1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đánh giá cố hệ thống điện Việt Nam giai đoạn 1995-2001

27 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 673,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này lý giải cho việc kiểm tra, xác định sự cố và khắc phục sự cố trong các lòhơi và chu trình tuần hoàn hơi-nhiệt trong các nhà máy nhiệt điện là rất tốn thời gian.Ngoài ra còn có n

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước thì vấn đề điện khí hóatoàn quốc là vấn đề hết sức cấp bách và trong nhiệm vụ điện khí hóa thì việc xây dựngcác nguồn cung cấp điện lại hết sức quan trọng Trong những năm qua, ở nước ta, cácnguồn cung cấp điện hầu hết là thủy điện vì thế vào mùa khô sẽ thiếu điện trầm trọng.Thủy điện có ưu điểm là giá thành điện năng rẻ nhưng vốn đầu tư ban đầu rất lớn Nước

ta có nhiều than, dầu, khí đốt nên đó sẽ là nguồn nhiên liệu hữu cơ dồi dào cho phép pháttriển mạnh các nhà máy nhiệt điện

Tuy nhiên, cũng giống như bất kì một nhà máy nào khác thì nhà máy nhiệt điệncũng luôn tiềm tàng các nguy cơ gây ra sự cố do nhà máy có rất nhiều thiết bị hoạt động

ở điều kiện nhiệt độ và áp suất rất cao Bài tiểu luận này nhằm nghiên cứu về các loại sự

cố ở nhà máy nhiệt điện nhằm tìm ra nguyên nhân để phòng ngừa và khắc phục chúng

Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu rất nhiều nhưng bài tiểu luận chắc chắn không tránhkhỏi các sai sót mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Thầy Cô và các bạn

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Phân tích đánh giá sự cố hệ thống điện ViệtNam trong giai đoạn 1995-2001” của EVN thì:

• Đối với các tổ máy nhiệt điện của miền Nam, tỉ lệ sự cố các thiết bị phần hơi nhiệt chỉ chiếm 45% tổng số sự cố nhưng thời gian phục hồi các thiết bị phần nhiệt lạichiếm tỉ lệ tới 91% tổng thời gian phục hồi tổ máy Tỉ lệ sự cố phần điện trong các nhàmáy nhiệt điện đốt than ở miền Nam chỉ chiếm tỉ lệ 29% và thời gian phục hồi là gần 8%

-Sự cố do lưới điện bên ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số sự cố và thời gianphục hồi sự cố (tương ứng là 26.1% và 2%)

• Đối với các tổ máy nhiệt điện của miền Bắc, tỉ lệ sự cố các thiết bị phần nhiệtchỉ chiếm 77% tổng số sự cố trong khi thời gian phục hồi các thiết bị phần nhiệt chiếm tỉ

lệ tới 98% tổng thời gian phục hồi tổ máy Tỉ lệ sự cố phần điện trong các nhà máy nhiệtđiện đốt than ở miền Bắc chỉ chiếm tỉ lệ có 20% và thời gian phục hồi là gần tới 2%

Điều này lý giải cho việc kiểm tra, xác định sự cố và khắc phục sự cố trong các lòhơi và chu trình tuần hoàn hơi-nhiệt trong các nhà máy nhiệt điện là rất tốn thời gian.Ngoài ra còn có nguyên nhân là các thiết bị phụ tùng thay thế cho phần nhiệt của các nhàmáy nhiệt điện than ở miền Bắc thường là không có sẵn mà phải đặt hàng sau khi sự cố

Ăn mòn trong lò hơi bao gồm ăn mòn cơ học và ăn mòn hóa học:

a Ăn mòn cơ học (mài mòn)

Mài mòn bên trong ống do ma sát của hơi Điều này thường xảy ra bên trong các

đường ống hơi có lưu tốc cao như dàn ống trao đổi nhiệt của bộ quá nhiệt, đường ống dẫnhơi Dàn ống quá nhiệt cũng bị mài mòn do hơi ẩm, làm cho thành ống bị mòn ở bêntrong làm chiều dày vách ống giảm đi

Mài mòn bên ngoài ống do các hạt chưa cháy hết của nhiên liệu Dàn ống trao

đổi nhiệt trong nhà máy nhiệt điện than dễ bị hư hỏng là do hàm lượng tro xỉ trong thanrất cao so với các loại nhiên liệu khác Những hạt tro xỉ này tương tự như những hạt màitrong thành phần của đá mài, sẽ mài mòn và làm thủng dàn ống trao đổi nhiệt Phần ống

Trang 4

dễ bị thủng nhất của lò hơi đốt than làm bộ tiết kiệm (economizer) hay còn gọi là bộ hâmnước cấp.

Mài mòn do tro bay thường gây ra sự cố đối với dàn ống của bộ sinh hơi, bộ hâmnước cấp, do vật liệu chế tạo của những dàn ống này là thép thường và gang, độ bền cơhọc kém hơn so với dàn ống quá nhiệt

Với lò tầng sôi sự ăn mòn lại chủ yếu do bụi và tro Việc phân ly không tốt của bộcyclone cũng như bộ hồi liệu làm chất lượng khói thoát ra có nhiều bụi và các hạt chưacháy hết sẽ làm cho sự cố rất nghiêm trọng ở phần cuối đuôi lò

Trong nhà máy điện đốt than vấn đề thành phần nhiên liệu rất quan trong, cho nênphải duy trì nhiên liệu có thành phần càng gần giống thiết kế càng tốt Nếu thay đổi thànhphần nhiên liệu sẽ dễ gây ra các vấn đề cho lò hơi như: mài mòn dàn ống trao đổi nhiệt,tắc nghẽn bộ sấy không khí, ăn mòn hóa học

b Ăn mòn hóa học

• Ăn mòn hóa học do ăn mòn điện hóa

Trong than đá, dầu đều có một số hóa chất nhưng quan trong nhất là lưu huỳnh.Sau khi cháy, lưu huỳnh có thể trở thành Oxyt lưu huỳnh và nếu kết hợp với nước sẽthành axit sunphuric Hơi bốc lên sẽ kết hợp với hơi nước trong không khí tạo thành axit.Phần không bốc hơi được nằm trong tro xỉ tồn đọng sẽ thành chất axit bám vào thànhống

Nếu các bụi bẩn bám trên thành ống hoặc trong kết cấu kim loại có các hạt kimloại khác với kim loại lò hơi thì nó sẽ kết hợp với chất axit này hình thành các viên pinnhỏ li ti Các viên pin này bị nối ngắn mạch, và cực âm sẽ bị ăn mòn nghiêm trọng dodòng điện ngắn mạch ấy Giai đoạn bị ăn mòn nhiều nhất là lúc máy ngừng, nhiệt độ hơicòn cao nhưng hơi nước đã kịp đọng sương và thấm vào các lớp tro xỉ trên bề mặt kimloại

Còn ăn mòn bên trong ống chủ yếu là do hơi axit tan trong nước (axit cacbônic)

Do đó, trong nhà máy nhiệt điện, phòng hóa nghiệm và công tác xử lí nước là một

bộ phận rất quan trọng Ngoài việc xử lí chống ăn mòn, còn phải xử lí chống đóng cáucặn bên trong lò hơi

• Ăn mòn hóa học do nhiệt độ

Ăn mòn hóa học của ống trao đổi nhiệt lò hơi gồm ăn mòn nhiệt độ cao và ăn mònnhiệt độ thấp

Ăn mòn nhiệt độ cao xảy ra với bộ quá nhiệt và những vùng ống trao đổi nhiệt

chịu nhiệt độ cao trong buồng lửa nhưng chủ yếu xảy ra với dàn ống quá nhiệt ở đó nhiệt

độ hơi khoảng trên 5000 C Dàn ống quá nhiệt thường bị xỉ nhiệt độ cao bám vào, do

Trang 5

trong xỉ có thành phần V2O5 làm chất xúc tác gây nên ôxy hóa nhiệt độ cao của dàn ống

bộ quá nhiệt

Nguy cơ gây nổ ống quá nhiệt thường do ăn mòn nhiệt độ cao và mài mòn làmcho chiều dày vách ống giảm đi, cộng với việc đóng cáu làm cho nhiệt trở vách ống tănglên, nhiệt lượng trong khói không thể truyền cho hơi nên chênh lệch nhiệt độ giữa hai bênthành ống tăng lên gây nổ ống do ứng suất nhiệt

Ăn mòn nhiệt độ thấp thường xảy ra ở khu vực đuôi đường khói như bộ hâm

nước cấp, bộ sấy không khí kiểu quay Cơ chế của nó làm thành phần lưu huỳnh trongnhiên liệu khi cháy sẽ tạo ra hơi xít Tuy nhiên nếu khống chế nhiệt độ khu vực đuôiđường khói ở trên nhiệt độ đọng sương thì sẽ không xảy ra ăn mòn nhưng nhiệt độ đọngsương phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên rất khó điều chỉnh

Ăn mòn nhiệt độ thấp thường làm hư hỏng các tấm trao đổi nhiệt của bộ sấykhông khí kiểu quay (rotary air preheater) Các tấm trao đổi nhiệt bị ăn mòn dễ bị mục sẽbịt kín đường lưu thông gió khói, gây thiếu gió và khó duy trì áp lực buồng đốt

Bám cáu do muối thường là do các biện pháp giám sát và khử muối trong nướccấp lò hơi kém gây nên

1.2 Các sự cố về cháy và các biện pháp xử lí

• Tắc đường gió cấp 1

Tắc đường gió cấp 1 chủ yếu là xảy ra với hệ thống cấp bột than có kho than trung

gian Khi ấy, lưu lượng gió cấp 1 đường ống bị tắc giảm đột ngột, áp suất gió tăng lênhoặc dao động mãnh liệt Khi tắc nghiêm trọng, dòng điện máy cấp bột than tăng lên vàhoạt động mạnh hơn

Nguyên nhân cơ bản tắc đường ống gió cấp 1 là:

- Tốc độ gió cấp 1 trong đường ống quá thấp

Để đề phòng tắc ống gió cấp 1 thì cần:

- Tăng cường theo dõi tăng áp suất gió máy nghiền, áp suất gió cấp 1, nhiệt độ gió

và số vòng quay của máy cấp than

Trang 6

- Mỗi khi có hiện tượng có thể tắc ống cần kịp thời tìm biện pháp không cho pháttriển.

- Khi tải thấp, cần duy trì áp suất gió cần thiết, không nên cắt làm việc vòi đốthoặc máy nghiền quá sớm để tránh lượng than trong ống gió cấp 1 quá lớn

- Tất cả các tổ máy dùng máy nghiền bi kép khi tải thấp có thể dựa vào hệ thống tựđộng để tăng lượng gió đi vòng để duy trì tốc độ gió cấp 1

- Cần chú ý theo dõi lượng gió có phù hợp với đường cong vận hành hay không

Khắc phục sự cố tắc đường gió cấp 1:

- Khi tắc đường ống gió cấp 1, cần lập tức nhanh chóng dùng thao tác tay tănglượng gió qua máy nghiền, giảm lượng bột than, dùng lượng gió lớn để thông thổi đườngống Đồng thời tăng cường công suất các máy nghiền khác để duy trì công suất hơi củalò

- Với hệ thống có kho than trung gian, cần lập tức dừng máy cấp than tương ứng,

mở to hoàn toàn gió cấp 1, tăng tốc độ gió cấp 1 để thông thổi đường ống tắc

• Cháy không ổn định

Khi cháy không ổn định, vị trí ngọn lửa kéo dài ra xa và tắt, ngọn lửa khi sáng khi tối,phụ tải lò dao động lớn

Sự cháy không ổn định có thể phán đoán qua 4 mặt sau:

- Áp suất âm buồng đốt dao động mạnh

- Theo dõi trên bảng điều khiển, tín hiệu báo ngọn lửa yếu

- Theo dõi nhiệt độ và lượng O2 sau bộ quá nhiệt

- Các thông số chính của lò hơi không ổn định

Nguyên nhân của sự cháy không ổn định thường là:

- Khi chất lượng than thay đổi

- Lượng than cấp dao động như khi tắc ống than bột, vòi dầu, lượng bột than làkhông đều, mức than bột trong kho than bột thấp… đều gây cháy không ổn định

- Phụ tải lò quá thấp, nhiệt độ buồng đốt giảm, nồng độ bột than thấp hay phụ tảithay đổi lớn, khiến việc đưa làm việc và cắt làm việc vòi đốt thường xuyên

- Thao tác vận hành không hợp lý Ví dụ, tốc độ gió cấp 1 quá thấp hoặc quácao… Tốc độ gió quá thấp làm cho than vón cục, chuyển động trượt từng khối bột than;tốc độ gió quá cao làm đứt chân ngọn lửa khỏi vòi đốt Điều chỉnh lượng Oxy không hợp

lý, lượng gió trong buồng đốt quá lớn làm cho nhiệt độ buồng đốt giảm; khi thổi bụi xỉ,cửa thải xỉ mở quá hớn hoặc thời gian thổi bụi quá lâu làm lọt nhiều không khí lạnh vàobuồng đốt làm cho nhiệt độ buồng đốt giảm nhiều

- Đóng xỉ buồng đốt và vòi đốt nghiêm trọng, phá hoại trường khí động buồng đốt

Biện pháp khắc phục:

Trang 7

- Khi phát hiện cháy không ổn định, trước tiên cần đốt kèm dầu để đề phòng tắtlửa, chờ sau khi điều chỉnh cháy ổn định, mới cắt dầu.

- Khi chất lượng than xấu đi, cần có biện pháp cải thiện điều kiện bắt cháy nhưtăng nhiệt độ không khí nóng, tăng độ mịn bột than, giảm thích đáng tỉ lệ gió/than, tăngnồng độ bột than khi tải thấp, đốt tập trung vòi đốt…

- Nếu cấp than không ổn định dẫn đến cháy không ổn định, cần tăng gió cấp 1 vànhiệt độ gió cấp 1, để giảm độ ẩm bột than, để bột than không kết dính hoặc gây tắc, tiếnhành thổi bụi đúng qui trình, chú ý ngăn ngừa các tình huống không có lợi cho quá trìnhcháy Nếu điều kiện an toàn cho phép, giảm áp suất âm buồng đốt để tránh lọt gió…

• Tắt lửa buồng đốt

Biểu hiện của tắt lửa buồng đốt:

- Tắt lửa buồng đốt là hiện tượng quá trình cháy trong buồng đốt tự nhiên bị giánđoạn, ngọn lửa không ổn định và luôn có thể bị tắt

- Khi bị tắt buồng đốt, ánh sáng ngọn lửa tối hoặc buồng đốt tối hoàn toàn, trênmàn hình báo ngọn lửa của phòng điều khiển mất hình, tấm chắn cấp than nhiên liệuđóng lại

- Các hiện tượng phụ khác là do tắt lửa, áp suất trong buồng đốt trong một giaiđoạn ngắn tăng vọt, quạt gió cấp 1, 2 tự động cấp thêm gió

- Nếu áp suất gió cấp 1, 2 tăng không bình thường, mức nước bao hơi dao độnggiữa mức cao nhất và thấp nhất, lưu lượng, áp suất, nhiệt độ hơi giảm đột ngột, lượng oxytăng vọt

Nguyên nhân tắt lửa buồng đốt:

- Nguyên nhân chủ yếu tắt lửa buồng đốt là cháy không ổn định

Ngoài ra còn có thể có nguyên nhân khác như:

+ Sự cố thiết bị phụ của lò như quạt gió, quạt khói, máy cấp than… đột nhiêndừng vận hành

+ Thao tác thay đổi vòi đốt, máy nghiền không hợp lý

+ Thổi bụi dàn ống không kịp thời, để các khối xỉ rơi

+ Nổ ống sinh hơi, nước và hơi phun vào buồng đốt gây tắt lửa

+ Khi chỉ cho vận hành một máy nghiền bi kép;

+ Khoảng cách giữa các vòi đốt làm việc quá lớn

+ Khi xuất hiện tín hiệu “sự cố turbine giảm tải rất nhanh (FCB)” hoặc có sự cố

“lò hơi giảm tải rất nhanh (RB)”, hệ thống tự động xử lý không tốt

Biện pháp khắc phục:

Trong vận hành, việc phán đoán chính xác hiện tượng cháy không ổn định hay tắtlửa buồng đốt rất quan trọng Bởi vì cách xử lý cả hai hiện tượng là hoàn toàn khác nhau:

Trang 8

- Nếu cháy không ổn định, cần phải đốt kèm dầu;

- Nếu tắt lửa buồng đốt, nếu đốt dầu sẽ gây nổ buồng đốt, chỉ có cách là cắt nhiênliệu

Khi một tổ máy kiểu khối bị tắt lửa, turbine và máy phát tự động dừng theo, chốnggiảm tải để phòng ngừa áp suất, nhiệt độ hơi giảm quá nhanh, ảnh hưởng đến áp suấtthiết bị và cũng để việc khôi phục vận hành bình thường dễ dàng

• Nổ buồng đốt (bùng cháy nhanh)

Nguyên nhân gây nổ buồng đốt:

Sự nổ buồng đốt lò hơi là hiện tượng khi các chất chưa cháy hết còn bám lại trongkhông gian buồng đốt, đạt đến một nồng độ nhất định và được mồi lửa, khiến cho áp suấtbuồng đốt dao động với biên độ rất cao, sự bùng cháy trở nên nghiêm trọng

Khi vận hành bình thường, nhiên liệu đưa vào buồng đốt lập tức được mồi lửa Tìnhhuống cụ thể như sau:

- Khi mất lửa, nếu có dầu hoặc bột than lọt vào buồng lửa, nếu không tiến hànhthông khói, khi mồi lửa sẽ gây nổ buồng đốt

- Nếu mồi lửa không thành công, trong buồng đốt và đường khói vẫn còn nhiềuhỗn hợp dễ cháy, nếu không tiến hành thông khói, khi mồi lửa lại sẽ gây nổ buồng đốt

- Khi khởi động lò từ trạng thái lạnh, nếu cho hệ thống cấp than bột làm việc quásớm, do nhiệt độ buồng đốt thấp, bột than không cháy hoàn toàn hoặc nhiệt độ dầu thấp,phun sương không tốt, các hạt dầu tích tụ trên dàn ống, phễu tro lạnh, trong một điều kiệnnhất định có thể gây nổ

- Một số vòi đốt tắt lửa hoặc tắt lửa buồng đốt, MFT chưa tác động nếu tiếp tụccấp nhiên lệu sẽ dẫn đến nổ

- Các nguyên nhân khác như là chất lượng than thay đổi, không điều chỉnh lại tỉ sốthan/không khí, hệ thống tự động khống chế hỏng, hệ thống bảo vệ không làm việc…đều

Trang 9

Các hiện tượng chủ yếu khi xảy ra sự cố vòi đốt là:

- Có cảnh báo về sự cố vòi đốt nhiệt độ cao

- Tín hiệu báo ngọn lửa của vòi đốt sự cố chập chờn, có khi báo không có lửa

- Gió cấp 1 của vòi đốt có sự cố sai lệch khác thường

- Bộ mồi lửa cũng bị cháy, không thể đưa vòi dầu vào làm việc

- Nhiệt độ vỏ vòi đốt bị sự cố tăng cao liên tục

Nguyên nhân gây sự cố vòi đốt có thể như sau:

- Điểm bắt cháy quá gần vòi đốt, thậm chí có thể xảy ra cháy trong vòi đốt.Nguyên nhân có thể là: tốc độ gió cấp 1 quá thấp, nhiệt độ gió máy nghiền cao; độ mịnthan cao, gió trung tâm nhỏ…

- Điều chỉnh gió cấp 2 không hợp lý

- Các vòi đốt không làm việc, gió trung tâm bị đóng lại do thao tác nhầm

- Tấm chắn đóng cắt trên gió cấp 1 không ổn định

- Áp suất dầu của vòi dầu thấp, nhiệt độ dầu thấp, phun xuống không tốt hoặc phốigió không hợp lý

- Bắt cháy trong hộp gió cấp 2

- Điều chỉnh van tiết lưu của các ống bột than của cùng một máy nghiền hoặc tấmchắn gió cấp 1 không hợp lý, gió cấp 1 không đều, gây tích tụ than bắt lửa cháy, làmhỏng vòi đốt

- Năng suất một máy nghiền quá cao, cường độ đốt của các vòi đốt tăng quá cao

Để tránh các sự cố vòi đốt, cần lưu ý các vấn đề sau:

- Người vận hành phải thành thạo, nắm được nhiệt độ làm việc bình thường củavòi đốt Trước khi cho vòi đốt làm việc, phải kiểm tra các nhiệt độ đó để xác đinh xemnhiệt độ có chính xác không

- Khi phát hiện nhiệt độ vòi đốt cao, cần phân tích toàn diện:

• Nếu là do vận hành máy nghiền gây ra thì cần tiến hành điều chỉnh máynghiền;

• Nếu do tác động của bột than (do giảm lượng gió cấp 1) phải dùng gió cấp

1 thông tắc, nếu không thể thông tắc, cần phải dừng máy nghiền tương ứng để xử lýchuyên môn;

• Nếu do điều chỉnh gió cấp 1, 2 không hợp lý, cần điều chỉnh lại, ví dụ nhưtăng gió cấp 1 hoặc gió cháy

- Nếu nhiệt độ miệng vòi đốt báo động nhiệt độ cao rất có thể do chất lượng thanthay đổi, gây đóng xỉ hoặc do áp suất buồng đốt cao Nếu do chất lượng thay đổi, cầntăng cường thổi bụi, khống chế nhiệt độ từng vùng đốt; nếu do áp suất buồng đốt cao, cầnchỉnh lại áp suất âm buồng đốt

Trang 10

- Nếu miệng vòi đốt bị đóng xỉ cần dừng vòi đốt đó, sau đó dùng khí nén hoặcbiện pháp thủ công để phá xỉ.

- Khi vận hành, cần tăng cường theo dõi độ sai lệch và độ lớn của gió cấp 1 daođộng mạnh để gây cháy bột than, tích tụ ở trong miệng vòi đốt, khi đó cần dừng máynghiền để thông gió làm mát

- Nếu nhiều vòi đốt đồng thời báo động, hiện trường xác nhận là cháy hộp gió cấp

• Hệ thống cấp nước lên lò bị trục trặc chỗ nào đó

• Hệ thống làm mát tuần hoàn lấy từ trạm bơm nước tuần hoàn không đủ làm độchân không không đảm bảo, hệ thống làm mát tuần hoàn kín, hệ thống dầu bôi trơn

• Sự cố trong hệ thống quạt gió

• Sự cố trong hệ thống điều khiển buồng đốt

• Sự cố trong hệ thống điều khiển mực nước; lưu lượng nước cấp; nhiệt độ và ápsuất hơi quá nhiệt

Thông thường, các nhà máy nhiệt điện được trang bị hệ thống tự động khá nhiều,

dù là cấp thấp hay cấp cao Chẳng hạn hệ thống điều khiển nước cấp vào lò Nó phải điềukhiển được mực nước của bao hơi, điều khiển được lưu lượng hơi cấp cho turbine để dựđoán nhu cầu phụ tải để phối hợp với hệ thống cung cấp nhiên liệu và quạt gió để phốihợp điều khiển Do đó người vận hành rất ít phải thao tác Tuy nhiên người vận hành cầnphải theo dõi chặt chẽ các thông số vận hành để phát hiện ra những sai sót trong vận hànhnhư: mực nước bao hơi giảm dần do van điều khiển nước cấp vào bị kẹt phần truyềnđộng hay phần thừa hành Cũng có khi ống tín hiệu lưu lượng hoặc áp suất của một thiết

bị đo nào đấy bị nghẽn, hệ thống đo bị sai gây nên điều khiển sai

• Nhiệt độ sàn quá cao hoặc quá thấp

• Kết khối sàn liệu

• Cháy lại trong đường khói

• Đầy nước bao hơi

• Cạn nước lò hơi

• Xử lí sự cố không rõ ràng của mức nước bao hơi

• Xử lí hỏng ống thủy bao hơi

• Hư hỏng dàn ống sinh hơi

Trang 11

• Hư hỏng bộ hâm nước

• Hư hỏng đường ống bộ quá nhiệt

• Đường ống hơi và đường ống nước cấp bị hỏng

• Phụ tải lò giảm nhanh

• Sự cố bộ làm mát tro

• Sự cố cháy silo tro

Trang 12

2 SỰ CỐ Ở TURBINE

2.1 Vận hành turbine ở chế độ bình thường

Nghĩa vụ của công nhân vận hành turbine là quan sát trạng thái làm việc của thiết

bị, duy trì đúng các thông số xác định chế độ làm việc của turbine, phát hiện kịp thời cácsai lệch của các thông số Kiểm tra kĩ khi nhận ca, phát hiện kịp thời các thay đổi nhỏ của

Trang 13

thiết bị như thay đổi tiếng động, xuất hiện rò hơi, chảy dầu, bộ điều chỉnh làm việc có đổikhác ? và dự đoán khả năng hư hỏng thiết bị có thể xảy ra…

Sự tăng nhiệt độ hơi lớn hơn định mức rất nguy hiểm cho kim loại bộ quá nhiệtcủa lò, đường ống hơi, van hơi, vỏ van stop và van điều chỉnh và cả phần đầu cao áp vàtrung áp turbine

2.2 Các chế độ làm việc sự cố của turbine

• Tăng tải đột ngột:

Biểu hiện:

Sự tăng tải turbine đột ngột thể hiện trước tiên là chỉ số ampe kế tăng, áp suất hơitrong tầng điều chỉnh và các cửa trích tăng, tăng tiêu hao hơi vào turbine như trường hợpcắt nhóm bình gia nhiệt

Nguyên nhân:

Sự tăng tải turbine đột ngột (nhảy vọt) có thể do tần số lưới điện giảm, hư hỏng ở

hệ thống điều chỉnh và phân phối hơi, thao tác vận hành cơ cấu điều khiển tự động cắtnhóm bình gia nhiệt cao áp nhầm

Biện pháp khắc phục:

Nếu tải vượt quá giá trị cho phép thì công nhân vận hành phải giảm tải về côngsuất định mức Khi không thể giảm công suất bằng bộ đồng bộ thì cần phải khép bớt vanhơi chính

Nếu trước khi đột ngột tăng tải, turbine đang mang tải khá lớn và sau khi tăng tảiđột ngột công suất vẫn nhỏ hơn định mức thì cần tìm nguyên nhân gây tăng tải Khi tăngtải là do giảm tần số hệ thống điện và sau đó tải ổn định đúng với các điều kiện thay đổicủa hệ thống thì không cần giảm tải turbine Cần theo dõi xem hệ thống tự động điềuchỉnh lò hơi và turbine có làm việc bình thường không, các thông số làm việc của các hệthống đó bằng các giá trị định mức

Sau mỗi trường hợp tăng tải cần kiểm tra turbine, theo dõi sự làm việc của các ổ

đỡ, độ di trục, độ giãn nở của roto và độ rung

• Giảm tải đột ngột: Ta phân biệt giảm tải một phần và giảm tải hoàn toàn:

- Khi giảm tải một phần, turbine sẽ giảm đột ngột tải đến một mức nào đó

- Khi giảm tải hoàn toàn, tất cả các van đều đóng và ngưng đưa hơi vào turbinehoặc máy phát bị cắt và turbine chạy không tải

Bất kì một sự giảm tải nào cũng dẫn đến sự giảm chỉ số của Watt kế, giảm áp suấthơi trong tầng điều chỉnh và các cửa trích, giảm lưu lượng hơi và nước cấp Ngoài ra cácvan điều chỉnh đóng và áp suất hơi mới tăng

Ngày đăng: 29/11/2015, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w