tâm Vì vậy công trình đã đề cập đến vấn đề khôi phục lễ hội truyền thống đặc biệt là lễ hội cầu mùa của người Thái
Trong tạp chí dân tộc học Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng đã cho ra công
trình về “Hệ sinh thái với kinh tế và xã hội dân tộc Thái” số 4.- 1982 Công
trình tập trung nghiên cứu về kinh tế và xã hội tộc người người Thái Công trình đã góp phần phục vụ cho khóa luận về phần điều kiện tự nhiên và xã hội của người Thái
Trang 115
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung và bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa của dân tộc Thái ở nước ta mà đặc biệt mà lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Dựa trên những tài liệu trên, người viết đã nghiên cứu và tổng hợp để hoàn thành khóa luận này nhằm dựng lại một cách tổng quát về lễ hội cầu mùa đặc sắc của người Thái
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Đề tài này tìm hiểu về lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Trong
đó sẽ nhấn mạnh và làm rõ các nghi lễ và lễ hội liên quan đến chu kỳ sản xuất của cây lúa Qua đó thấy được ý nghĩa của lễ hội và giữ gìn lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc
3.2 Nhiệm vụ
Đề tài tập trung giải quyết nhiệm vụ: làm rõ những nghi lễ và lễ hội liên quan đến nông nghiệp của người Thái và những đặc điểm, vai trò của lễ hội cầu mùa đến đời sống của người Thái ở Tây Bắc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Không gian: Địa bàn sinh sống của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Để thực hiện đề tài, người viết dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử
Trang 126
* Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp đối chiếu, so sánh nhằm rút ra những nhận định chính xác Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài làm rõ thêm những nét đặc sắc của lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc.Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản để giữ gìn giá trị truyền thống trong lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy các bộ môn: văn hóa, dân tộc học…
Trang 137
CƠ SỞ HÌNH THÀNH LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vùng Tây Bắc
Tây Bắc, một vùng văn hóa, xứ sở hoa ban, quê hương xòe hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử “Tiễn dặn người yêu” nhưng cũng đầy
tiếng than thở của những phận người “Tiếng hát làm dâu”
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt
Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng)
Nằm trong thành phần của dân tộc Việt Nam, người Thái đã sớm sinh
tụ ở miền Tây của Tổ quốc Với cái tên tự gọi là Táy, họ đã có một ý niệm thống nhất về những người đồng tộc của mình Theo con số thống kê năm
1973 là 36 vạn người, đến năm 1999 dân số của người Thái có 1.328.725 người [13;13] sống trải khắp vùng quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam, vẫn là một dân tộc chiếm số đông nhất ở vùng núi
Người Thái có những câu thơ nổi tiếng nói về quê hương của mình:
“ Nhìn thấy chăng, núi tiếp núi trập trùng
Suối reo, thác đổ, uốn khúc qua nền đá vôi ” [13;72]
Những câu thơ ấy tràn đầy niềm tự hào của người dân Thái về vẻ đẹp
ấy của quê hương mình Vẻ đẹp cũng được vẽ lên trong “Bài ca Tây Bắc” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết khi Thủ tướng lên thăm Khu tự trị năm
1961 “Nước non, non nước đẹp hơn tranh, mắt nhìn không biết chán”
[13;73]
Trang 148
Đặc điểm tự nhiên và địa vực cư trú vùng Tây Bắc Việt Nam có rất nhiều núi, đồi cao thấp gối kề nhau chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500 m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu luông 2.983m… Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là “Sừng trời” (Khau phạ), chính từ bức tường thành phía Đông và vùng Tây Bắc Nó nằm trên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nặm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao, xen lẫn với những vùng cao nguyên rộng lớn, những vùng bình nguyên lòng chảo, những khe, vực, sông, suối làm cho bề mặt của đất trở nên lồi lõm đa dạng Trải qua các thế hệ xây dựng bản, mường với sức lao động sáng tạo của mình, người Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định Trừ một số người sống lẻ tẻ xen lẫn với tộc anh em khác ở vùng rẻo giữa và rẻo cao, hầu hết họ sống tập trung tương đối đông trong các thung lũng, bình nguyên lòng chảo hay vùng cao nguyên mà ngày nay ta vẫn gọi chung là vùng thấp
Đất đai miền Tây Bắc có đến 21 loại phân bố trên các vùng Riêng đất vùng thấp trũng cũng rất phức tạp, nhìn chung phân thành 2 loại chủ yếu: Đất nguyên sinh và đất phù sa chua rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là lúa - loại lương thực chính của đồng bào Tuy sống ở vùng thấp, nhưng thực
ra nơi cư trú của họ kề sát với những chân núi cao Ở đây, những nơi tương đối bằng phẳng hoặc dốc thoai thoải có nước tưới thì đã được họ khai thác thành ruộng đồng Bởi vậy nên hầu hết chỗ ở và các hoạt động kinh tế khác đều được họ đưa lên sườn núi, những sườn núi này có độ dốc rất cao và gồ ghề, hiểm trở
Vùng cư trú của người Thái còn là nơi tập trung các con suối nhỏ chảy
từ các khe núi hợp thành suối lớn, sông con để rồi đổ vào sông Cái - sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Nặm U (Lào) Có nhiều nơi thì có sẵn nước,
Trang 159
nhưng ngược lại nhiều nơi lại khan nước Tình hình phân bố về nước sông, suối không đồng đều nên sự phân bố về cư dân cũng không đều Mạng lưới sông suối khá dày đặc ở độ cao từ 100 đến 600m Nước chảy xiết, độ dội mạnh và sức nước xói lòng cũng rất khoẻ, bởi vậy lòng sông suối hẹp Và như vậy sông suối đã chảy trong lòng các khe sâu, vực thẳm Về mùa nước, nước sông suối rất dữ dội song trải qua các thế hệ làm bạn với lũ người dân cũng đã nắm được đặc tính của nó
Trên cơ sở biết được một phần chế độ sông suối và đã có những biện pháp khắc phục, chế ngự, Mường Thái vẫn bám rất chắc trên những dải đất
kề bên sông, suối trên miền rừng núi này Đây là một vùng rất có ưu thế về kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp cổ truyền Bản, mường người Thái còn tụ tập thành từng cụm trên những vùng cao nguyên rộng lớn của miền Tây Bắc
là nơi được hình thành trên cấu trúc của hệ thống đá vôi Bởi vậy, ở nhiều vùng trên mặt đất khô cằn háo nước nhưng bên dưới lòng đất lại có thể có hệ thông suối, sông chảy ngầm Sông suối ở Tây Bắc phân bố không đồng đều nên sự phân bố về cư dân cũng không đều
Vùng cư trú của người Thái còn là những nơi tiếp cận với rừng rậm nhiệt đới, á nhiệt đới Sự giàu có về tài nguyên của rừng đã cung cấp cho cuộc sống của cư dân ở Tây Bắc nguồn động thực vật phong phú, đây là vùng rừng có quan hệ gần gũi với hệ thực vật lớn trên thế giới Về chủng loại có đến 100 họ,
500 loại gỗ lớn, 30 loai tre nứa…Cây rừng có đủ loại ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới Có thể nói rừng là đối tượng của săn, hái luợm và nương rẫy
Từ những đặc điểm của địa hình như vậy nên đồng bào phải cư trú trên các vùng tiểu khí hậu rất phức tạp Nơi mưa ít, nơi mưa nhiều, có vùng thường bị úng nước vào mùa mưa gọi là “lốm”, “bôm” hay “phok” Có vùng khô hạn hiếm nước gọi là “phiêng” Về đại thể, nhiệt độ giữa các vùng người Thái ở chênh lệch nhau từ 3 đến 4 độ Mùa nóng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5
Trang 1610
- 6 đến tháng 10 dương lịch Mùa rét hanh khô bắt đầu từ tháng 10 - 11 đến tháng 4 - 5 lịch Thái Thiên nhiên của vùng Tây Bắc là đối tượng tác động của người Thái Sự tác đông đó được biểu hiện trên các loại hình kinh tế đặc biệt
là ngành trồng trọt trong kinh tế của người Thái Vùng người Thái ở Tây Bắc không có cánh đồng “thẳng cánh cò bay” như vùng châu thổ rộng lớn, mà chỉ
có bốn lòng chảo rộng là Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than Hầu hết những nơi khác đều lọt vào những thung lũng nhỏ, hẹp
Với đặc điểm tự nhiên như vậy, Tây Bắc là một vùng đất giàu tiềm năng tự nhiên, là chỗ dựa vững chắc cho đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc Trong đó, con người Thái sinh sống và là cơ sở cho việc hình thành đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của họ
Như vậy, nhờ biết được thời tiết nên họ đã có những hoạt động kinh tế khá thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển xã hội lúc bấy giờ Đó là hoạt động trồng trọt (lúa, hoa màu) hợp với vùng mưa, nóng
Như vậy, một trong những mục tiêu con người phải tìm hiểu được sông, suối, rừng núi, đất đai và khí hậu…của nơi cư trú là để đem sức lao động tác động vào đối tượng đó mà có của cải vật chất nuôi sống mình Thiên nhiên của vùng Tây Bắc là đối tượng tác động của người Thái Sự tác động đó được biểu hiện trên các loại hình kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi…
Với đặc điểm của tự nhiên và môi trường sinh tụ của dân tộc đã tạo cho văn hóa Thái nói chung, văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc nói riêng, những điểm độc đáo tạo nên bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc Việc giữ gìn một nền văn hóa như nó vốn có đã khó nhưng tìm những cái hay, cái tốt, cái phù hợp với giai đoạn mới và phát triển nó làm cho nó phát huy tác dụng mà không làm mất đi bản sắc, cái cốt lõi của nền văn hóa
đó là việc làm khó hơn nhiều Tất cả những điều trên cho thấy điều kiện tự nhiên, môi trường sinh tụ của đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc là cơ sở, nền tảng cho sự hình thành vận động của nền văn hóa dân tộc này
Trang 1711
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Nhìn chung, vùng cư trú của người Thái có một thiên nhiên rất phong phú Sông, suối, rừng cây đã nuôi sống họ Đó chính là điều kiện rất thuận lợi cho môi trường sống của họ Thiên nhiên của vùng Tây Bắc là đối tượng tác động của người Thái Sự tác động đó được biểu hiện trên các loại hình kinh tế đặc biệt là ngành trồng trọt trong kinh tế của người Thái
Trên cơ sở những đặc điểm tự nhiên, về địa vực cư trú, về tập quán và
kỹ thuật sản xuất…Rõ ràng kinh tế trồng trọt là yếu tố quyết định sự tồn tại xã hội cổ truyền của người Thái Họ trồng nhiều loại cây, nhưng chủ yếu là lúa
Và lúa đã thành sản phẩm chủ đạo của nền sản xuất Nền nông nghiệp của họ mang tính độc canh rõ rệt Mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm
ra thóc gạo Nếu như người Kinh có câu: “quý hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái có câu: “Thóc lúa ngồi trên, bạc tiền ngồi dưới”) (khẩu nặm năng nưa,
ngấn cắm năng tẩu) [13;91]
Đối tượng trồng trọt chủ yếu của đồng bào là ruộng và nương người
Thái gọi lớp nông dân mình là “ông nương bà ruộng” [13, 91] (po hay, mẹ
na) Đó là mặt tác động của người lao động trên vùng núi rừng Tây Bắc để có được sản phẩm trồng trọt nói chung và đặc biệt sản phẩm về thóc gạo nói riêng Bởi vậy suy cho cùng trong xã hội, mọi quan hệ, mọi trạng thái ý thức đều được cấu trúc chủ đạo trên nền tảng của sản xuất của hai đối tượng ruộng
và nương Theo quan niệm: ruộng, nương là lẽ sống
Như chúng ta đã biết từ rất lâu ruộng nước đã trở thành đối tượng lao động chủ yếu của cư dân Thái Với những điều kiện địa lý, tự nhiên khá thuận lợi: Rất nhiều sông suối với lưu lượng nước đáng kể len lỏi chạy khắp các vùng tạo ra những ghềnh thác thuận lợi cho việc lấy nước làm ruộng; núi non tuy hiểm trở, nhưng xen kẽ là những thung lũng màu mỡ, phì nhiêu cùng
Trang 1812
những cao nguyên rộng lớn - đất đai Tây Bắc nói chung là màu mỡ, nhiều mùn, có độ ẩm cao cộng với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều nắng lắm, đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của trồng trọt (nhất là cây lúa), chăn nuôi Trong thực tế, cho đến thời kỳ trước cách mạng tháng Tám, nền kinh tế truyền thống của người Thái là kinh tế nông nghiệp mà trong đó, cây lúa nước là loại cây trồng chủ yếu
Do địa hình xen kẽ núi đồi, cao nguyên, lòng chảo với điều kiện có nguồn nước nông dân Thái đã có 2 loại ruộng nước Loại ruộng ở nơi bằng phẳng gọi là “na tông” Nhưng do địa hình Tây Bắc núi non chắp nối nhau một cách liên tục nên sự bằng phẳng của “na tông” chỉ mang ý nghĩa tương đối Việc làm “na tông” phải sử dụng kỹ thuật tạo bờ thửa để phân chia thành những ruộng cao, thấp, ngang, dọc sao cho thích hợp với từng khu đất bằng trong toàn bộ vùng thung lũng, lòng chảo hay cao nguyên có độ dốc Loại ruộng ở các nơi eo hẹp men theo chân núi hoặc trên sườn núi gọi là “na hon”
“Na hon” là một khu đất bị cắt nhỏ thành từng thửa ruộng Một đặc điểm rất
cơ bản của địa hình để tạo ra khu “na hon” là không có mặt bằng tự nhiên, hoặc nếu có cũng rất nhỏ hẹp Bởi vậy, kỹ thuật phổ biến của việc làm “na hon” bao giờ cũng tập trung vào khâu tạo mặt bằng Trên cơ sở đó mới đắp bờ ngăn nước Phân loại theo nguồn nước Người Thái đã phân loại ruộng theo nguồn nước khớp với hoàn cảnh tự nhiên, địa vực cư trú của mình
Ruộng phân loại theo nguồn nước có hai tên gọi: “ruộng nước mưa”(na nặm phạ) và “ruộng nước ngâm”(na nặm che) Ruộng nước mưa thường được phân bố trên những cao nguyên chỉ đủ nước cấy một vụ Đặc điểm cơ bản của nguồn nước tưới ruộng nước mưa là phải có một lượng mưa tối đa để đất no nước Từ đó trên mặt đất sẽ xuất hiện những mạch ở khắp nơi và những mạch
đó sẽ do người điều khiển cho chảy tới ruộng Ruộng nước ngâm thường tập trung trong các thung lũng lòng chảo - vùng cư dân chủ yếu của người Thái
Trang 1913
Đặc điểm của loại ruộng này là con người có thể chủ động được nguồn nước tưới, không phải chờ Trời mưa Ruộng nước ngâm có thể gồm 3 bộ phận cấu thành: “ruộng (na) mương phai”, “ruộng rộc”(na huỏi hong chong lộc) và
“ruộng đầm lầy” (na bướm hay na lúng) Phân loại theo hạng tốt xấu, hạng tốt bao gồm các thửa ruộng nằm trong loại “ruộng mùn” (na há) Trong đó lại phân ra làm 2 hạng: Hạng tốt nhất gồm các thửa ruộng nằm sát bản gọi là ruộng mùn bản (na há bản) Hạng tốt vừa bao gồm các thửa ruộng nằm kề miệng mương gọi là ruộng miệng mương (na pá mương) Hạng xấu thì chỉ có một loại bao gồm các thửa ruộng nằm kề bên bãi cát, hoặc nằm ở cuối mương, lạch gọi là “ruộng bên cát, cuối nước” (na khó sái pai nặm) Các thửa ruộng trung bình khác được xếp vào hạng trung bình gọi là “ruộng ở giữa” (na xảo cang) Ý nghĩa của việc phân loại ruộng theo hạng tốt xấu và trung bình đối với người Thái trước kia không hẳn đã nhằm mục đích để tác động các khâu kỹ thuật, mà phân loại ruộng theo hạng là để đặt giống lúa cho hợp Theo họ, việc phân loại ruộng theo hạng, chủ yếu là do chất đất (đất nhiều mùn thì tốt không nhiều mùn thì xấu) và do nước (ruộng chủ động nước thì tốt và nước thất thường thì xấu) Việc canh tác ruộng nước của người Thái đã đạt đến một trình độ khá cao
Việc canh tác trên nương rẫy cũng có một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp truyền thống của người Thái Bên cạnh đó, đồng bào Thái còn biết triệt để tận dụng các loại sản vật trên rừng, dưới suối để làm phong phú thêm cuộc sống của mình Đánh cá, hái lượm, săn bắn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống Thậm chí đối với người Thái, chài đã trở thành vật thiêng
Như vậy, sinh hoạt kinh tế của người Thái mang đậm tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc Do phân công lao động theo giới tính, tính chất tự cấp tự túc đó diễn ra trong từng bản, thậm chí trong từng gia đình một Đây chính là nguyên nhân khiến nghề thủ công kém phát triển (chỉ tồn tại dưới dạng nghề
Trang 2014
phụ gia đình), chưa hình thành tầng lớp thợ thủ công hay thương nhân chuyên nghiệp Trao đổi kém phát triển, có chăng chỉ là vật đổi vật mà thôi Phải chăng nền kinh tế chậm phát triển, đơn điệu đã là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội Thái ở đây trì trệ, kém biến đổi
Những sắc thái tự nhiên, những đặc điểm kinh tế đó đều được phản ánh vào nội dung và hình thức của lễ nghi, lễ hội nông nghiệp Thái nói riêng và toàn bộ nền văn hóa dân gian Thái nói chung
1.1.2.2 Điều kiện về xã hội
Dưới thời Pháp, xã hội của người Thái là chế độ thực dân nửa phong kiến Sự phân hóa giai cấp trong xã hội đã khá rõ nét thành giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị Giai cấp thống trị bao gồm tầng lớp quý tộc Thái (bọn này nắm trong tay bộ máy quản lý, thống trị và bóc lột người trực tiếp lao động sản xuất trong châu mường và hệ thống chức dịch (còn gọi là bô lão toàn mường) là công cụ phụ giúp cho chúng Giai cấp bị trị là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho bản mường Lớp người này được chia làm nhiều loại khác nhau, chịu các mức độ thống trị, bóc lột khác nhau, trong đó
có “cốn hướn” (tức gia nô) là tầng lớp người không những bị bóc lột thậm tệ
về mặt kinh tế mà về tinh thần, họ cũng bị áp bức, bị tước đi hầu hết các quyền lợi, các nghĩa vụ của một người dân trong bản, trong mường (trong đó
có cả quyền lợi về thân thể) Ngay cả đến những ngày hội lễ của bản mường
họ cũng không được tham dự
Trong giai cấp thống trị, chúa đất và bộ phận “mo, chang, nghè” là có quan hệ, ảnh hưởng trực tiếp đến lễ hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó Chúa đất là những kẻ đứng đầu trong giai cấp thống trị bản mường Chúa đất xuất thân từ một dòng họ quý tộc nhất định, giàu mạnh và được cha truyền con nối Trước kia, chúa đất là tượng trưng cho sức mạnh của toàn bản mường cầm đầu bộ máy chính quyền, trông coi, điều hành tất cả mọi việc
Trang 2115
trong bản mường, về mặt thần quyền, linh hồn ông là linh hồn của mường Trong cuộc sống, bằng nhiều cách thức và thủ đoạn, chúa đất luôn siết chặt ách cai trị của mình đối với dân mường bằng cả uy quyền lẫn thần quyền Trong hệ thống chức dịch giúp chúa đất cai quản bản mường có bộ phận “mo, nghè, chang” chịu trách nhiệm về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Đây là bộ phận có liên quan trực tiếp, có vai trò nhất định trong nền văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộc
Người Thái có câu:
“Họ Lường làm mo
Họ Lò làm tạo” [5; 22]
Vì ở người Thái, những người làm mo không phải xuất thân từ một dòng họ nhất định, thường là họ Lường Những người làm mo phải nắm vững những lệ tục của bản mường, am hiểu phong tục tập quán: “Mo” chính là người trực tiếp thực hiện chức năng thần quyền của chúa đất Mo có trách nhiệm tổ chức các cuộc cúng bái, tế lễ trong nhà chúa và trong mường Ông
có những hiểu biết phong phú về môi trường tự nhiên, về những vấn đề liên quan đến sản xuất (thời tiết, thời vụ) Thậm chí, họ còn biết cách làm ra thuốc
để chữa bệnh Tuy nhiên, họ thường cho rằng những khả năng ấy sở dĩ có được là do sự ban phát, phù trợ của những lực lượng siêu nhiên, thần thánh
Ở cấp bản có “tạo bản” (hoặc gọi là quan bản) Tạo bản đứng đầu, trông coi mọi việc trong bản
Nhìn chung, tạo bản là người có quyền hành cao nhất trong bản, là người nắm vững luật tục, am hiểu phong tục tập quán, quản lý ruộng đất và cư dân trong bản Nhưng tạo bản thường từ dân bầu lên và chức vụ cũng không phải là cha truyền con nối nên “tạo bản” không phải là “tạo chẩu xửa” như
“chẩu mường” Vì vậy, ngoài tạo bản, mỗi bản còn có một ông “tạo chẩu xửa” riêng (còn gọi là “tạo poong”), người này không có vai trò gì trong bộ máy
Trang 2216
hành chính mà chỉ đơn thuần trong đại diện cho phần “linh hồn” của toàn thể dân chúng trong một bản mỗi ki tiếp xúc với thần, hồn, tổ tiên, ma quỉ (trong các buổi tế lễ)
Trong xã hội Thái trước kia, đơn vị xã hội cổ truyền là bản Trong bản,
từ quan hệ dòng họ, quan hệ láng giềng đã xuất hiện và chiếm vai trò chủ đạo dựa trên cơ sở ruộng đất, lãnh thổ Quá trình phát triển, biến đổi của bản phản ánh giai đoạn phát triển dựa trên yếu tố lãnh thổ và sở hữu về tư liệu sản xuất
Mỗi bản có một địa vực cư trú riêng gồm ruộng, rừng, thung cỏ, đồi núi, những khúc suối, đoạn sông và muôn thú trong địa vực của mình và hệ thống thủy lợi riêng do mọi thành viên trong bản cùng xây dựng Giữa các bản đều có ranh giới khu vực đất đai và thiên nhiên Trong mỗi bản tồn tại nhiều mối quan hệ: mối quan hệ giữa bản với mường, mà về mặt tổ chức, bản
là đơn vị xã hội thấp nhất, chịu mọi sự tác động, chi phối của mường
Trong bản còn tồn tại mối quan hệ giữa các gia đình; đó là mối quan hệ xóm giềng dựa trên cơ sở cùng cư trú trong cùng một khu vực Vì vậy, trong một bản Thái thường có nhiều dòng họ cùng cư trú xen kẽ Đây là đặc trưng
cơ bản của công xã nông thôn Thái
Các thành viên trong bản có quyền chiếm hữu đất đai, ruộng nương ở mức nào đó sau khi đã được phân phối Họ cùng có nghĩa vụ quản lý và bảo
vệ bản, ruộng nương của bản Trong các bản, tinh thần cộng đồng khá bền vững Các thành viên trong bản cùng tuân thủ một cách tự giác và nghiêm ngặt những luật lệ, phong tục chung của bản mường; cùng chung một hệ thống lễ nghi trong tín ngưỡng, cùng chung một hệ thống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng mang phong cách riêng của dân tộc
Như vậy, bản của người Thái là một đơn vị tổ chức xã hội, văn hóa tương đối chỉnh thể; đã phản ánh khá tập trung, rõ nét những đặc trưng của văn hóa, xã hội của tộc người Thái
Trang 2317
Nhưng như trên đã nói, bản chịu sự tác động, chi phối của một tổ chức
xã hội cao hơn là mường Do yêu cầu phải có sự liên hiệp các bản trong một cộng đồng sản xuất lúa ở ruộng nước nên đơn vị xã hội cao hơn bản là mường
đã ra đời Tiếp theo là đến những cuộc thiên di, chiến tranh để tìm nơi cư trú, làm ăn mới thì vai trò của mường và người thủ lĩnh mường càng được đề cao Trong một thời gian dài của lịch sử, mường đã tồn tại như một bộ máy nhà nước của giai cấp thống, trong đó, vai trò của phìa tạo được đề cao như những ông vua trong lãnh địa của mình, là “con trời” được Trời cử xuống để cai trị muôn dân, là những người tạo lập - hoặc hậu duệ của họ - ra bản mường Họ
là người chủ đất đai, là môi giới giữa Trời và người Việc làm ăn của dân mường có được thuận lợi hay không, mùa màng được hay mất, bản mường bình yên hay giặc giã chính là do họ, nhờ họ Vì vậy, sự bóc lột thậm tệ của giai cấp thống trị bằng tô hiện vật, tô lao dịch, đi lính, “côn hươn” dựa trên cơ
sở phân bổ ruộng công đã được họ ngụy trang khéo léo bằng tấm màn thần thiêng liêng, huyền bí nên dân chúng bị bóc lột Họ cho rằng đó là việc thực hiện những nghĩa vụ thiêng liêng cao cả với những “đáng tối cao” ở trên trời
và dưới đất mường
Ngay cả trong những dịp cúng quải, lễ hội của toàn mường, phìa tạo cũng đóng vai trò quan trọng: chủ đạo, điều hành và dẫn dắt mọi tiến trình nghi thức Còn những lớp người bị bóc lột ở các bản: Nông dân, nông dân nửa
tự do (cuông nhốc pụa pái), tầng lớp gia nô (côn hươn) chỉ đóng vai trò bị động, phụ thuộc trong những hoạt động trên Nhìn chung, tùy địa vị cụ thể trong mường, trong bản mà họ đóng những vai trò khác nhau trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của bản mường
Tóm lại, là cư dân bản địa cư dân cư trú lâu đời ở vùng thung lũng miền núi, người Thái có nguồn sống chính là kinh tế nông nghiệp ruộng nước với trình độ kỹ thuật canh tác khá cao sự phân hóa giai cấp với đặc thù riêng
Trang 241.1.3 Điều kiện văn hóa
Sinh sống trong cảnh quan thung lũng rộng, hẹp khác nhau ở vùng Tây Bắc, người Thái đã sớm tạo ra nền văn hóa độc đáo của mình Nền văn hóa đó được các nhà nghiên cứu gọi là “văn hóa thung lũng” cái nền văn hóa tiền thân của “văn hóa đồng bằng [5;29] Những đặc trưng của nó được thể hiện sinh động ở nhiều mặt của đời sống con người
Tụ cư trong điều kiện môi sinh đó, lúa nước sớm trở thành cây lương thực chính của đồng bào với các giống lúa nếp truyền thống dẻo, thơm đến độ
có loại được gọi là “nếp quên chồng” (khau lưm phua) [5; 30] Tập quán ăn cơm nếp với các dạng thức ăn khô như nướng, đồ hay vùi tro bếp…đã trở thành đặc tính trong ăn uống của người Thái
Trên cơ sở đó, người Thái đã sớm định canh định cư, lập ra cả hệ thống bản mường tụ cư đông đúc - bản là cộng đồng tồn tại theo quan hệ láng giềng, vận hành theo chế độ dân chủ công xã mà “tạo bản” là người đứng đầu, được coi như là một ông bố chung “Po bản” Mọi người trong bản quan hệ với nhau không anh thì em, không nội thì ngoại…đều coi nhau như anh em Tình cảm của mọi thành viên trong bản được chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau Việc lành hay việc dữ, tất cả mọi người luôn có mặt bên n’ hau, tận tình với nhau
Có thể nói, bản là một gia đình lớn của người Thái Vì thế, bản là đơn vị xã hội mang tính chất gia đình và mọi việc trong bản là việc của một gia đình Đây là một đặc trưng độc đáo của người Thái trong tổ chức xã hội ở cấp cơ sở
Trang 2519
Với nền kinh tế và xã hội như vậy, xã hội Thái đã tạo tiền đề và cơ sở cho nhiều hoạt động văn hóa ra đời và phát triển Trong đó bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Trong toàn bộ nền văn hoá vật chất (văn hoá vật thể) của dân tộc Thái Tây Bắc, ngôi nhà sàn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, nếu như không muốn nói là quan trọng nhất Nó quan trọng không chỉ ở giá trị vật chất đo đếm được bằng khái niệm định lượng, mà còn ở phạm trù tâm linh - tín
ngưỡng Nhà sàn của người Thái Tây Bắc là nơi hội tụ những giá trị vật chất
và tinh thần: Đây là nơi chứng kiến buồn vui của bao thế hệ để rồi mỗi người hiểu thêm về quá khứ, hiện tại và tương lai, trân trọng nâng niu những tài sản
vô giá cả về vật chất và tinh thần đã trở thành truyền thống tốt đẹp và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn
Quanh bếp lửa hồng, đã bao lần gia đình họ tộc quây quần nghe người già hát, ngâm, kể - những điều răn dạy về đạo lý làm người, chuyện bản mường, bước đường chinh chiến của cha ông, Tiễn dặn người yêu, cùng nồng
say trong các điệu "xoè" ngày mừng cơm mới, lên nhà mới, hội cưới, ngày
xuân
Nhà sàn còn là nơi con trai đan lát, thổi khèn, pí, con gái quay xa, dệt vải, thêu thùa đã được khái quát trong câu thơ: Trai biết đan chài, gái biết dệt vải
Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi theo tiêu chí: “sơn chầu thủy tụ” Những ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gió đồng, lách cách tiếng thoi đưa, đâu đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốc cốc tiếng mõ trâu đàn về bản Tất cả làm nên một vẻ đẹp trong sáng đậm tình như một bức tranh sơn thuỷ, dân dã nguyên sơ của một nền văn hoá
Kiến trúc nhà sàn, tuy từng nhóm có những dáng vẻ khác nhau, nhưng
đó chỉ là sự khác nhau về hình thức, còn nếp ăn, nếp ở của họ vẫn theo tập
Trang 2620
quán chung “hịt khong hươn hạn quạn xau” (Phong tục tập quán nhà sàn - ý chỉ nhà người Thái) Điều đáng lưu ý ở đây là trên cái mặt sàn rộng thênh thang ấy (vì ít khi có vách ngăn thành buồng) đã tạo ra một không gian xã hội gia đình đầm ấm và thanh bình Gia đình Thái trong cái không gian ấy sống với nhau chân tình, ít khi to tiếng, chửi mắng lẫn nhau mà thường trân trọng, thân mật và nhẹ nhàng trong ứng xử và cách ăn, cách nói Họ quan niệm rằng trong gia đình hay cả trong bản, trong mường mà to tiếng với nhau sẽ không còn là anh em, mắng người cũng chính là mắng mình
Trên cơ sở đó, mọi thành viên trong gia đình tự giác tuân thủ phong tục, tập quán và sự phân công lao động truyền thống Từ khi mới lọt lòng, trẻ
em Thái đã được giáo dục, hướng dẫn theo sự phân công lao động tự nhiên “ Nhính dệt phại, chai xan he” (gái dệt vải, trai đan chài) [5; 33] Sự phân công
đó đã trở thành chuẩn mực của nam nữ thanh niên Thái: Gái không biết dệt vải là gái hư, trai không thạo đan chài là trai biếng Những người như thế thường bị xã hội chê cười Bởi thế, trước khi lấy chồng, các cô gái Thái đã tự chuẩn bị đầy đủ chăn đệm, vải vóc, thổ cẩm cho gia đình tương lai
Với đôi tay khéo léo, chị em tự cắt may váy áo cho mình, quần áo cho chồng con theo kiểu mẫu truyền thống, tạo ra những bộ trang phục đậm đà bản sắc dân tộc Đó là tấm váy dài nhuộm chàm thơm phức với chiếc áo
“cóm” (áo ngắn) chít eo khít kháo tôn thêm những đường nét mềm mại trên thân thể, tạo ra vẻ thanh thoát, duyên dáng cho chị em Hàng cúc bạc với tấm khăn piêu thêu chỉ màu sặc sỡ càng tăng thêm vẻ đẹp rạng rỡ của họ Có thể nói, trong các bộ trang phục dân tộc thiểu số, không bộ trang phục nào giản dị
mà lại duyên dáng, thanh thoát như bộ váy áo của chị em phụ nữ Thái Họ biết “khoe” vẻ đẹp của thân thể bằng bộ trang phục truyền thống
Còn về văn hóa tinh thần đó là sự thống nhất về mặt văn hóa, tinh thần của họ còn biểu hiện trên cách nhìn và giải thích thế giới Mặt này thường biểu
Trang 2721
hiện trong các môtip thần thoại và truyền thuyết về thiên nhiên, địa vực cư trú
và nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình Mặt khác còn thể hiện trong các môtíp văn hóa dân gian chung như âm nhạc, nghệ thuật, văn học….các tập tục về tôn giáo Tại các gia đình người Thái có bàn thờ đá gọi là bàn thờ thổ địa, nguồn gốc của nó là thờ lửa, đá cọ sát tạo ra lửa Thờ cây - nhất là cây mía mang sự ngọt ngào cho đời, mía là cây bất tử, ngọn mía thành bụi mía mới Thờ cây lúa
vì sữa lúa như sữa mẹ, lua là thần tượng mẹ Nhiều dân tộc thiểu số còn tuốt lúa bằng tay, không cắt lúa vì sợ lúa đau Thờ vua nước, đầu năm lên đầu nguồn lấy nước về cúng ma nhà Đồng bào làm lễ cầu mưa mong cho mưa thuận gió hòa Người Thái có tục mở lễ hội xên bản xên mường Lễ được tổ chức vào đầu mùa xuân trên cánh đồng rộng, mời mo luông đến cúng xua đuổi
tà ma, cầu cho bản mường yên vui, mùa màng tốt tươi Sau đó thanh niên nam
nữ vui chơi ném còn, múa xòe trong tiếng chiêng đồng, trống cái, khèn…
Trong không gian xã hội như thế, xã hội Thái đã tạo ra một môi trường thuận lợi để những hoạt động văn hóa lễ hội nảy nở, phát triển Trong đó, đáng
kể nhất và nổi bật là các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, đến sự cầu mùa
Lễ nghi và lễ hội nông nghiệp Thái thường được tổ chức và diễn ra ở cả
ba cấp đơn vị xã hội: Cấp gia đình, cấp bản và cấp mường Mỗi cấp mang những đặc điểm, dáng dấp riêng của mình
Ở cấp đơn vị gia đình, các lễ nghi diễn ra trong phạm vi từng gia đình Nét đặc thù ở đây là các lễ hội đó diễn ra theo từng bước, từng công việc cụ thể của quá trình sản xuất (từ lúc trồng cho tới khi thu hoạch xong xuôi) Như vậy, lễ nghi nông nghiệp chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình
Ở cấp bản, ngoài lễ “Xên bản” mang tính chất cầu an tại rừng cấm
“Đông xựa” thì các lễ nghi nông nghiệp ít được tổ chức Đây cũng là một nét đặc thù rất Thái
Ở cấp mường: cũng giống như cấp bản các lễ nghi cụ thể liên quan đến nông nghiệp ít được tổ chức, có chăng cũng chỉ phảng phất mờ nhạt Ở cấp
Trang 2822
mường, lễ nghi thờ cúng chỉ mang tính chất cầu an là chính Chỉ những khi hạn hán lâu ngày, hay gió bão tác hại mùa màng, mường mới tổ chức cúng cầu mưa, cầu tạnh… Vì, thực sự ra tổ chức mường chỉ là một tổ chức hành chính đơn thuần của bộ máy thống trị chứ không dính dáng gì đến qui trình sản xuất
Lễ nghi đặc thù ở cấp mường chỉ diễn ra xung quanh cột trụ mường
“Lắc mướng” mà người Thái ở Thái Lan và Xíp xong păn ra (Trung Quốc) gọi là tìm mường (Chay mương) Thực ra, cúng “Lắc mướng” chỉ để củng cố
và tăng cường thế lực của giai cấp thống trị chứ rất ít liên quan đến sản xuất nông nghiệp Ở đây, liên quan đến sản xuất nông nghiệp là lễ đắp phai mương
mà mọi thành viên trong mường phải có nghĩa vụ tham gia lao động (chứ không thờ cúng) Có thể nói, đó là ngày hội lao động mở màn cho một mùa
vụ sản xuất, chứ không mang tính chất nghi lễ nông nghiệp
Trên cơ sở đó, xã hội Thái cũng sinh ra cả một chuỗi những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian Những ước mơ và khát vọng của cuộc sống đã chắp cánh cho những lời “khắp” (hát), điệu “pí”, nhịp “khèn” bay bổng ở mọi nơi, mọi lúc Điều đáng nói ở đây là người Thái có thể sinh hoạt văn nghệ
“khắp” bất cứ lúc nào, trong bất kỳ tâm trạng nào - Vui: khắp, buồn: khắp, thậm chí khi lao động mệt nhọc cũng khắp cho bớt mệt…Người Thái thích gửi gắm tâm tư tình cảm của mình qua lời khắp, điệu pí Có thể nói: “Khắp”
là một cách giao tiếp của người Thái: Họ có thể “khắp” cá nhân, và cũng có khi “khắp” đối đáp từng đôi, từng nhóm [5; 37]
Hòa cùng tiếng “khắp”, trong các lễ hội thường có thêm dàn chiêng trống Đặc biệt là trong các dịp mừng nhà mới hay cưới xin…người Thái thích cầm tay nhau xòe vòng theo nhịp chiêng trống cầm chịch say sưa thâu đêm suốt sáng
Tất cả những sinh hoạt đó đã tạo nên sắc thái riêng của nền văn hóa Thái
- nền văn hóa thung lũng trồng lúa nước Sau này, khi dân số tăng lên, ruộng
Trang 2923
nước không đủ sống, đồng bào có thêm việc canh tác nương rẫy, nhưng trong truyền thống nông nghiệp Thái, canh tác nương rẫy chỉ đóng vai trò phụ Cho nên, những nghi lễ liên quan đến nương rẫy cũng chỉ là những nghi lễ bổ sung làm phong phú, đa dạng thêm lễ nghi sản xuất lúa nước thung lũng mà thôi Vì thế, chính những đóng góp của nền văn hóa Thái vào kho tàng văn hóa Việt Nam là những yếu tố của văn hóa lúa nước với đặc thù văn hóa thung lũng 1.2 TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI THÁI TRONG LAO ĐỘNG SẢN XUẤT
Người Thái có nơi thờ tông tộc, từng dòng họ Chỗ đó, có thể là một khu rừng cấm, một gốc cây, một hòn đá Việc thờ cúng các vị chư thần, tổ tiên được thể hiện bằng những nghi thức, những ngày lễ hội hàng năm, theo chu kỳ sản xuất nông nghiệp và lồng ghép vào các lễ nghi nông nghiệp, chủ yếu nhằm cầu xin trời đất, chư thần, tổ tiên, phù hộ cho con cháu và bảo vệ mùa màng
Trong truyền thống văn hóa của các dân tộc Tây bắc, cúng giỗ, lễ hội
đã trở thành một phong tục, tập quán truyền từ đời này qua đời khác, trong đó
có Xên bản của dân tộc Thái Tiếng Thái “Xên” có nghĩa là cúng, rộng hơn là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi Hằng năm, Xên bản được tổ chức vào ngày Bính của tháng 4 Theo phong tục của dân tộc Thái, tháng 4 là thời gian gieo mạ lúa mùa (trước đây chỉ sản xuất một vụ lúa, phụ thuộc rất nhiều vào nước mưa), đầu mùa hè, trời nắng nhiều nên dân bản tổ chức lễ Xên để cầu mưa Chuẩn bị cho lễ hội, dân bản cử đại diện là người nối dõi của dòng họ đầu tiên đến khai phá, xây dựng bản Người đại diện bản mời thầy mo về cúng
Trang 3024
Từ sáng sớm, ở hai lối vào và ra của bản người ta dựng hai cổng tre, cử người canh gác nghiêm ngặt không cho khách vào bản trong thời gian tế lễ 8 giờ sáng, thầy mo bắt đầu làm lễ cúng dưới gốc cây đa cổ thụ trong bản
Lễ vật gồm một đầu lợn (phải là lợn đen), hai con gà, một quả trứng, bát gạo, hương, nến Thầy mo lấy một bung thóc, một chiếc chài quăng cá, một chiếc búa đặt lên bàn cúng rồi đọc tục mo (lời cúng) cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, xua đuổi tà ma, đem lại sức khỏe, cuộc sống ấm
no cho mọi nhà Sau đó, thầy mo lấy một đoạn tre, bổ đôi rồi tung lên Khi hai mảnh tre rơi xuống nếu được Xiếng (một úp một ngửa đó là điềm tốt lời cầu khấn đã được Giàng chấp nhận Lễ cúng kéo dài khoảng 30 phút, sau đó mâm
lễ sẽ đem mời thầy mo, Châu Xửa (người đại diện cho bà con trong bản, tương đương với chủ tế) Lễ xong người đại diện mang mâm lễ vật về nhà, lấy một chung rượu cần mời thầy mo và bà con dân bản cùng ngồi ăn uống vui
vẻ Lễ Xên bản thường kèm theo hội đánh trống, ném còn, chơi tó má lẹ
Thanh niên nam nữ chia hai bên, ai ném còn vào vòng tròn buộc trên ngọn một cây tre dựng giữa sân sẽ được thưởng một chén rượu Sau lễ Xên,
bà con trong bản ra ngoài đồng cày bừa, xuống mạ, bắt đầu một vụ mới
Các tục lệ truyền thống của người Thái ở Tây Bắc: Không lấy ống thổi bếp lửa khi đun nấu, vì sợ khi cây trưởng thành gió lớn làm đổ, gẫy cây Không hái rau, hái quả, sợ muông thú về ăn hạt giống khi vừa gieo hoặc ăn bắp, bông khi lúa, ngô chín Không ăn rau xanh vì sợ nương, ruộng rậm cỏ Không tháo ao, tát nước, vì sợ mưa to, lũ lớn cuốn cây cối, hoa mà Có những nơi còn chọn cả ngày kết thúc cấy trên diện tích ruộng của nhà mình như sau: Nếu mạ đã đến ngày được cấy mà ông (bà) chủ nhà bị ốm nặng hoặc mất thì chọn ngày tốt để cấy mạ lên một khoảnh nhỏ góc thửa ruộng mầu mỡ nhất của gia đình, gọi là hẹ nạ (cấy đánh dấu, hoặc cấy lấy ngày)
Trang 3125
Đồng thời làm lễ cầu như sau: Cắt ba đoạn cây lau dài chừng một sải đến sải rưỡi, phải chặt cây lau, đoạn lau tượng trưng cho ước mong cây lúa đầy sức sống Chẻ ba thanh tre to bằng ngón tay dài chừng 70 - 90 Đan ba phên mắt cáo (ta leo) Vuốt cho suông lá trên ngọn 3 đoạn lau, buộc lại rồi lộn múi buộc vào trong Lấy lá hoặc lạt buộc túm phần cuống lau lại sao cho tạo thành một cuộn tròn Có người thì gài, cuộn những lá lau thành cuộn tròn chứ không làm như trên Buộc xong cắm thật chắc 3 gốc (đoạn lau xuống ruộng
đã làm đất ngấu) Tiếp tục cắm hai đầu 3 thanh tre tươi uốn cong xuống chân
3 đoạn lau Cắm sao cho hai đầu của 3 thanh tre chia đều khoảng cách giữa 3 chân đoạn lau Như vậy, ý như tạo sự che chở bảo vệ cho gốc lúa Sau đó buộc 3 ta leo vào giữa vòng cung của ba thanh tre Có nơi buộc vào chính giữa đoạn cây lau Khi hoàn thiện, đây được hiểu như vị thần đánh đuổi, ngăn chặn các loại côn trùng hại lúa để phù hộ cho gia đình một mùa bội thu
Trong một xã hội với một nền sản xuất thấp kém, kinh tế tự cấp tự túc
là chính, các kỹ thuật được sử dụng cho lao động sản xuất và sinh hoạt thuần túy là kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời trước truyền lại cho đời sau thông qua một nền giáo dục tự phát Người Thái có quan niệm vạn vật đều có linh hồn mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào tự nhiên, người làm ruộng còn bất lực trước những hiện tượng tự nhiên bất thường và mùa màng thì phụ thuộc vào những điều hiện mà người làm ruộng thời đó khó có thể khắc phục được nên kết quả thu hoạch thường bấp bênh Cạnh đó, trong cuộc sống hàng ngày, còn có biết bao sự kiện, những may rủi, được mất mà họ chưa có khả năng nhận thức, chế ngự, nơi cư trú của họ lại thường được vây quanh bởi núi non hiểm trở, điệp điệp trùng trùng và chứa đầy những sự kỳ bí Vì những lẽ đó nên đồng bào tin rằng: có những lực lượng siêu nhiên huyền bí, các vị thần linh đầy thế lực đang hàng ngày hàng
Trang 32Người Thái ở Việt Nam có tín ngưỡng theo cách riêng của mình và trải qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc những giá trị văn hóa đó vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu Tín ngưỡng của người Thái chưa phát triển thành tôn giáo riêng và họ cũng không chịu ảnh hưởng hay du nhập vào mình các tôn giáo khác nhau như Đạo Phật, Đạo Hin đu, Đạo Thiên Chúa…
Thái là tộc người thuộc ngữ hệ Thái - Kađai (Thái, Tày, Nùng, Giáy…)
ở Việt Nam Từ lâu đời, văn hóa Thái là một bộ phận hữu cơ góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, văn hóa Thái có sắc Thái tộc người riêng, mà tín ngưỡng dân gian là một dấu hiệu thông tin đậm nét Là cư dân nông nghiệp lâu đời sinh tụ và làm ăn tại các thung lũng miền núi Tín ngưỡng dân gian Thái là biểu hiện của nhận thức, lý trí, tâm lý, tình cảm…của con người về các hiện tượng xã hội và tự nhiên xung quanh mình Trên ý nghĩa đó, trong đời sống của cộng đồng “thế giới tâm linh” của người Thái biểu hiện sinh động dưới nhiều dáng vẻ khác nhau nhưng theo một quan niệm thẩm mỹ, một nhãn quan vũ trụ và nhân sinh tộc người thống nhất
Là cư dân nông nghiệp trồng trọt từ lâu đời ở thung lũng miền núi Bắc Việt Nam, tín ngưỡng dân gian Thái cũng khắc họa khá đậm nét trong đời
Trang 3327
sống sản xuất của cộng đồng Trong xã hội cổ truyền, khi cuộc sống sản xuất còn chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên thì tín ngưỡng liên quan đến cầu mùa là tín ngưỡng quan trọng và tối cần thiết
Tục đón tiếng sấm đầu mùa báo hiệu một thời tiết tốt đẹp cho gieo
trồng, cho sản xuất vào dịp mùa Xuân hàng năm là một biểu hiện Sau bao ngày đông tháng giá vào một ngày đầu năm khi nghe hồn lúa dậy, sau đó dựng cột treo ta leo và hoa lúa, nhóp lửa, lấy nước suối rửa ninh đặt lên bếp Mọi người trong gia đình, trong bản ra suối rửa chân tay, mặt mũi rồi trở về cúng thổ thần, ma bếp và tổ tiên, cầu mong cho các “lực lượng” đó phù hộ cho một năm làm ăn gặp nhiều thuận lợi may mắn
Trong tư duy dân gian Thái Thuồng luồng là vị “Vua” điều hòa sông
nước, cần cho nhà nông tưới tiêu, trồng trọt, là “chúa” các loài cá, phù hộ cho thuyền bè xuôi ngược…Thuồng luồng thường ở nơi nước sâu, thiêng gọi là vắng Hàng năm vào dịp lễ lớn, người Thái thường cúng Thuồng luồng bằng
cỗ trâu, đặc biệt là trâu trắng (Thái Trắng) và trâu đen (Thái Đen)…Trước đây người Thái còn có tục cho phép trai gái trong vùng nhất định, sau khi hát đối đáp có thể tự do ân ái Tục lệ này không chỉ kích thích thời kỳ ăn chơi để đến đầu hạ việc đồng áng buộc tất cả trai gái bắt tay vào sản xuất nó gắn với quan niệm cộng đồng về âm dương về mưa thuận gió hòa, về sự sinh sôi nảy nở của con người về muôn vật
Lễ cúng ma ruộng (phi nà) và hồn lúa cũng thường được tiến hành khi
gieo mạ, khi lúa trổ bông và khi gặt Đặc biệt lễ cúng cơm mới (tục lệ khá phổ biến ở nhiều dân tộc ở Việt Nam) cũng được chú ý, trân trọng Khi lúa chín,
gia chủ hái vài lượm trên vách hóng hay cột nhà chính (xau hẹ) để mời tổ tiên
chứng giám rồi sau đó thổi cơm mới mời tổ tiên và họ hàng thân thích đến ăn
Có nơi đồng bào làm bù nhìn bằng rơm tượng trưng cho hôn lúa rước về bịch lúa tại nhà
Trang 3428
Tục cầu mưa khá phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á và cũng có ở
người Thái nước ta Nước nói chung và nước mưa cần cho sự sinh trưởng của cây trồng và muôn vật Trong điều kiện thời tiết nhiệt đới gió mùa như nước
ta nhiều khi về thời gian trong năm là đến mùa gieo trồng, nhưng có năm thời tiết không thuận lợi và phổ biến vẫn thiếu nước (Lúa ruộng nước cũng cần có nước, mà cây trồng trên nương cũng không thể chịu được độ ẩm quá thiếu…)
Vì lẽ đó mà nhiều cư dân nông nghiệp trong đó có người Thái có tục cầu mưa
Ở người Thái trong tục này gái trai tham gia và là chủ trong lễ Họ đập mẹt, đánh trống…bắt chước tiếng sấm hoặc tuốt lá cọ, tuốt lạt…bắt trước tiếng mưa rơi, họ té nước vào nhau hoặc đến các nhà xin nước hoặc ra sông suối tắm để quần áo ướt dạo quanh bản…Họ tin (dù có thể rất mong manh) làm như vậy thì trời sẽ mưa và có nước để làm nương…Họ vừa đi vừa hát bài về cầu mưa và trêu ghẹo nhau
Vấn đề tín ngưỡng dân gian Thái là vấn đề không nhỏ và không kém phần phức tạp Tín ngưỡng dân gian Thái phản ánh những quan niệm, nhận
thức về cõi thực và cõi hư trong cõi sống của con người của cộng đồng
Đó là quan niệm có thể nói là “hoàn chỉnh” về thế giới tự nhiên và xã
hội Cái cụ thể bị cái vô hình chi phối Cái cụ thể và cái vô hình có mối quan
hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau Toàn bộ những hệ thống các quan niệm hay
“khái niệm dân gian” về trời, đất, ma, hồn người, hồn lúa…cùng với các phong tục, lễ nghi thờ cúng của tín ngưỡng Thái…vừa phản ánh những thông tin trong tiến trình nhận thức của cộng đồng về thế giới tự nhiên xung quanh
và thế giới xã hội loài người; cũng như phản ánh những ước muốn về những điều tốt lành trong cuộc sống và làm ăn của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn bộ cộng đồng…Hay nói một cách khác, tín ngưỡng dân gian Thái toát
lên một thông số chung nhất là cái Thiện của cộng đồng trong các mối quan
hệ với thiên nhiên con người Đó là bản chất của tư duy và tín ngưỡng dân gian Thái khi chưa bị các yếu tố khác làm vẩn đục
Trang 3529
Khi xã hội có giai cấp xuất hiện thì nhiều kẻ “buôn thần bán thánh”, lợi dụng lòng tin, tín ngưỡng của dân vào những mục đích xã hội khác nhau và mưu lợi cá nhân
Trong bối cảnh của xã hội “tiền công nghiệp” trước thiên nhiên bao la rộng lớn và trình độ phát triển tộc người còn có hạn, tín ngưỡng dân gian ra đời là một hiện tượng xã hội tất yếu, nó bù đắp và làm cân bằng về nhận thức, tâm lý tình cảm của con người trong cộng đồng
Trước ngày Cách mạng tháng Tám thành công và trước ngày giải phóng Tây Bắc cũng như các vùng Thái khác, với cơ sở kinh tế là nền kinh tế
nông nghiệp; tự cấp tự túc, vậy nên: Đồng thời, một số hình thái tôn giáo tín
ngưỡng của các thời kỳ xã hội trước đó cũng vẫn còn tồn tại dai dẳng trong cuộc sống của người dân Chính vì vậy mà một loạt những hình thức cầu cúng, các nghi lễ, hội hè…đã xuất hiện và chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống tinh thần của tộc người đó là lễ hội cầu mùa của người Thái Lễ hội cầu cho mùa màng tốt tươi, mong cho cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc, mưa thuận giáo hòa
Tiểu kết chương 1
Sự hình thành nhóm Thái Tây Bắc không chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn mà rõ ràng đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, dân tộc Thái đã sáng tạo ra một nền văn hóa dân gian rất phong phú, đa dạng, mang đậm sắc thái tộc người Trong đó lễ hội truyền thống lại là mảng rất quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào, nó phản ánh thực tại cuộc sống, là nơi thể hiện tập trung nhất những tư tưởng, ước nguyện thầm kín của họ Điều đó cho phép họ có thể kiến tạo một nền văn hóa riêng mang đậm tính tộc người mà lễ hội cầu mùa là một trong những đặc trưng riêng của người Thái ở Tây Bắc là những ước nguyện cho một cuộc sống ấm no hạnh phúc
Trang 3630
Chương 2
LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
2.1 NGHI LỄ TRONG HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI THÁI
Người Thái sống gắn bó, mật thiết với ruộng, nương và các loại cây trồng Vừa mở mắt chào đời, mỗi em bé đều đã được nghe các bà đỡ dạy dỗ, báo trước về cuộc sống đang tới
Dậy đi nương theo cô, Dậy đi nương theo bố, Dậy đi hái bông ở nương to cùng mẹ (Tứn pay hay toi a,
Tứn pay na toi ải Tứn kếp phai hay nhấư toi êm) [5; 39]
Rồi khi lớn lên, trưởng thành, chết đi - cả cuộc đời sẽ gắn liền với các mùa vụ sản xuất nông nghiệp và những công việc của nhà nông Không biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu cuộc đời đã trôi qua như vậy vì nông nghiệp đã trở thành nguồn sống chính của họ Cùng với thời gian, người Thái đã có những hiểu biết phong phú về môi trường tự nhiên nơi mình cư trú, ví dụ như thời tiết khí hậu, đất đai, cây cối và nền sản xuất nông nghiệp đã đạt đến một trình độ nhất định điều này thể hiện trong kỹ thuật sản xuất và trong lịch gieo trồng mà đồng bào đã đúc kết được
Tuy nhiên, nếu môi trường tự nhiên, xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi thì cũng đã gây không ít khó khăn, trở ngại cho việc sản xuất nông nghiệp, nhất là khi nền sản xuất đó chưa thực sự phát triển mạnh mẽ, sự lệ thuộc vào