Song phần lớn các công trình này mới chỉ nêu khái quát đặc điểm hình thái kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn miền Nam Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề ruộng đất đặc biệt là hình
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp Nông dân chiếm 90% dân số
và là lực lượng sản xuất cơ bản của cả nước Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là một trong những vấn đề then chốt của cách mạng nước ta
Trong thời kỳ miền Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vấn đề ruộng đất, nông thôn luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cuộc chiến đấu giữa ta và địch Suốt 21 năm (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân miền Nam đã đứng lên đấu tranh để giành lại quyền làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn Kết quả bước đầu của phong trào đã làm biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở vùng nông thôn miền Nam Hình thức sở hữu ruộng đất thay đổi không những ảnh hưởng sâu sắc đến bộ mặt xã hội ở các vùng nông thôn mà còn tạo điều kiện để nông nghiệp, nông thôn miền Nam đi vào quĩ đạo của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là tiền đề căn bản bước đầu cho sự phát triển nông nghiệp miền Nam trong giai đoạn hiện nay
Do đó, việc tiến hành nghiên cứu biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 là một việc làm có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sâu sắc Trên cơ sở phân tích, đánh giá sự biến đổi của hình thức
sở hữu ruộng đất nhằm khôi phục chân thực lại bức tranh lịch sử kinh tế nông nghiệp miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975 Từ đó góp phần làm sáng tỏ lịch
sử cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của nhân dân miền Nam nói riêng
và dân tộc Việt Nam nói chung Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài còn để lại nhiều tư liệu, bài học kinh nghiệm quí báu cho công cuộc xây dựng, phát triển
Trang 2kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà Đảng và nhà nước đang tiến hành trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
Chính vì lí do đó, em đã quyết định lựa chọn vấn đề: “Biến đổi hình
thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề ruộng đất cũng như vấn đề hình thái kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam nói chung từ 1954 đến 1975 đã thu hút được khá nhiều các nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở hai miền Nam - Bắc
Ở miền Nam trước ngày giải phóng đã có một số công trình được biên
soạn như: Trần Lưu Dy với “Xây dựng kinh tế nông thôn Việt Nam” , (Sài Gòn, 1966), Võ Hòa Khanh với “Kinh tế và xã hội Việt Nam”, (Sài Gòn,
1966) Song phần lớn các công trình này mới chỉ nêu khái quát đặc điểm hình thái kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn miền Nam Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề ruộng đất đặc biệt là hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954 - 1975
Ở miền Bắc, trước năm 1975 cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề ruộng đất ở miền Nam đã được xuất bản: “Vấn đề nông dân miền Nam” của Nguyễn Phong - Hoàng Linh, (Hà Nội, 1962), Trần Phương với
“Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam”, (NXB KHXH, 1968), Nghiên cứu Lịch
sử số 9 (1962) Các công trình nghiên cứu trên đây đã điểm qua tình hình cách
mạng ruộng đất từ sau Cách mạng tháng Tám và đi phân tích, vạch trần bản chất phản động trong chính sách ruộng đất của Mỹ - Diệm Tuy nhiên các công trình trên mới chỉ dừng lại nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của miền Nam trong thời kỳ 1945 - 1954 mà chưa phác họa được bức tranh tổng quát
về vấn đề ruộng đất ở miền Nam trong suốt thời kỳ 1945 - 1975
Trang 3Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng các nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện để tiếp tục tìm hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn, số lượng công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975
khá nhiều: Cao Văn Lượng với “Chính sách ruộng đất của Mỹ - ngụy” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6(1976) Trong bài viết, tác giả đã trình
bày khá chi tiết và đầy đủ về chính sách ruộng đất của địch trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt đã nhấn mạnh và phê phán gay gắt chương
trình “Cải cách điền địa” mà Mỹ - ngụy thực hiện qua các thời kỳ Đáng chú
ý là cuốn “Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” của Lâm Quang Huyên (NXB
KHXH, 2007) đã trình bày có hệ thống các sử liệu về toàn bộ cách mạng ruộng đất ở hai miền Nam - Bắc trong suốt 30 năm (1954 - 1975), trong đó có
đi sâu vào phần cách mạng ruộng đất ở miền Nam Tác giả đã phân tích, phê phán chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Mỹ - ngụy và bước đầu làm rõ phong trào đấu tranh giành ruộng đất của nông dân miền Nam từ 1954 đến 1975
Những năm gần đây, nhiều cuộc hội thảo, báo cáo có liên quan đến vấn
đề nông nghiệp, nông thôn miền Nam đã được tổ chức, thu hút được sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước
Như vậy, cho đến nay đã có một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất, hình thái kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn miền Nam song vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy
đủ, kỹ lưỡng về biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sâu sắc biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975; phân tích tác động của biến đổi hình thức
Trang 4sở hữu ruộng đất đến nền kinh tế - xã hội vùng nông thôn miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975 Trên cơ sở đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc phát triển kinh tế nông nghiệp miền Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụng nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975” nhằm giải quyết những nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trên cơ sở phân tích chính sách ruộng đất phản động của Mỹ
- Diệm và chính sách ruộng đất của Đảng ta, cần làm nổi bật được ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
từ 1954 đến 1970
Thứ hai: Phải làm rõ được sự biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở
miền Nam trong thời kỳ 1970 - 1975 so với thời kỳ 1954 - 1970
Thứ ba: Nghiên cứu phải rút ra được tác động, ảnh hưởng của những
biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất đến nền kinh tế - xã hội vùng nông thôn miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu về biến đổi hình thức sở
hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1954 đến năm 1975
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1.Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tài liệu sau:
- Nguồn tài liệu thứ nhất: Là các tư liệu gốc gồm các hồ sơ, báo cáo tổng kết về kinh tế miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975 của Đảng và các phái đoàn điều tra kinh tế Mỹ, lưu trữ tại Thư viện quốc gia, Viện sử học
- Nguồn tài liệu thứ hai: Là các văn kiện, nghị quyết của Đảng trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975
Trang 5- Nguồn tài liệu thứ ba: Là các bài báo, tạp chí nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở tư tưởng và lý luận để nghiên cứu đề tài
- Kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
- Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp niên đại và đồng đại
5 Đóng góp của đề tài
Cung cấp cái nhìn tương đối toàn diện và khách quan về biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 và phân tích tác động của những biến đổi đó đối với kinh tế - xã hội miền Nam Về mặt ý nghĩa khoa học lịch sử, khóa luận đã có những đóng góp nhất định:
Khóa luận đã hoàn thành nhiệm vụ khoa học tự đề ra là góp phần khôi phục chân thực lại lịch sử bức tranh kinh tế nông nghiệp miền Nam trong thời
kỳ 1954 - 1975
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ cung cấp những bài học kinh nghiệm, tư liệu vào chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp miền Nam trong giai đoạn hiện nay, góp phần hoàn thiện mục tiêu đưa nông nghiệp miền Nam phát triển theo hướng hiện đại hóa
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung chính của khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1970
Chương 2: Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1970 đến 1975
Trang 6Chương 1 BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM
đó nên ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã đề ra
và thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khai thác và cướp đoạt nguồn tài nguyên đất đai giàu tiềm năng Sự xâm lược của thực dân Pháp đã không xóa
bỏ chế độ phong kiến thối nát mà trái lại còn dựa vào giai cấp địa chủ phong kiến để thống trị nhân dân ta, làm cho nền kinh tế Việt Nam tuy đã có sự xâm nhập của những yếu tố tư bản chủ nghĩa nhưng đồng thời vẫn mang nặng tính chất phong kiến, nhất là ở các vùng nông thôn Vì thế nhân dân Việt Nam vừa phải chịu sự bóc lột phong kiến vừa phải chịu sự bóc lột của cả thực dân
Hiệp ước Patơnốt (1884) đã buộc triều đình Nguyễn phải công nhận cho thực dân Pháp có quyền sở hữu ruộng đất ở Việt Nam Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của chúng bắt đầu từ khi còn đang phải chật vật với công cuộc
“bình định”:
Nghị định của tên thống đốc Nam Kỳ tháng 3/1863 quy định: Tịch thu ruộng đất của những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp
và của cả những người đi lánh nạn mà trong vòng một tháng mà không chịu
về đầu hàng chúng Nghị định tháng 11/1878 cho phép bọn chủ đất người Âu khai khẩn trong 4 năm mà không phải trả một đồng xu thuế nào và chỉ sau 4 năm khi đã trở thành chủ vĩnh viễn của những đất đai đó mới phải trả mỗi ha
Trang 7là 10 Fr Rõ ràng những nghị định như vậy là cơ sở để bọn thực dân tha hồ chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân ta [13, tr.24 - 25]
Ở Nam Bộ, vai trò của bọn thực dân trong việc tập trung ruộng đất nổi bật hơn ở bất cứ nơi nào khác trong cả nước Trước khi đế quốc Pháp xâm chiếm, ở Nam Bộ cũng đã có những đại điền chủ nhưng số đất đai chưa được khai thác vẫn còn rất lớn Những địa chủ ấy chỉ nằm trong mấy tỉnh miền Đông và miền Trung, nghĩa là trong vùng Tiền Giang Sau khi đế quốc Pháp xâm chiếm Việt Nam, ruộng đất mới tập trung mạnh mẽ và mau lẹ nhất là ở miền Hậu Giang Đặc biệt trong các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và các vùng phì nhiêu của miền Trung Đất đai của Nam Bộ chủ yếu tập trung theo các hình thức:
1 Để củng cố, duy trì chế độ xâm lược của chúng, thực dân Pháp buộc phải dựa vào giai cấp địa chủ đương có thế lực lớn trong xã hội cho bọn này làm quan lang, hội đồng Như vậy, thực dân Pháp đã biến một số địa chủ thành địa chủ quan liêu Bọn này áp bức, bóc lột nhân dân để tập trung thêm đất đai Đồng thời thực dân Pháp cho những tay sai đắc lực của chúng cướp đất của nông dân khai phá đất mới trở thành những địa chủ Như vậy, đất đai tập trung bằng cách hình thành một lớp địa chủ quan liêu, tay sai của Pháp
2 Mục đích cướp đoạt của đế quốc là mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và độc quyền mua sản vật Hàng hóa có thâm nhập vào nông thôn làm phá sản các ngành thủ công tăng thêm nhu cầu của nông dân thì thị trường mới mở rộng, hàng hóa mới có chỗ tiêu thụ Các ngành thủ công của nông dân càng phá sản, nhu cầu càng tăng lên thì nông dân càng thiếu thốn phải vay mượn cuối cùng phải bán ruộng để trả nợ Ruộng đất của nông dân càng tập trung vào địa chủ Mặt khác với chế độ độc quyền mua nông sản để xuất cảng, bọn tư bản thương nghiệp cùng với đế quốc, quan lang mua ép giá, lại thêm những chính sách sưu cao thuế nặng làm cho nông dân càng thiếu thốn
Trang 8Do đó đất đai của nông dân càng mau tập trung vào địa chủ Như vậy, bọn tư bản thương nghiệp độc quyền đã giúp bọn địa chủ mau tập trung thêm đất đai
Đối với địa chủ, điều then chốt để đảm bảo sản xuất là nhân công Vì không thể có được chế độ nông nô như xưa, chúng phải tìm những hình thức bóc lột để làm cho nông dân trơ trụi, không có một khả năng tự lập, chỉ còn một cách là bán sức lao động cho chúng Như vậy, bọn địa chủ càng làm cho nông dân phụ thuộc vào bọn tư bản thương nghiệp bao nhiêu thì càng đảm bảo vững chắc có được sức lao động của nông dân bấy nhiêu Từ đó, bọn địa chủ lại mở thêm thị trường tiêu thụ cho bọn tư bản thương nghiệp
3 Hình thức đầu tư vào nông nghiệp của tư bản tài chính Pháp đã đẻ ra mấy trình tự tập trung đất đai rất nhanh chóng như sau:
Bọn chủ ngân hàng dựa vào địa chủ, bắt địa chủ lấy đất đai làm đảm bảo để vay tiền với lời rất nhẹ Địa chủ tìm mọi cách cho trung bần nông vay lại số tiền đó với lời nặng hơn, rồi cứ để cho vốn lời chồng chất lên, đến lúc nông dân không thể trả được phải gán ruộng cho địa chủ Hình thức tập trung đất đai này rất phổ biến
Một hình thức tập trung khác mạnh mẽ hơn là ngân hàng, địa ốc hùn vốn với các đại điền chủ để khuyến khích việc mua thêm phân, đào thêm kênh làm cho năng suất ruộng đất tăng thêm, chi phí về nhân công hạ xuống và giá lúa tương đối rẻ Bọn phú nông, tiểu địa chủ và trung tiểu địa chủ nếu không vay tiền để bồi bổ thêm cho ruộng có khi bị lỗ vốn nên họ buộc phải vay tiền của ngân hàng Điều đó cho thấy, ngân hàng, địa ốc đã đầu tư vào nông nghiệp, lũng đoạn đất đai và các phương tiện sản xuất khác Trong những năm lúa bán không chạy, giá lúa hạ, những người ít ruộng, phú nông cả tiểu địa chủ phải bán ruộng cho bọn đại điền chủ để trả nợ hay bị ngân hàng tịch thu ruộng đất giao cho bọn địa chủ của chúng Với hình thức này ruộng đất của phú nông và trung, tiểu địa chủ đã tập trung vào đại điền chủ và ngân hàng, địa ốc
Trang 9Bằng các thủ đoạn trên, thực dân Pháp đã mở rộng phát triển được chế
độ sở hữu lớn về ruộng đất theo kiểu phong kiến ở Nam Kỳ Quá trình tập trung ruộng đất vào tay tầng lớp đại địa chủ và hình thành chế độ sở hữu ruộng đất lớn đồng thời còn gắn liền với quá trình người nông dân Nam Bộ bị tước đoạt hầu hết ruộng đất, bị bần cùng phá sản một cách nghiêm trọng Thực dân Pháp không chỉ cướp trắng đất đai là đồn lính, trại lính thuộc sở hữu của nhà nước phong kiến mà ngay từ đầu chúng đã tìm đủ mọi hình thức để chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Vì vậy ruộng đất của nông dân hầu hết
rơi vào tay bọn tay sai “có công” với thực dân Pháp Nhờ được Pháp cho
không hoặc bán rẻ nên nhiều tay sai của Pháp phút chốc trở thành những địa chủ có hàng trăm hàng ngàn ha ruộng đất:
Tính đến năm 1930 trong khi ở Bắc Kỳ chỉ có 1060 địa chủ có sở hữu từ 50 mẫu (18 ha) trở lên, Trung Kỳ có 384 địa chủ sở hữu từ 50 mẫu (25 ha) trở lên thì Nam Kỳ số địa chủ sở hữu từ 50 mẫu (50 ha) trở lên từ 6316 người, trong đó 2449 người sở hữu từ 100 - 500 mẫu và 244 người sở hữu trên 500 mẫu Ở một số tỉnh Nam Kỳ người ta thấy xuất hiện những đại địa chủ người Việt nắm trong tay những điền sản rộng lớn như Huỳnh Thiện Lộc (Rạch Giá) có 12.000 ha, Trần Trinh Bạch (Bạc Liêu) có 17.000 ha, từ những năm 1920 có thêm Trương Văn Bền với 18.000 ha, Bùi Quang Chiêu với 15.000 ha Như vậy tầng lớp đại địa chủ ở Nam Kỳ chỉ chiếm 2,56% số chủ đất nhưng đã nắm giữ 45% (= 1.035.000 ha) ruộng đất Còn 71% chủ đất nhỏ lại chỉ nắm 15% diện tích canh tác Nếu tính vào thời điểm năm 1930 dân
số Nam Bộ có 4 triệu dân, diện tích canh tác là 2.300.000 ha với 255.000 chủ đất thì trung bình mỗi chủ đất có 9 ha Trong khi đó ở Bắc Kỳ cùng thời điểm này dân số nông thôn có 6,5 triệu người và diện tích canh tác là 1.200.000 ha với 964.180 chủ sở hữu Tính bình quân mỗi chủ đất chỉ chiếm 1,2 ha ( bằng 1/7 diện tích sở hữu bình quân của một chủ đất ở Nam Kỳ [10, tr.24]
Trang 10Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) nên
từ năm 1930 trở đi sự chiếm đoạt tập trung ruộng đất vào tay bọn địa chủ tư bản có phần chậm lại và có thể coi là đã dừng lại Hầu như sự chiếm đoạt này không có gì thay đổi quan trọng nữa
“Đến trước Cách mạng tháng 8/1945, nếu ở Đồng bằng Bắc Bộ hơn một nửa nông hộ có quyền sở hữu ruộng đất thì ở Nam Bộ có tới hơn 60% số
hộ nông dân hoàn toàn không có một tấc đất trong tay Có nơi tỷ lệ nông dân hoàn toàn không có ruộng đất còn cao hơn nhiều ví như tỉnh Gia Định, theo
số liệu thống kê của Pháp năm 1937 có 75.574 xuất đinh thì 75% là nông dân không có ruộng đất” [2, tr.34] Có thể nói, mức độ tập trung ruộng đất trong
thời kỳ này là rất lớn Ruộng đất hầu hết tập trung vào tay địa chủ và tư bản Pháp hình thành chế độ đại sở hữu ruộng đất Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã sớm xâm nhập vào nông thôn, nông nghiệp miền Nam nhưng phương thức canh tác trong nông nghiệp vẫn theo kiểu phong kiến, giai cấp địa chủ vẫn sử dụng hình thức phát canh thu tô là chủ yếu Chế độ đại sở hữu ruộng đất tuy
đã hình thành nhưng không được đầu tư theo kiểu tư bản chủ nghĩa, những địa chủ có những địa sản lớn thay vì canh tác với phương pháp khoa học lại chia nó thành những phần nhỏ để giao cho tá điền lĩnh canh và bóc lột tô tức Lối kinh doanh này không đem lại kết quả cao, không cho phép cải thiện kĩ thuật canh tác, sản phẩm thu được ít, trường hợp một tá điền khai thác 5 ha chỉ giữ được 1/2 hoa lợi để sinh sống nên họ không có khả năng cải tạo ruộng đất mặt khác số ruộng đất họ đang trồng trọt cũng không phải thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của họ nên họ cũng không có ý thức bồi bổ đất đai Giai cấp địa chủ người Việt và người Pháp thì chỉ chú ý khai thác bóc lột chứ không coi trọng đầu tư sản xuất nên ruộng đất ngày càng bị bạc màu, năng suất ngày càng giảm Chế độ sưu cao thuế nặng, sự bóc lột hà khắc của địa chủ phong kiến và tư bản thực dân đã đẩy người nông dân đi vào con đường kiệt quệ
Trang 11Hình thức đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến đã không phát triển được tiềm năng đất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp ở miền Nam lớn hơn ở miền Bắc song do lối kinh doanh lạc hậu nên năng suất lúa trong thời kỳ này không tăng, sản lượng lúa tăng chủ yếu do tăng diện tích trồng cây Sự phát triển chế độ đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở Nam Kỳ chẳng những làm cho nền sản xuất nói chung không phát triển lên được mà nó còn đào hố sâu ngăn cách giữa nông dân và địa chủ, thúc đẩy nông dân vùng dậy đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng để lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân phong kiến xóa bỏ chế độ đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội đem lại một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam Sau khi giành được chính quyền và ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Đảng ta rất quan tâm đến vấn
đề ruộng đất cho nông dân Dưới sự chỉ đạo của Đảng, nông dân đã thực hiện từng bước cải cách dân chủ, thu hẹp dần thế lực kinh tế và chính trị của giai cấp địa chủ Ở miền Nam, phong trào kháng Pháp của nhân dân lên rất cao Nông dân miền Nam đã nổi dậy đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, chống lại áp bức của địa chủ phong kiến, thực hiện cải cách dân chủ từng phần Trước khí thế đấu tranh của nhân dân, hầu hết trung
và đại địa chủ đã bỏ vào thành phố, ruộng đất của chúng đã về tay nông dân
Vận dụng chính sách ruộng đất của Đảng, Đảng bộ miền Nam một mặt tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động chia cho dân nghèo, vận động địa chủ hiến điền và thực hiện giảm tô Mặt khác, Đảng bộ cũng chủ trương tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân Những chủ trương đó được quán triệt và thực hiện trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và đã đạt được những kết quả to lớn Tính đến 10/1954 số
Trang 12ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động và ruộng đất vắng chủ đã được cách mạng cấp và tạm giao cho nông dân khoảng 750.000 ha ruộng đất Cùng với việc chia cấp ruộng đất, việc thực hiện giảm tô ở nông thôn miền Nam có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, nâng cao đời sống của nông dân tá điền Trong những năm (1946 - 1954) mức tô ở nông thôn miền Nam đã giảm
từ 25 đến 50% so với mức tô trước Cách mạng tháng Tám
Rõ ràng qua chính sách giảm tô, chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng, hình thức sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở miền Nam đã bắt đầu quá trình tan rã và sụp đổ Nông dân được chia cấp và tạm giao ruộng đất, đời sống được cải thiện Thành quả về ruộng đất mà nông dân lao động miền Nam giành được từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp thắng lợi mới chỉ là kết quả bước đầu Tình hình ruộng đất ở miền Nam đã có
sự thay đổi nhưng chế độ đại sở hữu ruộng đất vẫn chưa bị xóa bỏ hẳn, phần lớn địa chủ mới bỏ chạy vào thành phố chứ chưa bị tiêu diệt Nông dân được chia ruộng đất nhưng mới chỉ là tạm giao
Tuy vậy, thành quả cách mạng ruộng đất từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại ảnh hưởng sâu sắc đối với nông dân miền Nam, tạo nguồn sức mạnh vô tận cho cuộc chiến đấu chống Mỹ sau này
1.2 BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1954 ĐẾN TRƯỚC NĂM 1959
1.2.1 Chính sách ruộng đất của Mỹ - Diệm
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác biệt nhau: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam Việt Nam tạm thời đặt dưới sự cai trị của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Ngay từ khi tiến hành
công cuộc “bình định” miền Nam, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm lên
cầm đầu chính quyền Sài Gòn và ráo riết thực hiện âm mưu biến miền Nam
Trang 13Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng Cả miền Nam bị dìm trong máu lửa Trong hàng loạt chính sách phản cách mạng của chính quyền tay sai
Mỹ ở miền Nam thì “Cải cách điền địa” đã được đặt lên hàng “quốc sách” và được coi là “then chốt của cuộc cách mạng kinh tế ở miền Nam”
Trong hai năm 1955 - 1956, chính phủ Mỹ đã cử một phái đoàn cố vấn
do W Latdinxky sang miền Nam Việt Nam giúp chính quyền Sài Gòn soạn
thảo chính sách ruộng đất Báo “Công luận” Sài Gòn ra ngày 7/7/1969 cho
biết : Từ năm 1955 đến 1960, Mỹ đã viện trợ 12 triệu đôla cho chính quyền
Sài Gòn để thực hiện “Cải cách điền địa” ý đồ của Mỹ thông qua cuộc cải
cách ruộng đất này là nhằm tranh thủ lôi kéo nông dân và tạo ra tầng lớp tư sản nông thôn kinh doanh theo kiểu Mỹ hơn là duy trì giai cấp địa chủ canh tác theo lối cổ hủ Tuy nhiên do ý thức bảo thủ muốn duy trì chế độ địa chủ và chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở nông thôn để làm chỗ dựa mới chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho ra đời một chính sách ruộng đất không đúng với ý đồ của Mỹ
Chính sách “Cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm được thể hiện trong
ba đạo dụ: Dụ số 2 (8/1/1955), dụ số 7 (5/2/1955), dụ số 57 (22/10/1956) Ngô
Đình Diệm chia cuộc “Cải cách điền địa” ra làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (1955 - 1956): thi hành quy chế tá điền
Giai đoạn 2 từ năm 1956: “tư hữu hóa nông dân”, “tiểu điền chủ hóa tá điền”
Giai đoạn 1 được đánh dấu bằng hai đạo dụ sau đây:
Dụ số 2 ra ngày 8/1/1955 quy định:
- Lập khế ước tá điền loại A (đối với ruộng thực đang làm)
- Thời hạn khế ước là 5 năm
- Mức tô từ 15 đến 25 %
Trang 14- Bãi bỏ ủy ban điều giải đã được thành lập theo dụ số 20 của Bảo Đại
để thay vào đó bằng “Ủy ban nông vụ” từ tổng, quận đến tỉnh Do cai tổng,
quận trưởng, tỉnh trưởng làm chủ tịch, có đại diện của địa chủ, nông dân tham gia để giải quyết các vụ tranh chấp đất đai hướng đến lập khế ước Theo lời
của sách báo chính quyền Diệm thì nội dung cơ bản của dụ số 2 là “việc lập khế ước tá điền là để bảo vệ quyền lợi tá điền”
Dụ số 7 ra ngày 5/2/1955 ra đời nhằm hoàn chỉnh việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân trên cơ sở dụ số 2 Nếu như dụ số 2 quy định việc ký khế ước tá điền với loại ruộng thực đang làm thì dụ số 7 quy định việc ký khế ước với ruộng bỏ hoang
Trong vòng một tháng, kể từ khi dụ này được ban hành địa chủ phải khai báo về việc khai thác ruộng đất không trồng trọt của mình và trực tiếp cho tá điền mượn ruộng theo khế ước loại B
Trường hợp vắng mặt hoặc địa chủ cam kết không khai thác lại ruộng đất sẽ được cấp cho những người di cư, cựu binh hoặc tá điền khai thác trong thời hạn 3 năm Người được cấp phải ký khế ước tá điền loại C với hội đồng hương chính được miễn tô trong năm đầu, năm thứ hai phải đóng 1/2 tô, năm thứ ba đóng 3/4 tô
Địa chủ có thể trở lại bất cứ lúc nào để tiếp tục thi hành khế ước
Ruộng công của làng cũng cho mướn theo khế ước loại C (đối với ruộng hoang như trường hợp địa chủ vắng mặt)
Giai đoạn hai của cuộc “Cải cách điền địa” tiếp tục được thực hiện
thông qua dụ số 57 ra ngày 22/10/1956:
Dụ số 57 quy định mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất ngoài
ra có thể giữ thêm 15 ha làm ruộng hương hỏa Trong số 115 ha này địa chủ
có quyền lựa chọn bất cứ thửa ruộng nào tùy ý
Trang 15Ruộng “truất hữu” được chính phủ Sài Gòn bồi thường theo giá hiện
hành, tiền bồi thường sẽ trả 10% bằng tiền mặt số còn lại trả bằng tín phiếu với lãi 5% hàng năm trong 12 năm
Số ruộng “truất hữu” này sẽ đem bán cho những người thiếu ruộng mỗi
hộ không quá 3 ha Người mua phải trả tiền mua đất trong 6 năm, trong thời gian ấy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền Diệm Trong vòng
10 năm đất không được cho mướn hay đem bán lại
Như vậy qua dụ số 57 và hai đạo dụ số 2, số 7 có thể tóm tắt nội dung
“Quốc sách cải cách điền địa” của Diệm trong hai điểm:
1 Xác định bằng pháp lý mối quan hệ giữa địa chủ và tá điền (dụ số 2
và dụ số 7) cụ thể là quy định một loạt mẫu khế ước tá điền cho các trường hợp mướn ruộng của địa chủ, mướn ruộng công hay mướn ruộng bỏ hoang trong đó có ấn định mức tô phải nộp
2 Ấn định một giới hạn vừa phải có lợi cho chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ, giúp họ bán đi những ruộng đất vượt quá giới hạn đó [3, tr.36]
Thông qua những nét cơ bản trên, ta thấy các đạo dụ mà chính quyền
Mỹ - Diệm đưa ra cũng không hề đi xa hơn các đạo dụ mà Pháp - Bảo Đại đã từng nêu ra, có chăng chỉ là sự bổ sung và sửa đổi về chi tiết Xét về bản chất,
cả hai cuộc cải cách điền địa này đều mang tính chất cải lương chủ nghĩa Đặt trong hoàn cảnh của miền Nam Việt Nam thời kỳ bấy giờ, nó không những là một lực lượng kìm hãm sự phát triển của lịch sử mà còn là một bước thụt lùi trong lịch sử, một thủ đoạn phản cách mạng
1.2.2 Sự phục hồi quan hệ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ miền Nam Việt Nam từ 1954 đến trước năm 1959
Trong điều kiện lịch sử của miền Nam Việt Nam, nơi đã tiến hành một bước quan trọng cuộc cách mạng ruộng đất do giai cấp công nhân lãnh đạo từ
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945: “Vấn đề nông dân mà nội dung là vấn
Trang 16đề ruộng đất đã được đặt ra và giải quyết theo đường lối cách mạng, giai cấp địa chủ ở miền Nam căn bản đã bị xóa bỏ, kết cấu giai cấp nông thôn miền Nam đã thay đổi người nông dân đã thật sự làm chủ ruộng đồng, làm chủ ruộng đất thì các đạo dụ “Cải cách điền địa” của Diệm thực tế là muốn kéo lùi bánh xe lịch sử” [13, tr.258] Núp dưới chiêu bài “khế ước tá điền” Mỹ - Diệm nhằm: “ hợp pháp hóa việc tước đoạt ruộng đất của nông dân xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong nông thôn miền Nam, khôi phục lại quyền sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ” [9, tr.17]
Các loại ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã tạm cấp, tạm giao cho nông dân nghèo, nay theo dụ số 2 và dụ số 7 của Diệm đều phải lập lại khế ước tá điền Mặt khác, trong khi mà mức tô trên phần lớn ruộng đất còn phát canh đã bị giảm xuống dưới mức 25% hoa lợi, có nhiều trường hợp chỉ còn từ
10 - 15% thì việc áp dụng mức tô của dụ số 2 (15 - 25% hoa lợi) có nghĩa là chính quyền Diệm đã cho phép tăng tô một cách phổ biến Như vậy, việc lập
“khế ước tá điền” - giai đoạn 1 của cuộc “Cải cách điền địa” ở miền Nam đã:
“đoạt lại cho giai cấp đại chủ và thực dân trên 65 vạn ha mà chính quyền cách mạng đã trao cho nông dân, khôi phục lại chế độ tá canh bắt hàng chục vạn hộ nông dân quay trở lại vị trí tá điền” [13, tr.36]
Cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm trong thực tế đã không chia cấp ruộng đất cho tá điền như cách mạng đã làm, mà tá điền phải mua ruộng đất
với giá qui định Trong dụ “Cải cách điền địa” thì mỗi năm nông dân phải trả
2000 đồng tương đương 50 giạ lúa Đây là một điều khó thực hiện được với nông dân nghèo Cuối cùng họ lại mất ruộng Rõ ràng, chính sách ruộng đất của Diệm không đem lại ruộng đất cho tá điền mà chỉ quy định lại hình thức
tá điền trong giai đoạn mới
Được chính quyền Diệm che chở, lợi dụng chính sách “Cải cách điền địa”, những địa chủ chạy vào thành phố trong thời kỳ kháng chiến chống thực
Trang 17dân Pháp (1945 - 1954) nay trở về đòi lại ruộng đất, thu tô mấy năm trước chúng không thu được Đất đai nông dân khai phá được cũng bị bọn chúng cướp mất
Để thi hành dụ số 2 và dụ số 7, dựa vào bạo lực phản cách mạng, ngụy quyền Diệm đã buộc nông dân miền Nam phải kí 812.473 khế ước tá điền liên quan đến 1.469.200 ha bằng 1/2 tổng số diện tích canh tác ở miền Nam
Thông qua dụ số 2 về “qui chế tá điền” và dụ số 7 về “điều kiện khai thác ruộng bỏ hoang” núp dưới chiêu bài “giảm nhẹ số phận của người tá điền” và chiêu bài “đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp” chính quyền tay sai Mỹ ở miền
Nam đã làm công việc kiểm kê lại toàn bộ ruộng đất của địa chủ và khôi phục lại chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ về cơ bản như hồi trước Cách mạng tháng Tám
Chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Diệm bị nông dân
miền Nam phản đối quyết liệt Phong trào đấu tranh của nông dân chống “quy chế tá điền”, chống chính sách “đấu giá công điền” và mọi âm mưu cướp
đoạt ruộng đất của chính quyền Diệm đã diễn ra ở khắp nơi Trước bối cảnh
đó, Mỹ - Diệm đã công bố dụ số 57 để xoa dịu phong trào đấu tranh của nông dân, tô vẽ chế độ địa chủ được cải tổ lại cho hợp thời trang, đồng thời vẫn duy trì được giai cấp địa chủ làm cơ sở chính trị - xã hội của chế độ tay sai Mỹ ở miền Nam
Nếu dụ số 2 và dụ số 7 có cải vẻ ngoài cải lương chủ nghĩa thì dụ số 57 lại có vẻ như là cách mạng thật sự Nội dung của nó như người ta công bố là
“hạn chế đại điền sản” ở mức 100 ha và “truất hữu” số diện tích vượt ra
ngoài giới hạn đó? Nhằm mục đích phân chia ruộng đất cho công bằng giúp các tá điền trở nên tiểu điền chủ, phát triển sản xuất nông nghiệp và hướng dẫn các địa chủ qua hoạt động kỹ nghệ Phải chăng bọn chúa đất ở miền Nam sau khi đã đoạt lại trên nửa triệu ha và tăng tô một cách phổ biến nhờ ở công
Trang 18cuộc “Cải cách điền địa” liền trở thành đối tượng “truất hữu” của chính công
cuộc cải cách ấy?
Theo mức qui định sở hữu ruộng đất của “Cải cách điền địa”, toàn miền Nam có 2.683 địa chủ nằm trong diện “truất hữu” Tuy nhiên, sau khi
loại trừ các điền chủ có dưới 100 ha cùng các đồn điền và đất đai trồng cây
công nghiệp ra khỏi diện “truất hữu” thì dụ số 57 chỉ còn động chạm đến 2.035 địa chủ, trong đó có 12 địa chủ ở Trung Bộ với số ruộng bị “truất hữu”
là 430.000 ha Nếu cộng vào đấy 220.000 ha ruộng lúa của trên 200 địa chủ
Pháp thì tổng số diện tích có thể bị “truất hữu” là 650.000 ha, tương đương
1/3 toàn bộ ruộng đất phát canh ở miền Nam Trong điều kiện ở Nam Bộ, số người chiếm hữu một vài chục ha đã lấy địa tô làm nguồn sống chính và ở Trung Bộ với 5 - 10 ha là có thể trở thành địa chủ thì dụ số 57 đã loại trừ số
địa chủ có dưới 100 ha ra khỏi diện “truất hữu” có nghĩa là vẫn duy trì đại bộ
phận giai cấp địa chủ phong kiến với 2/3 số diện tích họ chiếm và bóc lột tô
Ngoài ra không phải bất cứ chủ ruộng nào có trên 100 ha cũng đều bị “truất hữu” “Luật “truất hữu” của chính quyền Diệm không áp dụng đối với đất đai trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, bãi chăn nuôi, rừng rú và những đất đai trên đó xây dựng nhà cửa xưởng công nghệ thuộc đồn điền Nên dụ số 57
đã bỏ qua lại trên 30 vạn ha diện tích đất trồng cây công nghiệp trong đó có
775 đồn điền chiếm 25 vạn ha” [3, tr.38]
Đó là chỉ nói về mặt lý thuyết, trên thực tế việc thực hiện chương trình
“Cải cách điền địa” càng bộc lộ rõ hơn tính chất phản động và nửa vời của nó: “Trong vòng 4 tháng sau khi ban bố dụ số 57, có 26.000 địa chủ kê khai
là họ sở hữu 1.075.000 ha, bình quân 415 ha/người nhưng mãi tới năm 1970
số ruộng “truất hữu” đem bán cho nông dân chỉ có 298.347 ha, chiếm 28% diện tích địa chủ đã kê khai từ năm 1956” [5, tr.143]
Trang 19Bản chất phản động của chính sách Mỹ - Diệm đã bị chính báo chí của
Diệm vạch trần: Trên tạp chí “Chấn hưng kinh tế” số ra ngày 12/5/1960 đã viết: “Tính đến tháng 4/1960 khi Diệm tuyên bố công cuộc “Cải cách điền địa” đã kết thúc thì tại Nam Bộ 45% diện tích trồng trọt vẫn nằm trong tay những địa chủ lớn (có từ 50 ha trở lên) gồm 2,5% dân số 42,5% diện tích tập trung trong tay địa chủ vừa và nhỏ (từ 5 - 50 ha) gồm 11,1% dân số còn lại 12,5% diện tích là của phú nông và nông dân lao động”
Như vậy, chương trình “Cải cách điền địa” của Diệm hoàn toàn không
nhằm vào mục đích đem lại ruộng đất cho nông dân tá điền mà thực chất chỉ
là củng cố tầng lớp địa chủ Chương trình “Cải cách điền địa” đã cướp lại
80% ruộng đất mà cách mạng đã chia cấp cho nông dân Đến năm 1959, nông dân chỉ giữ lại được 20% diện tích trong tổng số gần 75 vạn ha ruộng đất do
cách mạng chia cấp Chính Bộ quốc phòng Mỹ cũng phải thừa nhận: “Chương trình “Cải cách điền địa” của Diệm đã không phân chia lại ruộng đất cho người nghèo mà rút cục chỉ lấy lại những thứ mà Việt Minh đã chia cho họ rồi trả lại cho địa chủ” [13, tr.42 - 43]
Cùng với việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân, địa chủ và ngụy quyền ở địa phương đã cấu kết với nhau để tăng mạnh tô Từ đó xóa bỏ thành quả cách mạng ruộng đất mà nông dân lao động miền Nam đã đấu tranh giành được trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mức tô đã giảm xuống 20 - 25 giạ/ ha đến năm 1959 chúng bắt nông dân phải nộp tô những năm chúng không thu được Những chính sách ruộng đất phản động của đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai nhằm cướp đoạt ruộng đất của nông dân và phục hồi giai cấp địa chủ ở nông thôn, đã xua đuổi hàng triệu nông dân ra khỏi ruộng vườn, làng mạc của họ
Tóm lại, chính sách “Cải cách điền địa” phản động của Mỹ - Diệm
trong nửa cuối những năm 50 thông qua các dụ số 2, 7 và 57 đã không đem lại
Trang 20quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân mà trái lại còn làm cho tình hình
sở hữu ruộng đất ở nông thôn miền Nam về cơ bản như thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám Đó là hình thức sở hữu ruộng đất lớn theo kiểu phong kiến, giai cấp địa chủ và chế độ tá canh không những không bị tiêu diệt mà còn được phục hồi, tầng lớp trung nông bị đả kích nặng nề và giảm sút nghiêm trọng, đại bộ phận trung nông mới hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp lại trở về vị trí tá điền
1.3 BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1959 ĐẾN 1970
1.3.1 Chính sách ruộng đất của Đảng ta từ 1959 đến 1970
Chính sách về ruộng đất và tiếp đó là cuộc phản công của Mỹ - Diệm
vào nông thôn, nông dân miền Nam bằng các “quốc sách”: dinh điền, khu trù
mật, ấp chiến lược…càng làm cho vấn đề dân chủ, vấn đề ruộng đất đối với nông dân trở lên gay gắt hơn bao giờ hết Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhận thức được rằng không giải quyết vấn đề dân chủ, vấn đề ruộng đất cho nông dân thì không lôi kéo được nông dân đi với cách mạng, không thực hiện được chính sách liên minh công - nông, khó tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước Do đó khẩu hiệu “độc lập dân tộc”, “người cày có ruộng” luôn được nêu lên và thực hiện trong suốt cuộc chiến tranh cách mạng
Đảng và được chính thức tuyên bố tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tháng 9/1960
Trang 21Quán triệt tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) ngay sau khi ra đời, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tuyên bố chương trình hành động 10 điểm, trong đó nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất được đề ra: “thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân làm cho người cày có ruộng” Cương lĩnh mặt trận trên đây là
biểu hiện tập trung nguyện vọng của nông dân miền Nam về vấn đề độc lập dân tộc và vấn đề ruộng đất vì vậy nó được nông dân hưởng ứng nhiệt liệt Cuộc đấu tranh của nông dân dưới sự lãnh đạo của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng của một cuộc cách mạng ruộng đất triệt để
Tháng 11/1961, để chỉ đạo các địa phương chấp hành đúng đắn chính sách ruộng đất của Đảng và chương trình hành động của mặt trận, Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam đã ra nghị quyết thực hiện các vấn đề ruộng đất Những nội dung và nhiệm vụ thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất lần lượt được bổ sung từ Hội nghị lần thứ II đến thứ V của Trung ương Cục
Về việc giảm tô, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ I (1961) quy định:
“Cần mô phỏng theo mức giảm tô cao nhất ở vùng căn cứ du kích hồi cuối thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà lãnh đạo nông dân đấu tranh thực hiện”
Đến Hội nghị Trung ương Cục lần thứ IV (3/1966) việc giảm tô được
quy định cụ thể hơn: “Ruộng đất phát canh thu tô của địa chủ, phú nông đều thực hiện giảm tô đúng mức qui định Tô suất tối đa không quá 15 %”
Về vấn đề ruộng đất, các Hội nghị Trung ương Cục miền Nam đã đề ra những nội dung, hình thức và biện pháp cụ thể đối với từng loại ruộng
Đối với ruộng đất địa chủ, Hội nghị Trung ương Cục tháng 11/1961 vạch rõ: Ruộng đất của thực dân và địa chủ Việt gian đã cấp cho nông dân hồi kháng chiến chống Pháp nay kiên quyết đòi lại, khôi phục quyền sở hữu của
Trang 22nông dân trên số ruộng đó, tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ gian ác hiện hành
bị nhân dân lên án để chia cho nông dân, có để lại một phần cho vợ con chúng
Đối với ruộng đất vắng chủ, tạm giao cho nông dân cày cấy và hưởng hoa lợi Hội nghị Trung ương Cục lần thứ IV (1966) giải thích rõ thêm: Ruộng đất của địa chủ vắng mặt đều giao cho nông dân quản lý và sản xuất Sau này khi cách mạng thành công sẽ căn cứ vào thái độ chính trị cụ thể của từng người mà đối xử
Đối với ruộng đất công, phải đấu tranh giành lại công điền, chia công điền cho nông dân, ưu tiên cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng
Đối với ruộng đất của các tôn giáo, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ III (1964) quy định rõ: Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất chính đáng của nhà thờ và nhà chùa
Đối với các đồn điền trồng cây công nghiệp, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ IV (1966) nêu rõ: Giải quyết theo nguyên tắc chung là đảm bảo đời sống của công nhân lao động, tiếp tục chăm bồi cây công nghiệp đã trồng, khuyến khích chủ đồn điền tiếp tục kinh doanh và quản lý
Nhờ giải quyết tốt chính sách ruộng đất, thực hiện quyền dân chủ cho nhân dân, chính quyền cách mạng đã huy động được đông đảo nông dân tham gia vào phong trào đấu tranh chống lại chính sách phản động của Mĩ - Diệm, giành lại quyền làm chủ ruộng đất của người nông dân
1.3.2 Quyền làm chủ ruộng đất của người nông dân miền Nam từ
1959 đến 1970
Chính sách phản động về ruộng đất và chính sách đàn áp khủng bố hết sức dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm cho vấn đề dân chủ, vấn
đề ruộng đất đối với nông dân trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Đó là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm bùng nổ phong trào “Đồng khởi” trên
toàn miền Nam từ cuối năm 1959 đến năm 1960
Trang 23Đồng khởi thực chất là: “Phong trào khởi nghĩa của quần chúng nông dân, một cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển từng bước ở nông thôn nhằm giành lấy chính quyền cơ sở và một lần nữa giành lại quyền lợi ruộng đất về tay mình” Phong trào “Đồng khởi” nổ ra đầu tiên ở tỉnh Bến Tre, sau đó làn
sóng khởi nghĩa như nước lũ tràn về và lan ra khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây
Nguyên và Trung Trung Bộ “Tính đến cuối năm 1960 gần 800 xã trong tổng
số 1.296 xã, 3.200 thôn trong tổng số 5.721 thôn toàn Nam Bộ đã giành được quyền làm chủ ở những mức độ khác nhau trong đó hơn 100 xã hoàn toàn được giải phóng” [14, tr.103]
Đi đôi với đà tiến công về quân sự và chính trị, từ năm 1959 đến năm
1960 trong cuộc đấu tranh dưới khẩu hiệu “chính quyền và ruộng đất”, nông
dân miền Nam cũng đã giành được quyền lợi rất to lớn Ruộng đất của địa chủ phản động bị tịch thu và chia cho nông dân nghèo Ruộng đất bị cướp đoạt lại trở về tay nông dân
Ở Bến Tre từ sau ngày Đồng khởi, 2/3 số dân trong tỉnh khoảng 600.000 người đã thoát khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy và về cơ bản đã giành lại quyền làm chủ ruộng đất Qua kết quả điều tra ở một số xã, nông dân
đã làm chủ từ 95 - 100% ruộng đất ở địa phương
Tại Mỹ Tho, thời Diệm nông dân bị cướp đoạt gần hết ruộng đất nhưng
từ ngày Đồng khởi đến cuối năm 1965, quần chúng đã giành lại được số ruộng bị cướp và còn mở rộng thêm quyền làm chủ tổng cộng được 126.623
ha tức 77% diện tích ruộng đất trong tỉnh
Tại các tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Long…nông dân đã làm chủ từ
70 - 80% ruộng đất trong tỉnh
Vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân ngày càng được đẩy mạnh Đến cuối năm 1965 ở miền Tây Nam Bộ nông dân đã giành quyền làm chủ ruộng đất ở các tỉnh như sau: Trà
Trang 24Vinh: 136.626 ha, Cần Thơ: 109.662 ha, Cà Mau: 131.762 ha, Sóc Trăng: 106.748 ha, Vĩnh Long: 126.813 ha, Rạch Giá: 87.079 ha
Trong những năm 1965 - 1966, ở miền Nam Trung Bộ, tại các huyện Hàm Thuận, Lê Hồng Phong, Thuận Phong, Phan Lý thuộc tỉnh Bình Thuận, cách mạng đã chia cấp 2.688 ha ruộng đất cho 2.165 hộ với 11.857 nhân khẩu, bao gồm ruộng đất của thực dân Pháp, địa chủ Việt gian, của địa chủ hiến và công điền Ở Trung Trung Bộ: trong suốt năm 1965 giải phóng đến đâu cách mạng đã giải quyết ruộng đất đến đó cho nông dân, các loại ruộng đất được chia cấp khoảng 60.000 ha, riêng công điền có 26.590 ha
Có thể nói, từ sau phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960) cách mạng
dân tộc dân chủ ở miền Nam đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, trên 7 triệu nông dân đã giành được quyền làm chủ trên 2 triệu ha ruộng đất Đối với số ruộng đất chưa giành được quyền làm chủ, cách mạng
đã hướng dẫn nông dân đấu tranh đòi giảm tô làm cho mức tô trong vùng giải
phóng từ sau “Đồng khởi” đã giảm xuống còn từ 3 - 20% sản lượng, trung
bình là 10% Có nơi nông dân không còn phải đóng tô cho địa chủ nữa
Như vậy, gắn liền với quá trình đấu tranh chống đế quốc Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc, chính quyền cách mạng ở miền Nam đã kịp thời đáp
ứng yêu cầu ruộng đất cho nông dân, thực hiện khẩu hiệu “giải phóng đến đâu chia ruộng đến đó” Do giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc dân chủ, gắn
mục tiêu đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai với mục tiêu giành quyền làm chủ ruộng đất, xã ấp Đảng ta đã huy động được hàng triệu nông dân vùng lên khởi nghĩa từng phần, phá bỏ từng mảng hệ thống cai trị của
địch ở cơ sở Dư luận phương Tây cũng phải thừa nhận rằng: “Việt cộng đã thắng lợi vì họ đã mang lại cho nông dân những cái mà nông dân mong muốn, nhất là ruộng đất…Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
đã có chương trình rõ ràng để giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam đã và
Trang 25đang thực hiện chương trình đó bằng cách đem lại hàng triệu ha ruộng đất cho nông dân ở các vùng giải phóng [14, tr.104]
Từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam
Việt Nam và gây ra cuộc “Chiến tranh cục bộ” Song cuộc đấu tranh vì mục
tiêu ruộng đất của nông dân vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ chủ yếu là để bảo
vệ thành quả đã đạt được trong những năm trước đó
Nhìn chung, phong trào đấu tranh giành quyền làm chủ ruộng đất của nông dân miền Nam từ 1959 đến 1970 đã làm cho nông thôn miền Nam có
nhiều biến đổi, nhất là về hình thức sở hữu ruộng đất: “Chế độ đại sở hữu ruộng đất phong kiến tiến gần đến sự diệt vong và chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất của người nông dân đang dần khẳng định sự tồn tại của mình”
[7, tr.98 - 99]
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT ĐẾN NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ XÃ HỘI NÔNG THÔN MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1954 ĐẾN 1970
1.4.1 Tác động của những biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất đến
nền kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1970
Sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ và phương thức bóc lột địa tô phong kiến từng bước bị xóa bỏ trong vùng giải phóng Ruộng đất trở về tay người nông dân lao động
Do chính sách phản động của chính quyền Mỹ - Diệm đã đi ngược lại
xu thế phát triển của lịch sử Nó không đem lại quyền lợi cho nông dân lao động mà lại khôi phục quyền lợi của giai cấp địa chủ cùng với lối kinh doanh ruộng đất lạc hậu Chính vì thế, nông dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng dậy đấu tranh giành lấy quyền làm chủ ruộng đất và thu được thắng lợi to lớn: Giai cấp địa chủ cùng lối kinh doanh ruộng đất theo kiểu
Trang 26phong kiến đã bị giáng một đòn nặng nề, trong khi đó sở hữu nhỏ về ruộng đất của người nông dân lại dần khẳng định sự tồn tại của mình
Trên cơ sở thắng lợi của việc thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” chính quyền cách mạng ở các vùng giải phóng đã vận động nông dân
vào các tổ vần, đổi công giúp đỡ nhau trong quá trình tổ chức sản xuất Ruộng đất trở về với người trực tiếp lao động cùng với hình thức hợp tác giản đơn phù hợp là những nhân tố tích cực thúc đẩy người nông dân hăng hái tham gia sản xuất, kháng chiến, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo
vệ vùng giải phóng Nhờ có phong trào đổi công hợp tác xã mà tình hình sản xuất cũng như đời sống của người nông dân đã được cải thiện đáng kể
Ở đồng bằng sông Cửu Long, từ 1960 đến 1968, sản xuất được giữ vững và có phát triển Nông dân hăng hái giúp nhau sản xuất Ở nhiều vùng diện tích cấy lúa hai vụ tăng lên, các loại hoa màu cây công nghiệp cũng tăng lên làm giảm bớt tính chất độc canh của nông nghiệp Lấy ví dụ tỉnh Bến Tre
từ ngày nông dân giành lại quyền làm chủ ruộng đất từ chỗ cấy một vụ lúa đã tiến lên cấy hai vụ, diện tích đất hai vụ đã không ngừng tăng lên
Năm 1964 có 125 ha cấy hai vụ
Năm 1967 tăng lên 12.789 ha cấy hai vụ
Năm 1968 là 14.726 ha cấy hai vụ
Do thay giống lúa, sử dụng giống mới áp dụng biện pháp kỹ thuật nên năng suất tăng Vườn cây ăn trái được mở rộng, vùng đất giống ngày càng trồng nhiều rau màu các loại, số lượng nông sản bán ra ngày càng tăng
Các yếu tố tư bản chủ nghĩa ngày càng xâm nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế nông nghiệp miền Nam
Trong thời Pháp thuộc các yếu tố tư bản ở miền Nam đã phát triển ở mức độ nhất định, nền kinh tế nông thôn Nam Bộ mang tính chất của nền kinh tế hàng hóa Lúa gạo và các nông phẩm khác do nông dân sản xuất ra
Trang 27đều trở thành hàng hóa Hàng năm có khoảng 67% lúa gạo ở Nam Bộ được đem ra thị trường thế giới chiếm 45% đến 50% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước Sự phân công lao động đã xuất hiện, một số vùng nông nghiệp chuyên môn hóa đã hình thành Tư bản tài chính cũng xâm nhập vào nông thôn bòn rút, bóc lột, bần cùng hóa người nông dân, đẩy nhanh quá trình tập trung ruộng đất vào tay bọn địa chủ thực dân làm cho sự phân hóa giàu nghèo ở nông thôn diễn ra sâu sắc
Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nền kinh tế nông nghiệp miền Nam ngày càng được đẩy mạnh hơn trong thời kỳ 1954 - 1970 đặc biệt là từ nửa sau những năm 60
Cuối những năm 50, do chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm một mặt làm cho chủ nghĩa tư bản xâm nhập vào nông nghiệp miền Nam, mặt khác vẫn duy trì và củng cố quan hệ sản xuất phong kiến Vì thế kinh tế nông nghiệp miền Nam thời kỳ này chủ yếu vẫn ở trong tình trạng trì trệ và lạc hậu Tuy nhiên từ nửa sau những năm 60 sự xâm nhập của các yếu tố tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên mạnh mẽ làm cho bộ mặt nông nghiệp miền Nam có
sự thay đổi đáng kể:
Cùng với quá trình nhập khẩu máy móc, trang bị các phương tiện kĩ thuật hiện đại nông nghiệp miền Nam bước đầu đã được cơ giới hóa Trước đây máy móc nông nghiệp được sử dụng rất ít, công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công nhưng từ năm 1965 trở đi máy móc nông nghiệp nhập khẩu ngày càng nhiều, việc sử dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp đã trở nên phổ biến Tính đến năm 1970 mức cơ giới hóa trong nông nghiệp ở miền Nam căn
cứ vào công suất máy móc sử dụng tính bình quân trên một đơn vị diện tích
đã đạt đến 0,2 - 0,25% CV/ha và diện tích đất đai canh tác có sử dụng cơ giới
đã đạt mức 50%
Trang 28Song song với việc đẩy mạnh trang bị cơ khí ở các tỉnh nông thôn Nam Bộ nông dân còn sử dụng rộng rãi các loại giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu
Trước năm 1965 các giống lúa được sử dụng ở miền Nam phần lớn là giống nội địa, năng suất không cao và không ổn định Để thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng năng suất vấn đề cần thiết là phải thực hiện cuộc cách mạng về giống Tiếp theo giống lúa Taithung 1 và Taithung 2 của Đài Loan được giới thiệu vào miền Nam từ trước, đến năm 1966 các giống lúa IR5, IR8, IR20 với năng suất cao, chu kỳ sinh trưởng ngắn đã được trồng thử nghiệm và nhân ra diện rộng góp phần quan trọng đẩy mạnh thâm canh, tăng
vụ, tăng sản lượng lúa
Giống lúa mới đem lại năng suất cao nhưng cũng kéo theo nhu cầu lớn
về vật tư nông nghiệp như phân hóa học, thuốc trừ sâu Nếu trong 2 năm 1961
- 1962 toàn miền Nam nhập 15.600 tấn phân đạm, 1.900 tấn phân phốt phát thì 2 năm 1969 - 1970 đã nhập tới 99.000 tấn phân đạm và 36.000 tấn phân phốt phát Việc sử dụng rộng rãi phân hóa học đã giúp tăng năng suất cây trồng Theo bộ Canh nông Sài Gòn thì việc sử dụng phân hóa học đã giúp tăng năng suất 30% cụ thể là mỗi kg phân hóa học sẽ cho thêm 6 kg lúa đối với các giống lúa địa phuơng và còn cao hơn đối với các giống lúa mới
1.4.2 Tác động của những biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất đến
xã hội nông thôn miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1970
Sự suy yếu của giai cấp địa chủ:
Thời kỳ cận đại, thực dân Pháp và chính quyền thuộc địa chủ trương duy trì quan hệ sản xuất phong kiến Chúng giúp cho địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân, hình thành chế độ đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong
kiến ở nông thôn Nam Bộ Đến năm 1953, Bảo Đại đưa ra chính sách “Cải cách điền địa” nhưng không thực hiện được Trong khi đó chính quyền cách
Trang 29mạng đã từng bước thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” nên nhiều
ruộng đất đã được giao cho nông dân từ những năm kháng chiến chống Pháp Sau năm 1954, địa chủ nhất là địa chủ lớn đã phải bỏ về các vùng thành thị nên không thu được tô hoặc thu được nhưng rất ít Nhưng sau đó Diệm lại giúp bộ phận lớn địa chủ khôi phục lại uy thế chính trị và quyền sở hữu ruộng đất của họ Nhiều địa chủ đòi lại ruộng đất, tăng tô thậm chí truy tô những năm mà họ không thu được Khuynh hướng phát triển tiến bộ trong sự chuyển biến về cơ cấu xã hội hình thành trong những vùng tự do thời kháng chiến chống Pháp bị xóa bỏ Cơ cấu xã hội ở các vùng nông thôn miền Nam trở lại gần như cơ cấu xã hội thời cận đại
Chính sách ruộng đất cùng với những chính sách khác của Diệm về chính trị, kinh tế đã gây lên lòng căm phẫn trong đông đảo nông dân và là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của phong trào Đồng khởi
Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” đã giáng một đòn nặng nề vào uy thế
kinh tế, chính trị của giai cấp địa chủ Theo kết quả điều tra ở 4 xã giải phóng Tây Nam Bộ năm 1969 cho biết về tình hình địa chủ như sau:
Trước Cách mạng tháng Tám, cả 4 xã có 138 hộ địa chủ, chiếm 2% so tổng số nông hộ thì đến năm 1969 chỉ còn 12 hộ (0,17%) Ruộng đất địa chủ chiếm hữu từ 15.685 ha còn lại 88,3 ha, chiếm tỷ lệ so với ruộng đất 4 xã từ 82,5% xuống còn 0,4% Bình quân mỗi hộ từ 108,7 ha trước Cách mạng tháng Tám chỉ còn 7,3 ha
Căn cứ vào kết quả trên ta thấy rõ ràng giai cấp địa chủ ở vùng giải phóng đã bị suy yếu đi nhiều Đại bộ phận địa chủ đi vào thành thị kinh doanh công thương nghiệp hoặc làm việc trong bộ máy ngụy quân ngụy quyền Một
số ít chuyển sang kinh doanh ruộng đất và máy móc nông nghiệp theo kiểu tư bản chủ nghĩa hoặc rớt xuống địa vị trung nông Trong số 138 địa chủ trước Cách mạng tháng Tám ở 4 xã Tây Nam Bộ đến năm 1969 chỉ còn 12 địa chủ,
Trang 30còn lại 107 hộ đi vào thành thị, 2 hộ xuống phú nông, 3 hộ chuyển sang kinh doanh theo kiểu Tư bản chủ nghĩa, 14 hộ xuống trung nông
Nhận định về giai cấp địa chủ sau Đồng khởi (1959 - 1960) “Bản đề cương kinh tế nông thôn” của Thường vụ Trung ương miền Nam tháng 3/1970 viết: “Giai cấp địa chủ phần đông bỏ chạy, số địa chủ ác ôn, cường hào đã bị tịch thu ruộng đất Ở đây chỉ còn sót lại một số địa chủ nhỏ với vị trí kinh tế phụ thuộc không đáng kể Họ còn thu ít nhiều tô, có khi rất thấp hoặc sống bằng lao động của gia đình họ là chính nhất là ở Châu thổ sông Cửu Long”
Như vậy, biến đổi về hình thức sở hữu ruộng đất đã có tác động trực tiếp đến giai cấp địa chủ Chế độ chiếm hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến dần bị xóa bỏ do đó giai cấp địa chủ không còn cơ sở kinh tế để mà tồn tại với lối kinh doanh lạc hậu của mình nữa
Sự biến đổi tích cực trong tầng lớp nông dân
Tầng lớp trung nông:
Trước Cách mạng tháng Tám, tầng lớp trung nông nói chung chiếm tỉ
lệ nhỏ về dân cư cũng như về ruộng đất Trong thời kỳ chống Pháp chúng ta
từng bước thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” xu hướng trung nông
hóa bắt đầu được mở rộng, nhiều bần nông đã trở thành trung nông Nhưng
với “Cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm xu hướng trung nông hóa bị
ngăn cản, một bộ phận trung nông mới hình thành đã phải quay trở lại thân phận tá điền
Từ năm 1960 trở đi do tác động của chính sách ruộng đất của Đảng ta
xu hướng trung nông hóa một lần nữa lại diễn ra và phát triển mạnh ở vùng nông thôn giải phóng
Theo kết quả điều tra ở 4 xã giải phóng Tây Nam Bộ năm 1969 cho
biết: “Trước Cách mạng tháng Tám, trung nông có 1.686 hộ chiếm 24,5%
Trang 31tổng số hộ nông thôn Đến năm 1969 số hộ trung nông tăng lên 5.491 hộ, chiếm 81,3% tổng số hộ nông thôn” [11, tr.30]
Như vậy, thành phần trung nông đã chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong cơ cấu giai cấp ở nông thôn vùng giải phóng Điều đáng chú ý là trong số trung nông năm 1969 thì có tới 70% là trung nông mới hình thành từ sau phong trào Đồng khởi (1959 - 1960) Số trung nông mới này chiếm 57% tổng số hộ nông thôn và gấp hơn 2 lần so với số trung nông trước Cách mạng tháng Tám
Có thể nói, tác động của biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất (1954 - 1970) đã tạo điều kiện cho tầng lớp trung nông ngày càng phát triển mạnh và trở thành một lực lượng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất cũng như trong phong trào cách mạng của nhân dân ta Đến năm 1970 về cơ bản quá trình trung nông hóa đã hoàn thành, đây là lực lượng lao động có kỹ năng, kỹ thuật
và chiếm hữu một khối lượng diện tích canh tác lớn nhất
Tầng lớp bần nông
Sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi, tại vùng giải phóng Đảng ta
đã tiến hành chia cấp ruộng đất cho nông dân vì vậy tầng lớp bần nông ngày càng thu hẹp dần Theo kết quả điều tra ở 4 xã giải phóng Tây Nam Bộ cho thấy nếu trước Cách mạng tháng Tám số bần, cố nông có 4.394 người chiếm 64% dân số nông thôn thì đến năm 1969 con số đó chỉ còn 1.102 người, chiếm tỷ lệ 16,3% dân số nông thôn