Tác giả tập trung vào việc phân tích quá trình thành lập các công ty thương mại để buôn bán với châu Á, hoạt động của những công ty này; Các cuộc đấu tranh thương mại ở châu Á 1599 – 161
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ của các thầy, cô giáo trong tổ Lịch sử thế giới, khoa Lịch sử Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô, đặc biệt là tới thầy Nguyễn Văn Vinh, người đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong thời gian qua, nhờ đó mà tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận Hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào
Nha ở Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
có tham khảo ý kiến của những người đi trước, dưới sự giúp đỡ khoa học
của Thạc sĩ Nguyễn Văn Vinh Khóa luận không sao chép từ một tài
liệu, công trình có sẵn nào Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên Lưu Thị Hải Yến
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của khóa luận
6 Bố cục của khóa luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP ĐÔNG Á CỦA NGƯỜI BỒ ĐÀO
NHA VÀ VÀI NÉT VỀ NHẬT BẢN TRONG THẾ KỶ XVI –XVII
1.1 Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha
1.1.1 Phát kiến địa lý và công cuộc tiến sang phương Đông của Bồ Đào Nha 1.1.1.1 Những tiền đề để Bồ Đào Nha tiến hành phát kiến địa lý thành công 1.1.1.2 Bồ Đào Nha và sự thành lập Estado de India
1.1.2 Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha
1.1.2.1 Xây dựng căn cứ ở Goa và khu vực Ấn Độ
1.1.2.2 Từ Goa đến Malacca (1511)
1.1.2.3 Xây dựng căn cứ Ma Cao
1.2 Vài nét về Nhật Bản trong thế kỷ XVI – XVII
1.2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII
1.2.2 Tình hình bang giao và thương mại
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU BẠC CỦA BỒ ĐÀO NHA Ở NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI – XVII
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XVI – XVII, trong khi bức tranh chính trị ở châu Á khá ảm đạm: Nhật Bản đang trong thời kì Chiến quốc – thời kì diễn ra các cuộc chiến tranh giành quyền lực quyết liệt giữa các Daimyo, Đại Việt đang tồn tại ở cục diện chia cắt Đàng trong – Đàng Ngoài, Đế chế Ăng - co huyền thoại đang trên đà suy yếu ) thì bức tranh kinh tế nhất là mảng ngoại thương lại có những chuyển biến to lớn và tích cực Các cuộc phát kiến địa lý lớn của người Tây Âu thế kỉ XV – XVI đã mở ra một con đường mới sang phương Đông Từ sau đó thương nhân Tây Âu đã ồ ạt sang đây để trao đổi, buôn bán Bồ Đào Nha – một trong hai nước đi tiên phong trong công cuộc phát kiến, đồng thời cũng là nước đi tiên phong trong việc thiết lập quan hệ buôn bán với các nước châu Á Kể từ khi thiết lập cứ điểm đầu tiên ở Goa (1498), Bồ Đào Nha đã thiết lập được một loạt các thương điếm ở các khu vực trọng yếu như: Malacca, Macao, Kyushu , tiến hành buôn bán với hai thị trường khổng lồ là Trung Quốc, Ấn Độ, với hầu hết các nước Đông Nam Á, và với Nhật Bản
Nhật Bản là điểm cuối cùng của châu Á mà người Bồ đặt chân tới song lại là nơi mà họ nhanh chóng xác lập được vị trí của mình trong quan hệ thương mại Thế kỉ XVI – XVII, Bồ Đào Nha gần như giữ vai trò độc quyền trong quan hệ buôn bán với Nhật Bản
Trong số các thương phẩm mà người Bồ buôn bán với Nhật Bản, bạc là thương phẩm chủ yếu và mang lại giá trị cao nhất cho thương nhân
Bồ Đào Nha Qua thương nhân Bồ, một lượng bạc lớn của Nhật Bản đã được xuất ra bên ngoài
Việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỉ XVI – XVII có ý nghĩa rất sâu sắc, giúp dựng lại thời kì hoàng kim của đế chế thương mại Bồ Đào Nha ở châu Á, góp phần làm sáng tỏ các quan hệ kinh tế không chỉ giữa Bồ Đào Nha với Nhật Bản mà còn
Trang 6giữa Bồ Đào Nha với các nước châu Á Từ đó bức tranh thương mại châu
Á thế kỉ XVI – XVII được khôi phục lại một cách chân thực, rõ nét
Hơn nữa vấn đề “Hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở
Nhật Bản thế kỉ XVI – XVII” là một vấn đề thuộc mảng lịch sử thương
mại cổ - trung đại, mảng đề tài ít được quan tâm nghiên cứu từ trước tới giờ Việc nghiên cứu đề tài này sẽ bổ sung được phần nào những thiếu sót
đó
Chính bởi những ý nghĩa trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Hoạt
động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỉ XVI – XVII” làm
đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu hoạt động thương mại của đế chế biển Bồ Đào Nha đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong khi các thành tựu nghiên cứu trong nước còn khá khiêm tốn về mảng đề tài hải thương thì các nghiên cứu chuyên sâu của các học giả nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành đề tài nghiên cứu mà tôi lựa chọn thực hiện Rất nhiều công trình, bài viết, chuyên khảo đề cập đến vấn đề này
2.1 Tài liệu tiếng Việt
Ở Việt Nam, mảng lịch sử thương mại thời cổ trung đại vẫn còn là một miền đất vắng, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này Trong số các tác giả Việt Nam nghiên cứu về mảng đề tài này, chúng ta còn phải kể đến tên tuổi của TS Nguyễn Văn Kim với một loạt những nghiên cứu, thể hiện sự tìm tòi sáng tạo và có sức thuyết phục rất lớn đối
với giới nghiên cứu như: “Nhật Bản với Châu Á những mối liên hệ lịch
sử và chuyển biến kinh tế xã hội”, “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam
Á thế kỷ XV- XVII” Đặc biệt trong giáo trình chuyên đề “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV- XVII”, tác giả đã đưa ra rất nhiều
Trang 7tư liệu liên quan đến hoạt động của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản Ở chương 1,
mục 1.3 “Nhật Bản trước sự xâm nhập của các cường quốc phương
Tây”, tác giả có viết “Tại Nhật Bản, thuyền buôn Bồ Đào Nha đã bán hàng để mua về bạc Chính lượng bạc mà Bồ Đào Nha thu được từ thị trường Nhật Bản đã đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho nước này”
Ngoài ra cũng có một số bài nghiên cứu khác liên quan tới đề tài
này như:“Sự phát triển kinh tế ở Nhật Bản thời kỳ Edo và gia tộc
Sumitomo” của Nguyễn Văn Hoàn đăng tên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản
và Đông Bắc Á, “Nhật Bản thời đại châu Ấn thuyền và quan hệ quốc tế”
của Trịnh Tiến Thuận …
2.2 Tài liệu tiếng Anh
Như đã trình bày ở trên, tư liệu viết về thương mại Bồ Đào Nha ở Nhật Bản rất đa dạng, phong phú, có thể kể đến:
- “Portuguese trade in Asia under Harbsburg 1580 - 1640” của
James C Boyajian Trong cuốn sách tác giả đã dựng lại chân thực bức tranh lịch sử thương mại của Bồ Đào Nha, tập trung ở châu Á thời kỳ Harbsburg 1580 - 1640 Tác giả tập trung vào việc phân tích quá trình thành lập các công ty thương mại để buôn bán với châu Á, hoạt động của những công ty này; Các cuộc đấu tranh thương mại ở châu Á 1599 – 1619; Sự phồn vinh của các hãng thương mại tư nhân Bồ Đào Nha với châu Á, thương mại tư nhân của Caireira da India; Sự phát triển kinh tế
và sự đình trệ công việc kinh doanh của Bồ Đào Nha, tìm hiểu căn nguyên sự suy giảm kinh tế của Bồ Đào Nha ở châu Á Trong quá trình tái hiện lại bức tranh thương mại năng động của Bồ Đào Nha ở châu Á, ở trang 13 của cuốn sách, tác giả cũng có đề cập đôi dòng về hoạt động
buôn bán bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản “Bồ Đào Nha giữ vai trò trung
gian trong việc trao đổi hàng hóa giữa Trung Quốc và Nhật Bản Trong
số các kim loại quý, bạc là kim loại mà Trung Quốc có yêu cầu nhiều
Trang 8nhất, mặt hàng này lại được sản xuất một khối lượng đáng kể ở Nhật Bản Nhật Bản lại muốn có các sản phẩm của Trung Quốc như tơ lụa, gốm sứ, các mặt hàng xa xỉ khác Việc trao đổi hàng hóa Trung Quốc lấy bạc Nhật Bản đã đem lại lợi nhuận lớn cho Nhật Bản”
- “The Survival of empire”, cuốn sách là những đóng góp của
George Bryan Souza vào lịch sử châu Âu thời kỳ bành trướng ở châu Á Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu về đế chế Bồ Đào Nha, về quá trình Bồ Đào Nha thiết lập vị trí ở châu Á, sự tham gia của Bồ Đào Nha trong hoạt động hải thương ở châu Á, vai trò của các tư thương Nhật Bản trong việc thiết lập quan hệ Đông – Tây thời kỳ đầu Trong khi nghiên cứu về hoạt động hải thương của đế chế Bồ ở châu Á, tác giả đã đưa ra được một số bảng số liệu về số lượng bạc Bồ Đào Nha xuất khẩu từ Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII Những số liệu đó đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu đề tài này
- “Unification and Adaption, the early shogunate and Dutch trade
policies” của Eii chi Kato Bài viết miêu tả quá trình mà VOC thiết lập
được vị trí vững chắc của mình ở Nhật Bản Để làm rõ quá trình này, tác giả đã đi vào tìm hiểu quan hệ của Nhật Bản với bên ngoài, sự thay đổi về chính trị, xã hội Nhật Bản đầu thời kỳ thực dân phương Tây mở rộng xâm lược, sự xuất hiện và thiết lập của người Bồ ở biển Đông Những thông tin trong bài viết trên đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu cho chương 1 của khóa luận
- Bên cạnh đó có rất nhiều các cuốn sách, các bài nghiên cứu trên các tạp chí khác cũng đề cập tới vấn đế mà tôi nghiên cứu như:
“Portuguese merchants and missionaries in feudal Japan 1543 - 1640”của C R Boxer, “The Portugese empire in Asia 1500 – 1700: A political and economic history”của Sanjay Subrahmanyam, “Reorient: global economy in the Asian Age” của Andre Gunder Frank Các tác
Trang 9phẩm kể trên đều đưa ra được những số liệu, thông tin về hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản tuy nhiên những số liệu, thông tin
đó còn khá vụn vặt, lẻ tẻ, chưa mang tính hệ thống, chi tiết Tuy nhiên đó đều là những tác phẩm mang tính chất học thuật cao, được sự ghi nhận
và tín nhiệm của của giới nghiên cứu trong và ngoài nước, có giá trị tham khảo rất lớn trong việc tìm hiểu về hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII
Nói chung, cho tới thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể, hệ thống về hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức đô sơ sài, nằm rải rác trong các công trình Tuy vậy các nhà nghiên cứu cũng đã góp phần gợi ý, định hướng cho tôi
trong việc hoàn thành khóa luận này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Khái quát về quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào
Nha
- Trình bày một vài nét về Nhật Bản trong thế kỷ XVI – XVII
- Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII, từ đó rút ra ý nghĩa của hoạt động này
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Về mặt thời gian, đề tài nghiên cứu thời điểm thế kỷ XVI – XVII, khoảng thời gian mà Bồ Đào Nha hoạt động ở Nhật Bản
Về mặt không gian và nội dung, đề tài chỉ đề cập đến hoạt động
xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Bồ Đào Nha ở châu Á
- Nguồn thứ hai: các tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản thời
kỳ cổ - trung đại
- Nguồn thứ ba: các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí liên quan tới Bồ Đào Nha, Nhật Bản
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, phân tích mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử đồng đại, lịch đại để rút ra kết luận khái quát cần thiết Bên cạnh
đó, một số phương pháp khoa học liên ngành cũng được sử dụng như: phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, giải thích, phân tích, tổng hợp,
liệt kê …
5 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: Tác giả đã đưa ra những phân tích, những số liệu
cụ thể liên quan đến hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa của hoạt động này đối với Bồ Đào Nha, với Nhật Bản, với thị trường châu Á nói chung
Trang 11- Về mặt thực tiễn: Khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành lịch sử tìm hiểu về hoạt động thương mại thời cổ - trung đại ở vùng biển châu Á
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận tốt nghiệp được chia làm hai chương như sau :
Chương 1: Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha đầu thế kỷ XVI và vài nét về Nhật Bản trong thế kỷ XVI – XVII
Chương 2: Hoạt động xuất khẩu bạc của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản thế kỷ XVI – XVII
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP ĐÔNG Á CỦA NGƯỜI BỒ ĐÀO NHA ĐẦU THẾ KỶ XVI VÀ VÀI NÉT VỀ NHẬT BẢN TRONG THẾ
KỶ XVI –XVII 1.1 Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha đầu thế kỷ
XVI
1.1.1 Phát kiến địa lý và công cuộc tiến sang phương Đông của Bồ Đào
Nha
1.1.1.1 Những tiền đề để Bồ Đào Nha phát kiến địa lý thành công
Adam Smith - nhà kinh tế học nổi tiếng của thế giới sống ở thế kỷ
XVIII, trong cuốn “Của cải của các dân tộc” đã viết: “Việc tìm ra châu Mỹ và khám phá con đường sang Đông Ấn bằng cách dong thuyền qua Mũi Hảo Vọng
là hai sự kiện lớn nhất và quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại” Trong “sự kiện lớn nhất” và “quan trọng nhất” đó, người Bồ Đào Nha là một trong
những người đầu tiên và tham gia tích cực nhất:
Năm 1415, người Bồ chiếm được pháo đài Ceita trên bờ biển châu Phi
Năm 1419, họ chiếm được hòn đảo Porto Xanto do ngườiÝ tìm ra trước kia và biến đảo này thành thuộc địa, từ đó hầu như năm nào
Trang 13họ cũng tổ chức những đoàn thám hiểm đi về phía nam dọc theo
bờ biển châu Phi
Năm 1445, Bồ Đào Nha đến được Cap Vert (mũi Xanh)
Năm 1472, đến Vịnh Ghinê
Năm 1486, Điaxơ đến cực Nam châu Phi
Năm 1498, Vasco Da Gama đã đi vòng qua cực Nam châu Phi tới
Ấn Độ
Những khám phá có tính bước ngoặt trong lịch sử này không phải do Anh, Hà Lan hay Pháp – những nước có kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển khá phát triển bấy giờ mà lại là hai quốc gia trên bán đảo Iberia?
Thứ nhất là do, nước này có vị trí địa lý rất thuận lợi Trên bản đồ Tây
Âu, Bồ Đào Nha nằm ở điểm cực Tây Nam, trên bán đảo Iberia nhô ra biển Từ
vị trí đó, người Bồ Đào Nha có thể đi lên phía Bắc, đi xuống phía Nam để xuống châu Phi hoặc đi vào eo biển Gibralta để đi vào khu vực Trung Cận Đông Tuy nhiên, có một thực tế là nguồn lợi từ hàng hóa phương Đông mà khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải mang lại cho người Bồ tương đối hạn chế bởi sự cạnh tranh của các thương nhân châu Âu khác, đặc biệt là người Ý
Họ là những thương nhân nắm độc quyền về thương mại ở châu Âu trong nhiều thế kỷ với các cảng thị sầm uất như Venice, Genoese … Từ vị trí địa lý thuận lợi đó, Bồ Đào Nha trở thành nước tiên phong trên con đường tiến sang phương Đông
Thứ hai là do trong thời kỳ diễn ra những hoạt động thám hiểm, nền kinh tế hàng hóa của nước này khá phát triển, nhất là ở các thành thị ven biển như Lisbon, Oporto, Vimeiro, Ericeira đặc biệt là Lisbon.Trước thế kỷ XIII, Lisbon mới chỉ là một thị trấn đồn trú ở biên giới, dân cư thưa thớt Nhưng từ giữa thế kỷ XIII, khi Afonso III chuyển kinh đô từ Combra về Lisbon, kể từ đó Lisbon từ một thị trấn nhỏ được mở rộng nhanh chóng và khẳng định được vị thế của mình
Trang 14Ở Lisbon cũng như các thành thị ven biển khác không chỉ tập trung đông thương nhân Bồ đến buôn bán mà còn có một số lượng lớn thương nhân Italia (chủ yếu là người Genoese và Floren), thương nhân Anh, Pháp hoạt động thương mại của họ ở đây khiến cho các thành thị này càng thêm sầm uất
Thứ ba là do Bồ Đào Nha có những đội hạm thuyền vào loại mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ với nhiều thủy thủ gan dạ Điều kiện tự nhiên ở Bồ Đào Nha không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vương quốc này thậm chí còn phải thường xuyên nhập khẩu lúa mì ở bên ngoài Song điều kiện tự nhiên lại rất ưu đãi cho họ phát triển kinh tế biển Truyền thống đi biển đã làm nảy sinh ra một đội ngũ những thủy thủ gan dạ, có kinh nghiệm Nếu không gan dạ, không dũng cảm, không ngại mạo hiểm, họ không thể nào vượt qua được những đại dương lớn mà trước đó con người chưa bao giờ tưởng tượng là
sẽ đi tới được, không thể vượt qua được những gian nan, vất vả, cái đói, cái rét, bệnh tật trên hành trình khám phá
Đồng thời bấy giờ Bồ Đào Nha đã xây dựng được những đội hạm thuyền lớn mạnh, đủ sức chống chọi với bão táp của đại dương Đội tàu của Gama khi rời cảng Lisbon với một lực lượng hùng hậu, gồm 4 đội tàu, trong đó
có hai chiếc nặng 178 tấn, dài 27 m, rộng 8,5 m, buồm rộng 372 m Không phải nước nào ở châu Âu lúc đó cũng có được những hạm đội tàu lớn mạnh như vậy
Thứ tư là do nền chính trị của Bồ Đào Nha khá ổn định Thế kỷ VIII, Bồ
Đào Nha rơi vào tay người Hồi giáo Đầu thế kỷ XII, trong cuộc “tái chinh phục”, người Hồi giáo đã bị đánh đuổi hoàn toàn ra khỏi lãnh thổ Bồ Trong
khi tình hình chính trị của vương quốc này đã khá ổn định thì các nước Tây Âu vẫn đang mải mê với các cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, các cuộc nội chiến giành quyền lực giữa các phe phái (Anh - nước có thế mạnh về hàng hải vừa bước ra khởi cuộc chiến tranh 100 năm với Pháp lại bước vào cuộc nội chiến Hai hoa hồng, Hà Lan vẫn là thuộc địa của Tây Ban Nha) Nền chính trị
ổn định do vậy chính quyền trung ương có thể cung cấp tiền cho những chuyến thám hiểm Chỉ có một chính quyền trung ương thống nhất mới có đủ khả năng
Trang 15và sức mạnh để huy động nguồn của cải trong triều đình, trong nhân dân nhất
là tầng lớp thương nhân cho những chuyến thám hiểm hao người tốn của
Thứ năm là do Bồ Đào Nha đã từng tiến hành cuộc đấu tranh mấy trăm năm với người Ả rập, đồng thời chống lại sự lũng đoạn của người Ý Những cuộc đấu tranh đó đã sinh ra tầng lớp quý tộc thượng võ hiếu chiến Họ quyết tâm tham gia vào những hoạt động thám hiểm nhằm bổ cứu cho sự nghiệp kinh
tế đã lung lay của mình do cuộc chiến tranh lâu dài gây nên
Một lí do cũng rất quan trọng chính là sự phát triển của khoa học – kỹ thuật Ngoài những thành tựu chung của khoa hoc – kỹ thuật, nhất là trên lĩnh vực hàng hải của nhân loại lúc bấy giờ, riêng tại nước Bồ việc nghiên cứu về
kỹ thuật đi biển đã được chú trọng và rất phát triển Năm 1415, Hoàng tử Henry (1393 – 1460), con trai của quốc vương Bồ đã lập ra một trường hàng hải, thiên văn và địa lý tại Sagie, miền Nam nước Bồ Trong trường hàng hải, người ta đã tập hợp rất nhiều sách vở, bản đồ và các phương tiện để nghiên cứu
địa lý, đồng thời mời nhiều nhà bác học Arập và Do Thái tới làm việc “Henry
đã để lại cho đất nước Bồ Đào Nha đội tàu thuyền hiện đại nhất thời ấy và những nhà hàng hải tài hoa nhất để chinh phục đại dương”[lstg trung đại,
nguyễn gia phu chủ biên, 2010, nxb gd vna,
Do hội tụ đầy đủ những tiền đề cần thiết trên mà Bồ Đào Nha đã trở thành người khai phá con đường sang phương Đông Lịch sử nước Bồ bước sang một trang mới
1.1.1.2 Bồ Đào Nha và sự thành lập Estado da India
Phát kiến của người Bồ Đào Nha tìm ra con đường qua Hảo Vọng Giác
để sang Ấn Độ đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho người Bồ Đào Nha Sau khi phá thế độc quyền của những đối thủ thương mại truyền thống ở phương Đông, vị thế của Bồ Đào Nha dần dần được xác lập không chỉ ở châu
Á mà cả ở Tây Âu trong phần lớn thế kỷ XVI Trung tâm thương nghiệp của thế giới phương Tây dần chuyển từ khu vực Cận Đông - Địa Trung Hải sang cho Tây Nam châu Âu, tiêu biểu là Lisbon
Trang 16Trong 20 năm sau khi đoàn thám hiểm của Vasco da Gama đi vào Ấn
Độ Dương, người Bồ đã gần như làm chủ được các đại dương và là chìa khóa
để củng cố một tuyến hải thương dài kết nối bờ biển Đông Phi ở Sofala (1505), dọc bờ biển ở phía Tây của Ấn Độ ở Cochin (1503) và Goa (1510), Malacca (1511), vịnh Ba Tư ở Hormuz (1515), quần đảo Moluccu (1522) để từ đó tiến lên khu vực Đông Bắc Á [90, 3]
Địa điểm thương mại người Bồ lập đầu tiên là Goa - nằm ở phía Tây của
Ấn Độ, một trung tâm chính trị, một chính quyền của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Cuộc tiếp xúc đầu tiên ở Ấn Độ - thế giới hương liệu chính là bàn đạp để tiến đến các tụ điểm khác và thiết lập tụ điểm về thương mại Quá trình thâm nhập
ấy cũng đồng nghĩa với việc thiết lập một chính thể dưới một tên gọi là Estado
da India
Estado da India, chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha ở Đông Ấn, là tên gọi
do Quốc vương Bồ Đào Nha đặt ra Đó không phải là một nhà nước thống nhất
mà là sự tập hợp của những pháo đài, những hạm đội và những cộng đồng người Bồ kéo dài từ Đông Phi đến Nhật Bản [101, 13].the sủvival,tr12
Mục tiêu cơ bản của chính thể Estado da India ở phương Đông là chi
phối nền hải thương châu Á trong lĩnh vực buôn bán hương liệu, đặc biệt là hồ tiêu – vốn là động lực cho sự tồn tại và phát triển của nền hải thương năng động ở Ấn Độ Dương nhiều thế kỷ trước đó”the sủvival, tr12 Cho đến thời điểm này, nền thương mại hương liệu có giá trị lớn hơn giá trị kinh tế của các
loại hàng hóa xa xỉ phẩm Những lợi ích mà Estado da India mang lại là những
lợi ích rõ ràng, dưới sự bảo trợ của Quốc vương Bồ Đào Nha thì những điều đó được bảo đảm là rất rõ ràng
Sự thành lập Estado da India đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của
những người theo Hồi giáo Tuy nhiên, không lâu sau đó sự phản ứng của người theo đạo Hồi đã bị dẹp bỏ Vị thế của Quốc vương và chức năng của
Estado da India đồng nghĩa với việc hoạt động thương mại và hoạt động truyền
giáo ở châu Á
Trang 17Xuyên suốt nền thương mại thế giới ở châu Á trong thế kỷ XVI là hiện thực về sức mạnh của cộng đồng người Bồ Đào Nha đã lấn lướt những người châu Âu khác đang tìm cách thâm nhập phương Đông Những trung tâm quan trọng của Bồ Đào Nha ở Đông Ấn như Goa, Malacca là tượng trưng cho quyền lực của Quốc vương và họ đã gắng chiếm lấy để làm của cải cho hàng ngàn
người - trước hết là cho bản thân chính thể Estado da India ở phương Đông
Việc thiết lập Estado da India trước hết là làm lợi cho Bồ Đào Nha Đã
có những mối liên hệ giữa người Bồ với thương nhân địa phương trong việc thu mua hương liệu về châu Âu và thương mại biển từ phía đông Địa Trung Hải, Biển Đỏ, vịnh Ba Tư và sự trợ sức từ con đường đến Mũi Hảo Vọng Với châu Á, những người Bồ Đào Nha tìm cách kiểm soát nền thương mại hiện có bằng cách chiếm độc quyền các con đường thương mại đó và điều khiển lại sự tồn tại thương mại trong việc chi phối các cảng thị bởi lực lượng Bồ Đào Nha Đến cuối thế kỷ XVI, Quốc vương Bồ và những người Bồ Đào Nha có liên quan trong nền hải thương quốc tế ở châu Á đã thu được những giá trị thương mại giữa Cochin - Goa và Lisbon qua Mũi Hảo Vọng [101, 14].the sủvival, tr14
Trong suốt thế kỷ XVI, đặc biệt là vào nửa sau thế kỷ XV (1570), người
Bồ Đào Nha đã có mặt ở hầu hết các khu vực ở phương Đông Từ những sự kiện thiết lập được vị trí của mình ở châu Á, có thể thấy đây là giai đoạn Bồ Đào Nha bành trướng ở châu Á, đánh đấu một khu vực địa lý mà người Bồ đã thiết lập được mở rộng thêm, quá trình khai thác khu vực địa lý rộng lớn đó đã được thực thi một cách sâu rộng vào thập niên 70 của thế kỷ XVI Những thuộc địa nhỏ của Bồ Đào Nha, những đoàn truyền giáo, những tư thương hoặc những người đại diện của Quốc vương đã có mặt ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á lục địa và hải đảo, Nam Á rộng lớn, Iran, đế chế Ôttôman Đông Phi
Sự có mặt ở hầu khắp phương Đông cho thấy uy quyền và sức mạnh của
Bồ Đào Nha đã trải khắp lục địa châu Á Sự có mặt này cho thấy một sự thật hiển nhiên về sự đại diện của Công ty kinh doanh thương mại Bồ Đào Nha-
Trang 18Estado da India Trong thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha là quốc gia chiếm thế thượng
phong trên biển, Lisbon là cái chợ lớn ở châu Âu và Estado da India giữ chức năng chính là công ty phân phối (Redistributive Enterprise) các sản phẩm gia
vị, hương liệu, tơ lụa, vàng bạc của Tân Thế Giới và Phương Đông cho thị trường châu Âu
Công cuộc mở rộng lãnh thổ được đánh dấu bằng mốc mở đầu từ cực nam châu Phi – Mũi Hảo Vọng, xuyên qua Etiopia, Biển Đỏ, Iran, Gujarat và Goa, Kanara và bờ biển Malaba, Coromadel, Orissa, Bengal, Buram và thế giới Malay, Sumatra, Java, quần đảo Moluccu và sự kết thúc ngẫu nhiên của cuộc phiêu lưu dài ngày là ở Trung Hoa Công ty Hoàng gia Bồ Đào Nha đã tồn tại dưới sự chỉ huy của nền thương mại hàng hải Nhận thức được điều này, vào những năm 1560, chính quyền Hoàng gia Bồ Đào Nha tiếp tục đảm nhiệm thêm công cuộc bành trướng và xâm lược [103, 106].Subrahmanyam, S (1993),
“The Portuguese in and Economic History”, New york, Longman
Một lý do khá truyền thống của cuộc bành trướng và xâm lược của Bồ Đào Nha là nhằm kiểm soát hoạt động thương mại và nguồn hương liệu của
châu Á Sự có mặt của Estado da India ở châu Á là khâu trung gian trong việc
thu mua và phân phối, song chức năng chính vẫn là phân phối
Trong các thế kỷ XVI và XVII, châu Á (phạm vi toàn thế giới nói chung) chứng kiến một sự chuyển biến mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu: quá
trình “Toàn cầu hóa” cận đại sơ kỳ, trong đó Manila (Philippins) là một trong
những mắt xích của quá trình đó Manila là cầu nối cung cấp nguồn bạc khổng
lồ từ Tân Thế Giới chảy về qua các đội tàu của người Tây Ban Nha vượt Thái Bình Dương sang Đông Á Từ Manila, bạc theo các thuyền buôn đến các thị trường châu Á Bên cạnh bạc Tân Thế giới qua Manila, một lượng bạc khác từ Tân Thế Giới cũng theo tàu buôn Bồ Đào Nha chảy từ châu Âu qua châu Á Nguồn bạc này kết hợp với nguồn bạc Nhật Bản mà người Bồ Đào Nha thu mua được từ Nagasaki đã trở thành huyết mạch của mạng lưới thương mại của người Bồ tại phương Đông, nhất là thị trường Đông Á Mạng lưới buôn bán
Trang 19Nội Á của người Bồ (bạc - lụa – vàng - hương liệu …) đã được người Bồ khai thác triệt để trong phần lớn thế kỷ XVI [101, 15].The survival
Như vậy, việc thành lập Estado da India vào nửa đầu thế kỷ XVI là một
nét đặc thù, một điều tất yếu khi người Bồ thiết lập mạng lưới thương mại liên
hoàn ở châu Á Estado da India là trung gian thương mại từ châu Á đến
Lisbon, là động cơ chính để biến Lisbon thành trung tâm thương mại cung cấp
hàng hóa phương Đông cho toàn châu Âu Estado da India là một chính quyền
bảo hộ của đế chế Bồ Đào Nha được thiết lập trên một khu vực địa lý rộng lớn trên các vùng bờ biển của châu Á Người Bồ Đào Nha đã có mặt ở khắp châu
Á, những hạm đội, pháo đài, công sự của người Bồ được thiết lập để tạo nên sự hậu thuẫn trong công cuộc bành trướng thương mại và truyền giáo Có thể nói,
việc phân phối các sản phẩm thương mại của châu Á đối với Estado da India là
một trong những điển hình của chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha
Như vậy, cho đến đầu thế kỷ XVI, sau các phát kiến lớn về địa lý, Bồ Đào Nha là một trong những quốc gia tiên phong trong sứ mệnh tìm kiếm những thiên đường mới ngoài châu Âu Quốc vương Bồ Đào Nha đã cho thiết
lập Estado da India - một thể chế bảo hộ thương mại và truyền giáo cho người
Bồ ở Đông Ấn Từ đó, vị trí của Bồ Đào Nha trong thương mại Tây Âu giai đoạn cận đại sơ kỳ đã thay đổi, những vị trí trọng yếu trước đây của châu Âu đã
có một thay đổi Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha là chính quyền được bảo trợ
về thương mại đầu tiên xuất hiện ở châu Á và đã giành được những thành công bước đầu, mang lại cho Bồ Đào Nha những lợi nhuận lớn và làm thay đổi vị trí của họ trong nền thương mại thế giới
1.1.2 Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha đầu thế kỷ XVI 1.1.2.1 Xây dựng căn cứ ở Goa và khu vực Ấn Độ
Trên con đường thâm nhập các xứ thuộc khu vực Đông Ấn, sau khi vượt qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi), Ấn Độ là địa điểm đầu tiên được người Bồ Đào Nha ghé thăm và nhanh chóng xây dựng vị trí thương mại và truyền giáo Vào năm 1503, người Bồ Đào Nha đã tiếp cận được bờ biển Ấn Độ Dương nhằm
Trang 20khống chế thương mại của thương nhân Ả rập và Địa Trung Hải và độc chiếm con đường hàng hải buôn bán với Ấn Độ Người Bồ Đào Nha đã dùng vũ lực
để buộc các vương công Ấn Độ phải mở cửa buôn bán với họ Tiếp đó, trong những năm đầu thế kỷ XVI, người Bồ lần lượt chiếm các điểm như Diu (1503), Cochin (1505), Goa (1510), Colombo (1518)… Trong số các địa điểm đó, Goa
là điểm quan trọng nhất ở phía Tây Ấn Độ “Người Bồ Đào Nha chiếm Goa vào ngày 25 tháng 11 năm 1510 - ngày của Thánh Catherin từ tay người thống trị bản xứ , Ismael Adil Shah Goa là một thành phố được tạo dựng và che chở bởi những hòn đảo với hợp lực của sông Man-đô-vi và Zwari trên bờ biển Ấn
Độ (Pỏtuguese trade in asea, tr4
Dưới nền hành chính, quản trị của Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha
(Estado da India), Goa - một vị trí đắc địa ở phía tây bắc Ấn Độ - đã được xây dựng thành một “tiểu Lisbon” và là khu buôn bán có quy mô bậc nhất trong nền thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Đặc trưng cơ bản của Estado da India là hoạt động phân phối các sản phẩm của châu Á và Goa đã mang đầy đủ
tính chất để hỗ trợ cho hoạt động này, đặc biệt dưới giai đoạn Habsburgs (1580-1640) - khi Bồ Đào Nha bị sát nhập vào Tây Ban Nha
Cùng với các địa điểm khác như Diu, Cochin … việc chiếm Goa năm
1510 là tiền đề cho các hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Một
vị trí được coi là tiêu điểm đầu tiên mà người Bồ Đào Nha hướng đến Trong nửa đầu thế kỷ XVI, Goa được xây dựng thành một trung tâm buôn bán lớn, nơi thu hút nhiều loại thương phẩm như hồ tiêu, các loại hương liệu, vải sợi, gạo, dầu cọ, cau … Goa không chỉ là nơi cung cấp hàng chủ yếu cho Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương mà còn là khu chứa hàng hết sức quan trọng [97, 131-141] Russel Wood cho rằng, trên cơ sở đó, đến giữa thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha đã xây dựng Goa thành một vị trí thích hợp để củng cố thêm sức mạnh về chính trị và trung tâm thương mại của họ ở phương Đông [109, 44] The Portuguese A world on the Move”, Bantimore and London
Chiếm được Goa và xác lập ảnh hưởng ở vùng miền Tây mở ra một giai đoạn mới để Bồ Đào Nha giành nhiều vị trí quan trọng khác, đặc biệt là về
Trang 21thương mại, trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là tiến từ vùng biển miền tây
Ấn Độ sang vịnh Bengal ở miền Đông và tiếp đó là sang khu vực Đông Á để chiếm lĩnh vùng quần đảo hương liệu và khai thác tuyến thương mại tơ lụa nổi tiếng của thế giới Đông Á
1.1.2.2 Xây dựng căn cứ ở Goa và khu vực Ấn Độ:
Trên con đường thâm nhập các xứ thuộc khu vực Đông Ấn, sau khi vượt qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi), Ấn Độ là địa điểm đầu tiên được người Bồ Đào Nha ghé thăm và nhanh chóng xây dựng vị trí thương mại và truyền giáo Vào năm 1503, người Bồ Đào Nha đã tiếp cận được bờ biển Ấn Độ Dương nhằm khống chế thương mại của thương nhân Ả rập và Địa Trung Hải và độc chiếm con đường hàng hải buôn bán với Ấn Độ Người Bồ Đào Nha đã dùng vũ lực
để buộc các vương công Ấn Độ phải mở cửa buôn bán với họ Tiếp đó, trong những năm đầu thế kỷ XVI, người Bồ lần lượt chiếm các điểm như Diu (1503), Cochin (1505), Goa (1510), Colombo (1518)… Trong số các địa điểm đó, Goa
là điểm quan trọng nhất ở phía Tây Ấn Độ “Người Bồ Đào Nha chiếm Goa vào ngày 25 tháng 11 năm 1510 - ngày của Thánh Catherin từ tay người thống trị bản xứ , Ismael Adil Shah.Goa là một thành phố được tạo dựng và che chở bởi những hòn đảo với hợp lực của sông Man-đô-vi và Zwari trên bờ biển Ấn
Độ (Pỏtuguese trade in asea, tr4
Dưới nền hành chính, quản trị của Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha
(Estado da India), Goa - một vị trí đắc địa ở phía tây bắc Ấn Độ - đã được xây dựng thành một “tiểu Lisbon” và là khu buôn bán có quy mô bậc nhất trong nền thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Đặc trưng cơ bản của Estado da India là hoạt động phân phối các sản phẩm của châu Á và Goa đã mang đầy đủ
tính chất để hỗ trợ cho hoạt động này, đặc biệt dưới giai đoạn Habsburgs (1580-1640) - khi Bồ Đào Nha bị sát nhập vào Tây Ban Nha
Cùng với các địa điểm khác như Diu, Cochin … việc chiếm Goa năm
1510 là tiền đề cho các hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Một
vị trí được coi là tiêu điểm đầu tiên mà người Bồ Đào Nha hướng đến Trong
Trang 22nửa đầu thế kỷ XVI, Goa được xây dựng thành một trung tâm buôn bán lớn, nơi thu hút nhiều loại thương phẩm như hồ tiêu, các loại hương liệu, vải sợi, gạo, dầu cọ, cau … Goa không chỉ là nơi cung cấp hàng chủ yếu cho Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương mà còn là khu chứa hàng hết sức quan trọng [97, 131-141] Russel Wood cho rằng, trên cơ sở đó, đến giữa thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha đã xây dựng Goa thành một vị trí thích hợp để củng cố thêm sức mạnh về chính trị và trung tâm thương mại của họ ở phương Đông [109, 44]
Chiếm được Goa và xác lập ảnh hưởng ở vùng miền Tây mở ra một giai đoạn mới để Bồ Đào Nha giành nhiều vị trí quan trọng khác, đặc biệt là về thương mại, trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là tiến từ vùng biển miền tây
Ấn Độ sang vịnh Bengal ở miền Đông và tiếp đó là sang khu vực Đông Á để chiếm lĩnh vùng quần đảo hương liệu và khai thác tuyến thương mại tơ lụa nổi tiếng của thế giới Đông Á
1.1.2.3 Từ Goa đến Malacca
Vào năm 1511, người Bồ Đào Nha đã tiến sang chiếm Malacca, mở đầu
cho công cuộc bành trướng ở khu vực Đông Nam Á
Hồi quốc Malacca ra đời vào năm 1400 Vốn là đất cống cho vương quốc Ayuthaya (Xiêm) nhưng được sự ủng hộ của chính quyền Trung Hoa nên Malacca thoát khỏi sự thống trị của người Xiêm để trở thành quốc gia độc lập
và triều cống triều đình Trung Hoa Từ năm 1405 với những cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa, nhà Minh đã mở rộng con đường tơ lụa trên biển xuống phía nam biển Nam Trung Hoa nên việc công nhận Malacca cũng không nằm ngoài
sự tính toán của nhà Minh là việc kiểm soát con đường mậu dịch biển qua các
eo biển Đông Nam Á, nối liền “thế giới Trung Hoa” và “thế giới Ấn Độ”, xa
hơn nữa là thế giới phương Tây Giai đoạn từ giữa thế kỷ XV cũng được coi là
sự bắt đầu của “kỷ nguyên thương mại” (Age of Commerce, 1450-1680) ở
Đông Nam Á, trong đó Malacca là trung tâm thương mại nổi tiếng thời bấy giờ,
là “trung tâm thương mại liên thế giới” hay là một trạm trung chuyển quan
Trang 23trọng nhất và lớn nhất, là một kho chứa hàng của toàn vùng biển Đông Nam Á, nối liền thị trường Đông Nam Á với Đông Bắc Á và Tây Nam Á [83, 37-55]
Theo những mô tả đương thời, Malacca không phải là một trung tâm buôn bán thông thường mà là một khu hội chợ lớn Nơi đây vào mùa buôn bán, các sản phẩm của Trung Quốc và Viễn Đông được trao đổi lấy các sản phẩm của Tây Á và châu Âu Tomé Pires - người đã đến đó với tư cách là thư ký và
kế toán cho cơ quan thương mại Bồ Đào Nha một năm sau khi Albuquerque
chinh phục Malacca, đã viết trong cuốn sách Suma Oriental nổi tiếng của ông
một bài tường thuật chi tiết chưa từng có trong các tài liệu về thương mại và hành chính của Malacca dưới sự cai trị của các triều vua Theo Pires thì:
“Người ta không thể đánh giá hết giá trị của Malacca qua tầm vóc và lợi nhuận của nó” Đương thời, ở Malacca có thể thấy các đồ thủy tinh, kim khí
của Venice; tơ lụa Ấn Độ; dê, bò, gạo, tỏi của Java; hồ tiêu, vàng của Sumatra; các loại hương liệu của Ai Cập; đường của Philippin; gỗ bưởi của Thái Lan; gương đồng của Trung Quốc … hàng hóa nhìn đến mỏi mắt, Đông - Tây thương phẩm đều có ở đây [15, 328]
Trong thời gian này, Malacca là một trong những trạm trung chuyển lớn
nhất của “thế giới Đông Nam Á” Tại đây, các loại hàng hóa của các vùng khác
nhau trên thế giới được luân chuyển qua đây ngày càng nhiều, theo đó mà giá trị hải quan thu được ở Malacca trong giai đoạn từ 1546 đến 1617 cũng đứng ở mức khá cao:
Bảng 2.2: Giá trị hải quan thu được tại Malacca (1542 – 1586)
Trang 241586 21.600.000
Nguồn: L F Thomaz, “Les Portugais dans les mers de l’ Archipel” (p.116) c.f:
Sanjay Subrahmanyam, “Commerce and conflict: Two views of Portuguese Melaka in
the 1620s”, Journal of Southeast Asian Studies, p 64 (Vol XIX/No 1, 3/1988)
Nhìn vào bảng thống kê trên có thể thấy, chỉ trong khoảng nửa thế kỷ, lượng hàng hóa luân chuyển qua Malacca có giá trị gấp đôi so với nửa thế kỷ trước đó, qua đó có thể nhận thấy rằng đây là một trung tâm trao đổi sầm uất và tấp nập của khu vực thương mại Đông Nam Á Lượng tàu thuyền và hàng hóa lưu động qua Malacca với eo biển cùng tên để đi vào các thị trường khác ở Đông Á lớn như thế nào
Ngoài vị trí là nơi lưu thông của các loại hàng hóa, Malacca còn là nơi luân chuyển, trao đổi của các kim loại quý, là nơi nhập khẩu vàng của các nước
trong khu vực Có ý kiến cho rằng: “Từ sau thế kỷ XV, đã có những nhận định
là vàng của Việt Nam, chất lượng hảo hạng, đã xuất sang Malacca và đã góp phần cùng với vàng của Sumatra làm cho Malacca trở thành trung tâm vàng của châu Á” [110, 376] Withmore, John, “Vietnam and the Monetary Flow of
Eastern Asia the Thirteenth to Eighteeth Centuries”, in J F the later Medieval and the Early Modern World, Press, 1984
Tuy nhiên, sự hưng thịnh của Malacca với tư cách là một cảng thị độc lập chỉ tồn tại được hơn một thế kỷ Năm 1511, sau khi đã gây dựng được vị trí thương mại và quân sự tại Ấn Độ, hạm đội của người Bồ Đào Nha dưới sự chỉ huy của toàn quyền Afonso de Albuquerque đã tiến sang đánh chiếm Malacca Mặc dù kháng cự ngoan cường, Malacca vẫn thất thủ và rơi vào tay Bồ Đào Nha Việc chiếm được Malacca đã mở đường để người Bồ thâm nhập vào các khu vực khác nhau của vùng quần đảo hương liệu, nhất là khu vực Moluccu, và khống chế các tuyến thương mại truyền thống của phương Đông
Ngoài ra, với vị trí thuận lợi trên con đường giao thương Đông - Tây, Malacca còn trở thành trung điểm, trạm dừng chân, khu tiếp tế hàng hóa và nhu yếu phẩm cho thương thuyền Bồ Đào Nha trong hành trình từ châu Âu sang khu vực Viễn Đông và ngược lại Chiếm được Malacca, người Bồ Đào Nha đã
Trang 25cho xây dựng nơi đây thành một pháo đài kiên cố, một trạm thương mại quy
mô, không chỉ góp phần vào hoạt động buôn bán hương liệu, mà còn hỗ trợ chiến lược thâm nhập các thị trường Đông Bắc Á quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản và trong một chừng mực nào đó là Đại Việt trong các thập niên tiếp theo
Nằm án ngữ con đường hàng hải nối liền Trung Quốc - Ấn Độ, Malacca
giữ vai trò “yết hầu”, là “cửa ngõ hai chiều” của con đường đó Từ Malacca,
người Bồ Đào Nha tiếp tục mở rộng địa bàn sang vùng quần đảo hương liệu ở phía đông Java Và như thế, người Bồ Đào Nha đã kiểm soát được toàn bộ khu vực Đông Nam Á Con đường từ Lisbon đến Đông Nam Á đã được xác lập và trở thành cửa ngõ để người Bồ Đào Nha mở rộng địa bàn hoạt động ra toàn bộ
khu vực Đông Á trong những năm tiếp theo “Chiếm được Malacca, eo biển có
vị thế chiến lược trên con đường giao lưu nối liền giữa phương Đông và phương Tây, Bồ Đào Nha đã sớm biến nơi đây thành cứ điểm để thâm nhập vào các quốc gia khu vực Đông Nam Á và từ đó tiến dần lên vùng biển Đông Bắc Á” (quanhệ của nhật bản với đông nan á, tr 45)
1.1.2.4. Xây dựng căn cứ Ma Cao
Từ sau Công nguyên, Trung Quốc đã nổi tiếng trong nền thương mại thế giới với những thương phẩm nổi tiếng như tơ lụa và gốm sứ, hấp dẫn người tiêu dùng khắp mọi nơi Đặc biệt, với sự phát triển song hành của cả hai tuyến đường tơ lụa trên đất liền và trên biển từ thời Đường, Trung Quốc càng trở thành địa bàn buôn bán hấp dẫn thương nhân ngoại quốc Dưới triều Minh (1368-1644), mặc dù triều đình thi hành chính sách Hải cấm song ngoại thương Trung Quốc vẫn có điều kiện duy trì và mở rộng Trong bối cảnh đó, người Bồ Đào Nha đã tìm cách thâm nhập thị trường Trung Quốc ngay sau khi xây dựng xong căn cứ địa Malacca trong thập niên đầu của thế kỷ XVI
Các tài liệu lịch sử cho biết, sau khi làm chủ Ấn Độ Dương và tiến sang vùng biển Đông Nam Á để chinh phục vùng eo Malacca, những người Bồ Đào Nha tình cờ đã trông thấy thuyền của Trung Hoa buông neo ở cảng và đây là cơ
Trang 26hội tốt để người Bồ Đào Nha kết giao với họ Sự hấp dẫn của thị trường Trung Quốc cùng với chiến lược mở rộng ra vùng Viễn Đông lúc đó đã thôi thúc người Bồ Đào Nha dong thuyền vượt Biển Đông để tiến lên Trung Quốc Vì vậy, chỉ 3 năm sau ngày chinh phục được khu vực tiền đồn của Đông Nam Á – Malacca – người Bồ Đào Nha đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Trung Hoa.
Năm 1514, tình hình đã lắng dịu ở Malacca Vị tân thống sứ Malacca là Jorge de Albuquerque, giờ đây đã có thể chú ý đến việc tìm hiểu Trung Hoa Chính Ông là người phái một đội thám hiểm đến Quảng Châu (Canton) vào năm 1514 Chúng ta hầu như không biết chi tiết nào về chuyến viếng thăm đầu tiên của người Bồ Đào Nha đến Trung Hoa Barros là nhà sử học Bồ Đào Nha duy nhất tình cờ biết được về chuyến viếng thăm này Theo nhà sử học này, một người Bồ Đào Nha tên là Jorge Alvares đã đến Tunmên một năm trước Raphael Peresstrello, nghĩa là vào năm 1514, ông ta đã dựng ở đó một bia tưởng niệm bằng đá [92, 35] Chang
Một ghi nhận sớm nhất về chuyến viếng thăm này là: những thương nhân Trung Hoa đã đi thuyền đến Malacca dọc theo Vịnh Lớn [Vịnh Bắc Bộ-TG] để thu mua lấy hàng hóa là các gia vị từ đất nước họ, xạ hương, cây đại hoàng, ngọc trai, thiếc, đồ sứ và lụa cũng như các hàng hóa đã chế tác đủ loại như sa tanh, gấm, lụa … vô cùng có giá trị Vì họ là những người có kỹ năng chế tác tuyệt vời, họ ăn mặc rất kiểu cách và đi giày tất giống chúng ta Trong suốt những tháng cuối năm đó, một vài người Bồ Đào Nha chúng ta đã tiến hành một cuộc hành trình đến Trung Hoa Họ đã không được phép đến vùng đất đó vì họ cho rằng điều đó chống lại phong tục của họ Tuy nhiên, họ đã bán nhiều hàng hóa, do vậy thu lợi rất lớn và họ cho rằng món lợi thu được từ giá gia vị ở Trung Quốc cũng ngang với bán chúng ở Bồ Đào Nha; vì ở đó là một đất nước giá lạnh và mọi người có nhu cầu lớn về gia vị [92, 36]
Như vậy, chuyến viếng thăm đầu tiên của người Bồ Đào Nha đến Trung Hoa là của Jorge Alvares vào năm 1514, đó là hệ quả tất yếu của việc tìm kiếm những thị trường mới và là tiền đề cho cuộc viếng thăm lần thứ hai vào năm 1515-1516
Trang 27Ngay sau chuyến viếng thăm đầu tiên của người Bồ Đào Nha, một người Italia khác trong thương đoàn của Raphael Peresstrello đã thực hiện một chuyến hành trình đến Trung Hoa thành công Ông thực hiện chuyến đi với một nhà buôn bản địa ở Malacca, tên là Pulate và đem theo mình vài người Bồ Đào Nha Vào tháng 8 hoặc tháng 9 năm 1516, ông ta trở về Malacca an toàn và khỏe mạnh khi kiếm được khoản lợi nhuận gấp 20 lần Ông ta cũng đem lại
những tin tức tốt đẹp: “người Trung Hoa đề nghị một sự hòa bình và tình hữu nghị với người Bồ Đào Nha và họ là những người tốt bụng” [92, 38]
Các cuộc tiếp xúc vào năm 1514 và 1515-1516 của những người Bồ Đào Nha với bờ biển Trung Hoa đánh dấu sự thành công bước đầu, những cuộc tiếp xúc này diễn ra trong không khí hữu ái, thân mật, Đây điều kiện không thể tốt hơn để họ thâm nhập vào các thương cảng Trung Hoa và khai thác mối lợi
mà các thương cảng này mang lại Đồng thời, từ Trung Hoa lục địa các sản phẩm thủ công trở thành các sản phẩm thương mại tinh xảo, là một trong những động lực để người Bồ tiếp tục tìm kiếm và khai thác những khu vực đại lợi nhuận mà nền thương mại năng động có quy mô lớn này mang lại
Từ hai cuộc thám hiểm đầu tiên đó, người Bồ Đào Nha đã có những tiếp xúc chính thức vào ngày 15 tháng 8 năm 1517, họ đến Tunmên - nơi được coi
là hòn đảo của các hoạt động thương mại - một cách an toàn Từ cuộc hành trình này, họ đã kiếm được những lợi nhuận lớn Song, sự cố trong vấn đề ngoại giao khiến triều đình ra lệnh đóng cửa Canton (Quảng Châu) vào năm
1522, không cho phép một nước ngoài nào đến đó để buôn bán nữa
Tuy nhiên, người Bồ Đào Nha đã trở lại Trung Hoa bằng cách đi buôn bán mang quốc tịch nước này Simao de Mello, viên đại úy ở Malacca, trong một bức thư gửi cho nhà vua [Bồ Đào Nha] vào năm 1545, khẳng định rằng đã
có trên 200 người Bồ Đào Nha ở rải rác trên đất nước Trung Hoa và người Bồ Đào Nha khác ở đất nước Patani và ở những nơi khác nữa … và tất cả những người Bồ Đào Nha đã khéo léo gieo rắc sự sợ hãi đối với đức Chúa trời và Đấng cứu thế tối cao và về phần họ thì họ tha hồ đi lại để làm những việc riêng
từ nơi này qua nơi khác …[47, 336]
Trang 28Như vậy, từ khi nỗ lực thiết lập quan hệ thương mại với thị trường Trung Quốc, người Bồ Đào Nha đã gặp phải Chính sách Hải cấm (1371-1567) của triều Minh Để được buôn bán ở lãnh thổ Trung Quốc, người Bồ Đào Nha phải chuyển sang quốc tịch của nước này để tự do đi lại và buôn bán và đó cũng là nguyên nhân thành công của Bồ Đào Nha tại Trung Hoa sau này Và các mối quan hệ Trung Hoa - Bồ Đào Nha nối lại và phát triển mau chóng, các quan hệ này trước tiên được tiến hành trong gần 30 năm trên các hòn đảo ngoài khơi của hai tỉnh Phúc Kiến và Triết Giang
Việc nối lại chính thức quan hệ buôn bán giữa Trung Hoa và Bồ Đào Nha tại Quảng Châu vào năm 1554, trên các hòn đảo trong các cửa sông Tây Giang; việc nối lại quan hệ buôn bán này được tiếp theo ngay bằng việc những người Bồ Đào Nha đến lập nghiệp ở hải cảng Ma Cao trong những năm từ 1555-1557 Thành phố Ma Cao đã có một sự phát triển rất mau chóng, một phần cũng là nhờ lệnh cấm người Trung Hoa không được đi ra nước ngoài, nếu không sẽ bị tội tử hình
Có thể nói rằng, việc có được trang bị tốt hơn so với các thương nhân ngoại quốc khác cùng buôn bán ở Trung Hoa đã đảm bảo cho những người Bồ Đào Nha mau chóng trở thành một thế lực độc quyền trên các tuyến hải thương nối liền Ấn Độ với Đông Nam Á, Trung Quốc với Nhật Bản [47, 337]
Người Bồ Đào Nha rất nhanh nhạy Từ đầu những năm 1550, họ đã tổ chức những hoạt động thương mại giữa các cảng khác nhau của Kyushu và những cảng gần Quảng Châu Các phái đoàn truyền giáo được Quốc vương Bồ Đào Nha bảo trợ đã được cử đến Năm 1557, họ được quan chức Trung Hoa cho phép định cư tại Ma Cao như một phần thưởng của sự hợp tác của họ trong việc tiễu trừ hải tặc Từ đó trở đi, Ma Cao trở thành địa điểm để họ buôn bán với Nhật Bản Và Ma Cao đã trở trung tâm mới của thương mại Trung Quốc -
Bồ Đào Nha, từ đó vị trí của Ma Cao đã tăng lên nhanh chóng, bên cạnh đó
cũng phải thấy rằng sự “trỗi dậy” của Ma Cao có nguyên nhân từ chính sách
Hải cấm (1371-1567) Luật pháp Trung Quốc cấm người Trung Quốc ra nước ngoài nếu không có sự cho phép của chính quyền, nếu vi phạm sẽ bị tội tử hình
Trang 29Và chính sách này đã ngăn cản người Trung Quốc cạnh tranh với người Bồ Đào Nha, sau đó họ có được một cơ hội rất thuận lợi để độc quyền đối với
thương mại Trung Hoa, đặc biệt là tại Ma Cao, đem lại cho Bồ Đào Nha “mối lợi không thể tả hết” *
Việc buôn bán gia vị ở Trung Quốc cũng như đưa chúng đến Bồ Đào Nha mang lại lợi nhuận rất lớn, việc thiết lập một cách vững chắc quan hệ buôn bán trong khu vực cũng mang lại lợi nhuận lớn nhất cho người Bồ Đào Nha:
“Một tạ hạt tiêu ở Malacca chỉ có giá 4 ducat nhưng đã bán được 15 ducat ở Trung Quốc” [92, 62]
Trong số hàng hóa mà người Bồ Đào Nha nhập khẩu vào Trung Quốc chỉ có một vài thứ sản xuất ở Bồ Đào Nha, ví dụ như vải len, vàng sợi Các loại vật phẩm xuất khẩu và nhập khẩu vào Trung Quốc bởi người Bồ Đào Nha vẫn
ở chính những gì họ đã có Từ Trung Quốc, người nước ngoài thu được đồng, chì, phèn, xe kéo, cáp, các vật phẩm làm từ sắt, các chất liệu lụa tơ tằm như
damask, nhiều loại satanh và thổ cẩm, đồ sứ, đại hoàng, xạ hương, vàng, bạc,
ngọc trai, tủ và khay gỗ mạ vàng, muối, đồ thủ công, nhất là các loại tơ lụa và những sản phẩm gốm sứ chất lượng Họ mang vào Trung Quốc các loại hàng hóa như hạt tiêu từ Sumatra, Malaba, Pasai, Pedir và Patani; thuốc nhuộm của Cambay, Bengal; châu sa, thủy ngân, hắc mộc, gỗ trầm, ngà, vải len, vàng sợi…
Những mặt hàng trên cho thấy sự đa dạng của các mặt hàng trong hoạt động buôn bán dưới sự điều hành của người Bồ Đào Nha Những hoạt động buôn bán này mang tính độc quyền và mang lại những lợi nhuận siêu giá trị mà
*
Ma Cao theo tiếng Hán là Áo Môn, từ thế kỷ III TCN cùng với một số vùng đất khác đã có tên trên bản đồ Trung Quốc, trở thành một bộ phận của Phiên Ngung, quận Nam Hải; sau đó là một loạt những thay đổi khác nữa,
Ma Cao có diện tích rất nhỏ (chưa đầy 23 km vuông), là nơi các thuyền bè qua lại thuận tiện với vị trí là trục đường giao thông trên biển nối liền Inđônêsia, châu Phi, Âu Mỹ Từ năm
1535, quan phủ Quảng Đông đã đề ra việc chuyển bến thuyền về Ma Cao, cho phép thương thuyền nước ngoài được vào Hào Kính (tên gọi đầu tiên của Ma Cao) Từ đó trở thành nơi buôn bán giữa Trung Quốc với người nước ngoài
Trang 30thị trường Trung Quốc đóng vai trò quyết định tới sự thành công của thương mại Bồ Đào Nha ở phương Đông
Nhận xét về tầm quan trọng của Ma Cao và vai trò của Bồ Đào Nha,
Manguin cho rằng: “Cho mãi đến cuối thế kỷ XVI, hải cảng Ma Cao chỉ biết đến những năm tháng đầy thắng lợi” [47, 338] Geoffrey Scammel đã có những nhận xét về vấn đề này như sau: “Ma Cao là thành phố duy nhất ở châu
Á được tạo dựng bởi người Bồ Đào Nha” [109, 44] Điều đó chứng tỏ vai trò
và tầm quan trọng của người Bồ Đào Nha Đây cũng chính là cơ sở để người
Bồ Đào Nha xây dựng Ma Cao là trung tâm thương mại và truyền giáo ở phương Đông
Việc nối lại quan hệ buôn bán với Trung Quốc (vào khoảng những năm 1550) là một trong những điều kiện để người Bồ Đào Nha tiến hành các đợt truyền bá Thiên Chúa giáo vào vùng đất có truyền thống văn hóa đến hơn 4.000 năm như Trung Quốc, nhưng do tính chất hòa đồng của đạo Thiên Chúa
và sự mềm mỏng của chính quyền Trung Hoa, việc truyền bá Thiên Chúa giáo được lấy cơ sở từ quan hệ tốt đẹp về thương mại
Qua đó, Ma Cao được lấy làm trung tâm của việc truyền bá này: Đến giữa đời Minh, Công giáo phương Tây một lần nữa được truyền sang Trung Quốc (lần truyền bá Công giáo vào Trung Quốc trước đó diễn ra vào thời Đường) Công giáo truyền sang phương Đông lần này lấy Ma Cao làm cứ điểm
và được phát triển nhanh chóng ở nội địa Trung Quốc, ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa hoc kỹ thuật của Trung Quốc, đồng thời đóng vai trò tích cực trong việc truyền bá Công giáo ở cả khu vực Viễn Đông [31, 58]
Cũng từ thời gian này trở đi, Trung Hoa là trạm cuối cùng của dòng bạc chảy từ hai con đường Một từ Tân Thế Giới qua Bồ Đào Nha hoặc Manila hoặc một từ Nhật Đối với cả hai con đường này Bồ Đào Nha đều hoạt động rất tích cực ở một số cảng giữa Java và Sumatra hoặc giữa Trung Hoa và Manila Nhưng ở con đường thứ hai từ Nhật tới, cần nhớ rằng Trung Hoa không cho
Trang 31phép các tàu Nhật được đến cảng của mình Do đó, việc buôn bán được tiến hành bởi người Bồ Đào Nha [34, 256]
Như vậy, việc thám hiểm và thiết lập mối quan hệ của Bồ Đào Nha với Trung Quốc nằm trong cuộc hành trình thiết lập hành lang thương mại Đông Á, Trung Quốc - một thị trường với quy mô lớn cùng với sự đa dạng của các sản phẩm thủ công tinh xảo nhất của phương Đông là một trong những động lực để
Bồ Đào Nha tiến đến các khu vực thuộc bờ biển Trung Hoa như: Bán đảo Lưu Châu, Triều Châu, Phúc Châu … đặc biệt từ sau khi thiết lập được khu định cư
ở Ma Cao (1557) thì lợi nhuận thương mại người Bồ Đào Nha thu được là vô cùng lớn, nhất là khi xây dựng được địa bàn ở Nagasaki, khi đó Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha đã có mặt ở Đông Ấn như một kết quả tất yếu và như vậy mạng lưới thương mại liên hoàn của Bồ Đào Nha ở Đông Á đã dần hoàn thiện và đi vào hoạt động mạnh mẽ ở toàn khu vực
1.1.2.5 Xây dựng căn cứ Nagasaki
Xét một cách tương đối toàn diện, ở Đông Á từ lâu đã hình thành thị trường lớn, trong đó nổi lên mạnh mẽ nhất là Trung Quốc, kế tiếp là Nhật Bản Nhật Bản tiêu thụ các mặt hàng thủ công của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Đại Việt, đồng thời cung cấp nguồn kim loại tiền tệ như bạc, vàng
và đồng Bạc Nhật Bản có thể sánh ngang với bạc ở Tân Thế Giới, tạo nên
“dòng chảy bạc” trong nền thương mại thế giới Nhờ đó, Nhật Bản đã thật sự
trở thành nơi hội tụ của nhiều đoàn thuyền buôn của cả châu Á và châu Âu (cùng thời gian đó, ở nửa bên kia của thế giới - Tân Thế Giới (châu Mỹ), Bồ
Đào Nha cũng đã xây dựng nên một dòng chảy mới -“dòng chảy đen” (buôn
bán nô lệ châu Mỹ cung cấp lao động cho thị trường châu Âu và châu Á), một thị trường độc quyền và mạng lại lợi nhuận lớn gấp nhiều lần buôn bán những mặt hàng khác
Trong khu vực buôn bán ở châu Á, hai nước Trung Quốc và Nhật Bản sớm thu hút được sự chú ý của nhiều cường quốc châu Âu, bởi vì đây là hai thị trường buôn bán lớn, đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho các nước phương Tây
Trang 32trong thế kỷ XVI-XVII Qua đó, việc Bồ Đào Nha thiết lập quan hệ thương mại với Nhật Bản là điều hết sức tất yếu trong bối cảnh lịch sử lúc đó
Sau sự kiện chiếm Malacca năm 1511 và bành trướng ra Đông Nam Á hải đảo, người Bồ Đào Nha đã từng bước chinh phục vùng biển phía bắc của Đông Á, xây dựng vị trí tại Ma Cao và từ đó thâm nhập Nhật Bản Các nhà sử
học thường cho rằng người Bồ Đào Nha chính là “sứ giả” châu Âu đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, những “chiến sĩ tiên phong” trong việc truyền bá tôn giáo,
và những thương nhân năng động trong phát triển quan hệ thương mại với vùng đất xa xôi này
Năm 1543, trong chuyến đi từ Xiêm dự định đến Macao, một chiếc thuyền buôn Bồ Đào Nha bị bão thổi dạt đến Tanegasima, là hòn đảo nhỏ nằm
ở phía đông nam Kyushu (Nhật Bản) Do hoàn cảnh ngẫu nhiên đó, các thủy thủ Bồ Đào Nha trên chiếc tàu bị nạn đó chính là người châu Âu đầu tiên đặt
chân lên quần đảo Nhật Bản Họ đã đến được vùng đất có tên là “Zipangu”
huyền thoại, nơi đây được coi là có nguồn của cải vô tận, vàng bạc chất đầy trong các dịnh thự( qhe của nhật ban vơi dna, tr46)
Trước khi người châu Âu đến được Nhật Bản, những thông tin về vùng
đất Viễn Đông tập trung chủ yếu trong tập “du ký” của Marco Polo-(Travel of Marco Polo), sau đó là quá trình giao lưu, trao đổi tiếp xúc qua việc buôn bán,
thiết lập quan hệ thương mại với giới thương nhân Trung Hoa, Ấn Độ, Ả rập… giới thương nhân, thủy thủ, giáo sĩ Bồ Đào Nha (người châu Âu nói chung) đã
có nhận thức khái quát về vùng đất có tên là “Zipangu” “Những nguồn lợi lớn hứa hẹn thu được ở đây khiến cho nhiều tàu buôn Bồ Đào Nha quyết tâm tìm đến vùng đất này Họ là những người châu Âu đầu tiên tìm đến Nhật Bản, đồng thời cũng là những người đầu tiên truyền bá vũ khí châu Âu và Cơ Đốc giáo vào đảo quốc này [34, 48].qhej của nb voi Dna, tr48
Diego de Mosquita đã ghi vào năm 1607, dưới thời Tokugawa Ieyasu: Dưới thời cầm quyền Ieyasu không thích Thiên Chúa giáo nhưng ông ấy biết rằng chúng ta sử dụng nó như một thứ để bảo vệ nền thương mại Lợi nhuận thương mại mà người Bồ Đào
Trang 33Nha mang lại cho Mạc Phủ là rất lớn và việc Ieyasu cho phép người Bồ Đào Nha truyền giáo ở Nhật Bản là kết quả của một thỏa thuận ngầm về vấn đề thương mại và truyền giáo [91, 423] Cooper, Michael (1972), “The Mechanics of Macao-Nagasaki silk”, Monumenta Niponica, Vol 27, No 4
Quan hệ giữa Bồ Đào Nha và Nhật Bản chính thức bắt đầu vào năm
1545, tức là 2 năm sau khi người Bồ Đào Nha tình cờ phát hiện ra Nhật Bản Ngay từ khi những chuyến tàu buôn của người Bồ Đào Nha ghé vào hải phận Nhật Bản, chúng đã được các lãnh chúa địa phương chào đón với một thái độ
ưu ái đặc biệt Do có tàu đi biển với trọng tải lớn, tốc độ nhanh và thủ đoạn buôn bán tinh vi mà người Bồ Đào Nha đã căn bản phá vỡ được vai trò độc quyền truyền thống của thương nhân Trung Hoa trong khu vực buôn bán Nhật Bản Hơn thế, họ còn mở rộng, nối liền thị trường Nhật Bản với thị trường khu vực
Để mở rộng thế lực sang châu Á, thiết lập quan hệ thương mại thường xuyên với Nhật Bản và đảm bảo an ninh chiến lược trên biển, ngay sau khi đến Nhật Bản, các giáo sĩ và thương nhân Bồ đã gắng công tìm kiếm một địa điểm thuận lợi để có thể vừa xây dựng cảng vừa dùng làm cứ điểm ở Viễn Đông Về chiến lược, Bồ Đào Nha muốn nối dài hành lang buôn bán của mình từ Ấn Độ (Goa, năm 1510) sang bán đảo Malay (Malacca, năm 1511) nối liền với Trung Quốc (Ma Cao, năm 1557) rồi đến các đảo Nhật Bản
Năm 1571, sau khi tập hợp được hầu hết các thương nhân Hirado, Shimabara … về Nagasaki, lãnh chúa Omura đã cho xây dựng 6 khu phố lớn
Từ đó, Nagasaki trở thành trung tâm buôn bán với nước ngoài ở vùng tây - nam Nhật Bản Việc giành được quyền mở cảng và đặt thương điếm ở Nagasaki là kết quả của cả một quá trình thăm dò, thương thuyết bền bỉ của người Bồ Đào Nha với các lãnh chúa Nhật Bản Ban đầu, họ đã tìm đến Hirado, miền bắc Kyushu, nhưng lãnh chúa địa phương là Matsura do có thái độ cảnh giác với Thiên Chúa giáo nên đã từ chối đề nghị mở cảng Vì vậy, người Bồ phải tiếp tục tìm kiếm đến những địa điểm khác May mắn thay, khi đến một làng đánh
Trang 34cá nhỏ có tên là Nagasaki, các thủy thủ và thương nhân Bồ Đào Nha đã phát hiện được một khu vực có điều kiện tự nhiên hết sức lý tưởng cho việc xây dựng một thương cảng có tầm vóc quốc tế Năm 1616, một người Anh có tên là Richard Cooks đã đến Nagasaki và ghi lại những nhận xét về thương cảng này Theo ông, đây là cảng tốt nhất ở Nhật Bản, nơi có thể 1.000 chiếc thuyền cùng cập bến và những chiếc tàu lớn nhất trên thế giới có thể cập bến hoặc buông neo trước thành phố [37, 99-100]
Trong vòng khoảng 5 đến 8 tháng, tàu Bồ Đào Nha buông neo ở cảng để đợi bán và mua hàng, thương nhân và thủy thủ đoàn Bồ Đào Nha đã hòa nhập vào xã hội Nhật Bản Theo những ghi chép còn lưu giữ được, chỉ trong vòng 7 đến 8 tháng sống ở Nhật Bản, các thương nhân này đã tiêu hết khoảng 250.000
đến 300.000 tael bạc Đó là khoản chi phí lớn so với điều kiện kinh tế cũng như
mức sống chung ở Nhật Bản Chi phí đó thậm chí còn lớn hơn cả khoản tiêu dùng hàng năm của những lãnh chúa giàu nhất Nhật Bản lúc đó Nguồn lợi kiếm được từ các thương nhân phương Tây cũng là một nguyên nhân rất đáng
lưu ý để lý giải về thái độ thiện cảm của không ít người Nhật đối với các “ông chủ” hào phóng châu Âu [37, 102] Chính sách ddooogns cưae
Nguồn lợi về kinh tế là cái đích lớn nhất mà các nước phương Tây mong muốn ở Nhật Bản Là những người phương Tây đầu tiên thiết lập được quan hệ thương mại với Nhật Bản nhưng hầu hết các thương nhân Bồ Đào Nha là những thương nhân tự do Nhưng chỉ ít năm sau đó, do tầm quan trọng của thị trường Nhật Bản, chính quyền Bồ Đào Nha đã từng bước thiết chế hóa các hoạt động thương mại, trực tiếp tổ chức và quản lý mọi hoạt động buôn bán với Nhật Bản thông qua hệ thống điều hành ở Ma Cao.qhe của nb, tr49
Người Bồ Đào Nha rất nhanh nhậy Từ đầu những năm 1550, họ đã tổ chức những hoạt động thương mại thường xuyên giữa các cảng khác nhau như của Kyushu Từ năm 1557, họ được các quan chức Trung Hoa cho phép định
cư tại Ma Cao như một phần thưởng cho sự hợp tác của họ trong việc tiễu trừ hải tặc Từ đó trở đi, Macao trở thành địa điểm để họ buôn bán với Nhật Bản
Ở Nhật, họ đến các cảng khác nhau, nhưng từ 1571, khi cảng Nagasaki được
Trang 35mở và hiến cho Hội Jesus, tàu bè Bồ Đào Nha hầu như năm nào cũng đến đó Buôn bán giữa Macao và Nagasaki là hoạt động thu lãi nhất ở Ấn Độ thuộc Bồ
Việc thiết lập được vị trí ở hai địa điểm khác nhau có tầm quan trọng song song với nhau là Ma Cao và Nagasaki trở thành hai trong số các hải cảng
có tầm quan trọng nhất ở châu Á Từ đó, đảm bảo cho hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha ở phương Đông phát triển mau chóng ở cuối thế kỷ XVI
Trong quan hệ với Nhật Bản, Ma Cao giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất
là khi Bồ Đào Nha thiết lập được thương quán ở trung tâm thương mại quan trọng này Hoạt động buôn bán của thương nhân Bồ Đào Nha đã được thực hiện trong những điều kiện thuận lợi Thông thường hàng năm Bồ Đào Nha vẫn
cử thuyền buôn từ Goa đến Ma Cao và rồi lại từ Ma Cao đến Nhật Bản để bán
và nhập hàng Trên lộ trình đó, thuyền buôn thường dừng lại ở Malacca và một
số thương cảng khác ở Đông Nam Á để cất thêm hàng Ngoài số lượng hàng hóa của châu Âu và Đông Nam Á ở Ma Cao, họ đã mua thêm tơ sống, lụa, vàng và một số mặt hàng khác rồi đến buôn bán ở Nhật Bản Tại Nhật Bản, thuyền buôn Bồ Đào Nha đã bán hàng để mua về bạc Trên đường trở lại Ấn
Độ, ngoài số bạc mua được từ Nhật Bản, thuyền buôn Bồ Đào Nha lại ghé qua
Ma Cao để nhập về tơ lụa và một số mặt hàng khác của Trung Quốc
Trong thời gian này, do gần như nắm được độc quyền trong quan hệ thương mại với Nhật Bản nên Bồ Đào Nha đã thu được nhiều nguồn lợi nhuận lớn Lợi nhuận thu được thường lên đến 70-80%, thậm chí có thể lên đến 100% Chính lượng bạc mà Bồ Đào Nha thu được từ thị trường Nhật Bản đã đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho nước này tại thị trường châu Á Do những thuận lợi lớn từ thương mại, ngay cả Hội truyền giáo của giáo đoàn Dòng Tên
ở Ma Cao, bên cạnh việc thực hiện sứ mệnh truyền giáo trong những thời điểm
cụ thể, tổ chức tôn giáo này cũng tham gia vào hoạt động kinh tế như làm trung gian trao đổi vàng, bạc cho các lãnh chúa và thương nhân Nhật Bản hoặc đầu
tư vào các thương vụ, đặc biệt là tuyến Ma Cao - Nhật Bản [34, 50-51].qhe cua
Trang 36Trong mạng lưới buôn bán của Bồ Đào Nha ở phương Đông, Nhật Bản
có một vị trí đặc biệt quan trọng Cùng với Trung Quốc, Nhật Bản là thị trường buôn bán lớn đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI-XVII Trên một phương diện khác, Nhật Bản còn là đầu mối trong hệ thống buôn bán, hệ thống thuộc địa kéo dài từ Lisbon - Mũi Hảo Vọng – Goa – Malacca – Ma Cao - Nagasaki Và từ 1569, Nagasaki trở thành trung tâm lớn nhất trong nền thương mại Bồ Đào Nha - Nhật Bản [92, 104] Chang, T’ien Tse (1933), “ Sino-Portuguese Trade from 1514-1644", Brill, Leiden
Trong kế hoạch chiến lược lâu dài của Bồ Đào Nha từ khi chiếm được Malacca, thị trường Đông Á nói chung và thị trường Nhật Bản nói riêng luôn là điểm hướng tới của các tàu buôn và các phái đoàn truyền giáo Bồ Đào Nha Trong hành trình tìm kiếm thị trường, địa bàn để xây dựng hệ thống thương mại liên hoàn từ Lisbon, xuyên Ấn Độ Dương sang châu Á; việc tìm thấy thị trường Nhật Bản - điểm cuối cùng trong tuyến thương mại Đông Á cho thấy,
việc xác lập vị trí ở toàn bộ “thiên đường” của phương Đông không còn là
huyễn hoặc và hệ thống thương mại thuộc nội Á cho đến khoảng giữa thế kỷ XVI đã được chính thể hóa bởi người Bồ Đào Nha
1.2 VÀI NÉT VỀ NHẬT BẢN TRONG THẾ KỶ XVI - XVII
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội
Từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII, lịch sử Nhật Bản trải qua một thời kỳ đầy biến động Đó là thời kỳ hỗn loạn về chính trị của Nhật Bản, nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc để tranh giành đất đai và quyền lực giữa các lãnh chúa đã diễn ra Lịch sử gọi đó là thời kỳ Chiến quốc (Sengoku, 1490 – 1600) Vào thời kỳ này cuộc xung đột giữa các thế lực phong kiến Nhật Bản đã mở rộng trên phạm vi cả nước Cuộc nội chiến
đã cuốn hút tất cả mọi tầng lớp xã hội lao vào những cuộc tàn sát kéo dài hơn một thế kỷ và để lại nhiều hệ quả đối với xã hội Nhật Bản
Tuy nhiên đến giữa thế kỷ XVI, một khuynh hướng thống nhất đã bắt đầu xuất hiện ở Nhật Bản với sự hình thành một liên minh quân sự
Trang 37đứng đầu là Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tukugawa Ieyasu
Do quy mô ngày càng mở rộng của chiến tranh, các daimyo đều nhận thấy không thể tồn tại một cách độc lập và họ phải liên minh với nhau Đến 1568, Oda Nobunaga trở thành một võ tướng ở Kyoto Đến năm
1573, Oda Nobunaga phế truất tướng quân về Kyoto, đuổi tướng quân Ashikaga Yoshiaki (1537 - 1597) ra khỏi kinh đô và giam giữ ông trong thành Kawachi Hai năm sau Yoshiaki được trả tự do, trở về Kyoto sinh sống nhưng vai trò lịch sử đã hoàn toàn kết thúc Sự kiện Oda Nobunaga phế truất tướng quân cuối cùng họ Ashikaga không những đã đặt dấu chấm hết cho 237 năm thống trị của Mạc phủ Muromachi mà còn mở ra một thời kỳ mới: thời kỳ tập trung quyền lực của các tập đoàn võ sĩ địa phương
Nhưng khi bá quyền chưa thành thì ngày 22/6/1582, Oda Nobunaga đã bị thuộc hạ của mình giết hại Sau cái chết của Nobunaga, trong số các đồng minh nổi lên vai trò của Toyotomi Hideyoshi Ba năm sau khi Nobunaga bị giết hại Hideyoshi đã trở thành lãnh chúa có thế lực nhất ở Nhật Bản Năm 1584, Toyotomi Hideyoshi cho xây thành Osaka làm trung tâm chính trị Bằng nhiều cách, liên minh chính trị, tấn công quân sự, đến năm 1590 về cơ bản Toyotomi Hideyoshi đã hoàn thành thống nhất đất nước Những thắng lợi mà Toyotomi Hideyoshi đạt được
là một bước tiến nữa thúc đẩy quá trình liên hiệp các lãnh chúa địa phương ở Nhật Bản mà Nobunaga đã đạt được cơ sở quan trọng Tình trạng phong kiến phân quyền kéo dài trong lịch sử Nhật Bản đã cơ bản chấm dứt để thay vào đó là thiết chế chính trị phong kiến quân phiệt thống nhất có khuynh hướng tập quyền
Để phá vỡ thế cô lập của Nhật Bản và đẩy mạnh quan hệ kinh tế với các nước, một mặt Toyotomi Hideyoshi phái cử nhiều thuyền buôn đến các nước Đông Nam Á buôn bán, mặt khác muốn thâm nhập vào các
Trang 38quốc gia Đông Bắc Á dưới danh nghĩa khôi phục lại quan hệ ngoại thương Nhưng không được nhà Minh chấp nhận Dựa vào sức mạnh quân sự, Hideyoshi lại yêu cầu triều đình Choson phải cho Nhật Bản mượn đường và cùng cử quân xâm lược Trung Quốc Triều đình Choson
đã giữ thái độ thân Minh và cự tuyệt yêu cầu của Nhật Bản Đầu 1592, Hideyoshi cử 200.000 quân tấn công Triều Tiên nhưng thất bại Năm
1597, Nhật Bản tiếp tục phái cử đội quân xâm lược Triều Tiên lần thứ hai nhưng vẫn không giành được thắng lợi tiếp tục Tháng 9/1598, Hideyoshi mắc trọng bệnh qua đời
Trong những ngày cuối đời, Toyotomi Hideyoshi đã nhờ Tokugawa Ieyasu và 4 daimyo thân cận phụ tá con trai mình mới 5 tuổi Lợi dụng điều này, Ieyasu đã tìm cách tiêu diệt các daimyo đối địch để lên giành quyền lực về tay mình Năm 1600, tại Sekigahara đã diễn ra trận chiến đấu quyết định giữa một bên là liên quân ủng hộ Tokugawa Ieyasu và một bên là lượng trung thành với Toyotomi Hideyoshi Với thắng lợi quân sự ở Sekigahara đã đưa Ieyasu trở thành nhân vật có thế lực nhất trên vũ đài chính trị Mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ Tokugawa (1600 – 1868)
Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vị thế của các lãnh chúa địa phương được khẳng định cùng chế độ kinh tế lãnh địa được xác lập Các daimyo là người nắm quyền lực chính trị cao nhất tại địa phương, thâu tóm toàn bộ tư liệu sản xuất, ban hành luật pháp, định đoạt các vấn đề xã hội trong phạm vi lãnh thổ Chính sự độc lập của các lãnh chúa lớn là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế độc lập trong các lãnh địa phát triển, bất chấp tình hình chinh chiến tranh giành lãnh thổ xảy ra liên miên
Trong nông nghiệp, nhờ áp dụng guồng quay nước nên nhiều vùng
có thể canh tác hai vụ trong một năm, nhiều giống cây mới được đưa vào gieo trồng, diện tích canh tác và sản lượng nông nghiệp tại các lãnh địa
Trang 39tăng lên đáng kể Sự phát triển của nông nghiệp làm nền tảng quan trọng thúc đẩy các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp phát triển, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản Các sản phẩm thủ công tinh xảo như đồ kim khí, làm đồ gốm, chế tạo vũ khí, dệt được các nghiệp đoàn thủ công sản xuất ngày càng nhiều Sản phẩm làm ra không chỉ dừng lại ở những yêu cầu đặt hàng của các lãnh chúa hoặc phục vụ tiêu dùng trong phạm vi lãnh địa mà đã vươn ra những thị trường rộng hơn
Do nhu cầu sản xuất và kinh doanh, nhiều thương đoàn, nghiệp đoàn của các thương nhân đã được thành lập, tập trung vào buôn bán một mặt hàng nhất định với số lượng lớn phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của các lãnh chúa và nhân dân như vật liệu xây dựng, lương thực, muối…Những thương đoàn của Nhật Bản không chỉ dừng lại từ việc kinh doanh, mà còn nhận thu thuế bao thầu cho chính quyền, tạo điều kiện cho
sự phát triển của hoạt động cho vay lấy lãi Hình thức kinh doanh công nghiệp cũng xuất hiện khi một số thương nhân tận dụng nguồn thóc gạo
có sẵn để sản xuất rượu khối lượng lớn
Với nền văn hóa và tầm nhìn hướng biển cùng truyền thống hải thương lâu đời, các thương nhân Nhật Bản không chỉ dừng lại trong việc kinh doanh nội địa mà đã đẩy mạnh ngoại thương ra tầm khu vực Thuyền buôn của Nhật Bản thường xuyên xuất hiện ở Triều Tiên, Mã
Lai, Xiêm, Việt Nam, Campuchia và đặc biệt là Trung Quốc “ Hàng
đoàn thuyền gồm mười hay mười lăm chiếc, chở đầy hàng hóa đi theo các
sứ thần từ Nhật Bản đến bán hàng ở Trung Quốc Hàng xuất cảng của Nhật Bản chủ yếu là vũ khí, nhiều nhất là kiếm sắt, sau đó đến đồng, diêm sinh, vàng, bạc, v.v… Nhật Bản nhập cảng từ Trung Quốc bông, vải, tơ, sợi, v.v… Giá đồng và vàng ở Trung Quốc đắt gấp 5 lần ở Nhật Bản Giá bông ở Nhật Bản đắt gấp 2 lần giá bông ở Trung Quốc Tiền
Trang 40đồng nhập khẩu từ Trung Quốc được lưu hành rộng rãi và giữ vị trí cao trong việc giao dịch” [17,70] Nhờ sự phát triển của thủ công và thương
nghiệp, các đô thị và phố chợ mọc lên khắp nơi trong nước, hệ thống đường xá cầu cống được đầu tư xây dựng giúp thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế văn hóa của nhân dân
các địa phương trong nước
Sau khi Nhật Bản thống nhất dưới thời Tokugawa, trong điều kiện hòa bình diện mạo của kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và đặc biệt là thương nghiệp có nhiều khởi sắc Nhu cầu của thị trường, tìm kiếm lợi nhuận, hội tụ giao lưu đã thúc đẩy việc mở rộng diện tích và xây mới các thành phố Ước tính có hơn 200 thành phố vào thời Tokugawa, một số thành phố như Edo, Osaka, Naguga…tập trung hơn 100.000 dân sinh sống Những thành phố này là trung tâm sản xuất thủ công nghiệp, là những đầu mối cung cấp lưu chuyển hàng hóa cho thị trường
Vào thế kỷ XVII, trong một số ngành như khai mỏ, luyện kim đã xuất hiện những công trường thủ công quy mô Thương mại, ngân hàng
có sự phát triển và chi phối kinh doanh do nhu cầu vay lãi của thương nhân ngày càng lớn Quan hệ sản xuất mới, tư bản chủ nghĩa đã thâm nhập vào xã hội phong kiến, nhưng giữa những nhà sản xuất, kinh doanh, cho vay lãi, chính quyền có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau Mối quan hệ này là một minh chứng cho sự phát triển của sản xuất và quan hệ hàng hóa - tiền tệ, không những không phá vỡ mà còn củng cố thêm cấu trúc xã hội tương đối ổn định và bền vững với 4 đẳng cấp : sĩ, nông, công, thương thời kỳ Mạc phủ Tokugawa
Trong thời kỳ này, nhờ kinh tế có những khởi sắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học kỹ thuật, kiến trúc xây dựng, văn học nghệ thuật phát triển mạnh mẽ Kiến trúc thành thị, lăng tẩm pháo đài được thiết kế quy hoạch khá hiện đại Nhiều loại hình nghệ thuật mới ra đời phục vụ