1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu mô hình xã hội dân sự ở châu âu

103 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 687,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoá luận tốt nghiệp 7 Trường ĐHSP Hà Nội 2Theo Guy Berger, tựu trung chúng ta có thể phân biệt được sáu quan niệm chủ yếu sau đây về Xã hội dân sự société civile: Trước hết là quan niệ

Trang 1

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 4

6 Bố cục của khóa luận 4

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 5

1.1 Nguồn gốc thuật ngữ Xã hội dân sự 5

1.2 Các quan điểm về Xã hội dân sự 6

1.2.1 Quan điểm cổ điển về Xã hội dân sự 6

1.2.2 Quan điểm hiện đại về Xã hội dân sự 21

1.3 Khái niệm Xã hội dân sự 26

1.4 Tiểu kết 35

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ Ở CHÂU ÂU 36

2.1 Quá trình hình thành và phát triển 36

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển và hoạt động Xã hội dân sự cấp toàn cầu 36

2.1.2 Lịch sử phát triển Xã hội dân sự ở châu Âu 38

2.2 Vai trò, chức năng, đặc điểm của Xã hội dân sự 44

2.2.1 Vai trò phát triển của Xã hội dân sự 44

2.2.2 Chức năng cơ bản của Xã hội dân sự 47

2.2.3 Một số đặc điểm cơ bản của Xã hội dân sự 50

2.3 Một số mô hình Xã hội dân sự tiêu biểu 53

2.3.1 Mô hình Xã hội dân sự theo mô hình kiểu “chủ nghĩa nghiệp đoàn” Đức 53

2.3.2 Mô hình Xã hội dân sự “thị trường xã hội châu Âu lục địa” của Pháp 58

2.3.3 Mô hình Xã hội dân sự “dân chủ xã hội” của Thụy Điển 65

Trang 2

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.3.4 Mô hình Xã hội dân sự theo mô hình tân tự do ở Liên hiệp Anh 70

2.4 Tiểu kết 74

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VỀ MÔ HÌNH XÃ HỘI DÂN SỰ Ở CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 76

3.1 Những mặt tích cực và hạn chế của mô hình Xã hội dân sự ở châu Âu 76

3.1.1 Mặt tích cực 76

3.1.2 Mặt hạn chế 81

3.2 Xu thế phát triển Xã hội dân sự ở Liên minh châu Âu trong tương lai 83

3.2.1 Triển vọng phát triển của mô hình Xã hội dân sự 83

3.2.2 Những thách thức đối với sự phát triển của Xã hội dân sự 84

3.3 Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các tổ chức Xã hội dân sự ở Việt Nam 86 3.3.1 Bối cảnh lịch sử của Xã hội dân sự ở Việt Nam 86

3.3.2 Sự phát triển của Xã hội dân sự ở Việt Nam 87

3.3.3 Nhìn nhận về Xã hội dân sự ở Việt Nam và Xã hội dân sự ở châu Âu 89

3.3.4 Kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta 91

3.4 Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 3

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Bước đầu tìm hiểu mô hình Xã hội dân sự ở

châu Âu” được thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn

của thầy giáo – Th S Nguyễn Văn Vinh

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo Th.S

Nguyễn Văn Vinh – người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, trực tiếp và thường

xuyên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, các thầy cô giáo trong Khoa

Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn trong tập thể K34 Cử nhân

Lịch sử - những người luôn gần gũi, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề

tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả khóa luận

Đinh Thị Loan

Trang 4

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy giáo

Th.S Nguyễn Văn Vinh Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả khóa luận

Đinh Thị Loan

Trang 5

Khoá luận tốt nghiệp 1 Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kinh tế ngày một phát triển, đồng nghĩa là đời sống của nhân dân ngày một

nâng cao Việc quan tâm đến chất lượng cuộc sống, đến quyền con người, đáp ứng

nhu cầu lợi ích của cộng đồng, xây dựng một xã hội tốt đẹp là những xu hướng

chung mà các quốc gia hướng đến Hay nói cách khác, các quốc gia đang ngày càng

quan tâm đến việc thừa nhận giá trị và phát huy vai trò của Xã hội dân sự Thực tế,

ở nhiều quốc gia, Xã hội dân sự với cơ cấu thiết chế lành mạnh có vai trò rất lớn tới

nâng cao chất lượng cuộc sống, thông qua những tác động tích cực đến sự phát triển

của nền kinh tế thị trường, hoàn thiện nhà nước pháp quyền

Có thể nói, từ những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với việc tăng lên đáng kể

vai trò của nhà nước trong đời sống xã hội, thì vai trò của các tổ chức Xã hội dân sự

ngày càng được khẳng định Các tổ chức Xã hội dân sự đã phối hợp hoạt động hiệu

quả cùng với nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, bình

đẳng xã hội, dân chủ, đặc biệt là khuyến khích người dân vào quá trình hoạch định

và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội Xã hội dân sự xuất hiện lần đầu

tiên, phát triển mạnh mẽ, rộng khắp tại châu Âu Ở châu Âu, Xã hội dân sự thường

đi tiên phong tham gia giải quyết trong những vấn đề về giới, môi trường, nợ quốc

tế, gợi mở tranh luận chính sách toàn cầu, phản biện xã hội, kiến nghị các chính

sách bảo vệ các nhóm yếu thế, xây dựng “vốn xã hội” tham gia quản trị xã hội, thúc

đẩy sự giải trình của nhà nước về các vấn đề kinh tế - xã hội

Nghiên cứu từ nguồn gốc, sự hình thành và phát triển Xã hội dân sự ở châu

Âu nói chung và của từng quốc gia nói riêng, sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ

nhất về Xã hội dân sự

Xã hội dân sự là vấn đề không còn mới mẻ, xa lạ gì ở châu Âu, nhưng ở Việt

Nam đây còn là khái niệm khá lạ lẫm Nghiên cứu hoạt động Xã hội dân sự ở châu

Âu, chúng ta sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động Xã hội

dân sự trong nước, mà lực lương nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính

trị - xã hội khác

Trang 6

Khoá luận tốt nghiệp 2 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu về mô hình Xã

hội dân sự châu Âu” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu vấn đề Xã hội dân sự là một vấn đề mới, khá rộng, phức tạp Vì

vậy, các nghiên cứu về Xã hội dân sự của các học giả chủ yếu ở một khía cạnh, vấn

đề nào đó của Xã hội dân sự, mà ít có đề tài nào khái quát một cách hệ thống về vấn

đề Xã hội dân sự

Từ năm 2007 đến 2008, Tạp chí nghiên cứu châu Âu đã đưa ra nhiều các bài

viết về Xã hội dân sự ở châu Âu của PGS.TS Đinh Công Tuấn, GS.TS Nguyễn

Quang Thuấn.… Đây đều là những nghiên cứu về các hoạt động Xã hội dân sự ở

châu Âu nói chung, và ở từng quốc gia cụ thể

Năm 2008, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã hoàn thành một đề tài cấp Bộ

do PGS.TS Đinh Công Tuấn chủ biên Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ

thống từ khái niệm cơ bản đến sự hình thành, phát triển, và hoạt động của Xã hội

dân sự ở châu Âu

Ngoài ra, nghiên cứu Xã hội dân sự châu Âu còn có sự tham gia của các nhà

nghiên cứu nước ngoài như Anheier H.K, TS Norlund (Viện nghiên cứu các nước

Bắc Âu về Châu Á)… đó đều là những bài viết có chất lượng về Xã hội dân sự ở

châu Âu, đồng thời dự báo về sự phát triển của mô hình xã hội này

Bên cạnh đó, những nghiên cứu về Xã hội dân sự cũng được đăng tải trên

các báo, tạp chí chuyên ngành, như Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Khoa

học xã hội, Tạp chí Triết học…

Những nguồn tư liệu trên giúp ích cho tôi rất nhiều quý để tôi rất nhiều để

hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu mô hình Xã hội dân sự ở

châu Âu” một cách có hệ thống và toàn diện hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đề cao vai trò của Xã hội dân sự đối với xã

hội, những mặt tích cực của mô hình xã hội này Qua đó, cho thấy sự cần thiết phát

triển, thúc đẩy các hoạt động Xã hội dân sự hơn nữa

Trang 7

Khoá luận tốt nghiệp 3 Trường ĐHSP Hà Nội 2

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu thành một hệ thống từ nguồn gốc, quá trình hình thành, phát

triển của Xã hội dân sự ở châu Âu, một số mẫu hình Xã hội dân sự châu Âu tiêu

biểu Qua đó, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế cũng như triển vọng phát triển của

mô hình này Từ đó, rút ra những kinh nghiệm đổi với việc tổ chức, hoạt động Xã

hội dân sự tại Việt Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: Nghiên cứu về mô hình Xã hội dân sự ở châu Âu, trong đó chú

ý đến một số mô hình tiêu biểu của các quốc gia như Thụy Điển, Đức, Anh, Pháp

Là một đề tài nghiên cứu mang tính tổng hợp, có hệ thống về Xã hội dân sự

từ nguồn gốc, đến sự hình thành, phát triển của mô hình Xã hội dân sự Trong phạm

vi của bài khóa luận tốt nghiệp, tôi nhấn mạnh đến sự phát triển của Xã hội dân sự ở

giai đoạn hiện đại

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu:

Để hoàn thành khóa luận này, tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau:

+ Các công trình nghiên cứu về Xã hội dân sự PGS.TS Đinh Công Tuấn,

GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS.TS Trần Hữu Quang…

+ Các cuốn sách, bài viết về Xã hội dân sự ở châu Âu và Xã hội dân sự ở

Việt Nam ở Thư viện Quốc gia và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

+ Các báo, tạp chí như Tạp chí nghiên cứu châu Âu, Tạp chí Đông Nam Á…

lưu tại trường tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Viện nghiên cứu châu Âu

+ Các bài viết đăng trên các trang web như:

http://www.civicus.org

http://www.tapchicongsan.org.vn

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Khóa luận sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và

phương pháp logic Ngoài ra còn có cách phương pháp khác như: so sánh, đối

chiếu, tổng hợp, chọn lọc và xử lí tài liệu

Trang 8

Khoá luận tốt nghiệp 4 Trường ĐHSP Hà Nội 2

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã nghiên cứu một cách hệ thống về Xã hội dân sự ở châu Âu, quá

trình hình thành, phát triển của mô hình Xã hội dân sự Và khóa luận đã cung cấp

một số hiểu biết về hoạt động Xã hội dân sự ở Việt Nam, những vấn đề cần thực

hiện của các tổ chức Xã hội dân sự ở nước ta

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về Xã hội dân sự

Chương 2: Xây dựng Xã hội dân sự ở châu Âu

Chương 3: Đánh giá mô hình Xã hội dân sự ở châu Âu và bài học kinh

nghiệm đối với Việt Nam

Trang 9

Khoá luận tốt nghiệp 5 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

1.1 NGUỒN GỐC THUẬT NGỮ XÃ HỘI DÂN SỰ

Hy Lạp cổ đại: các thành bang Hy Lạp cổ và các đô thị La Mã cổ với những “công

dân tự do” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Thuật ngữ Xã hội dân sự, theo tiếng

Hy Lạp là koinonia politiké (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civil society và

trong tiếng Nga grazhdanskoe obchtsestvo, có khi nó được dịch thành xã hội công

dân để nhấn mạnh đến vị trí của các công dân trong xã hội)

Có rất nhiều nhận định và bàn luận khác nhau về nội hàm và ngoại diên của

khái niệm Trong tiếng Việt, các cụm từ "Xã hội dân sự" và "Xã hội công dân"

thường được dùng để biểu thị khái niệm civil society trong tiếng Anh, société civile

trong tiếng Pháp, hay bürgerliche Gesellschaft trong tiếng Đức

Thực ra, tính từ civil (dân sự, hay dân chính, hay thuộc về lĩnh vực công dân)

có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo văn cảnh sử dụng Nó có thể được

hiểu là đối lập với cái gì thuộc về tôn giáo (religious), đối lập với lĩnh vực quân sự

(military), hay trong luật học là đối lập với hình sự (penal) hay thương mại

(commercial), trong chiến tranh thì được hiểu là nội chiến (civil war) đối lập với

chiến tranh, hay còn có thể hiểu theo nghĩa là văn minh, lịch sự (cùng gốc với chữ

civilized) đối lập với cái gì hoang dã, thô lỗ, và cuối cùng cũng có nghĩa là lĩnh vực

dân sự đối lập với lĩnh vực chính trị (political)

Trong tiếng Đức, tính từ bürgerliche (trong cụm từ bürgerliche Gesellschaft

mà Georg F Hegel và Karl Marx sử dụng) xuất phát từ chữ Bürger (tương ứng với

chữ bourgeois trong tiếng Pháp hay tiếng Anh) là một thuật ngữ khó tìm được một

chữ tương đương duy nhất trong tiếng Việt, và cần được hiểu và được dịch theo

từng văn cảnh, chứ không thể chỉ đơn giản dùng chữ “tư sản” Ở châu Âu ngày xưa,

chữ Bürger hay bourgeois thoạt đầu là kẻ bảo vệ một lâu đài hay một thị tứ (Burg,

bourg), rồi từ thế kỷ XII, trong thời trung cổ, là cư dân ở đô thị, gần với nghĩa “thị

Trang 10

Khoá luận tốt nghiệp 6 Trường ĐHSP Hà Nội 2

dân” Nó còn có nghĩa là citizen “thường dân” tức những tầng lớp không thuộc hàng

giáo sĩ (tăng lữ) mà cũng không phải là quí tộc hay quan lại, nhưng có tài sản và

không phải sống bằng lao động chân tay Nhưng, kể từ Hegel, nó lại được phân biệt

với citoyen (từ La Tinh: civis), tức với “công dân” của một “nhà nước”, xuất phát từ

quan niệm của Hegel về Xã hội dân sự Hegel coi "Xã hội dân sự" là lĩnh vực nằm

ngoài nhà nước và ngoài gia đình, ông coi đây là lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội

của những cá nhân với nhau, trong khi nhà nước có mục đích cao hơn nhiều so với

sự điều tiết những quan hệ giữa những cá nhân trong Xã hội dân sự “Xã hội dân

sự” biến cá nhân thành một Bürger, còn “nhà nước” biến cá nhân thành một citoyen,

tức thành một công dân của một nhà nước nhất định như nước Pháp, nước Phổ, chứ

không đơn thuần là một Bürger (trader) có thể làm ăn buôn bán với cả người Pháp

lẫn người Phổ Nhưng chữ Bürger trong tiếng Đức hiện nay lại chỉ có nghĩa là

“người công dân”, còn bürgerliche Gesellschaft có nghĩa là “Xã hội tư sản” hay

“Xã hội dân sự”

Ở Tây Âu, thuật ngữ civil society kể từ khi ra đời tới nay thực ra là một thuật

ngữ khá mơ hồ và đa nghĩa, thậm chí có thể mang những nội hàm trái ngược hẳn nhau,

tùy theo từng tác giả và vào từng thời kỳ lịch sử, và gần đây được cả những người phe

tả lẫn phe hữu sử dụng theo những ý nghĩa khác nhau nhằm biện hộ cho các quan điểm

của mình, đến mức mà cụm từ này gần như trở thành một thứ khẩu hiệu thời trang hay

đồ trang sức Xung quanh thuật ngữ này có nhiều quan điểm khác nhau Các triết gia từ

cổ đại đến hiện đại đều đã đưa ra những nhận định khác nhau về khái niệm Xã hội dân

sự Và mỗi một thời kỳ lịch sử lại đưa ra những cách hiểu khác nhau về nội hàm khái

niệm Xã hội dân sự Như vậy, bản thân khái niệm Xã hội dân sự cũng có một lịch sử

riêng, nó biến đổi qua từng thời kỳ lịch sử từ cổ đại đến hiện đại Hay nói cách khác

tìm hiểu các quan điểm về Xã hội dân sự qua từng thời kỳ cổ đại đến hiện đại cho thấy

sự hình thành, phát triển của thuật ngữ Xã hội dân sự

1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

1.2.1 Quan điểm cổ điển về Xã hội dân sự

Trong các tác phẩm kinh điển của các nhà tư tưởng triết học, chính trị học,

có nhiều bàn luận về nội hàm khái niệm Xã hội dân sự

Trang 11

Khoá luận tốt nghiệp 7 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Theo Guy Berger, tựu trung chúng ta có thể phân biệt được sáu quan niệm

chủ yếu sau đây về Xã hội dân sự (société civile):

Trước hết là quan niệm theo truyền thống Aristot do Thomas d’Aquin lấy lại

và khai triển, đó là quan niệm về một tập hợp con người hoàn chỉnh, có thể tự nuôi

sống mình, mang mục tiêu đem lại hạnh phúc trần thế cho con người và sự hòa

thuận giữa các thành viên với nhau.1

Thứ hai là các định nghĩa của Hobbes, Locke và Rousseau Xã hội dân sự là

một tập hợp con người ở trình độ cao, phát sinh từ ý chí của các cá nhân và được

thiết lập vì lợi ích chung nhằm giúp cho các cá nhân và gia đình thoát ra khỏi tình

trạng tự nhiên (état de nature)

Thứ ba là định nghĩa của Hegel Xã hội dân sự là một giai đoạn của trật tự

đạo đức, được thiết lập trong kỷ nguyên hiện đại, nằm giữa tập hợp tự nhiên là gia

đình và nhà nước

Thứ tư là định nghĩa của K.Marx: đó là một xã hội phi chính trị được cấu

trúc bởi các quan hệ kinh tế và hệ thống các giai cấp

Thứ năm là định nghĩa của Gramsci: đó là toàn bộ các định chế và các nhóm

xã hội chi phối và thống lãnh hệ tư tưởng

Thứ sáu là quan niệm của các nhà tư tưởng Ba Lan khi họ phê phán chế độ

toàn trị: Xã hội dân sự là toàn thể xã hội với tất cả các thành tố của mình trong

chừng mực mà những thành tố này chỉ theo đuổi những mục tiêu tự nhiên

Ở La Mã vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, Cicero (106-43 trước Công

nguyên) đã từng dùng từ societas civilis (tiếng La tinh) để nói về res publica (có

nghĩa là việc công, nhà nước, hay đời sống chính trị) hoặc nói về đô thị, xét như

một thực thể được hợp nhất trong cùng một nền luật pháp: "Lex est civilis societatis

vinculum" ("Luật pháp là sợi dây liên kết xã hội dân sự" Đối với Cicero, societas

1

Theo Guy Berger, « La société civile et son discours » (từ bài I đến bài VI,) trong Commentaire, từ số 46 đến số 52,

năm 1989 – 1990 Dẫn lại theo theo Trần Hữu Quang, (20090, “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”,

Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 4

Trang 12

Khoá luận tốt nghiệp 8 Trường ĐHSP Hà Nội 2

civilis là cộng đồng được tổ chức về mặt chính trị và về mặt pháp lý, khác với nhân

loại nói chung hay xã hội con người nói chung.2

Vào năm 1677, nhà tư tưởng người Pháp Bossuet (1627-1704) định nghĩa

cụm từ "société civile" phần nào tương tự như ý niệm của Cicero nói trên: đó là "xã

hội con người hợp nhất với nhau dưới cùng một chính quyền và cùng các luật lệ".3

Theo François Rangeon, chúng ta cũng có thể nhận diện bốn nhóm quan

niệm khác nhau về Xã hội dân sự nơi các tác giả cổ điển Tây phương như sau: 1)

quan niệm đồng hóa Xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia (State hay État); 2) Xã

hội dân sự là xã hội thị trường; 3) Xã hội dân sự tách khỏi nhà nước; và 4) Xã hội

dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản.4

Đồng hóa Xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia

Ở đây, thoạt tiên chúng ta cần lưu ý rằng chữ État trong tiếng Pháp hay chữ

State trong tiếng Anh không phải chỉ có nghĩa là "nhà nước", mà còn có nghĩa là

"quốc gia" hay "nước" Vì thế, quan niệm coi Xã hội dân sự như đồng hóa với État

hay State ở đây là hiểu theo nghĩa rộng, chứ không phải là "nhà nước" theo nghĩa là

một bộ máy chính quyền

Khái niệm Xã hội dân sự trong thế kỷ XVII ở Tây Âu gắn liền chặt chẽ với

những ý niệm liên quan tới quốc gia, dân tộc hay tổ quốc Theo Z.A Pelczynski,

với tư tưởng đề cao ý niệm quốc gia-dân tộc (nation-state) và chủ nghĩa quốc gia

(nationalism), giai cấp tư sản Âu châu vào các thế kỷ XVIII và XIX đã khai triển ý

niệm Xã hội dân sự trong các phân tích triết học và chính trị học, và quan niệm rằng

Xã hội dân sự cần được xem như một yếu tố hiện đại quan trọng nhằm thực hiện

một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ nền dân chủ tự do

quốc gia

Nhà chính trị và nhà tư tưởng người Anh Thomas Hobbes (1588-1679) được

coi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Xã hội dân sự" (societas civilis) theo nghĩa

2

Rangeon Francois, “Société civile: histoire d’un mot”, in Jacques Chevalier et al., La soci é té civie, Paris,

Presses Universitaires de France,1986, tr 11 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, (2009), “Một số quan niệm cổ

điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 5

3 Rangeon, 1986, tr 12.tldd tr 6

4

Rangeon, 1986, tr 12-27, tldd tr 7

Trang 13

Khoá luận tốt nghiệp 9 Trường ĐHSP Hà Nội 2

đối lập với "tình trạng tự nhiên" (status naturae) trong quyển De Cive xuất bản năm

1649 Trong quyển Elements of Law (1640), Hobbes đã sử dụng cụm từ civil society

để dịch chữ Hy Lạp polis (đô thị): nhưng theo Hobbes, khác với đô thị Hy Lạp cổ,

"Xã hội dân sự" không phải là một xã hội tự nhiên, mà ngược lại, là kết quả của một

sự sáng tạo, một sự quyết định của các cá nhân nhằm mục tiêu tạo nên một trật tự

chính trị ổn định và thuận hòa Hobbes phân biệt "Xã hội dân sự" một mặt với tình

trạng tự nhiên trong đó "mọi người chống lại mọi người" (Bellum omnium contra

omnes), và mặt khác, với những xã hội tự nhiên mà Hobbes cho là được cấu tạo nên

bởi các gia đình

Nhà luật học và sử học người Đức Samuel Pufendorf (1632-1694) trong

quyển De jure naturae et gentium (Bàn về luật pháp của tự nhiên và của người dân)

đã phát triển ý tưởng của Hobbes và đồng hóa Xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia

Cũng đi theo chiều hướng của Hobbes và Pufendorf, nhà triết học người Anh

John Locke (1632-1704) cũng phân biệt giữa Xã hội dân sự vốn là cái "được thiết

lập", "được cấu tạo", với tình trạng tự nhiên vốn là nơi chứa đựng nhiều cái xấu Tuy

nhiên, nếu Hobbes coi Xã hội dân sự có mục tiêu đầu tiên là đảm bảo sự thuận hòa và

sự an ninh cho các thành viên, thì Locke lại coi "mục tiêu chính yếu [của Xã hội dân

sự] là bảo vệ quyền sở hữu" Như vậy, theo Locke, "Xã hội dân sự", ngoài trật tự

pháp lý (hay chính trị, như trong định nghĩa của Hobbes), còn mang ý nghĩa của một

trật tự kinh tế

Tương tự như Hobbes và Locke, nhà triết học Pháp Jean-Jacques Rousseau

(1712-1778) cũng gắn liền Xã hội dân sự với nhà nước /quốc gia, nhưng nhấn mạnh

thêm khía cạnh sở hữu tư nhân : "Người đầu tiên nào có một miếng đất rào kín và

biết nói được rằng đất này là của tô i thì đó là kẻ sáng lập thực thụ của Xã hội dân

sự"

Xã hội dân sự là xã hội thị trường

Năm 1714, Bernard Mandeville (1670-1733), một nhà tư tưởng gốc Hà Lan

sinh sống ở Anh, xuất bản tác phẩm The Fable of the Bees (Ngụ ngôn về những con

ong), trong đó ông đưa ra một quan niệm mới về Xã hội dân sự, coi đây là nơi của

Trang 14

Khoá luận tốt nghiệp 10 Trường ĐHSP Hà Nội 2

các lợi ích và các nhu cầu P.F.Moreau viết như sau: "Theo Mandeville, thuật ngữ

Xã hội dân sự vốn từ lâu được coi là đồng nghĩa với xã hội chính trị có xu hướng

tách ra khỏi ý nghĩa này v à biểu thị vô số những mối quan hệ trao đổi, tiêu thụ và

lợi ích vốn được coi là dệt nên mạng lưới xã hội".5 Luận điểm chính của Mandeville

là cho rằng: lợi ích chung có thể đạt được mà không phụ thuộc vào ý muốn riêng

của các cá nhân; mỗi người theo đuổi lợi ích riêng của mình và qua đó, góp phần

vào lợi ích của mọi người mà không hề mong muốn

Adam Ferguson (1723-1816), một nhà tư tưởng người Anh, cho rằng Xã hội

dân sự là "kết quả của hoạt động của con người, chứ không phải của ý định của con

người"6 Ông còn coi "civil society" là một trạng thái của "tính văn minh" (civility)

và là kết quả của quá trình văn minh hóa (civilization), trái với xã hội thô lỗ, man rợ

trong một tình trạng chuyên chế (despotic state) Cả Mandeville và Ferguson đều

cho rằng Xã hội dân sự không xuất phát từ sự chủ định của con người, mà là từ sự

vận động tự phát của các lợi ích, các nhu cầu và các tham vọng của con người Ở

đây, chúng ta thấy thuật ngữ Xã hội dân sự đã chuyển từ khái niệm "Xã hội dân sự

mang tính quốc gia/nhà nước" (société civile étatique) nơi những tác giả như

Hobbes hay Locke, sang khái niệm "Xã hội dân sự mang tính thị trường" (société

civile commerçante hay marchand)

Nhà triết học và kinh tế học người Anh, Adam Smith (1723-1790), trong

quyển An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (Tìm hiểu về

bản chất và nguồn gốc của sự thịnh vượng của các quốc gia) (1776) không lần nào

sử dụng thuật ngữ "civil society" mà chỉ dùng gọn chữ "society", có lẽ vì muốn

tránh né tính từ "civil" vốn lúc ấy có thể gây hiểu lầm vì còn mang nặng hàm ý quốc

gia/nhà nước Tuy vậy, theo Pierre Rosanvallon, chúng ta có thể hiểu "xã hội" mà

Smith nói tới chính là "Xã hội dân sự" Adam Smith hiểu đây là một xã hội của sự

trao đổi thương mại, một cơ chế trong đó các lợi ích tự chúng phối hợp hài hòa với

5 P.F Moreau « Société civile et civillisation », in F>Chatelet, Histoire dé idéologies, Hachette, 1978, Dẫn

lại theo Trần Hữu Quang, 2009, “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số

07 (131), tr 6

6 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, (2009), “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã

hội số 07 (131), tr 6

Trang 15

Khoá luận tốt nghiệp 11 Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhau ngoài ý muốn chủ định của các cá nhân Xã hội này có những qui luật riêng

của nó, đó là những qui luật của lợi ích riêng tư, của sự trao đổi, của các nhu cầu,

mà nhà nước hoàn toàn không nên can thiệp vào Theo Adam Smith, nhà nước chỉ

có ba chức năng hay ba "bổn phận" chính: bảo đảm an ninh đối với bên ngoài, duy

trì trật tự đối với bên trong, và "đảm đương một số công trình công cộng" mà tư

nhân không thể đảm đương nổi

Xã hội dân sự tách khỏi nhà nước

Khác với nhiều nhà tư tưởng của thế kỷ XVIII vốn chỉ chú trọng tới khía cạnh

kinh tế của Xã hội dân sự, nhà triết học Đức Immanuel Kant (1724-1804) nhấn mạnh

tới khía cạnh pháp lý Ông cho rằng Xã hội dân sự là lĩnh vực của luật pháp, kể cả công

pháp lẫn tư pháp Ông viết trong công trình Schriften zur Rechtstheorie (Những bài

viết về lý thuyết pháp quyền): "Những thành viên tập hợp trong xã hội ấy (societas

civilis), nghĩa là trong đô thị, nhằm vào pháp chế, thì được gọi là công dân" Ông còn

nói thêm rằng "Xã hội dân sự [đảm bảo] cái của-tôi, cái của-anh, bằng các luật lệ nhà

nước"7

Còn trong quyển Kritik der Urteilskraft (Phê phán năng lực phán đoán) (1790),

Kant đã mô tả như sau về Xã hội dân sự: " việc sắp xếp các mối quan hệ giữa con

người với nhau, sao cho pháp quyền (gesetzmässige Gewalt) trong một cái toàn bộ -

mà ta gọi là Xã hội dân sự (bürgerliche Gesellschaft) - đối lập lại sự lạm dụng của các

quyền tự do đang xung đột nhau; và, chỉ trong một xã hội như thế, sự phát triển tối đa

những tố chất tự nhiên mới diễn ra được »8

Trong thế kỷ XVIII, chính nhờ sự phát triển của các bộ luật, nên khái niệm

Xã hội dân sự bắt đầu có cơ sở cắt đứt sợi dây để thoát ra khỏi ý niệm nhà

nước/quốc gia, và kể từ đây, người ta thấy xuất hiện cặp khái niệm đối lập dân

sự/chính trị (civil/politique) – khác hẳn quan niệm về sự đồng hóa giữa Xã hội dân

sự với xã hội chính trị hay với nhà nước /quốc gia như trước kia Tác giả thể hiện rõ

sự đoạn tuyệt này là nhà chính trị và nhà tư tưởng người Pháp -Thụy Sĩ Benjamin

Constant (1767-1830) Sự xuất hiện của Xã hội dân sự trong tư thế độc lập với nhà

7 Immanuel Kant, Schriften zur Rechtstheorie Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, “Một số quan niêm cổ điển về

xã hội dân sự”, (2009), Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 7

8

I Manuel Kant, Phê phán năng lực phán đoán (Kritik der Urteilskraft), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải,

Hà Nội, Nxb Tri Thức, (2006), tr 468

Trang 16

Khoá luận tốt nghiệp 12 Trường ĐHSP Hà Nội 2

nước chính là một trong những điểm đặc trưng nhất của xã hội theo nền kinh tế tự

do Trong quyển De la liberté chez les Modernes (Bàn về tự do nơi các nhà tư tưởng

cận đại), B Constant tin tưởng rằng Xã hội dân sự hoàn toàn có thể tồn tại tự nó, và

ông đề cao quyền tự do dân sự (tức là quyền "được yên ổn hưởng quyền độc lập cá

nhân"), cho rằng nó quan trọng không thua kém gì so với các quyền tự do chính trị

Khác với nhiều tác giả trước, ông đảo ngược trật tự và cho rằng Xã hội dân sự quan

trọng hơn và có trước nhà nước xét về mặt bản thể học (ontologique) Nhà nước

xuất phát từ Xã hội dân sự, chứ không phải ngược lại Constant viết: "Kể từ khi có

xã hội, thì giữa con người với nhau hình thành nên một số mối liên hệ Các luật

lệ không phải là nguyên nhân của những mối liên hệ ấy – những mối liên hệ này

vốn có trước các luật lệ"9 Ông cho rằng chính sự tiến bộ của nền văn minh đã làm

cho Xã hội dân sự ngày càng tự trị so với nhà nước Nhưng theo Constant, quá trình

củng cố nhà nước diễn ra song song với quá trình tự trị hóa của Xã hội dân sự , chứ

hai quá trình này không hề loại trừ nhau , mà thậm chí còn bổ trợ cho nhau Khác

với quan điểm của nhiều nhà kinh tế theo chủ nghĩa tự do hiện nay, B Constant cho

rằng Xã hội dân sự và nhà nước không phải là hai lĩnh vực đối lập nhau, mà ngược

lại, còn "phối hợp" với nhau: muốn có một nhà nước mạnh, thì nhất thiết phải có

một Xã hội dân sự cường tráng

Xã hội dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản

Trong số các tác giả cổ điển, chính nhà triết học Đức Georg W F Hegel

(1770-1831) mới là người có công xác lập rõ rệt nhất khái niệm Xã hội dân sự theo

nghĩa hiện đại của thuật ngữ này Theo Pelczynski, sự tách biệt của Hegel về mặt

khái niệm giữa nhà nước với Xã hội dân sự đã tạo ra một trong những thay đổi nền

tảng quan trọng nhất trong ý thức Âu châu hiện đại Có thể nói một cách vắn tắt rằng,

theo Hegel, Xã hội dân sự (bürgerliche Gesellschaft) không phải được hình thành bởi

sự khế ước, mà là lĩnh vực của sự khế ước , nghĩa là lĩnh vực của sự liên kết tự

nguyện giữa các cá nhân Xã hội dân sự là một khía cạnh , một giai đoạn , hay một

"mô-men" của trật tự chính trị, mà khía cạnh khác của trật tự này chính là nhà nước

9 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, (2009), “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã

hội số 07 (131), tr 9

Trang 17

Khoá luận tốt nghiệp 13 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ảnh hưởng bởi tư tưởng của các nhà kinh tế học thế kỷ XVIII như Adam

Smith, Hegel cũng cho rằng Xã hội dân sự là lĩnh vực của các nhu cầu, của sự sản

xuất, và của sự phân công lao động Tuy nhiên, phần nào tương tự như Kant, ông

cũng nhấn mạnh ngay sau đó đến vị trí của luật pháp và của nhà nước trong sự hình

thành nên Xã hội dân sự Hegel viết trong quyển Grundlinien der Philosophie des

Rechts (Những nguyên lý của triết học pháp quyền) (1821): "Xã hội dân sự [là] một

sự liên hợp của những thành viên với tư cách là những cá nhân tự lực mưu sinh

[self-subsistent] trong một sự phổ quát [universality] vốn chỉ mang tính chất trừu

tượng, bởi tính chất tự lực mưu sinh của họ Sự liên hợp của họ là hệ quả phát sinh

từ các nhu cầu của họ, từ hệ thống luật pháp – phương tiện đảm bảo an ninh cho con

người và tài sản – và từ một tổ chức ngoại hiện [external organisation] nhằm đạt

được các lợi ích đặc thù và các lợi ích chung của họ".10

Khi ra khỏi gia đình, con người trở thành một người bourgeois (hiểu theo

nghĩa thị dân): Hegel ít khi sử dụng tiếng nước ngoài, nhưng ở mục §190 trong

quyển sách dẫn trên, ông cố ý dùng chữ bourgeois của tiếng Pháp ("der Bürger als

bourgeois") để phân biệt rõ với chữ Bürger theo nghĩa "công dân" (citizen hay

citoyen).11 Chính vì thế mà cụm từ bürgerliche Gesellschaft đối với Hegel gần với

nghĩa "xã hội thị dân" hơn Chữ bourgeois (thị dân) ở đây không phải là tư sản,

cũng không chỉ bao gồm các nhà buôn và các nhà công nghiệp, mà là bao gồm

chung mọi cá nhân chỉ quan tâm tới lợi ích riêng của mình (đối lập với "công dân",

là người quan tâm tới lợi ích công cộng

Theo Hegel, Xã hội dân sự là "giai đoạn của sự khác biệt nằm xen vào giữa

gia đình và nhà nước" Sự hình thành nên Xã hội dân sự là "một thành tựu của thế

giới hiện đại" Xã hội dân sự là nơi bao gồm những "con người" với tính cách là

những cá nhân vị kỷ vốn chỉ quan tâm tới những nhu cầu của mình mà thôi, trong

đó "mỗi cá nhân là cứu cánh của chính mình, ngoài ra mọi cái khác đều vô nghĩa

đối với anh ta" Thế nhưng chính là thông qua người khác, anh ta mới đạt được mục

tiêu của mình, và do đó, "một mục tiêu cụ thể khoác lấy hình thức phổ quát tính

10 Hegel, 1952, Philosophy of Right, translated by T.M knox, Clarendon Press, dẫn lại theo Trần Hữu

Quang, (2009),“Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 9

11

Hegel, 1952, phần ghi chú của Hegel cho mục §190, tlđd tr 9

Trang 18

Khoá luận tốt nghiệp 14 Trường ĐHSP Hà Nội 2

thông qua mối quan hệ với tha nhân" Chính là "vì tính đặc thù [particularity] bị

điều kiện hóa một cách tất yếu bởi tính phổ quát [universality], nên toàn bộ lĩnh vực

Xã hội dân sự là lãnh địa của sự trung giới [mediation]"12

Ông còn viết một câu tóm gọn như sau: "Trong luật học, đối tượng là nhân

thân [Person]; đứng trên quan điểm đạo đức, đó là chủ thể [Subjekt]; trong gia đình,

đó là thành viên gia đình [Familienglied]; trong Xã hội dân sự, đó là thị dân xét như

là người bourgeois [der Bürger (als bourgeois)] Ở đây, xét trên quan điểm các nhu

cầu, chính là cái biểu hiện cụ thể của cái biểu tượng mà chúng ta gọi là con người

[Mensch]; như vậy, trước hết ở đây và nói đúng ra thì cũng chỉ ở đây, mới nói tới

con người theo nghĩa này".13

Theo Hegel, Xã hội dân sự là mô-men (das Moment)14 trung gian giữa gia

đình và nhà nước trong tiến trình của trật tự đạo đức (Sittlichkeit); nói chính xác

hơn, gia đình là mô-men thứ nhất của trật tự đạo đức, Xã hội dân sự là mô-men thứ

hai, và nhà nước là mô-men thứ ba – mô-men cuối cùng và hoàn chỉnh nhất của

Sittlichkeit Đặc điểm của Xã hội dân sự là lĩnh vực bao hàm cả cái đặc thù lẫn cái

phổ quát Nhưng tính phổ quát chỉ đạt tới sự hoàn chỉnh ở mô-men nhà nước Vì

thế, theo Hegel, nhà nước mới chính là "nền tảng thực thụ" của cả gia đình lẫn Xã

hội dân sự, là giai đoạn, là mô-men phát triển cao nhất của trật tự đạo đức

(Sittlichkeit) Nhưng Hegel không quan niệm rằng Xã hội dân sự chỉ tồn tại trong

mối quan hệ với nhà nước; nó vẫn mang tính độc lập tương đối so với nhà nước Xã

hội dân sự không phải là một "tình trạng tự nhiên" trong đó mọi người chống lại

nhau, bellum omnium contra omnes; trong Xã hội dân sự, các thị dân đã tự tổ chức

12 Xem thêm đoạn diễn giải sau đây của Bùi Văn Nam và Nguyễn Ngọc Giao: “Trong xã hội hiện đại, quyền

và hạnh phúc cá nhân đã có được vị trí chính đáng độc lập với lợi ích của toàn bộ xã hội Việc theo đuổi lợi

ích của toàn bộ xã hội này đòi hỏi một loại định chế xã hội mới mẻ, trong đó sự tham gia của cá nhân trong

đời sống xã hội phải được trung giới thông qua ý chí tự do lựa chọn của cá nhân diễn đạt được ý kiến chủ

quan của cá nhân (sđd §206) Hegel gọi định chế xã hội mới mẻ ấy là bu¨rgerliche Gesellschaft” (Nguyễn

Ngọc Giao, 2009)

13 Hegel, 1986, Principes de la Philosophie du Droit, traduit pả Robert Derathe, Librairie Philosophique J

Vrin Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, “Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội

số 07 (131), 2009, tr 10

14 “Das Moment” là một chữ khó dịch và được nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn dùng chữ phiên âm là “mô –

men”, với lời giải thích như sau: mô – men “vừa là yếu tố bản chất hay phương diện (Seite) của một toàn bộ

xét như một hệ thống tĩnh tại, vừa là một giai đoạn bản chất trong một toàn bộ xét như một tiến trình vận

động biện chứng” (xem Hegel, 2006, chú thích số 8 của Bùi Văn Nam Sơn, tr 4-5)

Trang 19

Khoá luận tốt nghiệp 15 Trường ĐHSP Hà Nội 2

với nhau và đạt được một mức độ phổ quát nhất định, bao gồm các công ty, các hiệp

hội… Nhưng nó vẫn mang những nguy cơ tranh chấp và xung đột tiềm ẩn trong nội

bộ do các định chế tư nhân không phải lúc nào cũng giải quyết được ổn thỏa các

tranh chấp và đạt được lợi ích chung Chỉ có nhà nước mới xứng đáng là mô-men

"hòa giải" hiệu quả nhất các mối tranh chấp trong Xã hội dân sự

và XVIII vốn đồng hóa Xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia, Hegel coi Xã hội dân

sự là lĩnh vực của nhu cầu, chủ yếu dựa trên lối tư duy giác tính (Verstand,

understanding, entendement), nghĩa là tương đương với loại lương tri thông thường

(common sense) vốn hời hợt, mang nhiều định kiến, chỉ dựa trên kinh nghiệm, trong

khi nhà nước mới là lĩnh vực đặt nền tảng trên lý tính (Vernunft, reason, raison),

tức quan năng suy luận, có vai trò cao hơn giác tính, "có khả năng phản tư về những

nhận thức của giác tính và hướng dẫn nhận thức này vươn đến cái toàn bộ tuyệt đối

vượt ta khỏi các giới hạn của kinh nghiệm".15

Nói tóm lại, Hegel vừa nhấn mạnh đến tính chất độc lập lẫn tính chất phụ

thuộc của Xã hội dân sự đối với nhà nước Xã hội dân sự chỉ được hiện thực hóa

bằng một cái khác với nó, đó là nhà nước Đối với Hegel, Xã hội dân sự không phải

là nhà nước, nhưng đồng thời, xã hội dân sự chỉ tồn tại trong mối quan hệ với nhà

nước

Các Mác – một nhà tư tưởng, nhà kinh tế chính trị, nhà lãnh đạo cách mạng

thế kỷ XIX, trong các tác phẩm đầu tay, liên quan tới khái niệm Xã hội dân sự, Karl

Marx (1818-1883) viết như sau trong phần mở đầu cho quyển Góp phần phê phán

khoa kinh tế chính trị (1859): "Các công trình nghiên cứu của tôi đi đến kết quả này,

đó là: các mối quan hệ pháp lý – cũng như các hình thái của nhà nước – không thể

được giải thích nếu dựa vào chính chúng mà thôi, hay nếu dựa trên cái mà người ta

cho là sự tiến hóa chung của ý thức con người, nhưng ngược lại, phải xem chúng

như bắt nguồn từ trong những điều kiện vật chất sinh tồn mà Hegel, theo gương

những người Anh và người Pháp ở thế kỷ XVIII, gọi chung dưới cái tên 'Xã hội dân

15 Bùi Văn Nam Sơn, phần chú giải về sự phân biệt giữa khái niệm “giác tính” và khái niệm “lý tính” theo

Hegel (xem Hegel, 2006, tr 563-566)

Trang 20

Khoá luận tốt nghiệp 16 Trường ĐHSP Hà Nội 2

sự', và việc giải phẫu Xã hội dân sự, đến lượt nó, cần được tìm thấy trong môn kinh

tế học chính trị".16

Marx cho rằng nếu đối chiếu quan niệm của Hegel về Xã hội dân sự với Xã

hội dân sự và nhà nước trong thực tế, chúng ta sẽ thấy sự bất tương thích: nhà nước

không phải là nơi hiện thực hóa thực thụ sự tự do và lợi ích chung, mà Xã hội dân

sự cũng chẳng phải chỉ phụ thuộc một cách đơn giản vào nhà nước Marx đảo

ngược lại quan niệm về Xã hội dân sự của Hegel, và cho rằng nhà nước không phải

là nền tảng của Xã hội dân sự, mà ngược lại, chính Xã hội dân sự mới là nền tảng

trên đó nhà nước được thiết lập Trong quyển Góp phần phê phán triết học pháp

quyền của Hegel (1843), Marx viết như sau: "Gia đình và xã hội công dân được

Hê-ghen coi là những lĩnh vực của khái niệm nhà nước, cụ thể là những lĩnh vực của

giai đoạn hữu hạn của nhà nước, là tính hữu hạn của nhà nước ( ) Trên thực tế,

gia đình và xã hội công dân là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là

những yếu tố thật sự tích cực; nhưng trong tư duy tư biện thì tất cả điều đó đều bị

đặt lộn ngược ( ) nhà nước chính trị không thể tồn tại nếu không có cơ sở tự nhiên

là gia đình và cơ sở nhân tạo là xã hội công dân Chúng là conditio sine qua non -

điều kiện cần thiết của nhà nước Nhưng [ở Hê-ghen] điều kiện biến thành cái chịu

điều kiện, cái quy định biến thành cái bị quy định, cái sản sinh biến thành sản phẩm

của sản phẩm của nó".17

Marx cũng nhấn mạnh tới nội hàm kinh tế và khía cạnh phát triển của luật

pháp trong khái niệm Xã hội dân sự, coi đây như một bước phát triển "văn minh"

của xã hội, vì đã chuyển những "quan hệ cá nhân" sang những "quan hệ chung",

đồng thời nhờ có những "quan hệ pháp luật" mới nên đã vượt qua được "những biện

pháp dã man để thực hiện pháp luật" Điểm mới trong luận điểm của Marx về Xã

hội dân sự là nhấn mạnh tới sự xuất hiện của các "giai cấp" (Klasse) trong Xã hội

dân sự tư bản chủ nghĩa, xét như là một sự khác biệt căn bản so với sự tồn tại của

các "đẳng cấp" (Stand) trong các thể loại cộng đồng cổ truyền tiền tư bản chủ nghĩa

16

Phần "Préface", trong Marx, 1972 Contribution à la critique de l’économie politique, tradiut par Maurice

Husson, Paris, Esd Sociales, tr 18 Dẫn.lại theo Trần Hữu Quang, “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân

sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), 2009, tr 12

17 C Mác, 1995, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của He-ghen”, Cac Mac và ph Angghen toàn tập,

tập 1 NXB Chính trị quốc gia

Trang 21

Khoá luận tốt nghiệp 17 Trường ĐHSP Hà Nội 2

(Gemeinwesen) Marx và Engels viết như sau trong quyển Hệ tư tưởng Đức

(1845-1846): "Với sự phát triển của xã hội công dân, nghĩa là với sự phát triển của những

lợi ích cá nhân thành lợi ích giai cấp, những quan hệ pháp luật thay đổi và có một

hình thức văn minh Người ta không còn coi những quan hệ đó là những quan hệ cá

nhân mà là những quan hệ chung Đồng thời, do phân công lao động, việc bảo vệ

những lợi ích của những cá nhân riêng rẽ – những lợi ích này xung đột lẫn nhau, –

chuyển vào tay một số ít người cho nên biện pháp dã man để thực hiện pháp luật

cũng biến mất"18 Đồng ý với Hegel, Marx nhấn mạnh rằng sự xuất hiện của Xã hội

dân sự, hay nói cách khác, sự tách biệt giữa nhà nước với Xã hội dân sự, không phải

là một hiện tượng đương nhiên, phi thời gian, mà là một hiện tượng mang tính lịch

sử Trong thời trung cổ, chưa có Xã hội dân sự, cũng chưa có sự phân biệt giữa civil

(dân sự/thị dân) với politique (chính trị), bởi lẽ lúc ấy tất cả mọi lĩnh vực đều thuộc

về nhà nước, đều bị đồng nhất với chính trị Marx viết trong quyển Góp phần phê

phán triết học pháp quyền của Hegel: "Thời trung cổ đã có nông nô, sở hữu ruộng

đất phong kiến, phường hội thủ công, hội của các học giả v.v.; nghĩa là vào thời

trung cổ, sở hữu, thương nghiệp, đoàn thể xã hội, con người đều đã có tính chất

chính trị; ở đây nội dung vật chất của nhà nước được quy định bởi hình thức của

nhà nước Ở đây, mọi lĩnh vực tư nhân đều có tính chất chính trị, hoặc đều là lĩnh

vực chính trị; nói cách khác, chính trị cũng là tính chất của những lĩnh vực tư nhân

( ) Ở thời trung cổ, đời sống nhân dân và đời sống nhà nước là đồng nhất"19

Chỉ trong chế độ tư bản chủ nghĩa, nghĩa là vào "thời hiện đại" (modernen

Zeit), mới xuất hiện sự tách biệt giữa "đời sống nhà nước" với "đời sống tư nhân",

nghĩa là giữa nhà nước với Xã hội dân sự/thị dân

Nhưng khác hẳn với quan niệm của Hegel vốn coi Xã hội dân sự là một

"mô-men" của Ý niệm đạo đức, Marx quan niệm Xã hội dân sự là nơi diễn ra các mối

quan hệ xã hội, các mối quan hệ sản xuất, trong những điều kiện tồn tại vật chất của

các cá nhân, nơi biểu hiện thực thụ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trang 22

Khoá luận tốt nghiệp 18 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Theo Marx, Xã hội dân sự chỉ xuất hiện trong chế độ tư bản chủ nghĩa, từ khi giai

cấp tư sản nắm quyền thống trị Trong Hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels viết như

sau: "Xã hội công dân [bürgerliche Gesellschaft] bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật

chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản

xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn

đó và do đó, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc, mặc dù, mặt khác, về đối

ngoại nó vẫn phải hiện ra như là một dân tộc và về đối nội nó vẫn phải tự tổ chức

thành một nhà nước Thuật ngữ 'xã hội công dân' [bürgerliche Gesellschaft] xuất

hiện trong thế kỷ XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng

[Gemeinwesen] cổ đại và trung cổ Xã hội tư sản [bürgerliche Gesellschaft] với tính

cách là xã hội tư sản chỉ phát triển cùng với giai cấp tư sản [der Bourgeoisie]"20

Hiểu theo nghĩa đó, Xã hội dân sự không phải chỉ là nền tảng của nhà nước, mà còn

của toàn bộ lịch sử: " đó là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của toàn bộ lịch

sử"21

Điều này có nghĩa là , theo Marx, các sự kiện chính trị, những sự thay đổi về

luật pháp, những sự phát triển về văn hóa, chỉ có thể được giải thích nếu tìm về

ngọn nguồn của sự phát triển của cấu trúc của Xã hội dân sự, nơi diễn ra những

cuộc xung đột cũng như đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng

Tựu trung, Marx nhìn Xã hội dân sự dưới hai khía cạnh: một mặt, nó là nền

tảng hiện thực và vật chất của nhà nước, mặt khác, nó là mặt đối lập với nhà nước

Hay cũng có thể nói, theo lời một tác giả, rằng Marx có hai quan niệm về Xã hội

dân sự, hay "hai lý thuyết về nhà nước".22

Xét về mặt kinh tế học, Xã hội dân sự là cơ sở hạ tầng trên đó xây dựng nên

kiến trúc chính trị nhà nước; theo nghĩa này , Xã hội dân sự chính là xã hội tư sản

nhìn dưới góc độ vận hành kinh tế-xã hội

Xét về mặt xã hội học, trong lịch sử nhà nước hiện đại (Marx lấy hai thí dụ là

nhà nước của Bonaparte và nhà nước Phổ), Xã hội dân sự chính là tổ chức xã hội

20

C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995, tr 51-52

21 C Mác và Ph Ăng-ghen, 1995, tr 51

22 Theo B.Badie, P.Birnbaum, Sociologie de l’Etat, Le livre de poche, coll Pluriel, 1983, tr 15, dẫn lại theo

Rangeon, 1986, tr26 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, 2009, “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân sự”, tạp

chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 13.

Trang 23

Khoá luận tốt nghiệp 19 Trường ĐHSP Hà Nội 2

vốn được hình thành từ quá trình biệt dị hóa (différentiation) của nhà nước Như

vậy, sự hình thành của Xã hội dân sự xét về mặt lịch sử đã diễn ra song hành với sự

hình thành của nhà nước hiện đại Và Xã hội dân sự có thể được hiểu theo hai

nghĩa: một mặt là Xã hội dân sự kinh tế (société civile économique), và mặt kia là

Xã hội dân sự chính trị (société civile politique) Chính là thiên về nghĩa thứ hai này

mà Gramsci đã khai triển khái niệm của mình về Xã hội dân sự

Nhà triết học và nhà chính trị mácxít người Ý Antonio Gramsci (1891-1937)

phân biệt giữa "Xã hội dân sự" với "Xã hội chính trị", tức là nhà nước Cho đến nay,

nhiều người thường lầm tưởng rằng quan niệm về "Xã hội dân sự" của Gramsci chỉ

thuộc về kiến trúc thượng tầng, khác với quan niệm của Marx cho rằng Xã hội dân

sự chủ yếu thuộc về cơ sở hạ tầng Nhưng theo Jacques Texier, Gramsci trong tập

các luận văn viết trong nhà tù phát xít đã có ít nhất hai cách hiểu về Xã hội dân sự

Cách thứ nhất là coi Xã hội dân sự như là nơi đấu tranh giành quyền "thống lãnh"

(hégémonie) về văn hóa - tư tưởng, và cách thứ hai coi đây là nơi diễn ra các hoạt

động kinh tế của một cấu trúc kinh tế nhất định

Theo Gramsci, Xã hội dân sự "nằm giữa cơ sở kinh tế và nhà nước với nền

pháp chế và sự cưỡng chế của mình".23

Ông coi Xã hội dân sự như một "tầng"

(étage) nằm trong lĩnh vực kiến trúc thượng tầng: "Người ta có thể hình dung hai

'tầng' chính trong các kiến trúc thượng tầng, một tầng mà người ta có thể gọi là tầng

'Xã hội dân sự', tức bao gồm các tổ chức thường gọi nôm na là 'tư nhân', và tầng 'xã

hội chính trị' hay nhà nước; [cả hai tầng này ] tương ứng với chức năng 'thống lãnh'

[hégémonie] mà nhóm thống trị thực thi đối với toàn bộ xã hội, và với chức năng

'thống trị trực tiếp' [domination directe] hay chỉ huy [commandement] vốn được

biểu hiện trong nhà nước và trong sự cai trị 'pháp lý’’.24

Ông coi Xã hội dân sự là lĩnh vực bao gồm những định chế "tư nhân"

(private) về mặt pháp lý như các giáo hội , các nhà trường , các phương tiện truyền

23

Gramsci, 1975, Gramsci dans le texte, francois Rici et Jean bramant (Ed), traduit pả J Bramant, G Moget,

A Mộn, F Ricci, Pái, Ed Sociales tr 270-271 dẫn lại theolại theo Trần Hữu Quang, 2009, “Một số quan

niêm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 14

24 Gramsci, 1975, tr 606-607 dẫn lại theo lại theo Trần Hữu Quang, 2009, “Một số quan niêm cổ điển về xã

hội dân sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), tr 14

Trang 24

Khoá luận tốt nghiệp 20 Trường ĐHSP Hà Nội 2

thông đại chúng và các nghiệp đoàn Trong các xã hội tư bản chủ nghĩa , những định

chế này đ ảm bảo sự "thống lãnh" (hégémonie) hoặc "lãnh đạo" của giai cấp tư sản

về mặt hệ tư tưởng, bên cạnh sự thống trị về mặt kinh tế và chính trị, bằng cách tạo

ra sự "đồng thuận" (consensus) của các giai cấp bị trị trong lòng Xã hội dân sự

Quan niệm này của Gramsci đã phát triển một cách phong phú và sâu sắc luận

điểm của Marx và Ănghen trong quyển Hệ tư tưởng Đức (1845): "Trong mọi thời

đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có

nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực

lượng tinh thần thống trị trong xã hội ( ) Chừng nào họ [tức giai cấp thống trị]

thống trị với tư cách là giai cấp và quyết định quy mô và phạm vi của một thời đại

lịch sử thì dĩ nhiên là họ thống trị về mọi mặt, cho nên ngoài ra, họ cũng thống trị

với tư cách là những người đang tư duy, là những người sản xuất ra tư tưởng, điều

tiết sự sản xuất và sự phân phối những tư tưởng của thời đại họ; bởi vậy, những tư

tưởng của họ là những tư tưởng thống trị của thời đại"25

Định nghĩa của Antonio Gramsci về Xã hội dân sự gần như luôn luôn đi đôi với, và chỉ có thể hiểu được,

trong mối quan hệ với khái niệm xã hội chính trị hay nhà nước Trong Các lá thư

trong tù, Gramsci cho rằng khái niệm nhà nước, vốn thường được hiểu như là sự

"chuyên chính", cần được hiểu là "sự cân bằng giữa Xã hội chính trị với Xã hội dân

sự, hay là sự thống lãnh (hégémonie) của một nhóm xã hội đối với toàn thể xã hội

quốc gia, một sự thống lãnh được thực hiện thông qua các tổ chức tư nhân như giáo

hội, các nghiệp đoàn, các nhà trường26…

Nếu đối với Marx, Xã hội dân sự là nơi biểu hiện tập trung nhất phương thức

sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì đối với Gramsci, Xã hội dân sự là nơi hiện thực hóa

chức năng "thống lãnh" về hệ tư tưởng cũng như về chính trị của nhà nước "Xã hội

chính trị" (tức nhà nước) là nơi thực hiện chức năng cưỡng chế, còn "Xã hội dân sự"

là nơi thực hiện chức năng quyền lực về mặt hệ tư tưởng Chính vì thế, theo ông,

"nhà nước chỉ là một đường hào tiền tiêu, phía sau nó mới là một chuỗi vững chắc

các chiến lũy và pháo đài" Tuy nhiên, theo Gramsci, cả Xã hội chính trị (tức nhà

25

C Mác và Ph Ăng-ghen, sđd, tr 66-67.

Trang 25

Khoá luận tốt nghiệp 21 Trường ĐHSP Hà Nội 2

nước theo nghĩa hẹp) và Xã hội dân sự đều thuộc về nhà nước "theo nghĩa rộng",

như ông tóm tắt trong câu sau: "Nhà nước/quốc gia [État] = Xã hội chính trị + Xã

hội dân sự, nghĩa là sự thống lãnh được bọc sắt bằng sự cưỡng chế".27

Như vậy, chúng ta có thể thấy định nghĩa của Gramsci về Xã hội dân sự chủ

yếu là một định nghĩa triết học chính trị hay xã hội học chính trị, và ông luôn luôn

phản bác quan niệm "duy kinh tế" về Xã hội dân sự vốn thường thấy nơi các nhà

kinh tế học theo trường phái tự do khi họ sử dụng quan niệm này để phủ nhận vai

trò điều tiết hay can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội Theo

Gramsci, sự phân biệt giữa Xã hội dân sự với nhà nước là một sự phân biệt về mặt

phương pháp luận, nghĩa là trên bình diện lý thuyết trừu tượng, còn trong thực tế,

Xã hội dân sự và nhà nước là hai cái luôn gắn quyện với nhau, xâm nhập vào nhau

Chúng ta có thể nhận thấy rằng, đến Gramsci, quan niệm về Xã hội dân sự đã

khác rất xa so với những định nghĩa ban đầu của John Locke hay Adam Smith

Thuật ngữ civil society từ chỗ mang nội hàm đồng hóa với nhà nước/quốc gia nơi

Pufendorf hay Locke nhằm thoát ra khỏi sự áp chế của những chế độ quân chủ và

thần quyền, chuyển sang nội hàm xã hội của những quan hệ thị trường nơi Ferguson

hay Adam Smith, rồi tách ra khỏi nhà nước kể từ Benjamin Constant và Hegel,

mang nội dung "xã hội thị dân" của những quan hệ kinh tế nơi Hegel, đến "xã hội tư

sản" mang nội dung đấu tranh giai cấp nơi Marx, để rồi cuối cùng mang nội dung

"Xã hội dân sự" mang tính chất chính trị và "thống lãnh" về mặt tư tưởng của giai

cấp tư sản nơi Gramsci

1.2.2 Quan điểm hiện đại về Xã hội dân sự

Ngày nay, nội dung của thuật ngữ Xã hội dân sự lại tiếp tục được biến đổi

mạnh mẽ Thay vào những hệ thống lý luận phức tạp của Hegel, Marx hay của

Gramsci về mối quan hệ giữa nhà nước với Xã hội dân sự; ngày nay, nhiều người

đưa ra những lập luận hết sức giản lược về sự đối lập giữa Xã hội dân sự với nhà

nước, cho rằng nhà nước là biểu tượng của cái xấu, và ngược lại, Xã hội dân sự là

27 Gramsci, 1975, tr 577 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, (2009), “Một số quan niêm cổ điển về xã hội dân

sự”, Tạp chí Khoa học xã hội số 07 (131), 2009, tr 16

Trang 26

Khoá luận tốt nghiệp 22 Trường ĐHSP Hà Nội 2

hình tượng lý tưởng của cái tốt Xã hội dân sự là nơi mang nhiều đức tính như sự

sáng tạo, tính năng động, tự do, tính liên đới, khả năng tự quản… đối lập với nhà

nước vốn mang tính quan liêu, xơ cứng, nặng nề, mất sức sống…

Một trong những nguồn gốc sâu xa của hiện tượng thoái hóa của khái niệm Xã

hội dân sự, hay của những quan niệm sai lầm về Xã hội dân sự, đó là sự lên ngôi

thống trị của những tư tưởng học thuyết tự do (liberalism) và tân tự do

(neoliberalism) trước sự thoái trào của các nước xã hội chủ nghĩa và sự “hụt hơi”

đuối sức của cánh tả ở Tây Âu Hay nói như Samir Amin, sự thống trị này diễn ra

trong bối cảnh mà quá trình nhất thể hóa kinh tế toàn cầu sau thế chiến thứ hai đã làm

sụp đổ ba trụ cột lớn trên thế giới, đó là mô hình Keynes ở các nước phương Tây, chủ

nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, và mô hình Bandung ở các nước phương Nam

Ngày nay, xuất hiện hai khuynh hướng giải thích về khái niệm Xã hội dân sự

của các tác giả theo Học thuyết tự do

Khuynh hướng thứ nhất: Họ đã cách ly và đặt cặp khái niệm nhà nước và Xã

hội dân sự thành hai vế đối lập một cách cực đoan bằng cách đặt nền tảng trên sự

đối lập giữa công và tư (public/private) Sự phân biệt giữa công và tư này chính là

sự “phân biệt mang tính quy tắc” (distinction canonique) trong học thuyết tự do

kinh tế Họ lập luận rằng lĩnh vực công (public) đồng hóa với lĩnh vực chính trị

(Political) còn lĩnh vực tư (private) thì đồng hóa với lĩnh vực kinh tế (economic), và

vì thế, lĩnh vực công chính là lĩnh vực của nhà nước (sate), còn lĩnh vực tư chính là

lĩnh vực của Xã hội dân sự (civil society) Cặp khái niệm công / tư được đồng hóa

về mặt ngữ nghĩa với cặp khái niệm nhà nước / Xã hội dân sự Học thuyết tự do cho

rằng: Nhà nước tự do và Xã hội dân sự là hai cái tách rời nhau Lĩnh vực nhà nước

là lĩnh vực của lợi ích chung, phúc lợi chung; còn lĩnh vực Xã hội dân sự là lĩnh vực

của những lợi ích tư nhân, những vấn đề riêng tư Theo Adam Smith, nếu can thiệp

vào đời sống kinh tế, nhà nước sẽ xâm phạm đến quyền tự do của các sở hữu chủ,

cản trở sự tự do trao đổi và do đó sẽ làm rối loạn trật tự hài hòa tự nhiên xuất phát

từ sự vận hành của thị trường Trong cặp khái niệm nhà nước / Xã hội dân sự, người

ta phải ưu tiên chú trọng tới Xã hội dân sự: Nhà nước có nhiệm vụ phục vụ cho Xã

hội dân sự, và chính trị phải phụ thuộc vào kinh tế Cũng theo Lochak, vì cách hiểu

Trang 27

Khoá luận tốt nghiệp 23 Trường ĐHSP Hà Nội 2

một cách máy móc cặp tính từ công/tư theo nghĩa nhà nước phi nhà nước mà quan

niệm của học thuyết tự do đã làm nghèo đi cặp khái niệm nhà nước/Xã hội dân sự

vốn từng được triển khai và diễn giải một cách hết sức phong phú bởi Hegel, Marx

hay Gramsci Và vì thế, mối quan hệ giữa Xã hội dân sự với nhà nước hoàn toàn

mất đi tính chất biện chứng, tác động lẫn nhau hoặc bổ trợ cho nhau, mà chỉ còn lại

sự đối lập máy móc giữa công và tư theo kiểu loại trừ nhau

Cũng nằm trong chiều hướng này, quan niệm sai lệch về Xã hội dân sự còn

có thể được biểu hiện qua định kiến về sự đối lập giữa thị trường và nhà nước, làm

như thể đây là hai lĩnh vực đối lập nhau, làm như thị trường hoàn toàn không có

quan hệ gì với nhà nước, và cho rằng nhà nước tự nó là xấu, là sự cưỡng chế, còn

thị trường tự nó là tốt, là nơi phát huy sự tự do, là nơi đẻ ra sự tự do Quan niệm này

cũng đồng hóa thị trường với Xã hội dân sự

Khuynh hướng thứ hai đó là việc huyền thoại hóa và công cụ hóa khái niệm

Xã hội dân sự Rangeon nhận xét rằng: Ngày nay, thuật ngữ Xã hội dân sự đã bị lột

bỏ hết mọi nội hàm của khái niệm để khoác lên mình cả một hệ thống giá trị hoa mỹ

mà người ta gán ghép cho nó, và do đó, nó biến thành một “huyền thoại” Và điều

này không phải là không có những hệ quả thực tiễn Thuật ngữ thường Xã hội dân sự

được nhiều người sử dụng như một trong những công cụ để phê phán nhà nước, để tố

cáo những sự can thiệp cụ thể của nhà nước Một trong những biểu hiện của hiện

tượng “huyền thoại” hóa khái niệm Xã hội dân sự đó là công cụ hóa khái niệm này,

tức là biến những khái niệm trừu tượng thành những công cụ cụ thể nhằm phục vụ

cho những mục tiêu cụ thể Xu hướng công cụ hóa, ít nhất là diễn ra theo hai xu

hướng: Hướng thứ nhất là quy giản và tầm thường hóa khái niệm trừu tượng về Xã

hội dân sự với tư cách là một “mô-men” nói theo Hegel, một “tầng” nói theo

Gramsci, hay như một khoảng không gian xã hội xét trong mối quan hệ hữu cơ với

nhà nước, thành một khái niệm chỉ còn bao gồm một số tổ chức xã hội cụ thể, hoặc là

xem Xã hội dân sự như là “người trung gian” giữa công dân với nhà nước, như một

“lực lượng đối trọng” hay một “bạn đối tác” với nhà nước, nghĩa là hoàn toàn tách rời

với nhà nước Hướng thứ hai là biến khái niệm Xã hội dân sự , vốn là một khái niệm

phân tích chỉ mang tính trung tính (neutre) thành gần như một thứ mô hình lý tưởng,

Trang 28

Khoá luận tốt nghiệp 24 Trường ĐHSP Hà Nội 2

mang đủ mọi phẩm chất tốt đẹp mà loài người ở thời đại nào cũng có thể mong muốn

và mơ ước Cả hai hướng trên đều nhằm mục tiêu sử dụng khái niệm Xã hội dân sự

đã được định nghĩa lại để làm công cụ hay phương tiện biện minh cho những ý thức

hệ ẩn tang hoặc cổ xúy cho những hoạt động thực tiễn nhất định

Về xu hướng biến Xã hội dân sự thành một thứ mô hình xã hội lý tưởng,

chúng ta có thể xem định nghĩa của Partha Chattrrjee: Xã hội dân sự bao gồm

“những định chế đặc trưng của đời sống hiệp hội hiện đại phát sinh từ các xã hội

Tây phương - những định chế này đặt nền tảng trên sự bình đẳng, sự tự trị, sự tự do

gia nhập và rời khỏi, những quy trình lấy quyết định dựa trên khế ước, những

quyền, và nghĩa vụ của thành viên và nhiều nguyên tắc khác tương tự”.28

Biểu hiện dễ thấy nhất của xu hướng công cụ hóa là việc định nghĩa coi Xã

hội dân sự như chỉ bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO – Non – govemmental

organization)29 của nhiều tổ chức quốc tế Ngân hàng thế giới (World Bank), chẳng

hạn, sử dụng thuật ngữ Xã hội dân sự để nói về toàn bộ các tổ chức phi chính phủ

và phi lợi nhuận đang hoạt động trong các lĩnh vực công cộng, biểu hiện các lợi ích

và các giá trị của các thành viên hoặc của những người khác, dựa trên những mối

quan tâm về mặt đạo đức, văn hóa, chính trị, khoa học, tôn giáo hay nhân đạo”

Cũng theo Ngân hàng thế giới, các tổ chức Xã hội dân sự (Civil Society

Organizatuions –CSO) bao gồm: Các nhóm cộng đồng, các nghiệp đoàn, các nhóm

người bản địa, các tổ chức từ thiện, các tổ chức tôn giáo, các hiệp hội nghề nghiệp,

và các quỹ tài trợ xã hội”.30

Tổ chức Civicus (World Alliance for Citizen Participation) thì tuy coi Xã hội

dân sự là “lãnh vực ở bên ngoài gia đình, nhà nước, và thị trường, nơi người dân kết

28 Partha Chatterjee, “On Civil and Political Society in Postolonial Democracies”, in Sudipta Kaviraj, Sunil

Khilnani (ED), Civil Socitey: History and Posibilities, Cambridge University Press, 2001, tr 172 (dẫn lại theo

Trần Hữu Quang, (2009), “ Một số quan niệm đương đại về xã hội dân sự”, Tạp chí khoa học xã hội, số 12

(136), tr 17

29 Trong khi đáng lý việc nói đến xã hội dân sự thực chất là nói đến mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, thì

nhiều tổ chức và nhiều học giả phương Tây thường bó hẹp khái niệm “xã hội dân sự” bằng cách định nghĩa

đồng hóa nó với các tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội (xem thêm Henry E.Hale, 2002)

30

xem http://www.worldbank.org

Trang 29

Khoá luận tốt nghiệp 25 Trường ĐHSP Hà Nội 2

hợp hoạt động nhằm thẳng tiến các lợi ích chung”, nhưng cũng vẫn đóng khung hạn

hẹp khái niệm Xã hội dân sự vào các “tổ chức Xã hội dân sự” khi mà sau đó,

Civicus cho rằng định nghĩa này bao phủ rộng hơn các “tổ chức Xã hội dân sự”

chính thức (CSO) và bao hàm cả những tổ chức và hiệp hội phi chính thức

(informal).31

“Cuốn sách trắng về sự quản trị” của Liên minh Châu Âu viết rằng “Xã hội

dân sự bao gồm đặc biệt các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân và của giới chủ…,

các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội nghề nghiệp, các hội từ thiện, các tổ chức cơ

sở, các tổ chức có sự tham gia của các công dân trong đời sống địa phương và thành

phố, với sự đóng góp đặc thù của các giáo hội và các công đoàn tôn giáo”,32 tức

cũng không bao gồm lĩnh vực kinh tế

Trung tâm nghiên cứu về Xã hội dân sự của ngôi trường danh tiếng London

School of Economics đưa ra một định nghĩa tương đối trừu tượng, nhưng vẫn loại

trừ lĩnh vực kinh tế ra ngoài: “Xã hội dân sự là (thuật ngữ) nói về phạm vi hoạt

động tập thể tự nguyện (uncoerced) có liên quan đến lợi ích, những mục tiêu và

những giá trị chung Về lý thuyết, các hình thức định chế của (Xã hội dân sự) khác

biệt với các hình thức định chế của nhà nước, gia đình, thị trường, mặc dù trong

thực tế, các ranh giới giữa nhà nước, Xã hội dân sự, gia đình và thị trường khá phức

tạp, và mù mờ và bị lấn qua lấn lại Xã hội dân sự thường bao trùm nhiều không

gian, nhiều tác nhân, và những hình thức định chế khác nhau, khác biệt nhau về

mức độ chính thức, mức độ tự trị, và mức độ quyền lực Xã hội dân sự thường bao

gồm những tổ chức như các hội từ thiện có đăng ký, các tổ chức phát triển phi chính

phủ, các nhóm cộng đồng, các tổ chức của phụ nữ, các tổ chức tôn giáo, các hiệp

hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã hội, các

hiệp hội kinh doanh, các liên minh và các nhóm vận động”.33

Trang 30

Khoá luận tốt nghiệp 26 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Một trong những biểu hiện của xu hướng “công cụ hóa” Xã hội dân sự còn là

quan niệm coi Xã hội dân sự như một “tác nhân xã hội” bên cạnh nhà nước và/hoặc

thị trường, cho dù coi đó là đối trọng hay là đối tác với nhà nước và /hoặc với thị

trường Văn bản dẫn trên của Ngân hàng Thế giới nói rõ rằng Xã hội dân sự là “một

khu vực đang nổi lên như một tác nhân xã hội (societal actor) trọn vẹn” tại nhiều

nơi trên thế giới.34

Có thể nói rằng, xung quanh thuật ngữ Xã hội dân sự có rất nhiều quan điểm,

nhận định khác nhau từ các triết gia cổ đến hiện đại Và theo Rangeon: “ [Vì] không

có một nội dung cố định, [nên] Xã hội dân sự đã khoác lấy những ý nghĩa khác

nhau trong suốt lịch sử thăng trầm của mình, một lịch sử trong đó nó không ngừng

bị giành giật và bị đánh giá lại trong chừng mực mà nó đang là một trong những chủ

đề của cuộc tranh luận chính trị hiện nay”35

1.3 KHÁI NIỆM XÃ HỘI DÂN SỰ

Khái niệm Xã hội dân sự có một quá trình ra đời và tồn tại khá phức tạp Nó

xuất hiện trong ngôn ngữ phương Tây từ cuối thế kỷ XVI và ở nước ta trong những

thập niên gần đây Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được nhận thức một cách đầy

đủ và đúng đắn Nghiên cứu các tài liệu hiện có cho thấy, có nhiều định nghĩa, ý

kiến khác nhau về Xã hội dân sự Mỗi cách tiếp cận đều có tính hợp lý của nó tùy

theo góc độ triết học, chính trị học, xã hội học,…

Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, Xã hội dân sự là lĩnh vực nơi mà mọi người

cùng nhau tìm kiếm lợi ích mà họ cho là cùng nhau chia sẻ chung, song không phải

về lợi nhuận hay quyền lực chính trị, mà do chủ yếu mọi người có quan tâm đặc biệt

về vấn đề nào đó để dẫn tới các hành động tập thể Đó là “Không gian hành động

mà con người không bị ép buộc”; là “động cơ, qua đó mọi người tiến hành hành

động như những nhân tố, chủ thể đạo đức”, là “mọi tổ chức và hiệp hội đứng trên

cấp độ gia đình và thấp hơn cấp độ nhà nước” Và sẽ chẳng có gì là bền vững nếu

nó không được bắt rễ nền móng từ cuộc sống đời thường hàng ngày của người dân

34 Xem mục “Defining Civil Society” trong http://www.worldbank.org

35 Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, (2009), “ Một số quan niệm đương đại về xã hội dân sự”, Tạp chí Khoa học

xã hội, số 12 (136), tr 35

Trang 31

Khoá luận tốt nghiệp 27 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đó chính là Xã hội dân sự, nơi tạo ra chất liệu “keo dính”, trên cơ sở đó mọi sự việc

được diễn ra Tuy nhiên, vượt lên trên khái niệm đơn giản này, vẫn còn nhiều bất

đồng tranh cãi diễn ra

Ở nghĩa chung nhất, Xã hội dân sự thường được hiểu là khoảng không gian

xã hội nằm giữa cá nhân, các nhóm huyết thống trực tiếp (gia đình) và chính quyền

(nhà nước)

Xã hội dân sự hàm ý là không gian tương tác xã hội phi kinh tế và phi nhà

nước, nhằm thể hiện các giá trị và các lợi ích của họ

Tác giả Anheier H.K định nghĩa: “Xã hội dân sự là lĩnh vực của các thiết

chế, tổ chức, nhóm cá nhân nằm trong khoảng không gian ở giữa gia đình, nhà

nước, thị trường, trong đó mọi người liên kết tự nguyện để thúc đẩy các lợi ích

chung”,36

qua đó tác giả nêu lên bốn bình diện tạo thành tứ giác đó là: Cấu trúc, môi

trường, giá trị, tác động của nó với xã hội Quan điểm của các nhà nghiên cứu lý

luận theo cách hiểu này thì các hiệp hội, nhóm liên kết, các thể chế độc lập nằm

trong khoảng không gian này Đó có thể là các tập đoàn sở hữu tư nhân, đến các tổ

chức hiệp hội tự nguyện, cứu trợ Xã hội dân sự được đặc trưng bởi tính tự chủ của

các tổ chức trung gian, độc lập với các hoạt động của nhà nước

Để hiểu rõ hơn khái niệm, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận khái niệm này

dưới nhiều góc độ khác nhau

Từ góc độ xã hội học, các nhà nghiên cứu đã lý giải và phân tích cấu trúc của xã

hội hiện tại tạo ra các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau, cho rằng có liên hệ tương tác

gồm hệ thống kinh tế, khoa học, giáo dục, truyền thông và văn hóa Và chính những hệ

thống này lại tương tác với gia đình, hệ thống chính trị và nhà nước Theo đó, đặc điểm

của Xã hội dân sự chính là “lĩnh vực đoàn kết, trong đó có tính cộng đồng phổ quát

dần dần được xác định và hình thành” Theo tiếp cận này, cũng tồn tại nhiều quan

điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, Xã hội dân sự là tập hợp các liên kết cộng

đồng, có tính độc lập, có “các nguyên tắc ứng xử văn hóa và các tư tưởng theo tinh

36 Dẫn lại theo Đinh Công Tuấn, (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở liên minh châu

Âu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr.25

Trang 32

Khoá luận tốt nghiệp 28 Trường ĐHSP Hà Nội 2

thần dân chủ” của riêng mình Ở đây không xem xét các bộ phận của Xã hội dân sự

như những thành tố xã hội mang tính độc lập, tự chủ tách biệt mà thường có tính liên

kết, tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong các lĩnh vực khác của xã hội Quan điểm khác

lại cho rằng, Xã hội dân sự – ám chỉ các cộng đồng đạo đức và có trách nhiệm với xã

hội, sự tin tưởng và hợp tác mà các nhóm, các tổ chức thực hiện Theo đó, mọi cộng

đồng người đều quan tâm tạo lập quan điểm riêng của mình về Xã hội dân sự

Những quan điểm lý luận trên có điểm mạnh là chúng không đề cao bất kỳ

hình thức hay khung mẫu nào về Xã hội dân sự và không xác định nó theo thuật ngữ

của thị trường hay sở hứu cá nhân Nó bao hàm các liên kết tương hỗ, mạng liên kết

không chính thức và hình thức hỗ trợ nhau và tránh được những hạn chế về loại Xã

hội dân sự do ảnh hưởng của kiểu định kiến sắc tộc, v.v của một số quốc gia

phương Tây

Tử góc độ của các nhà lý luận, phê phán, cho rằng sự phát triển Xã hội dân

sự gắn với phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự hình thành của nó phụ thuộc vào hệ

tư tưởng tư sản Ví dụ, nhấn mạnh sự hình thành hệ thống kinh tế được tách biệt bởi

sở hữu tư nhân và tiếp tục tìm kiếm lợi nhuận qua thị trường Có tác giả cho rằng

cấu trúc xã hội của Xã hội dân sự không phải là những đơn vị độc lập khỏi xã hội tư

sản mà chính là hình thức căn bản, dựa vào đó xã hội tư sản phát triển và đó là sản

phẩm hơn là nơi sản sinh ra giai cấp tư sản, nghĩa là về mặt hình thành thể chế, nó

đã có tính độc lập về hệ tư tưởng Hệ thống pháp lý cũng thúc đẩy quyền tư hữu và

do vậy cho phép tích lũy tư bản Như vậy, hệ thống kinh tế tư bản đứng trên, bao

trùm và quyết định các thành phần, lĩnh vực khác nhau trong xã hội

Theo hướng nghiên cứu khảo sát thực nghiệm Xã hội dân sự, tác giả Cesareo

đề xuất định nghĩa, Xã hội dân sự là “tập hợp của các hiệp hội tự nguyện, đa cấp và

khác nhau với các mức độ chính thức hóa, tự điều tiết, có tầm quan trọng công cộng

và liên quan đến lĩnh vực thể chế hóa của xã hội cụ thể”37

37 Dẫn lại theo Đinh Công Tuấn, (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở liên minh châu

Âu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr.26

Trang 33

Khoá luận tốt nghiệp 29 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ở cấp độ quốc tế, trong phạm vi dự án hợp tác điều tra, so sánh trên phạm vi

toàn cầu về các tổ chức Xã hội dân sự này, có ba loại định nghĩa về các tổ chức

thuộc khu vực “thứ ba”, “Xã hội dân sự”, “phi lợi nhuận” Thứ nhất, định nghĩa

kinh tế tập trung vào nguồn lực hỗ trợ tổ chức, theo đó tổ chức Xã hội dân sự là tổ

chức nhận phần lớn kinh phí từ các đóng góp tư nhân chứ không phải từ các giao

dịch thị trường hoặc hỗ trợ hoạt động từ chính phủ - được coi là thuộc khu vực tình

nguyện, hoặc “khu vực từ thiện” Thứ hai, định nghĩa này tập trung vào khía cạnh

pháp lý, địa vị pháp lý của tổ chức, theo đó tổ chức Xã hội dân sự là tổ chức có hình

thức pháp lý đặc biệt (hiệp hội hoặc quỹ, không bị đánh thuế ở một số hoạt động

hoặc được miễn phí hoàn toàn) Thứ ba, định nghĩa tập trung vào mục đích của tổ

chức, theo đó, là tổ chức thúc đẩy hoạt động công cộng, khuyến khích tạo quyền và

tham dự hoặc tìm kiếm cách thức, biện pháp giải quyết các vấn đề mang tính cấu

trúc của nghèo đói hoặc bất hạn (có thể gọi là tổ chức Xã hội dân sự , phi chính phủ,

hoặc từ thiện)

Theo định nghĩa thao tác - cấu trúc của khảo sát này, khu vực Xã hội dân sự

bao gồm các thành tố như tổ chức - cấu trúc và quy định hoạt động điều hành (chính

thức, hoặc không chính thức, pháp lý và không pháp lý) như nhóm không đăng ký,

phi chính thức, song tồn tại lâu dài, có quy tắc, hội họp định kỳ, có thành viên, có

cấu trúc ra quyết định, được các thành viên công nhận là hợp pháp; tính chất tư

nhân (không thuộc bộ máy nhà nước, mặc dù có thể nhận nguồn kinh phí của chính

phủ); không phân phối lợi nhuận (không vì mục tiêu kinh doanh, không chia lợi

nhuận cho giám đốc, người tham gia cổ phần hoặc cán bộ quản lý) Xã hội dân sự

có thể tạo ra lợi nhuận trong quá trình hoạt động, song các lợi nhuân chỉ phục vụ

cho mục tiêu của tổ chức, vì mục đích của công cộng Các thành viên tham gia

không nhằm hướng đến chia sẻ lợi nhuận; tính chất tự quản (cơ chế tự quản nội bộ,

tự quyết định ngừng hoạt động); tính tự nguyện (thành viên tham gia không bắt

buộc về pháp lý và không bị ép buộc, do quyết định của bản thân và sáng kiến cá

nhân)

Các tổ chức phi lợi nhuận được phân loại theo vai trò, chức năng, dịch vụ đa

dạng như văn hóa - giải trí, tôn giáo, vận động xã hội và bảo vệ môi trường, hiệp

Trang 34

Khoá luận tốt nghiệp 30 Trường ĐHSP Hà Nội 2

hội nghề nghiệp,… Trên cơ sở đó, tìm hiểu về phạm vi, cấu trúc, nguồn tài trợ hoạt

động, vai trò các tổ chức Xã hội dân sự; về quy mô, đặc điểm; đánh giá ảnh hưởng,

đóng góp, hạn chế của các tổ chức Xã hội dân sự, nâng cao nhận thức về các tổ

chức này và xây dựng năng lực địa phương nghiên cứu về các tổ chức Xã hội dân

sự … Lẽ dĩ nhiên, như mọi định nghĩa, định nghĩa này về Xã hội dân sự không thể

bao quát đủ được nội hàm và ngoại diên của khái niệm này

Tác giả Anheier H.K, đề xuất phương pháp tiếp cận đo đạc và đánh giá các

chiều cạnh, chỉ báo chính của Xã hội dân sự, thông qua khung khổ phân tích “hình

thoi Xã hội dân sự ”38 đó là: cấu trúc (cơ sở hạ tầng của tổ chức Xã hội dân sự),

không gian pháp lý/ chính trị (vấn đề quản trị), các giá trị (hệ thống giá trị) và tác

động (ảnh hưởng) của Xã hội dân sự trong quốc gia (về khía cạnh phát triển)

Về cấu trúc: đó là phạm vi của Xã hội dân sự (các thể chế, tổ chức, mạng

lưới và các cá nhân, các thành tố và nguồn lực để hoạt động)

Về các giá trị: gồm các giá trị nền tảng của Xã hội dân sự, các loại giá trị, chuẩn

mực và thái độ mà Xã hội dân sự đại diện và tuyên truyền (kể cả trong nội bộ tổ chức

và mối quan hệ với bên ngoài như tính dân chủ, tinh thần khoan dung hoặc bảo vệ môi

trường…) và các lĩnh vực có sự đồng thuận, nhất trí hoặc bất đồng giá trị…

Về không gian pháp lý / chính trị gồm môi trường điều tiết xã hội vĩ mô, các

loại luật lệ, chính sách, căn cứ vào đó Xã hội dân sự tiến hành hoạt động, các đặc

điểm thúc đẩy hoặc hạn chế phát triển Xã hội dân sự ở quốc gia

Về ảnh hưởng: chú ý xem xét những đóng góp hoặc hạn chế của Xã hội dân

sự trong giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị (như tác động chính sách nhà

nước, quyền con người, thỏa mãn các nhu cầu xã hội….)

Theo đó, từ bốn bình diện trên có thể đánh giá hiện trạng và tạo khởi điểm để

diễn giải hiện trạng và thảo luận, phác thảo về sự hiện diện Xã hội dân sự trong

quốc gia hoặc so sánh với các quốc gia khác

Nhìn chung, theo quan điểm các tiếp cận trên, Xã hội dân sự có các thành tố

chính gồm lĩnh vực nằm giữa cá nhân (gia đình) và nhà nước, nền kinh tế dựa trên

38 Dẫn lại theo Đinh Công Tuấn (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở liên minh châu

Âu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr.28

Trang 35

Khoá luận tốt nghiệp 31 Trường ĐHSP Hà Nội 2

tư hữu và thị trường và tập hợp các giá trị, chuẩn mực, bao gồm cả các khái niệm

pháp lý về tự do và dân chủ Có tác giả bao gộp các thể chế kinh tế vào Xã hội dân

sự Tác giả khác lại tập trung chú ý đến các hình thức liên kết xã hội và xem xét các

thể chế thị trường cũng như nhà nước tách biệt với Xã hội dân sự

Bản thân Liên minh Châu Âu cũng sử dụng nhiều định nghĩa về Xã hội dân

sự Quan niệm về Xã hội dân sự trong tuyên bố Chương trình Beccelon hàm ý “các

quan chức, nhà khoa học, hàn lâm, kinh doanh, sinh viên và thể thao” (Cuộc họp bộ

trưởng Liên minh Châu Âu và Địa Trung Hải, 1995) Và điều này cho thấy định nghĩ

chưa rõ, và khái niệm này nội hàm bao quát khá rộng, không phân biệt rõ đối tượng

Định nghĩa khác thường trích trong bối cảnh hành động Xã hội dân sự trong

quy định MEDA (2000), trong đó khái quát Xã hội dân sự ở EU và Địa Trung Hải

là “ các chính quyền địa phương, các nhóm ở nông thôn, làng mạc, hiệp hội tương

hỗ, công đoàn, truyền thông, tổ chức hôc trợ kinh doanh” Định nghĩa này mô tả

chính xác hơn với Tuyên bố Beccellon, song lại có khuynh hướng hòa trộn các tổ

chức phi lợi nhuận với các chủ thể liên quan đến khu vực kinh tế Ngoài ra, cũng có

thể thấy là có sự lẫn lộn đáng kể, ví dụ, xu hướng sử dụng thuật ngữ Xã hội dân sự

với “ hợp phi tập trung hóa” ở một số văn kiện Châu Âu khác

Tác giả Juneman cho rằng, khái niệm Xã hội dân sự chỉ nên hạn chế ở nhóm

chủ thể độc lập khỏi nhà nước, độc lập khỏi kinh doanh tư nhân và độc lập khỏi các

cấu trúc “Primordial” như gia đình, dòng họ, hoặc bộ lạc Định nghĩa này cũng có

một số mâu thuẫn và vì không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng tách bạch các chủ

thể này Ví dụ như là các tổ chức “phi chính phủ của chính phủ”, nghĩa là các tổ

chức phi chính phủ do chính phủ trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành, song lại không

như các tổ chức thông thường khác của chính phủ Tuy vậy, các định nghĩa tiếp tục

được sử dụng đều hàm ý Xã hội dân sự là thành phần của xã hội, đặc trưng bởi hoạt

động liên kết, tự nguyện, phi lợi nhuận theo tinh thần của 3 lĩnh vực nêu trên Định

nghĩa mở rộng “hợp tác phi tập trung hóa” sẽ được sử dụng để chỉ một loạt các yếu

tố mở rộng bao gồm các chỉnh phủ địa phương, vùng và các chủ thể thuộc khu vực

doanh nghiệp (ví dụ công đoàn)

Trang 36

Khoá luận tốt nghiệp 32 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Cho đến nay, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tập trung làm rõ về nguồn gốc

tranh luận và các quan điểm khác nhau đang tồn tại về Xã hội dân sự; vai trò Xã hội

dân sự có thể đóng góp trong phát triển, vị trí của các tổ chức phi chính phủ…

Đây là một khái niệm mở, bởi trong nhiều thế kỷ qua, dưới lăng kính của

nhiều ngành khoa học như lịch sử, triết học, chính trị, văn hóa… có nhiều phân tích,

bàn luận về khái niệm Xã hội dân sự Mỗi thời đại, chuyên ngành khoa học khác

nhau đều có cách hiểu và nhìn nhận khác nhau về khái niệm về nội hàm, khía cạnh,

bản chất của Xã hội dân sự Tuy nhiên, hầu hết các phân tích tập trung vào 3 khía

cạnh chính của khái niệm: Thứ nhất: Xã hội dân sự như một “xã hội tốt đẹp, vì lợi

ích chung”; Thứ hai: Xã hội dân sự như một “đời sống hiệp hội, liên kết” và thứ ba

Xã hội dân sự như một “lĩnh vực công cộng”

Tác giả Edward M phân biệt ba trường phái tư tưởng chính bàn luận về Xã

hội dân sự gồm39

: Thứ nhất, Xã hội dân sự được hiểu như một “xã hội tốt đẹp” (good society)

Theo thuật ngữ mang tính chuẩn mực, các quan điểm bàn luận về những mục tiêu, ý

tưởng, quan điểm, tầm nhìn về một xã hội lý tưởng mà con người mong ước vươn

tới Xã hội dân sự có thể tăng dân chủ, cải thiện phúc lợi của các cộng đồng nghèo

khó, thông qua việc cải thiện quyền con người và chống lại những quan niệm, hành

vi bất khoan dung, nạn bạo lực Sức mạnh của Xã hội dân sự ở chỗ, nó là phương

tiện, qua đó hình thành và nuôi dưỡng các giá trị và kết quả xã hội như tính chất phi

bạo lực, không phân biệt đối xử, dân chủ, tinh thần tương hỗ, công bằng xã hội và

mục tiêu của nó là qua đó, các chính sách xã hội nan giải sẽ được giải quyết theo

hướng công bằng, hiệu quả, và dân chủ Thông thường, người ta coi Xã hội dân sự

là một điều “tốt đẹp”, song trên thực tế lại không hoàn toàn như vậy Chẳng hạn, Xã

hội dân sự có một số hạn chế Cụ thể, tồn tại một số nhóm có cơ cấu nội bộ thiếu

dân chủ và minh bạch (như nhóm nhà thờ, nhóm tôn giáo cực đoan….) gây sự căng

thẳng hoặc đối đầu thái quá giữa đại diện được dân bầu và một bộ phận của Xã hội

dân sự Một số nhóm Xã hội dân sự có khả năng và kinh nghiệm song không tạo

39 Dẫn lại theo Đinh Công Tuấn (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội dân sự ở liên minh châu

Âu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr.32 – 36

Trang 37

Khoá luận tốt nghiệp 33 Trường ĐHSP Hà Nội 2

được cầu nối, mà có khuynh hướng duy trì đối đầu với xã hội, gây áp lực và ảnh

hưởng đến nhà nước, đặc biệt ở các quốc gia đang chuyển đổi, dễ tạo ra các khủng

hoảng, bất ổn trong xã hội giữa chính phủ, các cơ quan lập pháp, khu vực doanh

nghiệp và truyền thông trong xã hội

Thứ hai, Xã hội dân sự như “đời sống hiệp hội” (Asociational life,là “khoảng

không gian” của các hoạt động có tổ chức, không phải do chính phủ hoặc doanh

nghiệp vì lợi nhuận tham gia thực hiện, gồm hoạt động các hiệp hội (chính thức và

không chính thức) như tổ chức tự nguyện cộng đồng, công đoàn, tổ chức tôn giáo,

hợp tác xã, nhóm tương hỗ, các đàng chính trị, hội nghề nghiệp, hội kinh doanh, tổ

chức thiện nguyện, các nhóm công dân phi chính thức và các phong trào xã hội

(môi trường, hòa bình…)

Quan điểm này khẳng định tầm quan trọng của hiệp hội đối với đời sống tập

thể, nơi cho phép mọi người thể hiện “cái tôi”, tiềm năng mong muốn của mình và

của mọi người quay hành động tập thể Việc tham gia thành viên các hiệp hội là tự

nguyện, không ép buộc Sự tự do hội họp sẽ thúc đẩy văn hóa tham dự dân sự, bắt

nguồn và chịu ảnh hưởng ý tưởng của nhà xã hội học Mỹ DC Tocqueville và nhà

chính trị học Putnam về “vốn xã hội” – Xã hội dân sự có đặc điểm của tổ chức xã

hội như mạng lưới, chuẩn mực và niềm tin xã hội, thúc đảy sự điều phối, hợp tác vì

những lợi ích tương hỗ

Quan điểm về “vốn xã hội” – một trong những công cụ mới nhất trong phân

tích phát triển, trực tiếp gắn với sự tiến hóa của Xã hội dân sự Đây là một khái

niệm khá trừu tượng Song có thể hiểu “vốn xã hội” là những tình cảm rất quan

trọng như long tin giữa công dân với công dân, sự chia sẻ những giá trị chung về

tình đoàn kết, ái hữu, thực hiện bổn phận đối với nhau trong xã hội, thúc đẩy sự

điều phối và hợp tác lẫn nhau

Nghiên cứu đo lường “vốn xã hội” được tiếp cận đa ngành từ nhiều góc độ

như kinh tế học, chính trị học, xã hội học và nhân học, Trong đó tập trung vào

những giá trị văn hóa, thái độ tạo ra tâm thế cho con người hợp tác tin tưởng, hiểu

biết và thấu cảm đối với nhau, giúp gắn kết xã hội thông qua thu hút công dân trở

thành thành viên tham gia cộng đồng chung, chia sẻ các lợi ích, và cảm nhận lợi ích

Trang 38

Khoá luận tốt nghiệp 34 Trường ĐHSP Hà Nội 2

chung Một phần quan trọng của “vốn xã hội” là lòng tin – mối quan tâm cơ bản và

là thành tố gắn kết trong phát triển xã hội, là điều kiện cơ bản để duy trì hoạt động

kinh tế, và mong muốn hợp tác Các thái độ, giá trị, lòng tin, tính tương hỗ là nền

tảng cơ bản, quan trọng để ổn định chính trị, xã hội và hợp tác

Các tổ chức Xã hội dân sự chính là nơi duy trì các kênh giao tiếp, tiếp xúc

quan trọng giữa các công dân, tạo điều kiện tích lũy kỹ năng và phát triển nguồn

“vốn xã hội” Một số cấu trúc xã hội, thiết chế xã hội (truyền thống hoặc hiện đại)

đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra “vốn xã hội” Cội nguồn nuôi dưỡng “vốn

xã hội” bắt nguồn từ gia đình (nền tảng quan trọng nhất), nơi làm việc, giáo dục, và

khu dân cư sinh sống

Tính chất văn hóa – xã hội của “vốn xã hội” thể hiện, phụ thuộc vào bối cảnh

như tính đại diện, mức độ gắn kết cộng đồng, sự tham gia dân cư vào hoạt động của

tổ chức… Ngoài ra, “vốn xã hội” có mối quan hệ gắn kết với quản trị dân chủ Ví

dụ, có thể coi sự thiếu hụt hoặc hiện diện “vốn xã hội” là chỉ báo về kết quả hoạt

động của chính quyền địa phương, lòng tin của dân cư đối với hoạt động chính

quyền và gắn với nhiều chỉ báo phát triển xã hội liên quan khác…

Thứ ba, Xã hội dân sự như “khu vực công” (Public area) Xã hội dân sự được

hiểu như “một không gian” (vật thể và phi vật thể), trong đó các khác biệt xã hội, cacs

vấn đề xã hội, chính sách công, hành động chính phủ, vấn đề cộng đồng, bản sắc văn

hóa… được hình thành, tranh luận, thương lượng; Thông qua đó tạo ra mối liên kết hợp

tác giữa các cá nhân và nhóm xã hội, chia sẻ tầm nhìn, định hướng chung về một xã hội

“tốt đẹp” Không gian công cộng có thể là không gian vật thể như trung tâm cộng

đồng, phòng họp hoặc qua mạng xã hội,…

Ý tưởng về “khu vực công” (Public area) gắn với tác giả Haberma J Theo

quan điểm của Haberma – khu vực công là khu vực, trong đó những vấn đề có ý

nghĩa công cộng, có thể được mọi cá nhân thảo luận từ góc độ năng lực của họ, và

về nguyên tắc, kết quả thảo luận được quyết định chỉ bằng chất lượng của các luận

cứ mà thôi Theo đó, cần tích cực tạo ra những điều kiện xã hội để có thể thúc đẩy

hoặc tạo lập “một không gian” thu hút mọi người tham gia tương đối bình đẳng

trong các thảo luận mang tính lý trí và quan trọng

Trang 39

Khoá luận tốt nghiệp 35 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ở khu vực công, các nhóm cá nhân phi thể chế, phi chính thức, sẽ tìm kiếm

cách thức tham gia, thể hiện, tranh luận mới (ví dụ qua mạng xã hội) Các hoạt động

này có thể không nhằm bảo về Xã hội dân sự , nâng cao chất lượng dân chủ Và như

vậy, khu vực công sẽ tạo ra Xã hội dân sự: nó không bị “nuốt chửng” bởi nhà nước,

mà đáp ứng các vấn đề của nhà nước, vấn đề công cộng, trên cơ sở đó xây dựng và

hoàn thiện các chính sách của nhà nước

Tóm lại, Xã hội dân sự có thể được hiểu là mục tiêu để hướng tới (một “xã

hội tốt đẹp”, là phương tiện để đạt được mục đích thông qua “đời sống hiệp hội”

và là khung khổ chung để mọi người tham gia thống nhất về mục đích và phương

tiện (“khu vực công”- lĩnh vực tranh luận)

1.4 TIỂU KẾT

Xã hội dân sự khó có thể được định nghĩa một cách rõ ràng, và đóng khung

trong một định nghĩa cụ thể Từ cổ đại đến ngày nay, vẫn còn tiếp tục rất nhiều

những cuôc tranh luận, những lý giải của các nhà nghiên cứu về vấn đề Xã hội dân

sự Có thể hiểu một cách đơn giản, Xã hội dân sự là lĩnh vực nơi mà mọi người

cùng nhau tìm kiếm lợi ích mà họ cho là cùng nhau chia sẻ chung, song không phải

về lợi nhuận hay quyền lực chính trị, mà do chủ yếu mọi người có quan tâm đặc biệt

về vấn đề nào đó để dẫn tới các hành động tập thể Tìm hiểu khái niệm trên một

cách đầy đủ, rõ ràng hơn thông qua việc tiếp cận khái niệm trên ở những góc độ

khác nhau như: xã hội học, triết học, sử học… Và dù tiếp cận ở lĩnh vực khoa học

nào thì đều tập trung ở ba khía cạnh chính của khái niệm: thứ nhất: Xã hội dân sự

như một “xã hội tốt đẹp, vì lợi ích chung”, thứ hai: Xã hội dân sự như một: “đời

sống hiệp hội, liên kết” và thứ ba Xã hội dân sự như một “lĩnh vực công cộng”

Có thể dễ dàng thấy được rằng, Xã hội dân sự là một bộ phận của xã hội

đang tồn tại mà có lẽ mỗi người trong chúng ta ít nhất cũng tham gia vào một hoạt

động Xã hội dân sự Chúng ta luôn biết nhìn nhận đúng đắn về Xã hội dân sự, để

làm cho xã hội tốt đẹp lên Đây cũng là mục đích cuối cùng của Xã hội dân sự

Trang 40

Khoá luận tốt nghiệp 36 Trường ĐHSP Hà Nội 2

Chương 2 XÂY DỰNG XÃ HỘI DÂN SỰ Ở CHÂU ÂU

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển và hoạt động Xã hội dân sự

cấp toàn cầu

Xã hội dân sự đã tồn tại lâu dài trên thế giới Khái quát theo Charnovtsze, có

thể phân loại một số giai đoạn phát triển Xã hội dân sự xét theo mức độ, hình thức

tham gia và tính chất hoạt động cụ thể ở cấp độ quốc tế, chủ yếu ở châu Âu

Giai đoạn 1775-1918: Bắt đầu xuất hiện các tổ chức Xã hội dân sự ở châu

Âu

Giai đoạn 1919-1934: Có sự tham gia của Xã hội dân sự

Giai đoạn 1935-1944: Không tham gia

Giai đoạn 1945-1949: Hợp thức hóa sự tham gia của Xã hội dân sự

Giai đoạn 1950-1971: Sự tham gia hạn chế của Xã hội dân sự

Giai đoạn 1972-1991: Tăng cường sự tham gia của Xã hội dân sự

Giai đoạn 1992 đến nay: Tạo quyền nâng cao năng lực của Xã hội dân sự

Trên thế giới, việc nghiên cứu và bàn luận về Xã hội dân sự (về khái niệm, lý

luận) đã được mở rộng hơn trong những cuộc thảo luận mới vào thập kỷ 80 của thế

kỷ XX, khi các nỗ lực dân chủ hóa ở Đông Âu và Mỹ Latinh gia tăng, trong đó có

việc bàn luận, xem xét lại khái niệm và sử dụng chúng như công cụ cho các cuộc

đấu tranh dân chủ Những thực nghiệm mới về dân chủ được mở ra nhằm tìm kiếm

và tuyên bố không gian chính trị đã là nơi tụ lại nhiều nhân tố, đối tác liên quan

Vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, do gia tăng ảnh hưởng toàn cầu hóa (về công

nghệ, nguồn vốn thông tin, thương mại, ) nảy sinh nhiều vấn đề quản trị khu vực,

quốc gia và mục tiêu phát triển chung khác cần hợp lực giải quyết Trong thời đại

mới, đòi hỏi có nhiều hình thức mới về thương lượng và đối thoại ở cấp khu vực và

toàn cầu để giải quyết hiệu quả hơn đối với những vấn đề mang tính chất phổ biến,

cho thách thức, vượt qua bên ngoài lãnh thổ quốc gia như nạn đói nghèo, ô nhiễm

Ngày đăng: 29/11/2015, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w