Điều đặc biệt là dưới thời nhà Đường, Phật giáo còn ảnh hưởng rộng lớn đến các nước trong khu vực như Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á như Việt Nam, Campuchia… Có thể nói, việc tìm hiể
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sỹ
Nguyễn Thị Bích – người hướng dẫn khoa học đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử trường Đại
học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và góp ý để em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ viên chức Bảo tàng Bắc Ninh - nơi tôi thực tập chuyên ngành đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu
Xin bày tỏ lòng tri ân đối với gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên
tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Nguyễn Thị Loan
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản khóa luận này được hoàn thành do sự cố gắng, nỗ lực
tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của Thạc sỹ
Nguyễn Thị Bích Bản khóa luận này không trùng với kết quả của các tác giả
khác Nếu trùng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn đọc để bản khóa luận được
hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO THỜI NHÀ ĐƯỜNG (618 – 907 ) 7
1.1 Sự du nhập Phật giáo vào Trung Quốc 7
1.1.1 Thời điểm du nhập 7
1.1.2 Con đường du nhập 10
1.2 Tình hình Phật giáo trước thời kỳ nhà Đường 13
1.2.1 Phật giáo thời nhà Hán (206 TCN – 220) 13
1.2.2 Phật giáo thời Tam Quốc (220-280) 16
1.2.3 Phật giáo triều đại nhà Tấn (280 – 419) 17
1.2.4 Phật giáo thời Nam Bắc Triều (420 – 569) 22
1.2.5 Phật giáo thời nhà Tùy (589 – 618) 29
1.3 Sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907) 31
*Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ ĐƯỜNG (618 – 907) 44
2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực chính trị 44
2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực văn hóa 53
2.2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học 53
2.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến kiến trúc, điêu khắc 57
2.2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến hội họa, âm nhạc 62
2.2.4 Ảnh hưởng của Phật giáo đến phong tục tín ngưỡng 67
2.2.5 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức 73
2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực xã hội 74
2.4 Ảnh hưởng của Phật giáo đến kinh tế 75
Trang 42.5 Đặc điểm của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907) 76
*Tiểu kết chương 2 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 87
Trang 5sử văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo Trung Quốc
Trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Trung Quốc đã trải qua những bước thăng trầm Lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc có thể nói gắn liền với các thời kỳ phát triển của các quốc gia Trung Quốc Vì thế người ta thường chia lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc ra các thời kỳ trùng với các giai đoạn lịch sử Chúng ta có thể nhìn sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc theo hai cách chia sau đây:
Thứ nhất, theo bài viết “Vài nét về sự xuất hiện Phật giáo ở Trung
Quốc” trên tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”, số 2, tháng 4/1997 của tác giả
Nguyễn Thị Quế dựa trên tiến trình phát triển của Phật giáo Trung Quốc chia ra làm năm thời kỳ:
1 Thời kỳ phiên dịch: Từ khi Phật giáo bắt đầu truyền vào (67 – 220) cho đến thời Đông Tấn (317 – 420) Thời kỳ này chủ yếu kinh sách được dịch từ tiếng Tây vực và tiếng Phạn ra tiếng Hán
2 Thời kỳ nghiên cứu: từ thời Đông Tấn (317 – 420) đến thời Nam Bắc
Trang 6triều (420 – 581) Đây là thời kỳ ngoài phiên dịch người ta còn chú ý đến nghiên
cứu giáo nghĩa đích thực của kinh điển để hiểu đúng giáo lý mà truyền bá
3 Thời kỳ kiến thiết: Từ thời nhà Tùy (581 – 618) đến nhà Đường (618 – 907) Đây là thời kỳ phát triển toàn thịnh của Phật giáo Nghĩa lý đích
thực của Phật giáo đã được chuyển chính xác sang tiếng Trung Quốc một cách tỉ
mỉ và hoàn chỉnh
4 Thời Kỳ kế thừa: Từ thời ngũ đại (907 – 960) đến thời nhà Minh (1368 – 1644) Thời Kỳ này Phật giáo vẫn tiếp tục tuân theo những tư tưởng và
tông phái đã được xác định của nhà Tùy, Đường, không có sự thay đổi gì về
giáo lý tăng đoàn
5 Thời Kỳ suy thoái: Từ nhà Thanh (1644) trở về sau
Thứ hai, theo cách phân chia của hòa thượng Thích Thanh Kiểm trong
cuốn “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” lại phân thành bốn thời kỳ dựa trên cơ sở
nét nổi bật của Phật giáo dưới các triều đại Bốn thời kỳ đó là:
1 Thời kỳ “Tây vực Phật giáo” (từ khi Phật giáo truyền vào cho đến đời
nhà Tùy)
2 Thời kỳ “Các tông độc lập” (từ nhà Tùy đến nhà Tống)
3 Thời kỳ “Tây Tạng – Mông Cổ Phật giáo” là thời kỳ Lạt ma giáo của
nhà Nguyên)
4 Thời kỳ “Chư tôn dung hợp Phật giáo” (từ nhà Thanh lại đây) [25; 7]
Trong các thời kỳ trên thì Phật giáo Trung Quốc thời nhà Đường (618 – 907) là thời kỳ phát triển toàn diện nhất Phật giáo xuất hiện trong tất cả
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và nó để lại ảnh hưởng sâu sắc
toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đó Điều đặc biệt là dưới thời nhà Đường, Phật
giáo còn ảnh hưởng rộng lớn đến các nước trong khu vực như Nhật Bản và một
số nước Đông Nam Á như Việt Nam, Campuchia… Có thể nói, việc tìm hiểu đề
tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát triển của nhà Đường
(618 – 907)” có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt lý luận khoa học mà còn có ý
Trang 7nghĩa thực tiễn
Về mặt lý luận, đề tài sẽ góp phần làm rõ sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường và ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trung Quốc thời nhà Đường
Về mặt thực tiễn, sự phát triển cực thịnh của Phật giáo thời nhà Đường và ảnh hưởng của nó có liên hệ mật thiết với lịch sử phát triển của Phật giáo ở các nước trong khu vực mà đặc biệt là Phật giáo Việt Nam Do vậy, tìm hiểu về lịch
sử Phật giáo Trung Quốc sẽ góp phần quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam
Với lí do vừa nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo
đối với sự phát triển của nhà Đường (618 – 907)” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay Hình thành trên đất nước đa tôn giáo Ấn Độ, Phật giáo nhanh chóng được lan truyền ra các nước xung quanh đặc biệt là Trung Quốc Đến thời nhà Đường Phật giáo phát triển cực thịnh ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Vì vậy, sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc trở thành đề tài nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước
Tác phẩm “Sử Phật giáo thế giới, tập 1: Ấn Độ - Trung Quốc” của tác giả
Giới Đức viết (nhà xuất bản Thuận Hóa, 2008) Trong tập 1 này tác giả viết về quá trình trình phát sinh phát triển của Phật giáo Trung Quốc từ lúc du nhập sau
đó trải qua các giai đoạn phát triển dưới các triều đại của Trung Quốc Đây là cuốn sách cung cấp tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo ở Trung Quốc, mang tính chuyên môn cao
Tác phẩm “Đàm đạo với Phật Đà”, do Lý Giác Minh và Lâm Thấm viết,
được Vũ Ngọc Quỳnh dịch (Nxb Văn học, Hà Nội, 2004) Cuốn sách này là cuộc nói chuyện giữa Phật Đà Lý Giác Minh với người học trò của mình là Lâm
Trang 8Thấm về mối quan hệ giữa Phật giáo với các bậc đế vương và Phật giáo với nền văn hóa Trung Quốc Vì vậy cuốn sách đã cung cấp một số tư liệu cũng như cách nhìn nhận đánh giá về mối quan hệ giữa Phật giáo với chính trị và văn hóa
xã hội Trung Quốc
Công trình nghiên cứu “Các đế vương với Phật giáo Trung Quốc” của tác
giả Vương Trí Bình, do Đào Nam Thắng dịch (Nxb Văn hóa Thông tin, 2002), thông qua các tích truyện về các đế vương với Phật giáo, đã góp phần khẳng định thêm ảnh hưởng của Phật giáo đối với nền chính trị Trung Hoa thời trung đại
Tác phẩm “Lược sử Phật giáo Trung Quốc” (từ thế kỷ I sau CN đến thế
kỷ X) do soạn giả Viên Trí viết (Nxb tổng hợp TP Hồ Chí Minh, năm 2006) Trong cuốn sách này tác giả viết về lịch sử Phật giáo Trung Quốc từ khi mới du nhập đến thế kỷ X Đây là tác phẩm nghiên cứu về Phật giáo Trung Quốc theo tiến trình lịch sử, cung cấp thêm thông tin về Phật giáo Trung Quốc qua các triều đại
Các tạp chí viết bằng tiếng Việt như: tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”
có bài viết của tác giả Đỗ Công Định (số 2, tháng4/2000): “Quá trình du nhập
và ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc” tác giả
đã giới thiệu về quá trình du nhập và một vài ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo tới văn hóa Trung Quốc
Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Trung Quốc qua các thời kỳ, đặc biệt là có sự nhấn mạnh đến sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường và ảnh hưởng của nó trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 9Mục đích của đề tài nhằm làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát triển của nhà Đường (618 – 907) Do đó, đề tài sẽ tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
Chứng minh được sự phát triển cực thịnh của Phật giáo Trung Quốc dưới thời nhà Đường
Phân tích chứng minh được ảnh hưởng của Phật giáo đến tình hình kinh tế, chính trị, cũng như văn hóa xã hội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của Phật giáo
Trung Quốc thời nhà Đường (618 – 907) và ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trung Quốc Qua đó làm rõ được sự phát triển cực thịnh của Phật giáo Trung Quốc thời nhà Đường
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc thời nhà
Đường (618 – 907)
Về không gian: Sự ảnh hưởng của Phật giáo thời nhà Đường đến các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Trung Quốc
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng trong đề tài này là các sách báo, tạp
chí, luận văn
Phương pháp chủ yếu sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là phương
pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đối chiếu, so sánh Ngoài ra còn sử dụng phương pháp hệ thống liên ngành như lịch sử với văn học, lịch sử với hội họa, kiến trúc Từ đó có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát triển của nhà Đường
5 Đóng góp của khóa luận
Đóng góp chủ yếu của khóa luận:
Phân tích và làm rõ những ảnh hưởng của Phật giáo đối với tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội và văn hóa Trung Quốc thời nhà Đường
Trang 10Khóa luận góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu khi nghiên cứu về Phật giáo Trung Quốc Đây có thể xem là một tài liệu tham khảo đối với các bạn sinh viên chuyên ngành lịch sử văn hóa và lịch sử thế giới
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 2 chương chính như sau:
Chương 1: Sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907)
Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát triển của nhà Đường (618 – 907)
Trang 11NỘI DUNG Chương 1
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO THỜI
Thứ nhất, thuyết Tây phương Thánh Giả của Khổng Tử Tây phương
Thánh giả tức là chỉ vào Phật Thiên Trọng Ni trong sách Liệt Tử có chép:
“Khâu nghe phương Tây có bậc Thánh giả, không trị mà không loạn, không nói
mà tự tin, không giáo hóa mà tự làm” [25; 26] Theo thuyết này thì ngài Khổng
Tử đã biết đến Phật giáo Thuyết này nếu căn cứ vào phương diện lý luận thì không vững vàng Vì đó chỉ là một sự giả thác của Liệt tử về ý nghĩa chính trị, không phải chính Khổng Tử đã nghĩ như vậy Hơn nữa, Tây phương Thánh giả
có thể chỉ vào bất cứ một Thánh giả nào, chưa chắc đã ám chỉ Phật
Thứ hai, thuyết Thích Lợi Phòng đem Phật giáo truyền vào Trung Quốc
Người ta cho rằng vị tu sĩ ngoại quốc tên là Shi-li-fang (Thích Lợi Phòng), mang kinh sách Phật giáo đến Trung Quốc vào triều đại của Tần Thủy Hoàng Theo
sách Lịch Đại Tam Bảo Kỷ:“Đời vua Tần Thủy Hoàng năm thứ IV (243 TCN),
có vị Sa Môn Tây vực là Thích Lợi Phòng, gồm tất cả là 18 người đem kinh Phật truyền vào Trung Quốc Vua Tần Thủy Hoàng cho việc đó là quái gở, liền bắt
bỏ ngục Nhưng tới nửa đêm, vua thấy có người thân vàng, cao 1 trượng 6 thước, tới phá ngục cứu ra Thấy thế vua rất sợ hãi và rập đầu kính lễ” [25; 24] Giả
thuyết này là do Phật giới Phật tử Trung Quốc nêu ra, nhưng bia ký của Asoka cũng như biên niên sử Tích Lan không hề để lại dấu tích nào về việc truyền bá đạo Phật của Asoka ở Trung Hoa Mặt khác, thuyết này thấy xuất xứ ở cuốn
Trang 12“Chu Tử Hành Kinh Lục” được dẫn chứng trong bộ “Lịch Đại Tam Bảo Kỷ”,
nhưng sách đó là sách giả tạo của hậu thế, nên không đáng tin cậy
Thứ ba, thuyết Trương Khiên đã thấy được Phật giáo Một số học giả Phật
giáo cho rằng một đặc phái viên đời nhà Tiền Hán tên là Trương Khiên du hành xuyên suốt vùng Trung Á đến tận Parthia trong thế kỷ II TCN, trên đường đi ông nghe đến đạo Phật và đưa tin đó về nước Nhưng theo nghiên cứu chỉ có tài liệu Phật giáo của triều đại Đường ghi lại thông tin trên trong khi đó các tài liệu trước đó không có tài liệu nào nhắc đến đức Phật
Thứ tư, thuyết lễ bái hình người vàng Thời vua Võ Đế nhà Tiền Hán năm
thứ II năm 121 TCN) Vua sai tướng Hoắc Khử Bệnh đánh rợ Hung Nô, sau khi đánh thắng Hung Nô ở các tỉnh biên giới phía Bắc Trung Hoa viên tướng này đã tìm thấy một số tượng hình người được làm bằng vàng Số tượng ấy từng được xem như là tượng Phật và là những chứng cớ đánh dấu sự khởi nguyên của Phật giáo tại Trung Hoa [25; 24] Tuy thế, ngày nay người ta chứng minh được các tượng vàng ấy không phải là hình tượng đức Phật, mà là biểu tượng của một số thần thánh của Hung Nô
Thứ năm, thuyết Lưu Hướng nói đến Phật điển Sau đời vua Võ Đế nhà
Tiền Hán đến thời vua Thành Đế, vua sai Lưu Hưóng chỉnh đốn lại sách vở của
triều đình tại Các Thiên Lộc, Lưu Hướng đã thấy Phật điển Bộ “Phật Tổ Thống
Kỷ” có dẫn chứng một đoạn trong văn trong cuốn “Liệt Tiên Truyện” của Lưu
Hướng: “Tôi kiểm điểm thư tàng, sưu tầm đại sử, để soạn Liệt tiên đồ Kể từ vua
Hoàng Đế trở xuống cho tới nay có hơn 700 người được đạo tiên, sau khi xét định thực hư, được 146 người, tổng số đó có hơn 70 người đã thấy kinh Phật”
[25; 25] Tuy nhiên, trong bộ “Phật Tổ Thống Kỷ” có dẫn chứng ký lục của Lưu
Hướng, mà ký lục này lại không không có căn cứ rõ ràng
Thứ sáu, thuyết niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 Giả thuyết được nhiều sử
gia Phật giáo quan tâm trong các thập nên gần đây Đó là câu chuyện liên quan đến Hán Minh Đế (58 – 75) nhà Hậu Hán Theo thuyết này, vào một đêm nọ
Trang 13Minh Đế nằm mộng thấy vị thần sắc bay liệng trong không gian sáng hôm sau ông kể lại câu chuyện ấy cho quân thần nghe Trong số ấy, vị quan tên Phó Nghị trả lời rằng ông ta nghe kể có một vị thánh ở Ấn Độ đã chứng ngộ giải thoát và được tôn xưng là Phật, người có thân thể bằng vàng và có thể bay liệng giữa không trung Vua đồng ý với giải thích của Phó Nghị và sai một phái đoàn ra nước ngoài để tìm hiểu về vị thánh này, đồng thời sưu tập giáo lý của ngài Khi
trở về, phái đoàn ấy mang về cuốn kinh “Tứ Thập Nhị Chương” Hán Minh Đế
ra lệnh xây dựng một ngôi chùa ngoài thành Lạc Dương để tôn trí kinh
Nhưng thuyết này cũng bị giới học giả Âu Mỹ không công nhận, vì họ thắc mắc không hiểu Phó Nghị đã nghe tin tức ấy từ lúc nào, ở đâu và làm thế nào để
vị quan này biết được tin ấy Phía sau câu chuyện này cũng có một vài giải thích chứng minh đó là sự thật
Bằng chứng khẳng định sự hiện diện của Phật giáo dưới triều đại nhà Hán trước giấc mộng của Minh Đế là tiểu sử của Sở Anh Vương Anh Vương là anh
em cùng cha khác mẹ với Hán Minh Đế, được phong hầu năm 39 và phong vương vào năm 41 Lúc đầu Anh Vương cư trú tại kinh đô nhà Hán, nhưng vào năm 52 chuyển về sống tại Bành Thành (kinh thành của nước Sở) Tại đây, Anh Vương tổ chức một đại tiệc chay để cúng dường cho các Tỳ kheo và cư sĩ Phật
tử sống tại Bành Thành để sám hối những việc xấu đã làm trong quá khứ Chính việc ấy là bằng chứng rõ ràng về sự hiện hữu của một cộng đồng Phật giáo tại Trung Hoa vào năm 65 Điều quan trọng ở đây là cộng đồng này bao gồm cả tu
sĩ lẫn cư sĩ, không phải trong thành Lạc Dương mà là ở một vùng xa xôi hẻo lánh Tuy chúng ta không biết giới tu sĩ là người ngoại quốc hay Trung Hoa, nhưng những cư sĩ đích thực là người dân bản xứ Hơn nữa vào thời điểm ấy người ta đã ăn chay, và chắc chắn Sở Anh Vương đã quy y Phật giáo Sự hiện diện của hàng ngũ Tỷ kheo và cư sĩ Phật tử tại địa phương này cho thấy rằng cộng đồng Phật giáo đã hiện diện trước năm 65, nghĩa là Phật giáo du nhập vào trước đó khá lâu, có thể vào những năm đầu công nguyên
Trang 14Nhìn chung, hiện nay người ta kết luận rằng những nguồn tài liệu liên quan đến niên đại du nhập của Phật giáo được nêu ra ở trên chỉ là huyền sử, không đáng tin cậy Có thể chúng được giới Phật tử nhiệt thành của đạo Phật thêu dệt nên, vì sau khi Phật giáo đã bám rễ ở Trung Hoa, các tín đồ muốn chứng minh
sự hiện hữu lâu đời của Phật giáo ở đây Duy chỉ có thuyết thứ sáu là có căn cứ tương đối chính xác được nhiều sử gia công nhận
Như vậy, theo các căn cứ trên ta có thể tin tưởng rằng cuối thời Tây Hán, đầu thời Đông Hán là thời kỳ Phật giáo truyền vào Trung Quốc Hầu hết các sách viết về Phật giáo Trung Quốc đều cho rằng đây là mốc thời gian Phật giáo
du nhập vào Trung Quốc
1.1.2 Con đường du nhập
Vào thời cổ đại đã xuất hiện nhiều nền văn minh lớn như văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập… Các xứ dẫn đầu nền văn minh nhân loại ấy sớm phát triển các ngành nghề để đáp ứng nhu cầu cho xã hội, dẫn đến việc trao đổi hàng hóa, những nhu yếu phẩm lẫn tiện nghi sinh hoạt Con đường trao đổi lúc này là con đường giao thương buôn bán bằng đường biển qua các tàu thuyền Con đường thứ hai là con đường bộ thông qua những đoàn lạc đà thồ hàng sang các vùng khác nhau qua các sa mạc Trên hai con đường buôn bán trao đổi này có sự tham gia của các nhà truyền giáo hoặc một vài Phật tử, có mang theo các tượng Phật, Bồ Tát, Chư Thiên… một số kinh hoặc tín ngưỡng tôn giáo ở xứ sở của mình Chính vì thế, ta có thể cho rằng đạo Phật từ Ấn Độ được du nhập vào Trung Quốc chỉ có hai con đường ấy
Về phương diện địa lý, người ta có thể từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng cả
đường bộ lẫn đường thủy Trong cuốn“Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” viết rằng: “Trước hết, từ Ấn Độ Phật giáo được truyền vào nước Đại Nhục Chi, An
Tức thuộc Bắc Ấn, sau đó phát triển sang vùng Tây Vực và cuối cùng đến Trung Quốc” [25; 21] Theo tác phẩm trên, các nước Tây Vực nằm rải rác quanh sa
mạc Takla makan, dọc theo chân của ba dãy núi Thiên Sơn, Côn Lôn và Thông
Trang 15Lĩnh Con đường xuyên qua vùng này là lộ trình trọng yếu nối kết hai nền văn hóa Trung – Ấn Từ Tây Vực người ta có thể đi đến Ấn Độ bằng hai con đường
từ phía Bắc và phía Nam
Nếu đi từ phía Nam, người ta sẽ khởi hành từ Đôn Hoàng và Ngọc Môn thuộc địa phận Trung Hoa, dọc theo phía Bắc núi Côn Lôn đi qua các nước như Lopnor, Khotan, Yarkand đến Kashgar người ta đi dọc theo phía Tây núi Thông Lĩnh, rẽ về phía Nam nối kết với ngả đường Bắc Ấn Độ Nếu đi từ phía Bắc người ta cũng khởi hành từ Đôn Hoàng, Ngọc Môn rồi đi dọc theo chân núi phía Nam của dãy Thiên Sơn, xuyên qua các nước Hà Mi (Y Ngô), Turfan (Cao Xương), Karashar (Yên Ký), Kuccha (Khâu Tư), Aksu (Cô Mặc), Ush (Ôn Túc), đến Kashgar, nối liền với con đường ở phía Nam Ấn Độ [25; 22 – 24]
Trong cuốn Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc Henri Maspero đã viết
rằng: “Vào cuối thế kỷ thứ II TCN, Trung Quốc đã chinh phục được một số nước
thuộc vùng Trung Á và có mối quan hệ với Bactria, Parthia và Ấn Độ Vào thời điểm này, vua chúa của triều đại Kushan thường phái sứ giả đến các xứ ấy Giới thương nhân cũng mang ngọc từ xứ Khotan cũng như thăm xứ Parthia và Kasmir đến Trung Hoa sau đó họ lại mua hàng tơ lụa của Trung Quốc và vận chuyển về đất nước mình bằng con đường này” [19; 77] Trong đoàn của giới
thương nhân thường có các nhà truyền giáo của đạo Phật đi theo để cầu nguyện
và đem sự bình yên đến cho họ trong suốt cuộc hành trình Cũng có ý kiến cho rằng, vào thời điểm lúc bấy giờ Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường thủy Tuy nhiên, đáng tin cậy nhất là Phật giáo được truyền vào Trung Hoa bằng con đường Trung Á
Bên cạnh trục lộ chính thuộc vùng Trung Á, còn có hai đường bộ khác, tuy nhiên các Tỳ kheo ít khi đi con đường này Con đường thứ nhất đi qua tiểu bang Assam của Ấn, đi lên phía trên của nước Miến Điện dẫn vào địa phận của Yunna ở phía Tây Bắc Trung Quốc Đường thứ hai đi qua hai nước Nepal và Tibet Trong một khoảng thời gian ngắn vào triều đại nhà Đường, giới tu sĩ
Trang 16Trung Quốc đã đi bằng con đường này để đến Ấn Độ
Cũng theo “Lịch sử Phật giáo Trung Quốc” nếu đi bằng đường thủy
người ta sẽ khởi hành từ hải cảng thuộc tỉnh Quảng Đông, đi qua các ốc đảo ở phía Đông Á rồi đến Ấn Độ Đường thủy rất tiện cho việc giao thông buôn bán nhưng lúc đầu ít được sử dụng và mãi đến thời Đông Tấn nó mới trở nên phổ biến
Trong khi ấy, theo nghiên cứu của Kenneth K.S Ch’en cũng cho thấy rằng Phật giáo có thể từ Kasmir sang Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường thủy Vào thế kỷ II và thế kỷ I TCN, nếu chọn hướng đi theo đường bộ người ta thường khởi hành từ phía Bắc Ấn Độ đến Afghanistan rồi đến Balkh và cuối cùng đến Kashgar (Sớ lặc) Từ đây họ có thể đi đến Đôn Hoàng, một tỉnh biên giới phía Tây Bắc Trung Quốc Vì đến Đôn Hoàng đầu tiên nên nơi đây đã trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng nhất
Các đoàn thương gia và truyền giáo cũng có thể từ Ấn Độ đến Trung Hoa bằng con đường biển Những hải cảng chính ở vịnh Bengal là cảng Kaveripattanam nằm ở cửa sông Hằng Vào thời điểm đó, tàu Trung Quốc sẽ khởi hành từ Bharukaccha (ngày nay là Broach) nằm ở bờ Tây Ấn Độ Sau khi rời các cảng trên, tàu ghe có thể đi thẳng đến Java, hoặc đi theo bờ biển dọc quanh bán đảo Malay cho đến khi đến Tonkin hoặc Canton thuộc phía Nam Trung Quốc Vào nửa đầu thế kỷ thứ VII, khi quyền lực của Trung Hoa không còn ảnh hưởng lớn đến vùng Trung Á, ngày càng có nhiều Tỳ kheo chọn đường biển làm phương tiện chính trong việc qua lại giữa hai nước Ấn – Hoa Điển hình là năm 671, Nghĩa Tịnh rời Trung Quốc đến Ấn Độ bằng con đường biển này đến năm 695, ông cũng trở về bằng con đường này
Vào khoảng thế kỷ thứ I TCN Phật giáo thật sự đã định hình một cách ổn định ở vùng Trung Á Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo đi qua các sa mạc để đưa Phật giáo vào các trung tâm văn minh và thịnh vượng của Trung Hoa Trung Hoa lúc này đang dưới sự cai trị của đế chế hùng cường và bành trướng của nhà
Trang 17Hán Trong khi ấy, ở miền Tây của châu Á, dân tộc Scythians đang củng cố lãnh địa của họ, tại đây Phật giáo đã có một nền tảng vững chắc Giới lái buôn, thương nhân thường có những chuyến du hành qua lại giữa hai trung tâm văn minh này Một số đoàn truyền bá Phật giáo cũng xuất hiện trong số các lái buôn, thương nhân đó Cuộc giao thoa giữa hai nền văn minh trên đã mở ra những bước chuyển động văn hoá vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa
1.2 Tình hình Phật giáo trước thời kỳ nhà Đường
1.2.1 Phật giáo thời nhà Hán (206 TCN – 220)
Nhà Hán là một trong những triều đại phát triển rực rỡ nhất Trung Quốc
và có công mở rộng lãnh thổ Trung Hoa Sau khi nhà Tần sụp đổ, Sở Hoài vương lên làm Hoàng đế, các tướng lĩnh có công lật đổ nhà Tần xảy ra xích mích trong việc phong đất, phong vương Trong số đó có Lưu Bang người có công lớn trong việc lật đổ nhà Tần mặc dù đã được phong làm Hán vương ở Hán Trung, Ba Thục nhưng việc phong vương này không như mong muốn nên ông
đã gây ra chiến tranh Hán – Sở Đến năm 202 TCN Lưu Bang đánh bại quân Sở
và được tôn lên làm vua, hiệu là Hán Cao Tổ Khi mới lên ngôi Hán Cao Tổ đóng đô ở Lạc Dương, sau dời sang Trường An, vì vậy lịch sử gọi triều Hán do Lưu Bang lập nên là Tây Hán hoặc Tiền Hán để phân biệt với Đông Hán hoặc Hậu Hán sau này
Sau hơn 2 thế kỷ trị vì nhà Tây Hán đã dần suy yếu, nội bộ lục đục mâu thuẫn, thế lực bên ngoài gây chiến Đến năm 25, nhà Đông Hán được thành lập dưới sự hỗ trợ của quân Lục Lâm, Lưu Tú đánh bại Vương Mãng và lên làm vua, quốc hiệu vẫn gọi là Hán, nhưng đặt đô tại Lạc Dương
Mặc dù tình hình chính trị nhà Hán không được ổn định, thường xảy ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân và của các thế lực bên ngoài khác nhưng kinh
tế nhà Hán vẫn được củng cố, có bước phát triển vượt bậc so với nhà Tần Kinh
tế nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp đều được chú trọng và phát triển Nông nghiệp với sự xuất hiện của các công cụ bằng sắt và chính sách khuyến
Trang 18nông của triều đình làm tăng năng suất cây trồng Về công nghiệp hình thành hình thức sản xuất theo phường, hội Nghề làm gốm đã bắt đầu sản xuất được những mặt hàng đẹp, nghề rèn sắt có sự cải biến trong kỹ thuật Sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp đã làm thương mại phát triển xuất hiện những thương nhân ngoại quốc lập các trung tâm buôn bán thịnh vượng, đổi hàng của
Ấn Độ, Trung Đông lấy hàng Trung Hoa
Ca ngợi sự phát triển của nhà Hán, thiên “Thực hóa chí” (thượng) của sách “Hán thư” đã chép một cách khuếch đại rằng: “Đến đầu thời Vũ Đế, trong
khoảng 70 năm, nước nhà vô sự, nếu không gặp lụt lội hạn hán thì nhân dân người no nhà đủ Lẫm vựa ở các đô thị cho đến những nơi hẻo lánh đều đầy ắp, kho tàng của nhà nước thì thừa của cải Tiền ở kinh đô tích lũy hàng trăm vạn, dân xâu tiền mục mà không xếp lại được Thóc kho để hết năm này sang năm khác đầy tràn ra bên ngoài, mục không ăn được Nhân dân khắp mọi đường mọi ngõ đều có ngựa, trên đồng có từng đàn Những người cưỡi ngựa cái bị khinh thường, không được đến dự hội hè”[30 ; 243]
Sự phát triển về kinh tế tạo điều kiện cho các tôn giáo tư tưởng phát triển trong lòng quần chúng nhân dân cũng như triều đình Thời Hán, bên cạnh những
tư tưởng tôn giáo truyền thống như Khổng giáo, Đạo giáo, Nho giáo được các vị vua đề cao coi trọng còn có sự du nhập của một tôn giáo mới là Phật giáo Vì mới du nhập, thế lực còn non yếu lại bị chèn ép, bài xích bởi văn hóa truyền thống Trung Quốc nên Phật giáo phải nương tựa vào Nho giáo và Đạo giáo Đạo Phật khi mới vào Trung Quốc thì các tín đồ Đạo giáo đều thấy ngay nó hợp với họ, các nhà sư cũng thấy các tín đồ Đạo giáo như là anh em của mình, còn các kẻ sĩ đạo Khổng xa lạ với họ Thực ra, Phật và Đạo khác hẳn nhau Phật giáo không nhận cái Ngã (ta) là thực Phật tìm sự giải thoát ở Niết Bàn, Đạo tìm
sự trường sinh nhưng cả hai tôn giáo đó có những điểm giống nhau: Thờ phượng, trầm tư, luyện hơi thở, kiêng một số thức ăn nhất là có truyền thuyết Lão Tử
về già qua phương Tây, mà đạo Phật cũng ở phương Tây, cho nên tín đồ Đạo
Trang 19giáo cho rằng Phật với Lão là một
Thời Hán Phật giáo chỉ dừng lại ở một bộ phận thuộc tầng lớp trên trong
xã hội nhưng Phật giáo cũng đã được một số người trong dân chúng biết đến Theo sử sách ghi lại thời kỳ này có Trách Dong, người Đan Dương (huyện Tuyên Thành tỉnh An Huy) đời vua Hiến Đế, thuộc dòng dõi hào tộc đã tập hợp hơn 3000 người kiến thiết một tu viện Phật giáo lớn, số người đến lễ bái có trên vạn người [25; 33]
Vì mới du nhập vào Trung Quốc nên Phật giáo thời nhà Hán chỉ lấy việc dịch kinh sách làm trọng yếu Các nhà sư có đóng góp lớn trong sự nghiệp dịch kinh thời Hán là Ca Diếp và Trúc Pháp Lan
Hai vị sư Ca Diếp và Trúc Pháp Lan chuyên về công việc dịch kinh điển Hai ngài đã phiên dịch bộ kinh điển đầu tiên tại chùa Bạch Mã – là ngôi chùa
Phật giáo đầu tiên trên đất nước Trung Quốc Bộ kinh đó là “Tứ thập nhị
chương” Đặc biệt, Trúc Pháp Lan sau đó còn dịch được một số bộ kinh như
“Thập địa đoạn kết tinh” 8 quyển, “Pháp hải tạng kinh” 1 quyển, “Phập bản hạnh kinh” 5 quyển… Từ đó, Phật giáo được triều đình Trung Quốc thừa nhận
và cho phép xây dựng chùa, dịch kinh và truyền bá
Sau khi Phật giáo được thừa nhận thì các nhà truyền đạo từ Tây Vực kéo sang Trung Quốc ngày càng nhiều Nổi bật trong số các nhà truyền đạo đó có
An Cao Thế và Chi Câu La Sấm An Cao Thế là thái tử của vua An Tức Sau khi xuất gia ngài đi sâu vào học kinh, luận, thông hiểu phép thiền quán Năm 147, ngài đến Lạc Dương tỉnh Hà Nam Trong khoảng 20 năm sống tại đây, ngài chuyên lo công việc phiên dịch kinh điển Tất cả kinh điển người dịch sang chữ Hán là 34 bộ gồm 40 quyển
Ngài Chi Câu La Sấm là người nước Đại Nhục Chi, tới Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Quang Hòa (178 – 183) đời vua Linh Đế Trong khoảng 12
năm, ngài đã phiên dịch sang chữ Hán những bộ kinh điển Đại Thừa như “Kinh
thư lăng nghiêm” 2 quyển, “Kinh ban chu tam muội” 1 quyển… Tất cả kinh
Trang 20điển ngài dịch là 10 bộ gồm 20 quyển
Sự nghiệp phiên dịch kinh điển của An Cao Thế và Chi Câu La Sấm đã đặt nền móng cho Phật giáo Trung Quốc Ngoài An Cao Thế và Chi Câu La Sấm còn có Trúc Phật Sóc người nước Thiên Chúc (Ấn Độ), Ưu Bà Tắc An Huyền người nước An Tức, Nghiêm Phật Điều người nước Hán Nghiêm Phật Điều là người Lâm Hoài (tỉnh An Huy), là vị Sa môn Trung Quốc đầu tiên và cũng là người Trung Quốc đầu tiên tham gia vào công việc phiên dịch kinh điển
1.2.2 Phật giáo thời Tam Quốc (220 – 280)
Lúc nhà Hán suy yếu, các chư hầu chia nhau cát cứ, thôn tính, tranh giành đất đai, quyền lực nên loạn lạc, đói khổ xảy ra khắp nơi Sau 42 năm chiến tranh, thiên hạ được phân gọi là Tam Quốc Tào Tháo phò vua bù nhìn nhà Hán, chiếm
cứ vùng Giang Bắc, sau lập nên nhà Ngụy, đóng đô ở Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) Tôn Quyền uy trấn Giang Nam, chiếm lĩnh Kinh Châu và Dương Châu, lập nên nhà Ngô, đóng đô ở Kiến Nghiệp (tỉnh Triết Giang) Lưu Bị cũng với danh nghĩa phò Hán, có Khổng Minh làm quân sư, chiếm Tây Thục, đóng đô ở Thành
Đô (tỉnh Tứ Xuyên)
Ba nước Ngụy, Thục, Ngô tạm thời kí kết hiệp ước hòa bình, chia ba thiên
hạ, dân tình yên ổn duy trì được 60 năm
Thời Tam quốc do các nước thường xuyên xảy ra tranh chấp nên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, trong công nghiệp có nghề đóng thuyền rất phát triển Nước Ngô đóng được loại thuyền lớn cao 5 tầng, có thể chứa được 3000 người Nhờ kỹ thuật đóng thuyền tiến bộ nên người của nước Ngô còn vượt biển đến buôn bán với các nước bên ngoài, tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa trong đó có Phật giáo
Phật giáo ở đất Ngụy: Lạc Dương vốn là trung tâm của Phật giáo, tuy
không phát triển bằng Bành Thành và Luy Lâu nhưng ảnh hưởng của nó đã lây sang quần chúng Do chiến tranh loạn lạc giới tri thức đã mất niềm tin vào Nho giáo, nên họ muốn tìm một tôn giáo mới đáp ứng cho nguyện vọng tâm linh
Trang 21Tuy nhiên kinh sách vào thời đó chưa nhiều, người Trung Quốc chưa có ai xuất gia, chỉ có các nhà sư Ấn Độ tìm đến Lạc Dương, chủ yếu cũng chỉ dịch kinh là chính Thời này, đáng kể là các ngài Đàm-ma-ca-la, Khương Tăng Ngải, Đàm
Đế, Bạch Diên, An Pháp Hiền…Một số kinh các vị đã dịch là:“Tăng Kỳ giới
bổn”,“Vô lượng thọ”,“Đàm vô đức yết ma”,“Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác kinh”
Đặc biệt là quyển “Tăng kì giới bổn” của ngài Đàm-ma-ca-la và “Đàm vô
đức yết ma” của ngài Đàm Đế là nói về giới luật và cách thức thọ trì giới pháp
cho người xuất gia Từ đây, người Trung Quốc mới chính thức có người thọ giới
Tỳ kheo Người đầu tiên này chính là Chu Sĩ Hành
Phật giáo ở đất Thục: Phật giáo tuy có đến chậm nhưng đặc biệt có ngài
Châu Tử Hoàng là một cao tăng Trung Quốc đã qua Tây Vực học chữ Phạn và tìm nguyên bản kinh chữ Phạn để dịch lại góp phần làm giàu thêm sự nghiệp phiên dịch kinh Phật của Trung Quốc
Phật giáo ở đất Ngô: Phật giáo được truyền tới nước Ngô sớm hơn nước
Ngụy nên sinh hoạt Phật giáo ở đây khá rầm rộ nhất là phương diện dịch thuật
và xuất hiện nhiều nhà dịch thuật nổi tiếng như Chi Khiêm, Khương Tăng Hội, Chi Khương Lương
Chi Khiêm dịch kinh gần 30 năm, sau đó vào thâm sơn ẩn dật Sự nghiệp
của Khiêm vừa phiên dịch vừa chú thích được 27 kinh đại lược là: “Duy Mật
Cật”, “Đại Bát Nê hoàn”, “Pháp cú”, “Thụy ứng bản khởi”, “Đại A Di Đà kinh”, “Liễu bản tiên sinh tử kinh”, “Tán Bồ tát liên cú”, “Đạo thọ kinh”
Những kinh điển mà Khương Tăng Hội đã dịch gồm: “Lục Độ Tập kinh”,
“Tạp Thí Dụ kinh” và chú thích bộ “Pháp Kính kinh”, “ Đạo Thụ Vương kinh"
Như vậy, Phật giáo thời Tam Quốc mặc dù chỉ có thêm một số các kinh sách nhưng tình hình chùa chiền, tăng lữ tín đồ đã bắt đầu phát triển xa rộng 1.2.3 Phật giáo triều đại nhà Tấn (280 – 419)
Sau khi nước Ngụy diệt nhà Thục, Tư Mã Viêm cướp ngôi vua, lập nhà
Trang 22Tây Tấn đóng đô ở Lạc Dương Mấy năm sau, Tư Mã Viêm tiến quân về Nam,
diệt nhà Ngô rồi thống nhất thiên hạ
Từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc đến thời đại Tây Tấn, Phật giáo đã được phổ cập rộng rãi Thời vua Huệ Đế trị vì ông cho dựng chùa Hưng Thành ở Lạc Dương và đặt tiệc trai cúng giàng cho 100 vị tăng Vua Mẫn Đế dựng chùa Linh Thông và Bạch Mã ở kinh thành Tràng An, hết sức bảo hộ Phật giáo
Trong cuốn “Biện chính luận” của tác giả Vương Lâm có viết rằng: “Tự viện tất
cả có 108 ngôi, tăng ni có hơn 3.700 người” [17; 42] Tuy vậy, Phật giáo đời
Tây Tấn cũng không có thay đổi gì lớn, ngoài công việc phiên dịch kinh điển
Về sự nghiệp phiên dịch kinh điển của thời Tây Tấn: Với sự phát triển về chùa chiền, tăng lữ, tín đồ, kéo theo sự yêu cầu cấp thiết của kinh điển để đáp ứng cho việc học hỏi, nghiên cứu, thuyết giảng Trong thời kì này có các vị sư người Tây Vực, các vị sư và các cư sĩ người Trung Quốc đã có công trong dịch kinh như: Đàm ma la sat, An Pháp Khâm, cư sĩ Nhiếp Thừa Vãn, cư sĩ Nhiếp Đạo Chân… Trong số các Tăng sĩ và cư sĩ nêu trên, người thì dịch từ 1 bộ, 2 bộ,
5 bộ, có vị dịch được 24 bộ, 50 bộ…Nổi bật nhất thời nay là ngài Đàm ma la sát dịch được 175 bộ, gồm 354 quyển
Cuối thời Tây Tấn tình hình chính trị xã hội bắt đầu loạn lạc Các rợ Hung
Nô, Tiên Tỵ, Yết ở phương Bắc, các rợ Chi, Khương ở phương Tây, hợp lại thành 5 dân tộc Ngũ Hồ tràn xuống chiếm lĩnh những bình nguyên trù phú, các thành thị sầm uất của Trung Quốc, dần đà họ tiến về phương Nam
Trong số đó có Lưu Thông, thuộc rợ Hung Nô là có thế lực nhất, ông tiến quân về Lạc Dương, diệt nhà Tây Tấn, lập nên nhà Tống Dòng dõi cuối cùng của nhà Tây Tấn là Tư Mã Duệ, rút lui cố thủ miền Giang Nam, lập ra nhà Đông Tấn, đóng đô ở Kiến Khang
Nhà Triệu lập quốc ở phương Bắc, được hai đời là Tiền Triệu và Hậu Triệu thì các nước còn lại của Ngũ Hồ lại nổi lên tranh cướp đất đai không chia thắng bại, kết quả bị phân chia thành 16 nước Ngũ Hồ ở phương Bắc gồm các
Trang 23nước: Thành Hán (303 – 437), Hán Triệu (304 – 329), Hậu Triệu (319 – 350), Tiền Lương (324 – 376), Tiền Yên (337 – 370), Tiền Tần (351 – 394), Hậu Tần (384 – 417), Hậu Yên (384 – 409), Tây Tần (385 – 431), Hậu Lương (386–403), Nam Lương (397 – 414), Nam Yên (398 – 410), Tây Lương (400 – 420), Bắc Lương (401 – 439), Hạ (407 – 431), Bắc Yên (409 – 436) Như vậy miền Nam Trung Quốc lúc này là nhà Đông Tấn, miền Bắc Trung Quốc là 16 nước Ngũ Hồ
Mặc dù bị phân chia lãnh thổ nhưng Phật giáo thời kỳ này có điều kiện phát triển hơn trước
Ở phương Bắc, Phật giáo rất thịnh đạt, đặc biệt là nhà Hậu Triệu, Tiền
Tần, Hậu Lương và Hậu Tần Điều này đã thúc đẩy Phật giáo được truyền bá và phát triển mạnh mẽ ở một vùng rộng lớn
Hậu Triệu là một nước lớn có kinh tế phát triển thời đó Vua Triệu là Thạch Lặc và con trai là Thạch Hổ nổi tiếng hung ác, nhưng sau được sự giáo hóa của
vị danh tăng Phật Đồ Trừng mà hai cha con Thạch Lặc và Thạch Hổ đã hối cải
từ đó đi rất tin tưởng và sùng Phật Phật Đồ Trừng là người có công rất lớn đối với sự phát triển của Phật giáo nhà Hậu Triệu Trong việc truyền đạo, ông suốt đời chỉ lấy đức độ và tài năng để cảm hóa con người Tương truyền ông có rất
nhiều phép lạ “Hòa thượng lấy ra một cái chậu, rồi đổ đầy nước vào trong chậu
đó, sau đó thắp một nén hương và cầu khấn Một lúc sau trong chậu bỗng nhiên mọc lên một bông hoa sen mầu xanh, rồi nó từ từ lớn lên, tỏa sáng long lanh lóa mắt” [2 ; 51] Vì thế, cha con Thạch Lặc rất tôn kính Phật Đồ Trừng tôn ông là
“Đại Hòa thượng” và “Hòa thượng quốc chi đại bảo” tức vị Hòa thượng quý
báu nhất trong nước
Nhà Tiền Tấn, một nước mạnh nhất trong 16 nước Ngũ Hồ, Phật giáo cũng rất thịnh với sự đóng góp của Thích Đạo An Sau khi được nghe tên tuổi của Đạo An, Tiền Tần vương là Phù Kiên kể với các quan đại thần của mình rằng
“Ngài Đạo An ở Tương Dương là một vị cao tăng có phép thần, nếu như có điều
Trang 24kiện, nhất định ta sẽ mời ngài về giúp ta về việc chính sự” [13; 63] Ông không
chỉ là người thầy tôn giáo mà còn là cố vấn chính trị tối cao của vua Phù Kiên Nhờ sự sùng ái của vua, Thích Đạo An đã cho xây dựng nhiều chùa chiền để dịch kinh sách, tạo nên những tiền đề cơ bản quan trọng đối với sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc
So với thời Tiền Tần, Phật giáo nhà Hậu Tần còn phát triển hơn Vua Hậu Tần là Diệu Thành, Diệu Hưng đều sùng đạo Phật Đại biểu cho hoạt động truyền giáo thời kỳ này là Cưu Ma La Thập Ông hoạt động tích cực và rất coi trọng việc dịch kinh sách Ngài Cưu Ma La Thập tiếp nối sự nghiệp hoằng dương chính pháp của các bậc tiền bối và đưa Phật giáo Trung Quốc phát triển hơn các triều đại trước
Như vậy, Phật giáo thuộc 16 nước Ngũ Hồ có bước phát triển hơn giai đoạn trước, nó đã có vị trí quan trọng trong lòng các bậc đế vương, chứng tỏ nó đã có ảnh hưởng lớn đến chính trị
Ở miền Nam, lúc này là nhà Đông Tấn trị vì, ngoài việc dịch kinh điển ra
đã bắt đầu có sự hình thành tổ chức giáo đoàn Phật giáo Thời Đông Tấn, số tăng ni ở Trung Quốc đã lên tới 24.000 người với 1.780 ngôi chùa [25; 42] Chính lý do tăng ni ngày càng đông, chùa viện ngày càng nhiều mà vấn đề giáo đoàn được chú ý quan tâm nhiều hơn
Phật giáo thời Đông Tấn không chỉ chú trọng đến công việc phiên dịch kinh điển mà còn chú trọng đến việc nghiên cứu để phát triển tư tưởng của Phật
giáo Phật giáo thời này lấy tư tưởng “Không” trong kinh Bát Nhã làm trọng
yếu, đã tách tư tưởng Lão Trang ra ngoài Ngài Đạo Sinh sang tạo ra phương pháp chia khoa mục để chú thích kinh điển Ngài Tuệ Quán khi sửa chữa bản dịch của kinh Niết Bàn đã đem giáo lý của đức Phật chia thành Đốn giáo, Tiệm giáo Trong Tiệm giáo lại chia ra làm Ngũ thời giáo Vì ở thời kỳ này, kinh
A Hàm và Tiểu Thừa A Tỳ đã được dịch ra chữ Hán nên có phong trào nghiên
cứu A Tỳ đàm học, sau này hình thành “A Tỳ đàm tông” Từ chỗ ngài Cưu Ma
Trang 25La Thập dịch các bộ luận Đại thừa như “Trung luận”, “Bách luận”, “Thập nhị
môn luận” mà thành lập ra Tam luận tông Từ thành thực lập luận ra Thành thực
tông, tư tưởng kinh Niết Bàn trở thành cơ sở của Niết Bàn tông, tư tưởng kinh Hoa nghiêm trở thành cơ sở của Hoa nghiêm tông sau này
Thời Đông Tấn nổi lên phong trào Tây du cầu pháp, tiêu biểu có chuyến Tây du của Pháp Hiển
Pháp Hiển (399 – 418) họ Cung, là người Võ Dương ở Bình Dương thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay Sử ghi lại rằng lúc còn nhỏ khi sống cùng cha mẹ, ngài luôn ốm đau, nhưng khi được gửi vào chùa thì lại khỏe mạnh, cường tráng Do vậy ngài ở chùa từ lúc 3 tuổi và hiếm khi về nhà Sau khi cha mẹ qua đời, ngài gia nhập tăng đoàn năm 12 tuổi và được thọ đại giới Pháp Hiển rất quan tâm đến Luật tạng Sau thời gian nghiên cứu học hỏi, ngài nhận thấy giới luật lưu hành ở Trung Hoa vào thời đó là chưa đầy đủ và rất lộn xộn Do vậy, Pháp Hiển nuôi dưỡng ý nguyện du hành sang Ấn Độ để sưu tập thêm về Luật tạng
Pháp Hiển không phải là người Trung Hoa đầu tiên đi Ấn Độ học Phật pháp mà từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc thời vua Minh Đế nhà Hán (58 – 75) đã có nhiều chuyến hành trình của đệ tử xứ Phật, xuất gia cũng như tại gia, từ Trung Quốc đi Ấn Độ với những động cơ khác nhau như tìm cầu kinh sách, tầm danh sư học đạo, hoặc hành hương tứ thánh tích: Lumbini, Bodhagaya, Sarnath và Kusinara Con đường buôn bán nối kết vùng Đông Á với phía Tây rất thuận tiện cho sự thông thương giữa hai nước này nhưng không có ai trong tổng
số người khởi hành trước Pháp Hiển trở về quê hương với những ước mong mà
họ ấp ủ Vì vậy, sự thành công của chuyến Tây du của ngài được xem như là mốc ngoặt lịch sử làm động lực thúc đẩy Phật giáo đồ tìm về quê hương của đức Phật
Pháp Hiển lên đường cầu pháp vào lúc 65 tuổi Pháp Hiển cùng với năm người bạn đồng hành gồm Huệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Huệ Ứng và Huệ Ngỗi rời Trường An vào năm 399 Sau khi rời Trường An phái đoàn của Pháp Hiển đi
Trang 26theo biên giới phía Tây của vịnh Tarim đến các kinh đô của vùng Trung Á như Shan – shan, Agni và Khotan Từ đó họ du hành đến Chakarka, vượt qua Pamir
và Agzi ngang qua Darada và thung lũng Indus, cuối cùng đến kinh thành của Uddiyana thuộc Bắc Ấn Độ Sau 15 năm tha phương học đạo và đạt được mong ước, ngài trở về Trung Quốc năm 79 tuổi
“Bách Khoa Phật Giáo” ghi rằng Thánh điển mà Pháp Hiển đem về Trung
Quốc tổng cộng là 6 bộ bao gồm Luật tạng của Mahasamghika, Luật tạng Sarvastivada và một số luận giải của Mahasamghika [25; 67]
Sau khi về đến Nam Kinh, kể từ năm 412 cho đến khi qua đời, Pháp Hiển dồn hết tâm trí cho việc phiên dịch kinh sách mà ngài đã sưu tập ở Ấn Độ và Tích Lan Năm 416 Pháp Hiển bắt đầu viết lại cuốn tự truyện Tây du với nhan
đề “Phật Quốc Ký” Đây là một tác phẩm quan trọng về lịch sử và tôn giáo của
các nước Nam Á cũng như truyền thống Phật giáo
1.2.4 Phật giáo thời Nam Bắc Triều (420 – 581)
Thời đại Tây Tấn, Đông Tấn cùng 16 nước Ngũ Hồ tồn tại 130 năm thì mất
Ở Đông Tấn, năm 420 Lưu Dụ thuộc dòng dõi nhà Hán, nổi lên diệt nhà Đông Tấn, lập nên nhà Tống, đóng đô ở Kiến Khang
Năm 479, một viên tướng của nhà Tống là Tiêu Đạo Thành truất ngôi của nhà Tống, lên làm vua , lập nên triều Tề (479 – 502)
Năm 502, một người tên là Tiêu Diễn khởi binh lật đổ triều Tề, lên làm vua, đổi tên nước là Lương (502 – 557) Năm 548, một hàng tướng của Đông Ngụy (Bắc triều) là Hầu Cảnh lại phản Lương Năm 549 Hầu Cảnh chiếm được kinh
đô Kiến Khang đánh bại Tiêu Diễn Đến năm 551, Hầu Cảnh truất ngôi nhà Lương, tự lập làm Hán đế, nhưng sang năm 552, bị thất bại và bị bộ hạ giết chết Nhà Lương được khôi hục và tồn tại thoi thóp trong mấy năm nữa
Năm 557, một viên tướng có công lớn trong việc đánh bại Hầu Cảnh là Trần Bá Tiên bắt vua Lương phải nhường ngôi cho mình lập nên triều Trần (557 – 589) Đến năm 589, nhà Trần bị triều Tùy ở miền Bắc tiêu diệt
Trang 27Bốn triều đại Tống, Tề, Lương, Trần đều chỉ thống trị được miền Nam và đều đóng đô ở Kiến Khang nên được gọi chung là Nam Triều
Ở phương Bắc, Bắc Ngụy đánh dẹp 16 nước Ngũ Hồ, thống nhất hơn nửa lãnh thổ Trung Quốc, đóng đô ở Bình Thành (tỉnh Sơn Tây) năm 439
Như vậy, phương Nam là nhà Tống, Tề, Lương và Trần thay nhau cai trị còn phương Bắc là Bắc Ngụy, đã chia đôi Trung Quốc lập ra hai triều đại Nam Bắc Các triều đại ở hai miền Nam Bắc này lăm le dòm ngó lẫn nhau, kéo dài
160 năm, lịch sử vẫn gọi là thời Nam Bắc triều
Tại Nam triều: Là sự thay đổi của các triều đại, nhưng Phật giáo ở đây vẫn
tiếp tục phát triển theo xu hướng trước đó Giới Tỷ kheo tại miền Nam rất chú trọng đến triết lý và văn điển Phật giáo và vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với phong trào Tân Lão giáo Ba giai đoạn phát triển quan trọng của Phật giáo Nam triều là thời kỳ Nguyên Hỷ (424 – 435) của Lưu Tống, thời đại hoàng tử Cảnh Lăng (484 – 495) và thời Lương Võ Đế (502 – 549)
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn Nguyên Hỷ là việc kiến tạo chùa miếu Sử liệu ghi lại rằng, tại kinh đô, có 15 ngôi chùa mới được dựng lên Tuy nhiên, số lượng tu viện được xây dựng nhiều hơn so với thực tế Một đặc trưng khác của thời Nguyên Hỷ là sự xuất hiện của nhiều trí thức, học giả quý tộc thực sự quan tâm đến giáo lý Phật giáo Dưới triều đại Lưu Tống, có một số dòng họ nổi tiếng
là đệ tử thuần thành của đức Phật trong số đó có Tạ Linh Vận (385 – 433) là nhân vật trí thức nổi danh nhất, có sự liên kết chặt chẽ với Phật giáo
Giai đoạn phát triển thứ hai của Phật giáo chủ yếu nhờ vào nỗ lực của hoàng tử Cảnh Lăng, con thứ hai của Võ Đế nước Tề Ông là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất của Phật giáo phía Nam Nhờ vào sự hộ pháp của Cảnh Lăng, Phật giáo đã gây được ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức và quí tộc quan lại tại Nam triều Cảnh Lăng rất chú trọng đến vấn đề giới luật của tu viện, ông cũng rất quan tâm đến khía cạnh thực tiễn của giáo lý Phật giáo Ông thường tổ chức ngày hội ăn chay, khuyến khích mọi người tránh sát sinh, bố thí
Trang 28thức ăn và thuốc men… Phật giáo thời này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển vì thế mà tăng đoàn cũng trở nên mạnh mẽ nhờ sự hỗ trợ chính trị của triều đình, vua quan và quần chúng
Phật giáo thời nhà Lương được xem là phát triển nhất ở Nam triều Người sáng lập ra nhà Lương là Võ Đế, là vị hộ pháp chính của Phật giáo trong giai đoạn thứ ba này Gia đình Võ Đế là tín đồ truyền thống của đạo Lão, nhưng trước khi đăng vị, Võ Đế đã có tình cảm với Phật giáo do nhiều lần được hội kiến với các Tỳ kheo tại cung điện của hoàng tử Cảnh Lăng Sau khi lên ngôi, lòng đam mê giáo lý Phật giáo của Võ Đế ngày càng mãnh liệt, nên vào năm thứ
ba sau khi đăng vị (504) Lương Võ Đế phát nguyện quy y Tam bảo Cũng vào năm ấy nhân ngày sanh đản của đức Phật, Võ Đế ban sắc lệnh loại bỏ các lễ hội tôn vinh Lão Tử Vào năm 511, vua tự nguyện từ bỏ uống rượu, ăn thịt vì ông tin rằng lối ẩm thực ấy sẽ khiến người ta sanh vào đại ngục Năm 517, Võ Đế ban hành chiếu chỉ cấm sử dụng sinh vật còn sống cho mục đích chế thuốc và làm đồ cúng tế, thay vào đó sử dụng hoa quả
Cũng giống như các vua chúa của triều đại trước, cống hiến nổi bật nhất của Võ Đế với đạo Phật là việc xây dựng vô số chùa miếu Trong số đó hoành tráng nhất là chùa Đồng Thái, khởi công năm 521 và hoàn tất năm 527 Ông còn xây dựng hai ngôi đại tự tên là Đại Ái dành riêng cho chư tăng để tưởng niệm cha và Đại Thị Tứ dành riêng cho chư ni để tưởng niệm mẹ
Lương Võ Đế còn chú ý đến việc truyền đạo Việc làm này ít thấy ở các triều đại trước Võ Đế tổ chức rất nhiều pháp hội truyền bá giáo lý, thu hút đông đảo thính giả đến tham dự Thường thì vua nghe chư tăng thuyết pháp, đàm kinh nhưng cũng có lúc chính Võ Đế diễn giải
Một hoạt động khác do Võ Đế chủ trương là xây dựng kho tàng cho chùa
chiền dưới sự bảo trợ của hoàng triều Kho tàng ấy được gọi là “Vô Tận Tạng”,
cất chứa những tài sản của các nhà bảo trợ giàu có của chùa, hoặc chứa đựng tài vật của giới tín đồ cúng dường cho nhà chùa Lúc sinh thời, Võ Đế xây dựng
Trang 29được 13 kho tàng nằm rải rác khắp lãnh thổ nước Lương Vào năm 533, riêng
vua cúng dường cho “Vô Tận Tạng” của chùa Đồng Thái 201 món, tổng giá trị
lên đến 10.960.000 tiền, quan lại triều đình cũng góp tổng số 2.700.000 tiền [45; 148]
Được sự chỉ dạy và giúp đỡ của một số danh tăng đương thời như Tăng Mân, Pháp Sủng, Tuệ Siêu… Võ Đế cũng chứng tỏ năng lực của ông trong lĩnh
vực nghiên cứu và sáng tác Vua biên soạn sớ giải kinh “Niết bàn”, “Bát nhã”
và “Duy ma cật” Theo sách “Lịch đại Tam Bảo kỷ” nhà vua chú giải bộ
“Ma ha Bát nhã ba la mật đa Tư chủ kinh”, gồm 50 quyển [25; 76]
Có thể nói rằng Phật giáo đời nhà Lương là thịnh đạt nhất Nam triều Vì bên cạnh cống hiến của Võ Đế và triều thần, tăng già Phật giáo còn có một số tăng nhân trí thức như Trí Tạng, Pháp Vân và Tăng Mân Đặc biệt có sự hiện diện của các danh tăng ngoại quốc như Sanghapala (Tăng già ba la), Mandrarisi (Mạn đa la tiên) và Paramartha (Chân Đế) người nước Ujjain, thuộc Tây Ấn
Ở Bắc triều, với sự hiện diện của Phật Đồ Trừng, Phật giáo tạo đã có mối
liên hệ mật thiết với triều đình Bắc Ngụy, đặc biệt là vị hoàng đế đầu tiên của Bắc triều tức Thái tổ hoàng đế Nhà vua dành nhiều đặc ân cho đạo Phật khi trị
vì đất nước Cụ thể là việc nhà vua quyết định mời Tăng Lãng làm cố vấn cho mình Đặc biệt Thái tổ hoàng đế còn ban sắc lệnh với nội dung rằng: Phật giáo hiện hữu rất lâu tại Trung Hoa, nhưng việc làm tốt đẹp của tôn giáo này không chỉ lợi ích cho người sống mà còn ảnh hưởng đến người quá cố Những khuôn mẫu và quy tắc thiêng liêng được truyền lại có thể chứng minh giá trị của nó Do vậy, quan lại trong kinh thành phải xây dựng và trang hoàng hình tượng Phật và chuẩn bị chỗ ở cho giới tăng sỹ Phật giáo
Phật giáo thời Bắc Ngụy rất phồn thịnh, nhất là trong thời gian trị vì của Thái Tổ Đạo Vũ Đế (386 – 409) và Thái Tông Minh Nguyên Đế (409 – 423) Nhưng vào thời kỳ của Thái Vũ Đế (424 – 452), Phật giáo đã phải chịu nhiều cuộc khủng bố tàn khốc Do tham vọng mở rộng biên cương, Vũ Đế luôn bận
Trang 30rộn trong những cuộc chiến tranh xâm lấn Nắm được điểm yếu ấy, Khấu Khiêm Chi (người theo chủ nghĩa Lão học cực đoan) và Tôn Hạo (tín đồ của Khổng giáo) tranh thủ được tình cảm của nhà vua, khuyến dụ Vũ Đế bỏ Phật theo Khổng – Lão Kết quả là làn sóng khủng bố Phật giáo bắt đầu xảy ra vào năm
466 Sang đến thời Bắc Chu, Phật giáo tiếp tục trải qua pháp nạn lần thứ hai Trải qua hai lần pháp nạn, Phật giáo Trung Quốc bị giáng một đòn nặng nề và chịu nhiều tổn thất
Nhìn chung, Phật giáo thời Nam Bắc Triều mặc dù xảy ra hai lần “pháp
nạn” nhưng đạo Phật thời này phát triển về nhiều mặt như: Chùa viện, tăng ni,
tổ chức giáo đoàn cho đến các loại hình nghệ thuật phật giáo như lễ hội, kiến trúc, mỹ thuật… ảnh huởng sâu rộng đến mọi tầng lớp dân chúng, có tác động lớn lao đến xã hội, chính trị… Đây là một điểm son của Phật giáo sử Trung Quốc
Về tăng ni và chùa viện: Mặc dù đã có cơ sở vững chắc từ thời Tây Tấn
và Đông Tấn, nhưng thời Nam Bắc Triều thì tăng ni và chùa viện phát triển rầm
rộ hơn nhiều Theo sử liệu của Pháp Lâm và Đạo Tuyền, ta có bảng thống kê sau:
(ngôi)
Số tăng ni (người)
Trang 31trang 134)
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy rằng số tăng ni và chùa viện tăng lên rất nhiều do hầu hết các đời vua đều bảo hộ Phật giáo, xây cất chùa viện đặc biệt có những chùa viện với quy mô rất lớn như chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương đời vua Hiến Minh Đế Bắc Ngụy (516) Ngôi chùa tháp này với Phật điện có 3.000 pho tượng, khuôn viên của chùa có 1000 gian phòng và lầu tháp Chùa Đại Ái của Lương Vũ Đế xây ở phương Nam gồm 36 viện, từ chánh điện đến tam quan dài bảy dặm, ở đây thường có 1000 vị tăng cư trú
Về hệ thống tổ chức: Hệ thống tổ chức của giáo đoàn Phật giáo thời đại Nam Bắc triều có các chức Đại Thống, Tăng Chính, Quận Thống, Huyện Thống hay Duy Na… Như ở Bắc triều, có các ngài Tăng Hiển, Đàm Diệu lần lượt giữ chức Đạo Nhân Thống, và Tuệ Quang, Pháp Thượng, Linh dụ lần lượt giữ chức
Sa Môn Đại Thống hoặc Sa Môn Thống để quản hạt tăng chúng Ở Nam triều có các cơ quan trung ương của giáo đoàn không gọi là Sa Môn Thống hay Quốc Thống mà lại đặt ra chức Tăng Chính, Tăng Chủ, Pháp Chủ Dưới Tăng Chính đặt ra các chức Đô Ấp Tăng Chính và Đô Ấp Duy Na Ngoài ra, trong chùa còn đặt ra chức Thượng tọa là chủ chùa và các chức Duy Na để quản hạt công việc trong chùa
Về lễ hội: Thời này, các ngày lễ của Phật giáo Đại thừa như ngày lễ Đản sanh mồng 8 tháng 4 âm lịch, lễ Vu lan bồn ngày 15 tháng 7 âm lịch, lễ Phật thành đạo mồng 8 tháng Chạp âm lịch, lễ Phật Niết bàn ngày 15 tháng 2 âm lịch đều được tổ chức long trọng ở cả hai miền Nam – Bắc
Ngoài ra, lễ an cư kiết hạ từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch là
lễ truyền thống của tăng ni cả nước Đặc biệt, các ngày lễ hội có rất đông Phật tử
và quần chúng tham dự là lễ tắm Phật, quán Phật hội, lễ rước Phật…
Về sự nghiệp xã hội: Ở thời đại này, Phật giáo cũng chú trọng vào công cuộc cứu tế xã hội và giáo dục nhân dân Các chùa viện phần nhiều là nơi trung tâm để giáo dục và truyền bá giáo lý Như các ngài Đạo Chiếu, Tuệ Cử, Đàm
Trang 32Tôn, Đàm Quang, Pháp Kính… là những vị có công thuyết giáo hóa cho dân chúng
Trên phương diện cứu tế có Sa môn Đàm Diệu đã tâu vua xin lập những
kho thóc dự trữ để giúp đỡ dân trong lúc đói kém, kho thóc đó gọi là “Tăng kỳ
lục” Các chùa nhiều việc như bắc cầu, xây quán, đào giếng và lập nhà trọ
không mất tiền cho những khách nhờ đường
Về mỹ thuật, kiến trúc: Vào buổi đầu, chùa viện Trung Quốc ảnh hưởng nghệ thuật Bamiyan và Afghanistan ở Trung Á nhưng dần dần họ thoát ly tạo cho mình một bản sắc riêng Điều này ta thấy rõ trong dấu ấn kiến trúc tại các hang động nổi tiếng như Đôn Hoàng, Vân Cương và Long Môn… Những tượng Phật, Bồ tát khổng lồ được phác thảo từ các vùng thánh địa trên đất Ấn, các nhà
sư mang về mô phỏng lại Thời gian sau, do tín ngưỡng đa sắc, tinh thần Phật giáo Đại thừa với nhiều tôn giáo khác đã dung hòa với nhau để sáng tạo một loại kiến trúc đa dạng và phong phú hơn Do vậy ở các hang động này ngoài đức Phật Thích ca, chúng ta có thêm Phật Di lặc, Phật A di đà và cảnh giới Cực Lạc, Phật Đa Bảo, Quan âm Bồ tát, cùng với hàng trăm kiểu kiến trúc trang trí nhiều màu sắc… Các vị tượng Phật và Bồ tát Trung Quốc đã thoát hình tượng phàm trần, trở nên siêu việt hơn, huyền bí hơn Phật và Bồ tát Ấn Độ Các bức phù điêu, bích họa hoặc các hoa văn chi tiết trên đá, trên tường, trên gỗ, trên đất sét,… đã đạt được trình độ kỹ xảo, tinh tế
Thời Nam Bắc triều, điêu khắc và mỹ thuật đã để lại dấu ấn vàng son là nền tảng để điêu khắc, mỹ thuật thời Tùy, Đường thăng hoa thêm một bậc nữa
Về tư tưởng tông giáo: Thời Nam Bắc triều, Trung Quốc đã xuất hiện nhiều
vị cao tăng nắm rõ được nền văn hóa bản địa nên họ đã bắt đầu tạo một phong cách Phật giáo cho phù hợp với dân tộc mình Nói cách khác, họ nương tựa kinh luận Ấn Độ nhưng họ lại lập giáo, lập ngôn theo nền tư duy, tình cảm của người Trung Quốc Nếu như ở Ấn Độ có bộ, có phái thì ở Trung Quốc có giáo, có tông như Tỳ đàm tông, Nhiếp luận tông, Địa luận tông,… Họ biến kinh luận thành
Trang 33giáo thuyết cho phù hợp với tông giáo của mình Đặc điểm này còn thấy ở cả Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam
1.2.5 Phật giáo thời nhà Tùy (589 – 618)
Năm 581 nhà Tùy diệt Bắc Chu, Cao tổ Văn Đế lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Khai Hoàng Năm 589, Văn Đế thôn tính Nam Triều thống nhất thiên hạ Nhà Tùy trị vì được 30 năm, truyền ba đời vua, sau đó Lý Uyên đem quân đánh Tràng An, diệt nhà Tùy lập nên nhà Đường
Tuy chỉ tồn tại 30 năm nhưng Phật giáo nhà Tùy cũng có những phát triển như các triều đại trước đó là được sự bảo hộ của các vị vua, các chùa chiền được xây dựng nhiều, các vị danh tăng có nhiều cống hiến trong sự nghiệp phiên dịch đặc biệt là tổ chức giáo đoàn kết cấu chặt chẽ hơn
Hai đời vua Tùy Văn Đế và Tùy Dạng Đế là người rất có công với Phật giáo Họ đã phục hưng lại Phật giáo ra khỏi pháp nạn thời Nam Bắc triều
Ngay sau khi tức vị, Tùy Văn Đế ra sắc lệnh dựng chùa ở các danh sơn trong ngũ nhạc Mỗi châu dựng một ngôi chùa công cộng lớn, cả thảy 45 châu,
đều lấy một tên chung là “Đại Hưng Quốc” Vua còn cho phép mọi người dân
đều được tự do xuất gia, nên số tăng ni đã lên đến con số 100 ngàn người Các ngôi chùa bị phá hủy thời Bắc Chu, Bắc Tề đều được kiến thiết, chỉnh trang, tu
bổ Nhiều tượng Phật, Bồ tát bị phá hoại, đổ nát đều được phục chế, làm lại… Công đức vĩ đại nhất của nhà Tùy là cho xây dựng 101 ngọn tháp thờ Xá lợi Phật trong 101 châu chia làm ba đợt Đợt đầu 30 châu, đợt thứ hai 41 châu, đợt thứ ba là 30 châu
Trong “Quảng hoàng minh tập” – Đại tạng kinh có ghi lại đợt đầu tôn trí
Xá lợi Phật cho 30 tháp ở 30 châu như sau: “Hoàng đế (Tùy Văn Đế) tự thân
đem hộp bảy báu, nâng 30 viên xá lợi, tự mình để lại bàn ngự, cùng các sa môn đốt hương lễ bái, nguyện đệ tử thường dùng chánh pháp hộ trì Tam bảo, cứu độ hết thảy chúng sanh, bèn lấy bình vàng và lưu ly mỗi thứ 30 chiếc, dùng bình lưu ly để trong bình vàng, rồi đặt xá lợi trong bình lưu ly dùng huân lục hương
Trang 34làm bùn bôi vào nắp để mà in Ba mươi châu cùng hẹn vào giờ Ngọ ngày rằm tháng Mười , đặt trong hộp đồng, hộp đá, cùng một lúc dựng tháp” [13; 285]
Tùy Văn Đế thường nói: “Phật lấy chánh pháp phó chúc cho vương, trẫm
là đấng nhân tôn, tuân theo lời phó chúc đó” [13; 285] Năm 585, vua thọ Bồ tát
giới, xá tội tù, giảm tử hình, vào ngày sinh nhật mình, vua cấm nhân dân không được mổ giết súc vật
Dưới thời nhà Tùy có rất nhiều danh tăng có công với Phật giáo như:
Trí Khải (538 – 597) người Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc Ngài xuất gia năm 18
tuổi, ngài ở Kiến Khang 8 năm, giảng “Kinh Pháp Hoa”, sau về núi Thiên Thai,
tỉnh Triết Giang, mọi người tôn kính gọi là Thiên Thai đại sư Ngài là người sáng lập Thiên Thai tông Những trước tác của ngài để lại gồm có: Pháp Hoa văn cú, Pháp Hoa huyền nghĩa, Quán kinh sớ…
Tín Hành (540 – 594) người Ngụy Châu, tỉnh Hà Bắc, ngài là người sáng lập ra Tam Giai giáo, còn được gọi là Phả Pháp tông Những soạn phẩm của ngài cho tông giáo mới này là: Đối căn khởi hành pháp và Tam giai Phật pháp Cát Tạng (549 – 623) người Kinh Lăng tỉnh Giang Tô Ngài chuyên giảng
“Tam luận” ở Tràng An Các tác phẩm của ngài là: Trung sớ luận, Bách luận sớ,
Trang 35Phả Pháp tông: Còn gọi là Tam giai giáo, nghĩa là ba giai đoạn thuyết giáo làm ba bậc: Bậc nhất thừa (thời chánh pháp), bậc tam thừa (thời tượng pháp) và bậc phả pháp (thời mạt pháp) Người sáng lập ra tông này là Tín Hành Ông quan niệm rằng, thời này không còn chánh pháp và tượng pháp nữa mà là thời mạt pháp Vì là mạt pháp nên phải có một loại giáo pháp đặc biệt, gọi là phả pháp giáo hay phả pháp Phật giáo Tức là một loại giáo pháp thích hợp với căn
cơ mạt pháp của thời đại, một tôn giáo mới, mà nếu thực hiện tất cả mọi thiện sự, thiện hạnh trên thế gian đều được gọi là Phật hạnh Chính Sư Tín Hành đã áp dụng giáo lý ấy vào đời mình, đã cởi y hoàn tục, xả giới để làm tất cả những công việc cần lao để phục vụ chúng sanh Tông giáo này tồn tại không bao lâu thì tan rã
Thời nhà Tùy, việc xây dựng chùa viện được chú trọng Tu viện, chùa tháp
đã có đến 4000 ngôi, tăng ni đã lên tới 236.000 người nên cần phải có cơ cấu tổ chức và quản lý Để thống lĩnh, quản hạt giáo đoàn, nhà vua đặt chức Đại thống (hay Quốc thống), các chức Tăng quan ở quận, huyện thì giữ như ở thời Nam Bắc triều Điều nổi bật của nhà Tùy là tiếp tục khai tạc động Long Môn, Vân Cương mà các thời trước còn dang dở Các hình tượng nghệ thuật thời này đã bước cao thêm một bậc do sự kiến tạo phong phú của các nhà điêu khắc Trung Quốc dựa trên các quan điểm giáo tông của họ nhất là Thiên thai tông Các tượng Phật, Bồ tát, phù điêu, họa tiết… có nhiều màu sắc rực rỡ, tươi vui hoàn toàn thoát ly khỏi phong cách Ấn Độ Nhưng sự toàn thịnh của mọi sinh hoạt Phật giáo, kể cả điêu khắc, mỹ thuật, văn hóa… phải chờ đợi đến đời Đường 1.3 Sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907)
Tùy Dạng Đế - vị vua cuối cùng của nhà Tùy lên ngôi năm 604 Từ khi lên nắm chính quyền, ông mấy lần chinh phạt Cao Ly nhưng đều thất bại trong nước lại bị quần hùng dấy loạn, cát cứ, phong trào khởi nghĩa lan rộng khắp cả nước, các phong trào này lại liên kết với nhau tập hợp thành nhiều lực lượng lớn mạnh Trong các lực lượng ấy mạnh nhất là lực lượng của Lý Mật ở Hà Nam và
Trang 36lực lượng của Đậu Kiến Đức ở Hà Bắc Hai lực lượng này đánh bại quân nhà Tùy ở nhiều nơi, làm chủ được một vùng rộng lớn ở Bắc và Nam Hoàng Hà Để tránh xa phong trào đấu tranh của nhân dân miền Bắc, năm 616 Tùy Dưỡng đế phải rời kinh đô Trường An đi xuống Giang Đô ở miền Nam Sau khi Tùy Dưỡng đế rời khỏi kinh đô, một viên quan của nhà Tùy là Lý Uyên cùng với con mình là Lý Thế Dân khởi binh ở Thái Nguyên (Sơn Tây) Đến năm Đại Nghiệp thứ 14 (618), Lý Uyên đem quân tiến đánh Tràng An, cướp ngôi nhà Tùy và lập
ra nhà Đường, tự xưng là Cao Tổ Hoàng đế, đổi niên hiệu là Võ Đức, cũng đóng
đô ở Tràng An
Tiếp đó, nhà Đường tập trung lực lượng để đánh bại quân nông dân và tàn quân của nhà Tùy Ngay năm 618, Lý Mật phải đầu hàng Đến năm 621, Đậu Kiến Đức cũng bị Lý Thế Dân đánh bại và bị bắt Năm 628, nhà Đường tiêu diệt hết các thế lực cát cứ thống nhất Trung Quốc
Nhà Đường kéo dài gần 300 năm, là thời cực thịnh, phát triển mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật… Riêng Phật giáo cũng hưng thịnh hơn các triều đại trước
Nhà Đường có nền kinh tế vững mạnh cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp
và thương nghiệp nhờ có chính sách phát triển kinh tế hợp lý, tiến bộ
Về nông nghiệp: Nổi bật lên trong chính sách phát triển nông nghiệp của nhà Đường đó là sự nhượng bộ nông dân trong buổi đầu thành lập
Những cuộc khởi nghĩa nông dân đã làm cho nhà Tùy giàu mạnh phải mất ngôi nhanh chóng Đây là bài học cho giai cấp thống trị nhà Đường trong buổi đầu và buộc họ phải thi hành chính sách nhượng bộ đối với nông dân Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) thường bàn bạc với các đại thần về nguyên nhân diệt vong của nhà Tùy Họ đã nhận thấy lực lượng đấu tranh cách mạng của nhân
dân rất lớn lao vì thế họ thường nói: “Vua như thuyền, nhân dân như nước, nước
có thể đỡ thuyền mà cũng có thể lật thuyền” [30; 209] Họ nhận thấy muốn củng
cố nền thống trị, thì không nên áp bức bóc lột thái quá mà phải nhượng bộ nhân
Trang 37dân một phần nào
Một hôm Đường Thái Tông định bắt nhiều dân phu đi chữa cung điện ở Lạc Dương, bỗng có một đại thần đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân
nói: “Sau đại chiến nhân dân còn nghèo khổ, tiền của trong nước cũng còn kém
hơn nhà Tùy, nếu chữa cung điện vào bây giờ, thì càng tàn nhẫn hơn Tùy Dương Đế nữa” [27; 117] Nghe vậy Đường Thái Tông bèn đình chỉ việc bắt
ruộng, trong đó có 20 mẫu “vĩnh viễn”, thuộc quyền sở hữu của nông dân, còn
80 mẫu là ruộng “khẩu phần”, sau khi nông dân chết phải trả về nhà nước Còn
ở những nơi làng hẹp, ruộng ít, ngươi nhiều, mỗi thanh niên trên 18 tuổi được
chia 40 mẫu ruộng “khẩu phần”
Chế độ thuế quy định: Mỗi thanh niên mỗi năm phải nộp thóc 2 thạch, lụa 2 trượng và đi phu 20 ngày Người nào không đi phu được có thể nộp lụa để thay thế, mỗi ngày 3 thước Nếu gặp nạn lụt và hạn hán thì triều đình sẽ tùy tai hại nặng nhẹ mà giảm thuế hoặc miễn thuế
Trong thời kỳ đầu nhà Đường, nông dân có ruộng cày, triều đình thu thuế theo quy định, lại còn chú ý không bắt phu trong ngày mùa, việc đó đã có tác dụng thúc đẩy việc khôi phục và sản xuất nông nghiệp
Trong khoảng hơn 100 năm, nông dân đã đào được rất nhiều mương rãnh dẫn nước, nông dân cần cù lao động nên việc sản xuất lương thực và tơ lụa đã tăng lên rất nhanh, nước nhà càng giàu mạnh
Sử cũ có chép lại rằng: “Đến năm trị vì thứ tư của Đường Thái Tông (630),
Trung Quốc được mùa lớn, gạo mỗi đấu bốn năm tiền, cổng ngoài mấy tháng
Trang 38không đóng, ngựa bò đầy đồng, khách đi đường mấy nghìn dặm không cần mang theo lương thực” [30; 243]
Về thủ công nghiệp: Thủ công nghiệp nhà Đường có nhiều tiến bộ nhưng chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp
Đời Đường Thái Tôn, người Trung Hoa học được phép ép mía nấu thành đường của Ấn Độ, học được cách làm rượu nho (bồ đào tửu) của người Tây vực truyền vào Ngoài ra còn học được cách trồng cây bông vải của Nam Dương, do
đó sản xuất được vải
Nghề nấu muối, chế trà mang lại nguồn thu lớn cho triều đình Đời Hán trà còn là xa xỉ phẩm, chỉ nhà giàu mới dùng nhưng đến đời Đường trà đã được trồng nhiều trong vườn, cách pha chế mới hoàn toàn, thói uống trà trở thành phổ thông
Người Trung Hoa đã biết sản xuất đồ sứ từ thời Hán, đến đời Đường đồ sứ đạt đến trình kĩ thuật cao với sứ trắng và sứ xanh
Thời Đường đáng kể nhất là sự phát minh nghề in Đời Hán, Thái Luân chế tạo được giấy, đời Tam Quốc đã có một người dùng muội (khói) cây thông để chế tạo mực Cho đến đời Đường kĩ thuật in giấy đã ra đời Theo sử sách Trung Hoa thì Tứ Xuyên là nơi phát triển nghề in trước nhất, và những cuốn đầu tiên in bằng mộc bản đều là kinh Đầu thế kỷ thứ X, kĩ thuật in tương truyền qua các tỉnh miền Đông và người ta bắt đầu in các kinh của Nho, Lão Một ứng dụng nữa của kĩ thuật in là in giấy bạc cũng bắt đầu từ Tứ Xuyên ở thế kỷ X
Mỹ nghệ đời Đường tiến bộ rõ rệt so với các triều đại trước Có nhiều thành phố ở vùng hạ du Hoàng Hà và tỉnh Tứ Xuyên đã nổi tiếng với nghề dệt gấm hoa Định Châu là một trung tâm lớn của nghề dệt tơ lụa và mỗi năm đã dâng cho vua rất nhiều tơ lụa
Về thương nghiệp: Đời nhà Đường thương nghiệp đã được phát triển chưa từng thấy, có nhiều thành thị rất phồn thịnh
Sự phát triển của công nghiệp và thương nghiệp đã cho ra đời các Tiệm và
Trang 39hàng hội
Trong thành phố có nhiều tiệm Có một số tiệm chuyên mua hàng của nông dân, của người thợ thủ công nghiệp nhỏ được gọi là hiệu buôn Còn một số tiệm khác bán những hàng của mình làm ra, tiệm đó vừa là hiệu buôn, vừa là tác phường Người chủ của tác phường thủ công nghiệp gọi là thợ cả Thợ cả lãnh đạo cả nhà mình và những người học nghề làm ra sản phẩm Các tác phường lớn, còn thuê người làm công
Những tiệm làm chung một nghề tập trung trong một chỗ và có tổ chức
riêng của mình gọi là “hàng hội” Mỗi hàng hội đều có người đứng đầu, để giao
thiệp với các hàng hội khác Ở những thành phố lớn có rất nhiều hàng hội Hai chợ ở đông tây Trường An mỗi cái có đến 220 hàng hội Lạc Dương có 120 hàng hội Dân cư trong thành phố có thể mua các thứ hàng dùng thường ngày và hàng xa xỉ [40; 118 – 119]
Về ngoại thương: Thời Đường ngoại thương rất phát triển đặc biệt là giao lưu kinh tế và văn hóa với các nước trong khu vực châu Á
Từ xưa, Trung Quốc đã có quan hệ mật thiết với các dân tộc ở châu Á Các thương nhân ở các dân tộc khác đến Trường An, Đường Thái Tông đều cho hưởng quyền lợi chính trị ngang với người Đường, họ có thể cư trú, buôn bán và làm quan nhà Đường Người Đường rất tôn trọng phong tục tập quán và tín ngưỡng tôn giáo của họ
Lúc đó, nhà Đường là một nước lớn mạnh kinh tế và văn hóa phát đạt vì thế nhà Đường trao đổi kinh tế, văn hóa với các dân tộc châu Á ngày một nhiều
và đô thành Trường An đã trở thành một thành phố quốc tế
Thời Đường có hai trung tâm thương mại lớn Phía Bắc là Tràng An Ngoài con đường lụa mở trở lại nhờ Thái Tôn đặt lại cuộc đô hộ Tây Vực, còn nhiều đường khác thông các nước Tây Á, đưa đến Ấn Độ, Đông Âu Nhờ những con đường đó mà ngoại thương phát đạt: Lụa và ngọc Trung Quốc đổi lấy ngựa của Tây Vực, đà điểu, vũ nữ và những đồ lụa của Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập Phía Nam
Trang 40phong phú hơn miền Bắc, có ba khu:
Khu 1 là khu hạ lưu sông Dương Tử nhiều ngũ cốc, tại đó xuất hiện những
lò nung sứ đầu tiên
Khu 2 là khu thượng lưu sông Dương Tử có mỏ muối, trà về nghề in
Khu 3 là khu Quang Châu thịnh nhất nhờ buôn bán với các nước ngoài bằng đường biển
Có thể nói đầu đời Đường, Trung Quốc nắm giữ thương quyền ở châu Á, rồi sau quyền đó mới vào tay người Ả Rập Quảng Châu là nơi người ngoại quốc
tụ họp đông nhất Đầu thế kỉ thứ VIII, Quảng Châu đã có một ty Thị Bạc để quản lý các thuyền buôn Bao nhiêu vật lạ như ngà voi, tê giác, san hô, ngọc trai, đồi mồi tụ tập ở đó để chuyển về miền Bắc
Nhà Đường luôn giữ quan hệ hữu hảo với các dân tộc thuộc châu Á Không chỉ trong trao đổi kinh tế mà còn trong giao lưu văn hóa
Các nhà khoa học và nghệ thuật của các dân tộc châu Á đến như người Ấn
Độ, các dân tộc Tây vực và Trung Á, đã giới thiệu âm nhạc và vũ đạo của họ cho người Đường Nhà Đường đã tiếp thu cái đó và cải biến nó cho phù hợp với văn hóa truyền thống Trung Quốc
Trường An có những trường học của nhà nước rất lớn, lưu học sinh của các dân tộc từ châu Á đến cùng học chung với người Đường Các lưu học sinh ấy đã
có tác dụng lớn trong việc truyền bá văn học đời Đường
Nền kinh tế nhà Đường phát triển toàn diện tạo điều kiện cho chính trị được ổn định
Năm 618 sau khi Đường Cao Tổ Lý Uyên lật đổ nhà Tùy lên ngôi hoàng đế lập nên nhà Đường Cũng như các triều đại khác, nền chính trị nhà Đường ổn định lúc ban đầu Nhưng đến cuối đời Đường là quá trình suy thoái về cả kinh tế lẫn chính trị Tuy nhiên với khoảng thời gian bình ổn, vững mạnh về chính trị đã tạo một nền tảng vững chắc để nhà Đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt là việc đưa Phật giáo Trung Quốc vào giai đoạn cực thịnh