1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

104 575 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có sử dụng và kế thừa một số kết quả nghiên cứu và số liệu thống kê của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên Cứu Môi Trường

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

MAI NHẬT LINH

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ

TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Mã số: 60 85 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ:

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN KIM HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Quý Thầy Cô ở Khoa Môi trường nơi tôi đã theo học chương trình Thạc sĩ và khoa Toán – Tin học nơi tôi đã học và hoàn thành chương trình Cử nhân, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy hướng dẫn PGS TS Nguyễn Kim Hồng, Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài;

- Các quý thầy cô ở khoa Môi Trường đã tạo nhiều điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này; và

- Các bạn ở Chi Cục Bảo vệ Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Môi trường Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tôi các số liệu thống kê Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có sử dụng và kế thừa một số kết quả nghiên cứu và số liệu thống kê của Viện Nghiên Cứu Phát Triển Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên Cứu Môi Trường và Phát Triển Bền Vững và các công trình nghiên cứu khác Qua đó, kính mong sự đồng tình và ủng hộ từ các tác giả

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, anh chị em và bạn bè, những người đã tạo điều, động viên và hỗ trợ tôi, đặc biệt là về mặt tinh thần trong những lúc khó khăn nhất

Chân thành cảm ơn tất cả

Tác giả,

Mai Nhật Linh

Email: nhatlinh.mai@gmail.com

Trang 3

TÓM TẮT

Trong xu hướng không ngừng đô thị hóa để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở các đô thị trung tâm thì việc nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cho các đô thị

là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam

Do đó, đề tài “Xây dựng tiêu chí Phát triển Bền vững Đô thị trên cơ sở môi trường

và dân số, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” được tiếp cận nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận và góp phần nghiên cứu chiến lược cho việc phát triển thành phố một cách bền vững theo quyết định số 1570/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm 2006 về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 Đề tài cũng là cơ sở lý luận để xây dựng tài liệu giảng dạy về chuyên đề Phát triển Đô thị Bền vững cho sinh viên tại các trường Đại học và Cao đẳng có liên quan

Sản phẩm của đề tài là một bài báo cáo chính về các tiêu chí phát triển bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên các vấn đề nóng bỏng hiện nay Để đạt được những tiêu chí trên, trong quá trình nghiên cứu xây dựng đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp như phân tích SWOT và phân tích DPSIR

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm giúp các đơn vị, cơ quan trung ương Thành phố

Hồ Chí Minh trong việc thiết kế, xây dựng, giám sát và thực hiện chiến lược phát triển đô thị bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh định hướng đến năm 2025

Trang 4

ABSTRACT

Towards the social-economic development of Vietnam major cities together with the trend of continual urbanism, identifying and determinating criteria for sustainable development in those cities is key national concerns

Therefore, approaching to a research topic on “Developing criteria for urban sustainable development of Ho Chi Minh City based on environment and population parameter” is to aim to build a theoretical base for the strategy of urban sustainable development according to “Prime Minister’s Decision of No 1570/QĐ-TTg on Novermber 27, 2006 with regard to approval of a master plan for Ho Chi Minh City up to 2025” Moreover, this project would be used as teaching or reference material for “Urban Sustainable Development” subject offered to relevant students at universities and colleges

The outcome of the project is an offical report on criteria of sustainable development for Ho Chi Minh City based on the most concerned current matters The multiple methods of research for the report have been applied, such as SWOT and DPSIR analysis The result of the project could be useful for the governmental institutions of District and Central in Ho Chi Minh City to design, build, monitor and implement strategies for urban sustainable development of Ho Chi Minh City

up to 2025

Keywords: sustainable, urban, Ho Chi Minh City

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Mục tiêu của đề tài 3

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

4. Nội dung của đề tài 4

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững 6

1.1.1 Phát triển bền vững 6

1.1.2 Phát triển đô thị bền vững 10

1.2 Thực tiễn phát triển bền vững ở các đô thị hiện nay 15

1.2.1 Trường hợp SymbioCity, Stockholm – Thụy Điển 16

1.2.2 Trường hợp Singapore 17

1.2.3 Trường hợp Hongkong SAR 19

1.2.4 Phát triển đô thị ở Thành phố Đà Nẵng 19

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 21

2.2 Diễn biến tình hình dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh 24

2.3 Hiện trạng phát triển đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh 26

Trang 6

2.4 Các vấn đề môi trường và dân số còn tồn tại trong quá trình phát triển đô thị

bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh 28

2.5 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.5.1 Bộ tiêu chí PTBV của Liên hợp quốc 35

2.5.2 Bộ tiêu chí xây dựng chiến lược PTĐTBV của Thành phố Hồ Chí Minh 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH CÁC TIÊU CHÍ 3.1 Khung định hướng nghiên cứu 41

3.2 Áp dụng phương pháp DPSIR để xác định các tiêu chí phát triển đô thị bền vững và chỉ số của các tiêu chí 42

3.3 Áp dụng phương pháp phân tích SWOT để xác định các chỉ số của tiêu chí phát triển đô thị bền vững 44

CHƯƠNG 4: XÁC ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC TIÊU CHÍ BỔ SUNG 4.1 Xác định các tiêu chí bổ sung 46

4.2 Định lượng hóa các tiêu chí bổ sung 49

4.2.1 Áp dụng phân tích DPSIR để xác định chỉ số của tiêu chí bổ sung 49

4.2.2 Áp dụng phân tích SWOT để xác định chỉ số của tiêu chí bổ sung 52

4.2.3 Nội dung và chương trình hành động cụ thể cho từng tiêu chí 58

4.2.4 Bộ tiêu chí hoàn chỉnh hơn phục vụ chiến lược PTBVĐT riêng cho hai lĩnh vực Xã hội và Môi trường của Thành phố Hồ Chí Minh 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN 66

KIẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CPI Consumer Price Index

GINI Gini Coefficient

GDP Gross Domestic Product

GNP Gross Nation Product

HDI Human Development Index

ITS Intelligent Transportation Systems

IUCN International Union for Conservation of Nature MTR Mass Transit Railway

NGO Non–Governmental Organization

ODA Official Development Assistance

Trang 8

PPP Perchasing Power Parity

SAR Special Administrative Region

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Dự báo khối lượng Chất thải rắn sinh hoạt tại TpHCM 33

Bảng 2.2: Bộ tiêu chí phát triển bền vững của UNCSD 36

Bảng 2.3: Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển đô thị bền vững cho TpHCM 38

Bảng 3.1: Phân tích SWOT để xác định các chỉ số phục vụ cho PTĐTBV Thành phố Hồ Chí Minh 45

Bảng 4.1: Các tiêu chí bổ sung cho bộ tiêu chí PTBVĐT của TpHCM 48

Bảng 4.2: Phân tích SWOT để xác định chỉ số của các tiêu chí bổ sung 53

Bảng 4.3: Nội dung và chương trình hành động cho từng tiêu chí bổ sung 59

Bảng 4.4: Các tiêu chí đánh giá PTĐTBV cho TpHCM theo hai lĩnh vực Xã hội và Môi trường 64

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới (WB) 7

Hình 1.2: Mô hình PTBV của Liên Hợp Quốc (UN) 8

Hình 1.3: Mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển 8

Hình 2.1: Biểu đồ tỉ lệ dân số Tp.HCM so với cả nước 24

Hình 2.2: Biểu đồ tăng dân số của TpHCM giai đoạn 1999-2009 25

Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 1990 26

Hình 2.4: Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 2009 26

Hình 3.1: Khung định hướng nghiên cứu 41

Hình 3.2: Sơ đồ khung của phương pháp phân tích DPSIR 42

Hình 3.3: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR 43

Hình 3.4: Xác định chỉ số của tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR 43

Hình 4.1: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 1 47

Hình 4.2: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 2 47

Hình 4.3: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 3 47

Hình 4.4: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 4 48

Trang 11

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển bền vững (PTBV) đã được thế giới tiếp nhận và từng bước thực hiện

từ hơn 30 năm trước đây Tuy nhiên mức độ phát triển đô thị bền vững phụ thuộc vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia Đối với các nước công nghiệp phát triển ở mức độ cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật, Singapore, Hongkong SAR và Macao SAR… tỷ lệ dân tập trung ở các đô thị đạt trên 80%, xây dựng phát triển đô thị đã

đi vào ổn định và đang từng bước đáp ứng được các yêu cầu về phát triển bền vững

đô thị

Ở Việt Nam, trong hơn 15 năm từ 1991 đến nay, dân số đô thị có sự tăng trưởng tương đối ổn định ở mức thấp, tỷ lệ dân số cố định tăng từ 17% năm 1990 lên 23,45% năm 1999, hơn 24% năm 2002 và gần 26% năm 2004 Tính đến nay cả nước đã có trên 743 đô thị (ĐT) các loại (bao gồm từ đô thị loại V đến đô thị loại đặc biệt) trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), 3 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 36 đô thị loại III, 41 đô thị loại IV, 647 đô thị loại V Tỷ lệ đô thị hoá đạt gần 30% (Tập chí diễn đàn PTBV Đô thị, 5/2006, Bộ Xây dựng) Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hoá của cả nước Các đô thị lớn như Thành phố Đà Nẵng, Cần Thơ là những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đang đóng vai trò đầu tàu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và cũng như của cả nước Ngoài ra, nước ta hiện đang có trên 160 khu công nghiệp tập trung, 28 khu kinh tế cửa khẩu

và khu kinh tế đặc thù, góp phần mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia, tạo tiền đề cho

sự phát triển đô thị tại các vùng ven biển và biên giới Nhiều khu đô thị mới đã và đang được hình thành với hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của các đô thị hiện nay, nhất là vấn đề nhà ở và các dịch

vụ đô thị Bộ mặt đô thị Việt Nam nhìn chung đã và đang chuyển biến theo hướng văn minh, hiện đại

Trang 12

Tuy nhiên, ngoài những thành tựu đã đạt được, thực tế phát triển đô thị ở nước

ta vẫn còn một số vấn đề tồn tại, đặc biệt là trong công tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị, làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển các đô thị nói riêng và kinh tế

- xã hội nói chung Trên bình diện rộng, các đô thị của Việt Nam ngày càng phát triển và mở rộng do dân số đô thị càng tăng lên cùng với dòng dịch cư dân số ngày càng lớn, điển hình tại Thành phố Hồ Chí Minh nhóm di dân có 80% thời gian sống

ở đô thị đang tăng nhanh, khoảng 30.000 – 35.000 người dẫn đến sự quá tải trong sử dụng hệ thống hạ tầng cơ sở sẵn có, rồi việc hình thành các khu dân cư tạm bợ xung quanh và bên trong đô thị, tình trạng ô nhiễm môi trường và nguy cơ mất an toàn lương thực không ngừng tăng cao trên phạm vi rộng Bên cạnh đó môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên thiếu được đầu tư phục hồi, nâng cấp dẫn đến sự mất cân bằng về sinh thái ở nhiều nơi Nhìn chung phát triển đô thị và đô thị hoá tại Việt Nam còn chưa cân đối (vùng chậm phát triển chiếm đến 82% tổng diện tích đất đô thị trong khi chỉ có 18% diện tích thuộc vùng đô thị phát triển) Tình trạng phát triển đô thị và đô thị hoá hiện nay chưa thể hiện rõ bản sắc địa phương của vùng, miền và đặc điểm khí hậu và ít nhiều tạo sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Về tài chính, đô thị cũng chưa kích thích và chưa huy động được sự tham gia của khối kinh tế tư nhân và từ cộng đồng do nhận thức về phát triển đô thị và đô thị hoá còn

bị hiểu sai lệch, nhiều nơi đô thị hóa tạo nên hình ảnh phát triển đô thị lộn xộn và thiếu quản lý Về quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn các đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế - xã hội đô thị

Do vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, xây dựng tiêu chí phát triển bền vững đô thị là thể hiện cách suy nghĩ đúng đắng, hướng giải thích hợp và thậm chí không thể trì hoãn trong quá trình đô thị hóa ở mức độ ngắn hạn và dài hạn như ở Việt Nam hiện nay Các tiêu chí này sẽ giúp việc xây dựng các đô thị trở nên cân đối và vững chắc trên cơ sở phát trển kinh tế, duy trì sự ổn định xã hội,

có ý thức tiết kiệm đối với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đồng thời có thái

độ đúng đắn với công tác quản lý và bảo vệ môi trường Do đó, tác giả chọn và thực

hiện đề tài “Xây dựng tiêu chí phát triển bền vững đô thị trên cơ sở môi trường và

Trang 13

dân số, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” dưới sự hướng dẫn của PGS TS

Nguyễn Kim Hồng

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu tổng thể của đề tài: bổ sung thêm một số tiêu chí cho bộ tiêu chí đánh giá phát triển đô thị bền vững sẵn có của Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm nâng cấp

bộ tiêu chí này để phục vụ cho chiến lược phát triển đô thị bền vững của Thành phố

Hồ Chí Minh

Mục tiêu cụ thể của đề tài:

- Nghiên cứu và khảo sát hiện trạng môi trường và xã hội (dân số) của Thành phố Hồ Chí Minh;

- Bổ sung nội dung nhằm hoàn thiện hơn bộ tiêu chí phát triển đô thị bền vững đang sẵn có của Thành phố Hồ Chí Minh cho hai lĩnh vực dân số và môi trường

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đề tài giới hạn tập trung phân tích phát triển bền vững đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm bổ sung nội dung các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho bộ tiêu chí về phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh

Trên thực tế, bộ tiêu chí về phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh đã được phát triển bởi các nhà khoa học, các nhà quản l ý từ năm 2002 Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội, cũng như sự bùng nổ phát triển kinh tế và công nghệ ở các đô thị chính tại các nước đang phát triển, và Thành phố Hồ Chí Minh không là ngoại lệ, các vấn đề về môi trường sẽ luôn phát sinh theo nhiều hướng Vì thế, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu hiện trạng phát triển và những vấn đề môi trường tại thời điểm hiện tại nhằm bổ xung thêm một số tiêu chí cần thiết để nâng cấp bộ tiêu chí đã có của Thành phố Hồ Chí Minh

Một điều quan trọng cần được nhìn nhận, trong thực tiễn phát triển, đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh một đô thị vừa lớn, vừa đông đúc và cũng phát triển kinh

Trang 14

tế nhanh và mạnh, sẽ bao gồm rất nhiều vấn đề về môi trường như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn… Mỗi lĩnh vực khoa học sẽ tiếp cận và

đi sâu nghiên cứu theo hướng chuyên môn cụ thể đặc thù cho từng lĩnh vực Vì thế trong nghiên cứu này để tránh dàn trải sang các lĩnh vực chuyên môn sâu khác về môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như để đảm bảo về mặt thời gian và phạm vi của một luận văn ở chương trình đào tạo bậc thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề môi trường trên khía cạnh dân số Nghĩa là những vấn đề môi trường mà liên quan trực tiếp với tình hình phát triển dân số như an sinh xã hội, lao động trẻ em, ùn tắc giao thông và rác thải sinh hoạt…

4 Nội dung của đề tài

Đề tài “Xây dựng tiêu chí Phát triển Bền vững Đô thị trên cơ sở môi trường và dân số, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” có các nội dung sau đây:

- Tập hợp các khái niệm về phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững được định nghĩa với nhiều cách khác nhau bởi các tổ chức nghiên cứu trên thế giới trở thành thống nhất

- Thu thập dữ liệu, phân tích hiện trạng môi trường theo định hướng phát triển bền vững đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh; cũng như diễn biến dân số và các vấn đề về môi trường – dân số mà thành phố đang đối mặt hiện nay

- Nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí bổ sung cho bộ tiêu chí phát triển đô thị bền vững sẵn có của Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng văn minh đô thị trên cơ sở phân loại bằng phương pháp phân tích DPSIR

- Định lượng hóa các tiêu chí bổ sung để từ đó rút ra được các chỉ số đánh giá phát triển đô thị bền vững bằng công cụ phân tích DPSIR và ma trận SWOT

- Đề xuất nội dung và chương trình hành động cho từng tiêu chí bổ sung

Cụ thể, sản phẩm của đề tài bao gồm:

- Báo cáo chính về hiện trạng và chiến lược phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

- Các tiêu chí bổ sung và chương trình hành động cho từng tiêu chí để phục vụ chiến lược phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng văn minh đô thị

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: đề tài góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận trong việc

nghiên cứu các vấn đề về phát triển bền vững nói chung và phát triển đô thị bền vững nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn: qua việc nghiên cứu vấn đề phát triển đô thị bền vững Thành

phố Hồ Chí Minh, đề tài giúp các cơ quan chức năng định hướng phát triển phù hợp cho thành phố Đồng thời, kết quả đề tài sẽ giúp các cấp chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các thành phố khác trong cả nước có cách tiếp cận mới và hướng giải quyết mới cho các vấn đề hiện nay tại thành phố

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững

1.1.1 Phát triển bền vững

Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác

nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa… Mục tiêu của phát triển là

nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người; làm cho con người ít phụ thuộc vào thiên nhiên; tạo lập nên cuộc sống công bằng giữa các thành viên Tính bền vững không phải là một khái niệm mới, theo như Thomas Jefferson (Tổng thống thứ 3, người soạn thảo ra bản tuyên ngôn độc lập, của Hợp Chủng

Quốc Hoa Kỳ) đã từng phát biểu rằng: “Tôi cho rằng trái đất thuộc về mỗi thế hệ trong suốt tiến trình tồn tại của nó, một cách hoàn toàn đầy đủ và trong quyền hạn của nó, không một thế hệ nào có thể thắc mắc những khoản nợ lớn hơn khả năng chi trả của chính nó”

Trung tâm của phát triển bền vững, toàn bộ mục tiêu của sự phát triển, chính là con người Chính xác hơn, mục tiêu của phát triển là nhằm bảo đảm rằng mỗi người đều tiếp cận với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Gắn liền với nó, tất nhiên,

là tạo ra và duy trì một môi trường bền vững cho con người sinh sống

Sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế thế giới vào các năm từ

1950 – 1980 của thế kỷ trước, loài người nhận thức được rằng: độ đo kinh tế không

phản ánh được đầy đủ quan niệm về phát triển Do vậy, phải xem xét lại và đánh giá đúng đắn các mối quan hệ: con người – trái đất, phát triển kinh tế xã hội đi đôi với

bảo vệ môi trường

Theo văn bản chính thức của Liên Hiệp Quốc (UN) được nêu tại báo cáo của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1987) thì:

Trang 17

“Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng (các) nhu cầu (ấy) của các thế hệ mai sau”

Mô hình phát triển bền vững

PTBV được thể hiện ở các mức độ hay quan điểm khác nhau thông qua mối quan hệ qua lại thật chặt chẽ giữa 3 yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội mà trong

đó con người chúng ta luôn có vai trò ảnh hưởng cao

Ba mục tiêu môi trường, kinh tế và xã hội là ba mục tiêu chính mà quá trình PTBV đang hướng tới Các mô hình như hình 1.1 và hình 1.2 dưới đây biểu diễn nội dung PTBV thể hiện mối quan hệ giữa môi trường – kinh tế – xã hội được nghiên cứu bởi các tổ chức khác nhau trên thế giới, đã và đang được sử dụng nhiều nhất ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam để làm nền tảng cho việc xây dựng chiến lược PTBV quốc gia ở quy mô lớn và PTBV đô thị ở quy mô nhỏ

Hình 1.1: Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới (WB)

Trang 18

Hình 1.2: Mô hình PTBV của Liên Hợp Quốc (UN)

Trong mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1991), xem hình 1.3., các tiêu chí về PTBV được cụ thể hóa hơn và mang ý nghĩa rộng hơn Mô hình thể hiện sự đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các quốc gia lẫn nhau

để hướng tới một thế giới PTBV

Hình 1.3: Mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển

Trang 19

Nội dung của phát triển bền vững

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc “môi trường và phát triển bền vững” hợp ở Johannesburg, Nam Phi Hội nghị đã đưa ra được hai văn kiện quan trọng có tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và “Kế hoạch thực hiện” Trong các văn kiện này đã xác định ra được ba hợp phần chính của phát triển bền vững:

- Bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững: phát triển kinh tế

nhanh và an toàn;

- Bền vững về mặt xã hội: công bằng xã hội và phát triển con người Chỉ số phát

triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, chỉ số phát triển con người gồm: thu nhập bình quân trên đầu người, trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ thành tựu văn minh, an sinh xã hội…; và

- Bền vững về môi trường: khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên,

bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống Về bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường: bảo đảm cho con người được sống trong môi trường sạch, trong lành và an toàn, bảo đảm sự hài hòa trong mối liên hệ giữa con người, xã hội và tài nguyên

Có thể xem ba hợp phần về phát triển bền vững nêu trên là ba mục tiêu cần đạt được, đồng thời là ba nội dung hợp thành quá trình của sự phát triển trong điều kiện hiện đại Điều này hàm nghĩa, sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với

hệ kinh tế thị trường hiện đại, cách mạng khoa học công nghệ, nền kinh tế toàn cầu,

mà còn bao hàm một nội dung mới, nội dung phát triển bền vững với ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường Bởi vậy, sự phát triển hiện đại đã và đang được quan niệm lại là sự phát triển bền vững

Các nguyên tắc để xây dựng một xã hội phát triển bền vững

Phát triển bền vững không chỉ thể hiện trong mục tiêu như Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc năm 2002 ở Johannesburg, mà còn thể hiện ở những nguyên tắc trong việc xây dựng một xã hội phát triển bền vững Chương trình môi trường của

Trang 20

Liên hợp quốc (UNEP) cùng với một số hiệp hội môi trường như Quỹ hoang dã thế giới (WWF) và Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra 9 nguyên tắc

về phát triển xã hội bền vững:

1 Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng;

2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người;

3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất;

4 Quản lý những phần tài nguyên không tái tạo được;

5 Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất;

6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân;

7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường;

8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất thuận tiện cho việc phát triển

và bền vững môi trường; và

9 Xây dựng mội khối liên minh toàn cầu trong bảo vệ môi trường

Dựa vào các nguyên tắc cơ bản trên để xây dựng một hệ thống các tiêu chí và các chỉ số đánh giá (hay đo lường hay theo dõi) nhằm định hướng xây dựng xã hội phát triển theo hướng bền vững

1.1.2 Phát triển đô thị bền vững

Khái niệm PTĐTBV

Trong nghiên cứu này, khái niệm “phát triển bền vững đô thị” (urban sustainable development) hay phát triển đô thị bền vững” (sustainable urban development) được xem là đồng nghĩa nhau, cả hai đều chỉ sự phát triển đô thị một cách bền vững

Sự phát triển đô thị bền vững (hay phát triển bền vững đô thị) là sự phát triển cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản sau:

Trang 21

- Đô thị phát triển bền vững về kinh tế Đô thị phát triển bền vững về kinh tế được thể hiện qua quá trình tăng trưởng liên tục, ổn định, lâu dài ở các chỉ tiêu

kinh tế theo thời gian

- Đô thị phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường Đô thị phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường thể hiện ở việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác động tiêu cực đến môi trường Bền vững về tài nguyên và môi trường là việc sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được các nhu cầu hiện tại, song không làm suy giảm khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau

- Đô thị phát triển bền vững về văn hoá xã hội Đô thị phát triển bền vững về văn hoá xã hội thể hiện ở việc mang lại những lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống của người dân và sự ổn định an sinh của xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa

Các nguyên tắc cơ bản phát triển đô thị bền vững

Phát triển bền vững đô thị cần tuân thủ các nguyên tắc nhất định Đó là những nguyên tắc mà Hiệp hội quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã khuyến cáo với các xã hội và cộng đồng Những nguyên tắc này là sự cụ thể hóa các quan điểm về phát triển bền vững mà Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED) nêu ra trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (1987) và được cụ thể hóa cho cộng đồng dân cư đô thị hay hệ sinh thái nhân văn đô thị Bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc thứ nhất là: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng. Cư dân của mỗi đô thị cần được các nhà lãnh đạo, các cơ quan chức năng, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội trong đô thị quan tâm về cuộc sống vật chất và tinh thần Bản thân mỗi người dân cũng cần quan tâm đến mọi người xung quanh mình và các hình thức khác nhau của cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai Trong đô thị, sự quan tâm đó thể hiện cụ thể trong quy hoạch xây dựng đô

Trang 22

thị: đảm bảo sự liên kết giữa không gian ở, không gian làm việc và không gian nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh

tế phải đồng bộ, ngày càng hoàn thiện phù hợp với dung lượng cư dân hiện tại

và các giai đoạn phát triển của đô thị Phát triển đô thị phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng và quốc gia Cần tham khảo ý kiến của cộng đồng hoặc các bên liên quan về các công trình hạ tầng kỹ thuật, xã hội và kinh tế nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển và giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường và bản thân những cư dân trong đó

- Nguyên tắc thứ hai là: Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người và của cộng đồng. Chất lượng cuộc sống con người được đo bằng mức độ các điều kiện

về ăn, ở, đi lại, làm việc, học hành, chữa bệnh, hoạt động văn hoá, tinh thần Mục tiêu cơ bản của quá trình lao động cũng như của phần lớn các cuộc cách mạng là cải thiện chất lượng cuộc sống con người Bản thân cuộc sống mỗi con người và của cộng đồng ít nhiều đều có những khó khăn và trở ngại nhất định, tuy rằng ở những mức độ khác nhau Phát triển kinh tế là một trong các phương thức cơ bản để cải thiện chất lượng đời sống vật chất của mỗi con người và cộng đồng Quá trình chủ đạo trong hoạt động kinh tế là lao động của con người kết hợp với tài nguyên để tạo ra của cải khác nhau, đáp ứng các nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống con người Song nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế cũng chưa đủ đảm bảo từng cộng đồng và xã hội phát triển bền vững Phát triển kinh

tế phải gắn với công bằng, tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, tạo

cơ sở nền tảng vật chất, tinh thần cho sự phát triển của các thế hệ hiện tại và mai sau

- Nguyên tắc thứ ba là: Bảo vệ sức sống và đa dạng của các hệ sinh thái Bảo vệ

đa dạng sinh học tức là bảo vệ tổng hợp, toàn bộ các nguồn gen trong các hệ sinh thái, đồng nghĩa với bảo vệ các loài sinh vật, các giống trong loài và những điều kiện tồn tại của chúng (các hệ sinh thái)… Ở khu vực đô thị, do những tác động nhiều mặt của con người đến tự nhiên, sức sống và đa dạng sinh học trong

hệ sinh thái đô thị và các hệ sinh thái trợ giúp nếu không được chú ý đến bảo tồn

Trang 23

và phát triển thì sẽ suy giảm một cách nhanh chóng Hệ sinh thái đô thị nên được hiểu rộng hơn: nó bao gồm hệ sinh thái chứa đựng và các hệ sinh thái trợ giúp khác cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, vật liệu cho công nghiệp và xây dựng, năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt, kể cả việc chứa đựng và xử lý chất thải đô thị… Bảo vệ sức sống và sự đa dạng trong các hệ sinh thái trợ giúp cũng chính là cơ sở đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị

- Nguyên tắc thứ tư là: Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo. Do đặc điểm đô thị có mật độ dân số cao, mật độ tập trung các cơ sở hạ tầng và sự phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nên khối lượng kim loại và năng lượng từ tài nguyên không tái tạo như sắt, thép, nhôm, đồng… cung cấp cho khu vực đô thị ngày càng tăng theo nhịp điệu mở rộng, phát triển đô thị và sự tăng lên của mức sống dân cư đô thị Các tài nguyên không tái tạo này khi được sử dụng sẽ mất đi các giá trị ban đầu của chúng, hoặc tích lũy trong các công trình, hoặc phân tán vào các loại hàng hóa tiêu dùng Trong quá trình tìm kiếm các vật liệu mới thay thế một cách hữu hiệu các vật liệu từ các loại thì việc sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý tài nguyên không tái tạo bằng cách như: quay vòng tái chế chất thải, sử dụng tối đa các thành phần hữu ích chứa trong tài nguyên, sử dụng tài nguyên tái tạo có thể thay thế có ý nghĩa rất lớn, góp phần phát triển bền vững kinh tế và xã hội của

đô thị, của mỗi vùng nói riêng và quốc gia nói chung

- Nguyên tắc thứ năm là: Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của các hệ sinh thái chứa đựng và các hệ sinh thái trợ giúp. Giới hạn chịu đựng của các hệ sinh thái nói riêng (dù là tự nhiên hay nhân tạo) và trái đất nói chung đều có giới hạn Con người có thể mở rộng giới hạn đó bằng công nghệ truyền thống hay áp dụng công nghệ mới để thỏa mãn những nhu cầu phát triển của mình, nhưng nếu không dựa trên cơ sở các quy luật phát triển nội tại của tự nhiên thì thường phải trả giá rất đắt bằng sự suy thoái, nghèo kiệt đa dạng sinh học, hoặc suy giảm chức năng cung cấp Hệ sinh thái đô thị thường gồm nhiều các hệ sinh thái bộ phận như: công viên, hệ sinh thái thuỷ sinh, khu dân cư gắn với các địa bàn cung

Trang 24

cấp các nhu yếu phẩm thiết yếu Mỗi thành phần trong hệ sinh thái đều có quan

hệ gắn bó với nhau, có chức năng nhất định và chịu sự tác động mạnh mẽ của con người Sự không tương thích giữa dân số đô thị với cơ sở hạ tầng kỹ thuật,

hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh tế và điều kiện sinh thái tự nhiên đã dẫn đến những ách tắc nghiêm trọng trong hoạt động của đô thị như ách tắc giao thông, bề bộn chất thải, thiếu việc làm, không đủ các điều kiện vệ sinh cơ bản như nước sạch, dưỡng khí, diện tích ở, nơi vui chơi, giải trí và dễ dẫn đến lan truyền các bệnh truyền nhiễm

- Nguyên tắc thứ sáu là: Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân. Tình trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường, tài nguyên đô thị Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nguyên nhân từ các tập tục và thói quen lạc hậu như sử dụng các không gian công cộng tùy tiện, xả rác thải ở nơi công cộng… Những thói quen

và các tập tục tác động xấu đến tài nguyên, môi trường, đến cộng đồng đô thị sẽ từng bị loại bỏ do phải trả giá bằng kinh tế, trả giá bằng sự phê phán của cộng đồng và sự tăng cường các hình thức quản lý xã hội và cộng đồng theo luật định

- Nguyên tắc thứ bảy là: Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

Mỗi hệ sinh thái nhân văn nói riêng và trái đất nói chung là nơi cư trú của các cộng đồng dân cư Theo các địa bàn cư trú, mỗi cộng đồng dân cư đô thị thường

có một không gian có ranh giới nhất định, gắn trong đó là hệ thống cơ sở hạ tầng

kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh tế đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt nhiều mặt của cộng đồng Để cộng đồng tự quản lý môi trường nghĩa là đã gắn được trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường (kể cả các thành phần tự nhiên và nhân tạo) với quyền lợi được hưởng những giá trị, những lợi ích mà tài nguyên

và môi trường đem lại…

- Nguyên tắc thứ tám là: Xây dựng một khuôn mẫu thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững đô thị. Một xã hội nói chung và cư dân đô thị nói riêng muốn phát triển bền vững phải biết kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, phải xây dựng được một sự thống nhất về cuộc sống

Trang 25

bền vững trong các cộng đồng Chính quyền các cấp phải có một cơ cấu thống nhất chăm lo về sự phát triển bền vững của từng hợp phần và tổng thể nói chung Bên cạnh hệ thống quyền lực cũng cần có hệ thống luật pháp toàn diện

và nghiêm khắc

- Nguyên tắc thứ chín là: Xây dựng khối liên kết giữa các đô thị và với các hệ sinh thái hỗ trợ giúp nhằm phát triển bền vững đô thị, hệ thống đô thị, vùng và quốc gia. Muốn bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, các đô thị không thể chỉ làm riêng lẻ mà phải có một sự liên kết giữa các đô thị, giữa đô thị với các vùng sinh thái trợ giúp Sự liên kết này bổ sung cho nhau những kinh nghiệm, những bài học từ quá trình thực hiện các giá trị của sự phát triển bền vững và thực hiện các mục tiêu chung Những điều luật rất cần cho sự phát triển của các đô thị như: Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai… cần có sự phối hợp thực hiện giữa các đô thị và giữa đô thị với các vùng phi đô thị phụ cận hoặc các hệ sinh thái trợ giúp Sự hợp tác trên là cơ

sở đảm bảo thực thi các luật định nhằm phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên và môi trường

1.2 Thực tiễn phát triển bền vững ở các đô thị hiện nay

Trái đất của chúng ta vẫn cứ tiếp diễn quá trình phát triển và nhân loại chưa cần phải tìm kiếm con đường “Phát triển bền vững” cho đến thời điểm những năm thập

kỷ 70 của thế kỷ trước, khi Thế giới phải đối mặt với rất nhiều vấn nạn về môi trường và điều kiện sống của con người trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết Năm 1972, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị quốc tế về môi trường con người ở Stockholm, Thụy Điển Hội nghị ra tuyên bố xác nhận hiện trạng môi trường toàn thế giới đang xấu đi và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất, cái nôi của sự sống Con người tỉnh ngộ và bước vào thập niên “Nhận thức về môi trường” (1972 – 1982)

Tiếp đó, bước sang thập niên “Hành động vì môi trường” (1982 – 1992) Năm

1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về “Môi trường và Phát triển” được tổ chức ở Rio de Janéro (Braxin), là cuộc gặp gỡ của 179 nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới

Trang 26

Thành công lớn nhất của Hội nghị RIO-92 là đưa ra được 2 tuyên bố mang tính nguyên tắc, ký kết hai Công ước quốc tế và thông qua Chương trình hành động 21 Tiếp sau Hội nghị thượng đỉnh lần đầu tiên, Hội nghị thượng đỉnh lần 2 họp tại Johannesburg, Nam Phi năm 2002 đã lại tiếp tục khẳng định việc lựa chọn con đường phát triển bền vững của nhân loại Tại Hội nghị lần này đại diện của 196 quốc gia đã thể hiện tính đồng thuận hành động vì quá trình phát triển bền vững của nhân loại và thông qua văn bản cực kỳ quan trọng: Kế hoạch thực hiện Johannesburg

Từ kế hoạch hành động đến kế hoạch thực hiện, từ tấm bản đồ chỉ đường (Rio – 92) đến lịch trình cụ thể (Joha – 02), loài người đã thừa nhận và bước những bước đầu tiên trên con đường mà chúng ta gọi là con đường phát triển bền vững Các quốc gia, dù hành trang khác nhau, dù lên đường không cùng lúc, tất cả đều đang hướng theo con đường phát triển bền vững này, cũng như đang hướng tới mục tiêu chung phát triển bền vững về môi trường – kinh tế – xã hội

1.2.1 Trường hợp SymbioCity, Stockholm – Thụy Điển

SymbioCity, được xây dựng tại khu hải cảng cũ của Stockholm là đô thị đầu tiên trên thế giới vận hành theo tiêu chuẩn bền vững với môi trường Tại thành phố có 11.000 nóc nhà này, nước mưa được thu gom, rác thải được tái chế làm nhiên liệu sưởi ấm, theo nguyên tắc mọi thứ phải được tận dụng tối đa nhằm tiết kiệm và tránh gây ô nhiễm Nhìn bề ngoài, khu đô thị này không có gì lạ so với các thành phố khác mới được xây dựng Thành phố không được thiết kế như một đô thị hoa lệ, mà như một thành phố tiện nghi đối với cư dân Chính quyền thành phố muốn làm sạch khu vực này – vốn là một trong những khu ô nhiễm nhất của thủ đô Stocskholm do hoạt động công nghiệp gây ra – nhưng đồng thời muốn tìm kiếm một mô hình đô thị vận hành theo tiêu chuẩn bền vững với môi trường

Sau 5 năm phát triển theo hướng này, những tác động tiêu cực đối với môi trường ở SymbioCity đã giảm hơn 50% Từng toà nhà ở đây đều được lắp các tấm pin mặt trời, thành phố có một nhà máy điện chạy bằng sức gió Có cả một hệ thống

Trang 27

kênh mương được thiết kế khoa học nhằm thu gom nước mưa và cung cấp trở lại cho hệ thống các nhà vệ sinh trong thành phố Người dân có ý thức tiết kiệm nước,

vì vậy mức tiêu thụ nước cũng giảm, từ bình quân 200 lít nước/người xuống còn 100–150 lít/người mỗi ngày, và xu hướng còn giảm tiếp

Bên cạnh đó, thành phố còn xây dựng một dây chuyền xử lý chất thải lâu dài Chẳng hạn, chất thải hữu cơ của mỗi gia đình được phân loại và được tái chế thành phân vi sinh để bón cây Hiện tại ở Thụy Điển chỉ có chưa đầy 20% số rác thải được đưa ra bãi rác Riêng ở thủ đô Stockholm 75% số rác thải được tái chế hoặc dùng làm nhiên liệu Đối với các hộ gia đình, tỉ lệ này lên tới 95% Với nỗ lực này, ngay

từ năm 1995, Thụy Điển đã chứng minh rằng trong khi kinh tế tiếp tục phát triển theo đồ thị đi lên, mức độ chất độc hại thải ra môi trường đã không tăng Giải pháp của Thụy Điển là bắt đầu xử lý từng vấn đề về môi trường một cách riêng rẽ, rồi từ

đó tìm ra được mối liên hệ chung giữa chúng với nhau Một trong những sáng kiến thành công nhất do Hội đồng Thành phố Stockholm phát động là thay thế toàn bộ các xe buýt chạy dầu truyền thống bằng các xe hiện đại hơn chạy bằng nhiên liệu sinh học Với những biện pháp như thế này, hiện tại tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của Thụy Điển chỉ còn chiếm 30% so với mức 80% trước đây Tiến bộ này giúp cắt giảm 60% khối lượng khí CO2 phát tán ra môi trường Ở SymbioCity, 80% hoạt động đi lại của 26.000 cư dân thành phố là đi bộ, đi xe đạp hay đi trên phương tiện công cộng Một tuyến xe điện được thiết kế chạy dọc theo đường phố chính trong thành phố Ở đây dân chúng giảm tới 40% việc sử dụng xe hơi cá nhân

Do Stockholm là một Thành phố giàu ở châu Âu, kinh tế đã phát triển, xã hội ổn định nên mục tiêu PTBV của Thành phố đang vươn đến một bậc cao hơn, phát triển đồng thời cả ba mục tiêu chung môi trường – kinh tế – xã hội

1.2.2 Trường hợp Singapore

Singapore, tổng diện tích đất tự nhiên là 710 Km2, được xem là đất nước (thành phố) sạch nhất thế giới hiện nay (xem hình ở phần phụ lục) Cách Thành phố Singapore khoảng 8 km về phía nam, rộng 3,5 km2, tổ hợp xử lý rác thải Semakau

Trang 28

(trên quần đảo Pulau Semakau ngoài bờ biển Singapore) được xem là bãi rác sinh thái ngoài biển đầu tiên trên thế giới Tổ hợp bao gồm hai hòn đảo nhỏ kết nối với nhau, là bãi rác có 11 hố chứa rác, được phủ bằng chất dẻo và đất sét nhằm ngăn chặn các chất thải độc hại lan ra biển Chính quyền Singapore quyết định xây dựng bãi rác Semakau từ đầu thập niên 1990, khi các khu chứa rác trong đất liền đã không còn chỗ trống Được đưa vào sử dụng từ năm 1999, đến nay bốn trong số 11

hố rác đã được lấp đầy Phần miệng hố được phủ kín bằng những bãi cỏ xanh tươi

Tổ hợp này có thể chứa tới 63 triệu m3 rác, đủ để đáp ứng nhu cầu chôn rác của Singapore cho đến tận năm 2040 Ngoài biện pháp chôn lấp, theo chính quyền Singapore thì Đảo quốc Sư tử đặt chỉ tiêu sẽ tái chế 66% các loại rác thải của đất nước này vào năm 2012, tăng hơn 11% so với tỉ lệ 54% hiện nay Theo cơ quan quản lý môi trường Singapore, hiện tỉ lệ rác gia dụng tái chế được ở nước này đã đạt tới 63% – gấp bốn lần so với năm 2001

Và một điều đáng quan tâm là ở Singapore chúng ta sẽ không thể tìm thấy bất kỳ một loại rác thải nào từ cái một túi nilon hay một cái ly nhựa đến một cái ống hút… cũng như chúng ta có thể tìm thấy thùng rác ở bất cứ nơi đâu và thùng rác được thiết kế rất ngọ nghĩnh để khuyến khích mọi người bỏ rác vào, nhất là trẻ em Khung xử phạt cho việc vứt rác sai quy định ở Singapore là 200$ SNG cho một lần

bị phát hiện và được đưa lên truyền hình vì hành động này Tỷ lệ 100% người dân

và khách du lịch ở đây bỏ rác vào thùng là con số đáng được kháng phục mà đất nước Singapore đã đạt được với sự nổ lực của chính quyền các cấp

Singapore là đất nước phát triển mạnh về kinh tế ở châu Á, tỉ lệ thất nghiệp thuộc bậc thấp và có một xã hội ổn định (không tệ nạn) Nên trở thành một đất nước sạch là mục tiêu mà Singapore đã và đang vươn tới Bên cạnh việc tuyên truyền về giữ gìn vệ sinh môi trường đường phố, đất nước này chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thật nghiêm khắc để buộc tất cả người dân, kể cả khách du lịch, góp phần gìn giữ sạch sẽ môi trường đô thị

Trang 29

1.2.3 Trường hợp Hongkong SAR

Hongkong là thành phố đông và náo nhiệt với số dân khoảng 6,9 triệu người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới, mỗi ngày thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải Chất thải rắn đô thị ở Hongkong được thu gom đến các trạm trung chuyển rồi được vận chuyển đến các bãi chôn lấp Tuy số lượng rác khá lớn, nhưng trong quá trình thu gom không có hiện tượng rơi vãi trên đường Đường phố rất sạch sẽ không có rác và bụi

Khác với các quốc gia, các thành phố khác trong khu vực và trên thế giới, trong quá trình phát triển đô thị, chính phủ Hongkong SAR (Đặc khu hành chính Hongkong) chú trọng phát triển mạnh hệ thống giao thông đô thị trong thành phố Việc tránh xảy ra ùn tắc giao thông là mục tiêu chính của chính quyền thành phố Hongkong có một hệ thống giao thông thật xuyên suốt thuộc loại bậc nhất trên thế giới, phần lớn dân cư trong nội đô đều sử dụng hệ thống giao thông công cộng thông minh (ITS) như: xe taxi, xe buýt điện 2 tầng (duy nhất trên thế giới), hệ thống tàu điện ngầm trong thành phố (MTR) sử dụng bằng thẻ và đặc biệt có hệ thống thang cuốn lớn ở các vỉa hè cho người đi bộ, hệ thống cầu vượt qua các đường lớn

và cầu nối giữa các tòa nhà, nên vấn đề ùn tắc giao thông hầu như không xảy ra ở thành phố này Việc nghiêm cấm triệt để sử dụng xe mô tô hai / ba bánh với mục đích lưu thông cá nhân là một nổ lực lớn của thành phố trong vấn đề giải pháp cho việc ùn tắc giao thông đô thị Hơn nữa, 99% xe taxi ở Hongkong sử dụng nhiên liệu

là khí hóa lỏng vì vậy tình trạng ô nhiễm không khí trong nội đô ở Hongkong hầu như không xảy ra (theo thông tin từ Báo giao thông vận tải, 03/2009, Bộ Giao thông Vận tải)

1.2.4 Phát triển đô thị ở Thành phố Đà Nẵng

Khác với các thành phố khác trên thế giới cũng như ở Việt Nam, Đà Nẵng chú trọng nhiều đến vấn đề an sinh xã hội trong quá trình xây dựng chiến lược PTBV cho thành phố với một sự quyết tâm cao

Trang 30

Thành phố Đà Nẵng, với diện tích 1.255,53 Km2 (hơn ½ diện tích của Thành phố Hồ Chí Minh), được xem là đô thị an toàn nhất ở Việt Nam hiện nay, vì không

có tệ nạn xã hội Để đạt được điều này, trong vòng 5 năm từ 2000 – 2005 Thành phồ Đà Nẵng đã thực hiện mục tiêu “5 không”: không có hộ đói; không có người

mù chữ; không có người lang thang xin ăn; không có người nghiện ma túy trong cộng đồng; không có giết người cướp của Trên cơ sở thành công bước đầu về chương trình “5 không”, Đà Nẵng trở thành đô thị đầu tiên trong cả nước đảm bảo 100% không có người lớn và trẻ em lang thang ăn xin trên đường phố

Theo thông tin từ Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng, biện pháp mà chính quyền Thành phố Đà Nẵng đã áp dụng triệt để là sự phối hợp liên ngành giữa Phòng Cảnh sát cơ động và Trung tâm bảo trợ xã hội của thành phố, bên cạnh đó thành phố

đã đầu tư xe chuyên dụng, lực lượng hỗ trợ túc trực 24/7, các pa-nô, áp-phích tuyên truyền treo trên các tuyến đường, lập đường dây nóng và đặt mức thưởng 200.000 đồng/lần cho người phát hiện hay gọi báo có đối tượng đang xin ăn Với các biện pháp tưởng chừng như đơn giản này thì không dễ dàng mấy khi áp dụng và thực hiện trong thời gian dài nhưng với sự quyết tâm Đà Nẵng đã làm được điều mà các

đô thị khác ở Việt Nam không làm được Điều này cho thấy, trên con đường hướng tới một đô thị phát triển bền vững, Thành phố Đà Nẵng đã và đang đảm bảo rất tốt vấn đề an sinh xã hội cho người dân thành phố, đúng với tiêu chí phát triển bền vững và văn minh đô thị

Trang 31

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN

VỮNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có dân số đông nhất cả nước, đồng thời đây cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Thành phố nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long của miền Nam

Theo trang thông tin giới thiệu về Thành phố Hồ Chí Minh, 2009, của Ủy ban Nhân dân thành phố (www.hochiminhcity.gov.vn), Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích tự nhiên là 2.095,58 km2, về hành chính được phân chia thành 24 quận, huyện với 317 phường, xã Trong đó, khu nội thành bao gồm 19 quận (1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 11; 12; Thủ Đức; Bình Thạnh; Bình Tân; Tân Phú; Tân Bình; Phú Nhuận; Gò Vấp) với tổng diện tích là 493,96 km2 và khu ngoại thành gồm có 5 huyện (Củ Chi; Hóc Môn; Bình Chánh; Nhà Bè; Cần Giờ) với tổng diện tích là 1.601,28 km2

Vị trí tự nhiên

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km tính theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam

Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không, nối liền các tỉnh trong vùng, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long và còn là một cửa ngõ quốc tế của miền Nam

Trang 32

Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố

Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng như: An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi

Điều kiện kinh tế

Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm, 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9%

dự án nước ngoài của cả quốc gia Năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139.000 người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước và so với 730 USD/năm của 2006 [10] Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của Thành phố gồm khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế: dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%; phần còn lại là công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2% Tính đến giữa năm 2006, Thành phố Hồ Chí Minh có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống các trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ rất đa dạng về quy mô và loại hình

Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và nơi trung chuyển quốc tế ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam Thu nhập nhờ vào các hoạt động kinh doanh du lịch đã đóng góp đáng kể trong tổng thu nhập của thành phố Các lĩnh vực khác như giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí thì Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất

Trang 33

Điều kiện xã hội

Về mặt y tế, theo số liệu thống kế của Sở Y tế thành phố từ 2000 – 2008 thì tính cho đến 2008 Thành phố Hồ Chí Minh có 29.668 nhân viên y tế, trong đó có 5.597 bác sĩ, tỷ lệ bác sĩ đạt 8.2 trên 1 vạn dân Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh Hệ thống y tế cộng đồng tương đối hoàn chỉnh, tất cả các xã, phường đều có trạm y tế Bên cạnh hệ thống nhà nước, thành phố cũng có 2.303 cơ sở y tế tư nhân và 1.472 cơ sở dược tư nhân, góp phần giảm

áp lực cho các bệnh viện lớn Sở Y tế thành phố hiện nay quản lý 8 bệnh viện đa khoa và 20 bệnh viện chuyên khoa Nhiều bệnh viện của thành phố đã liên doanh với nước ngoài để gia tăng chất lượng phục vụ

Về mặt giáo dục, trong năm học 2005–2006, toàn Thành phố có 533 cơ sở giáo dục mầm non, 457 trường Tiểu học, 232 trường Trung học cơ sở và 72 trường Phổ thông trung học Ngoài ra, theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố, có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục [10] Giáo dục bậc đại học trên địa bàn thành phố có 25 trường đều do Bộ Giáo dục quản lý Là thành phố lớn nhất Việt Nam, TpHCM cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất trong cả nước, cùng với Hà Nội, như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với năm đại học thành viên và nhiều trường đại học lớn khác như Đại học Sư phạm, Đại học Y dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Kinh tế đều là các trường hàng đầu của Việt Nam Giao thông vận tải, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam

Á Khác với Hà Nội, vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng Tính riêng vận tải hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng thông qua đầu mối thành phố Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách Về giao thông đường hàng không, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt

Trang 34

Nam về cả diện tích và công suất nhà ga hiện nay Giao thông đường sắt, trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận do Xí nghiệp Liên hiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc – Nam và một vài đoạn đường chuyên dụng Giao thông đường bộ, Thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình – Tây Ninh, Ký Thủ Ôn Mạng lưới có khả năng tiếp nhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000 khách/ngày Về đường thủy, khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

có bốn cảng chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, Tân Cảng Trong đó, cảng Sài Gòn

là một trong những cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển cả nước Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng 528 mét, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 – 20.000 tấn cập bến [10]

2.2 Diễn biến tình hình dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh

Theo kết quả Tổng điều tra dân số chính thức tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009 của Tổng cục thông kê thì dân số Thành phố Hồ Chí Minh là 7.123.340 người (chiếm 8,3% dân số Việt Nam), mật độ trung bình gần hơn 3 người/km² Với mức dân số như hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực đông dân nhất cả nước Biểu đồ hình 2.1 bên dưới cho thấy tỉ lệ dân số của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước

Hình 2.1: Biểu đồ tỉ lệ dân số Tp.HCM so với cả nước

Trang 35

Tuy nhiên, với số lượng dân số hơn 7,1 triệu dân như hiện nay chỉ là nhân khẩu thực tế thường trú, ngoài ra còn khoảng 300.000 – 500.000 người thuộc nhóm di dân vốn chưa được đưa vào con số thống kê này đó là những người dân lao động nhập cư

và số lượng sinh viên đang tạm cư trú Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1999 – 2009 cho thấy rằng, dân số thành phố tăng nhanh Cụ thể, so với tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999 thì dân số của thành phố tăng thêm 2.086.185 người (tương đương 41,4%) Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999 – 2009 tiếp tục tăng cao, bình quân dân số Thành phố tăng 3,53% trong năm, tức là tăng 208.000 người, trong khi tỉ lệ này của giai đoạn

1979 – 1989 là 1,63% và giai đoạn 1989 – 1999 là 2,36% Đây là mức tăng cao hơn hẳn tốc độ tăng dân số các thời kỳ trước Cụ thể, mức tăng dân số thành phố trong thời

kỳ 1999 – 2009 bằng 2 lần mức tăng dân số thời kỳ 1989 – 1999 và bằng 3,7 lần mức tăng dân số thời kỳ 1979 – 1989 Hình 2.2 bên dưới đây thể hiện mức độ gia tăng dân

số của thành phố trong suốt 10 năm qua

Hình 2.2: Biểu đồ tăng dân số của TpHCM giai đoạn 1999-2009

Không chỉ là Thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố

Hồ Chí Minh còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu như Berlin hay Roma Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố

Hồ Chí Minh và dự báo đến năm 2010, con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu

Trang 36

Bên cạnh đó, quá trình phát triển đô thị ở Thành phố cũng tăng nhanh trong gần 2 thập kỷ qua Mức độ đô thị hóa của Thành phố Hồ Chí Minh được nhận thấy rõ qua tỷ

lệ phần trăm dân số đang sinh sống ở khu vực nội thành đô thị so với khu vực ngoại ô

Cụ thể, số người tập trung sống ở khu vực nội thành tăng gần 10% trong giai đoạn từ

1990 – 2009, mặc dù trong suốt hơn 10 năm qua thành phố đã thực hiện rất nhiều dự

án nâng cấp đô thị ở các quận ngoại thành, xem hình 2.3 và hình 2.4

Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 1990

Hình 2.4: Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 2009 (Nguồn: số liệu của Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh từ 1990-2009)

2.3 Hiện trạng phát triển đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang khẳng định vị thế của mình là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, khoa học

Trang 37

lớn của khu vực phía nam, có vị trí, vai trò quan trọng đối với cả nước Theo thông tin

từ UBND thành phố, trong những năm qua, kinh tế thành phố có tốc độ tăng bình quân hai con số, đã đóng góp gần 22% GDP của cả nước, 30% giá trị sản xuất công nghiệp; gần 40% giá trị xuất khẩu, 25% giá trị thương mại dịch vụ và 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia Phát triển cân đối và bền vững luôn là một trong những tiêu chí quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh

Về quy mô phát triển chung thì Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang được đổi mới theo quyết định 1570/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ “Về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025” kể từ năm 2006

Về quy mô dân số: đến năm 2025 khoảng 10 triệu người; khách vãng lai và tạm trú (dưới 6 tháng) khoảng 2,5 triệu người Phân bố dân cư: khu vực nội thành cũ từ 4,0 – 4,5 triệu người; khu nội thành phát triển (6 quận mới) từ 2,8 – 2,9 triệu người; khu ngoại thành khoảng 2,6 triệu người (trong đó dân số nông thôn khoảng 0,5 triệu người) Về quy mô đất đai xây dựng đô thị: đến năm 2025 khoảng 90.000–100.000 ha; trong đó, khu nội thành cũ khoảng 15.000 ha; khu nội thành phát triển khoảng 35.000

ha và khu ngoại thành khoảng 40.000-50.000 ha

Đáng chú ý là dự án tuyến metro số 1 từ Bến Thành đến Suối Tiên đầu tiên ở Việt Nam đã được khởi công xây dựng ngày 21/2/2008 Dự kiến, tuyến metro đầu tiên này với chiều dài 19,7 km nối từ chợ Bến Thành đến công viên Suối Tiên, sẽ hoàn thành vào năm 2014 Tuyến đường sắt đô thị được đánh số 1 này sẽ đi qua các quận 1, 2, 9, Thủ Đức và một phần huyện Dĩ An của tỉnh Bình Dương Trên tuyến metro này có 14

ga, trong đó có 10 ga trên cao và 4 ga đi ngầm Ngoài tuyến metro số 1 này ra, thành phố còn quy hoạch xây dựng 5 tuyến metro khác (Tuyến 2: Ngã tư An Sương – Thủ Thiêm; Tuyến 3: Quốc lộ 13 – Bến xe Miền Đông; Tuyến 4: Cầu Bến Cát – Đường Nguyễn Văn Linh; Tuyến 5: Cầu Sài Gòn – Bến xe Cần Giuộc; Tuyến 6: Ngã ba Bà Quẹo – Vòng xoay Phú Lâm) Với hệ thống tuyến metro này sẽ giúp cho thành phố giảm bớt tải lượng giao thông do phương tiện cá nhân, một trong những nguyên nhân gây ùn tắc giao thông tại thành phố hiện nay

Trang 38

Bên cạnh dự án tuyến metro này, dự án Đại lộ Đông – Tây, một công trình giao thông quan trọng trong việc nối kết các khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh,

đã được khởi công từ tháng 4/2005 Đây là một dự án giao thông đi xuyên tâm thành phố, qua địa bàn các quận 1, 2, 4, 5, 6, 8, Bình Tân và huyện Bình Chánh, với tổng chiều dài toàn tuyến là gần 22 km Và gần đây, sau 5 năm xây dựng dự án đã được thông xe giai đoạn 1 vào ngày 2/9/2010, với đoạn đường có tổng chiều dài trên 13 km kéo dài từ nút giao với Quốc lộ 1A (huyện Bình Chánh) đến Cầu Calmette (quận 1) Trong quy hoạch tổng thể của Thành phố Hồ Chí Minh đến 2020, dự án Đại lộ Đông – Tây được xem là một trục đường quan trọng và sẽ góp một phần nào đó giải quyết tình trạng quá tải cho giao thông đô thị hiện nay

2.4 Các vấn đề môi trường và dân số còn tồn tại trong quá trình phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh

Đi đôi với quá trình đô thị hóa và quá trình phát triển kinh tế ở các đô thị luôn là quá trình gia tăng dân số (tự nhiên lẫn cơ học) Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang là

đô thị phát triển nhanh nhất cả nước về kinh tế và xã hội do sự tập trung cao của mọi thành phần lao động từ lao động tay nghề cho đến lao động trí óc từ khắp cả nước và

cả nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng không ngừng này đã kéo theo sự gia tăng dân số tự nhiên cũng như cơ học ngày càng nhanh trong những năm trở lại đây, và chính điều này đã mang lại không ít các tác động tiêu cực cho đô thị này Các tác động đó hiện vẫn còn đang là các vấn đề nan giải của thành phố trong suốt nhiều năm qua

Ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, các tác động tiêu cực mà việc gia tăng dân số

đô thị đã gây ra là rất nhiều Trong khuôn khổ của một luận văn nghiên cứu, tác giả xin liệt kê một vài vấn đề mà tác giả quan tâm trong số rất nhiều các vần đề đang nổi cộm và đang được sự quan tâm của chính quyền thành phố

Một số tác động tiêu cực điển hình khi dân số đô thị gia tăng

a Kinh tế:

Trang 39

Mặc dù có sự đa dạng về ngành nghề và thành phần kinh tế, nhưng do số lao động tập trung ở thành phố hiện nay quá cao, làm cho lượng cung lớn hơn cầu nên thành phố gặp nhiều khó khăn trong giải quyết công ăn việc

b Xã hội:

- Thành phố xuất hiện các tệ nạn xã hội ngày một nhiều hơn như mại dâm, bài bạc, trộm cắp, hút chích ma túy,… làm cho việc quản lý xã hội trong thành phố ngày càng khó khăn

- Chất lượng cuộc sống kém do đất đai quá đắt đỏ Người dân lao động từ các tỉnh

di chuyển lên phải ở các nhà trọ, trong khi số lượng dự án “treo” về quy hoạch nhà

ở và đất đai tại thành phố thì rất nhiều

- An sinh xã hội cho chính người dân thành phố và các thành phần dân nhập cư vẫn còn đang lơ lững, chưa được giải quyết triệt để Điển hình như những hình ảnh trẻ

em lang thang và người gia ăn xin xuất hiện thường xuyên trên phố

C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người;

P: Sự gia tăng tuyệt đối của dân số đô thị;

E: Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên bị khai thác; I: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân số Các tác động tiêu cực của dân số lên môi trường đô thị hiện nay biểu hiện ở các khía cạnh:

Trang 40

- Sức ép lớn tới nguồn cung cấp nước sạch phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và hoạt động sản xuất khi dân cư đô thị phát triển;

- Dân số đông nên lượng xe lưu thông khá nhiều (phần lớn là phương tiện cá nhân) đặc biệt vào giờ cao điểm, dẫn tới kẹt xe cục bộ tại nhiều tuyến đường chính Bên cạnh đó, khói bụi được thải ra từ các phương tiện này và từ các điểm ùn tắc giao thông đã làm cho môi trường không khí đô thị ngày càng ô nhiễm hơn;

- Dân số ngày một tăng làm cho lượng rác thải sinh hoạt cũng tăng theo Nên đã tăng sức ép lên các bãi rác vốn đã quá tải Điều này đòi hỏi thành phố phải mất một diện tích lớn để xây dựng bãi rác Cũng như đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho việc thu gom rác

Các vấn đề môi trường và dân số bên cạnh quá trình phát triển đô thị bền vững của thành phố

Để phát triển bền vững, thành phố đã quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, thông qua các giải pháp bảo vệ môi trường đã và đang áp dụng, xây dựng nhiều chiến lược phát triển dài hạn cho thành phố hướng tới một đô thị văn minh Tuy nhiên, nếu đánh giá sự phát triển bền vững đô thị dựa trên các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường thì Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự phát triển theo hướng bền vững Mặc dù khá nhiều chỉ tiêu về kinh tế xã hội luôn đạt ở mức tăng trưởng cao và đã triển khai nhiều giải pháp bảo vệ môi trường, nhưng các chỉ tiêu về môi trường vẫn ở mức rất thấp, thậm chí đi xuống Theo đánh giá trong báo cáo “Nghiên cứu tổng kết một số mô hình PTBV ở Việt Nam, 2008”, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho thấy khá rõ những điều này

Một số vấn đề tiêu cực về môi trường và dân số còn đang tồn tại trong quá trình phát triển đô thị bền vững hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh

a Chất lượng môi trường không khí trong đô thị có chiều hướng ngày càng suy giảm

Ngày đăng: 29/11/2015, 16:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới (WB) - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 1.1 Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới (WB) (Trang 17)
Hình 1.3: Mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 1.3 Mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (Trang 18)
Hình 1.2: Mô hình PTBV của Liên Hợp Quốc (UN) - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 1.2 Mô hình PTBV của Liên Hợp Quốc (UN) (Trang 18)
Hình 2.1: Biểu đồ tỉ lệ dân số Tp.HCM so với cả nước - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 2.1 Biểu đồ tỉ lệ dân số Tp.HCM so với cả nước (Trang 34)
Hình 2.2: Biểu đồ tăng dân số của TpHCM giai đoạn 1999-2009 - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 2.2 Biểu đồ tăng dân số của TpHCM giai đoạn 1999-2009 (Trang 35)
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 1990 - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 2.3 Biểu đồ tỷ lệ dân số nội đô và ngoại ô TpHCM, 1990 (Trang 36)
Bảng 2.1: Dự báo khối lượng Chất thải rắn sinh hoạt tại TpHCM - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.1 Dự báo khối lượng Chất thải rắn sinh hoạt tại TpHCM (Trang 43)
Bảng 2.3: Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển đô thị bền vững cho TpHCM - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.3 Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển đô thị bền vững cho TpHCM (Trang 48)
Hình 3.1: Khung định hướng nghiên cứu - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 3.1 Khung định hướng nghiên cứu (Trang 51)
Hình 3.2: Sơ đồ khung của phương pháp phân tích DPSIR - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 3.2 Sơ đồ khung của phương pháp phân tích DPSIR (Trang 52)
Hình 3.3: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 3.3 Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR (Trang 53)
Sơ đồ hình 3.4 sau đây. - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sơ đồ h ình 3.4 sau đây (Trang 53)
Hình ảnh minh họa - XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ (TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
nh ảnh minh họa (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w