Mục tiêu nghiên cứu Thông qua việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, Luận án đề xuất một số gợi ý về
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Hà Văn Hội
2 PGS.TS Đỗ Đức Định
HÀ NỘI, 2015
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án 11
1.1.1 Những nghiên cứu về tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông 12
1.1.2 Những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông 16
1.1.3 Những nghiên cứu về chính sách của Việt Nam đối với việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông 30
1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 32
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA MỘT QUỐC GIA 36
2.1 Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu và các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa 36
2.1.1 Khái niệm xuất khẩu 36
2.1.2 Khái niệm về các nhân tố tác động đến xuất khẩu 36
2.2 Các lý thuyết liên quan đến xuất, nhập khẩu 37
2.2.1 Lý thuyết trọng thương 37
2.2.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Adam Smith 38
2.2.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 40
2.2.4 Lý thuyết Heckscher-Ohlin (H-O) 42
2.2.5 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M Porter 44
2.2.6 Lý thuyết lực hấp dẫn trong thương mại quốc tế 47
2.3 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia 49
2.3.1 Các nhân tố từ phía nước xuất khẩu 49
2.3.2 Các nhân tố từ phía nước nhập khẩu 58
2.3.3 Các nhân tố quốc tế 65
CHƯƠNG 3 XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG ĐÔNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU 69
Trang 43.1 Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông 69
3.1.1 Về quy mô và tốc độ xuất khẩu 69
3.1.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 75
3.1.3 Nhận xét chung 79
3.2 Phân tích các nhân tố tác động tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông 83
3.2.1 Các nhân tố từ phía Việt Nam 83
3.2.2 Các nhân tố thuộc Trung Đông 102
3.2.3 Các nhân tố quốc tế 117
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG ĐÔNG 124
4.1 Quan điểm, định hướng và triển vọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông 124
4.1.1 Quan điểm, định hướng của Nhà nước Việt Nam đối với xuất khẩu hàng hóa sang Trung Đông 124
4.1.2 Triển vọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông 126
4.2 Một số gợi ý đối với Nhà nước và doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông 129
4.2.1 Những gợi ý chính sách đối với Nhà nước 129
4.2.2 Đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam 143
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 163
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
PHỤ LỤC 177
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh kinh tế thế giới với xu thế mở rộng, quan hệ hợp tác kinh
tế giữa các quốc gia trên thế giới đang ngày càng gia tăng, Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước, tăng cường vị thế của Việt Nam trong khu vực và toàn cầu Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, quan hệ kinh tế, thương mại của Việt Nam với các nước càng được mở rộng, Việt Nam có nhiều cơ hội mở rộng thị trường quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Đối với Việt Nam, phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa là một trong những nội dung quan trọng trong đường lối phát triển, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, là công cụ quan trọng để Việt Nam hội nhập và nâng cao vị thế trên trường quốc tế Đây là mục tiêu chiến lược lâu dài của Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước Xuất khẩu luôn là động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới Mọi biến động của hoạt động xuất khẩu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và triển kinh tế Vì vậy, nâng cao chất lượng tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu là yêu cầu cấp bách đối với nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện Việt Nam mở rộng chiến lược xuất khẩu hàng hóa phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó việc đẩy mạnh xuất khẩu vào các khu vực thị trường mới là một giải pháp quan trọng
Từ Đại hội Đảng lần thứ VII tháng 7 năm 1991 đến nay, Đảng ta luôn xác định chủ trương: Một mặt cần phải từng bước nâng cao khả năng chiếm lĩnh đối với các thị trường truyền thống, thị trường đã có Mặt khác cần phải tìm cách thâm nhập vào các khu vực thị trường mới, thị trường tiềm năng, giảm sự tập trung quá mức vào thị trường truyền thống đã bão hòa Trong đó, Trung Đông được chính phủ Việt Nam đánh giá có tầm quan trọng, là thị
Trang 6trường mới tiềm năng của Việt Nam kể từ năm 2008 Tầm quan trọng này được thể hiện thông qua ˝Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008 – 2015˝ của chính phủ Việt Nam Trong những năm qua, nền kinh tế thế giới phải đối mặt với nhiều cú sốc làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế thế giới, đặc biệt cú sốc này đều bắt nguồn từ các nền kinh tế lớn phát triển như Mỹ, EU Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008 tại Mỹ và vấn đề khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2012 đã tác động tiêu cực cho nền kinh tế Mỹ và EU cũng như các quốc gia khác trên thế giới như: Các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất,
sa thải lao động, tỷ lê thất nghiệp gia tăng, qua đó tiêu dùng của các hộ gia đình phải thắt lưng buộc bụng, cắt giảm chi tiêu, tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã thu hẹp thị trường của các nước xuất khẩu sang Mỹ, EU, Nhật Bản trong đó có hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Hơn nữa, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường lớn truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản bị hạn chế bởi các rào cản kỹ thuật như quy định tiêu chuẩn chất lượng,
an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề chống bán phá giá, thuế quan, hạn ngạch và còn chịu cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm bớt sự tập trung quá mức vào các thị trường truyền thống đã bão hòa Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đánh giá thị trường Trung Đông có tầm quan trọng, là thị trường mới nhiều tiềm năng của Việt Nam do
có sự bổ sung về cơ cấu kinh tế Tầm quan trọng này được thể hiện thông qua
˝Chương trình hành động thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008 – 2015˝ của chính phủ Việt Nam Khu vực Trung Đông có vị trí địa lý chiến lược, nằm án ngữ trên con đường giao thương giữa Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, bao gồm 16 quốc gia: Arab Saudi, Baranh, Quata, UAE, Kuwait, Gioocđani, Iran, Iraq, Israel, Libăng, Oman, Palextin, Sip, Thổ Nhĩ
Kỳ, Xiri và Yêmen Đây là 16 nước được nêu trong đề án thúc đẩy quan hệ
Trang 7Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008 – 2015 theo quyết định số 8563/QĐ – BCT ngày 15/12/2008
Do đặc điểm cuả các nhân tố vị trí địa, nhân tố điều kiện tự nhiên - khí hậu, nhân tố dân số và sức mua của người tiêu dùng Trung Đông là khu vực
dự trữ lớn nguồn tài nguyền dầu lửa, có nguồn tài chính dồi dào, thu nhập bình quân đầu người thuộc hàng cao trên thế giới Tuy nhiên, Trung Đông là khu vực khô cằn, nguồn nước khan hiếm, khí hậu nóng khắc nghiệt, đất đai bị
sa mạc hóa nên không phát triển được sản xuất nông nghiệp nên Trung Đông
là thị trường có sức mua lớn và lâu dài về nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp Hơn nữa, với ngành công nghiệp chủ đạo là dầu lửa, các ngành công nghiệp phi dầu lửa không phát triển nên Trung Đông cũng phụ thuộc lớn vào nhập khẩu các sản phẩm phi dầu mỏ như các sản phẩm dệt may, giày dép, điện thoại di động, các sản phẩm điện tử, máy tính, xe máy, ôtô
Trong khi đó, với đặc điểm của các nhân tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - khí hậu, nhân tố nguồn nhân lực dồi dào nên Việt Nam có lợi thế sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, may mặc, giày dép, thủ công mỹ nghệ Thêm vào đó cùng sự phát triển của khoa học công nghệ trong nước với nguồn lao động trẻ dồi dào, đặc biệt là Việt Nam đang là điểm đến của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong sản xuất, lắp ráp các sản phẩm điện thoại di động, điện tử, máy vi tính, hàng dệt may, xe máy, ôtô Với nhân tố công nghệ và nhân tố lao động dồi dào đã giúp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm điện thoại di động, điện tử, máy vi tính, hàng dệt may, xe máy…ra thị trường nước ngoài Đây chính là những lợi thế mà hàng hóa của Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Trung Đông Tuy nhiên, để đảm bảo cho luồng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông tăng trưởng ổn dịnh và bền vững, việc nghiên cứu và nhận biết các nhân tố tác động đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này là hết sức cần thiết
Trang 8Đó chính là lý do của việc lựa chọn luận án tiến sĩ: “Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Đông: Nhân tố tác động và một
số gợi ý về chính sách”
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, Luận án
đề xuất một số gợi ý về chính sách đối với Việt Nam, góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này
Để đạt mục tiêu nêu trên, các vấn đề sau đây cần được giải đáp:
i) Tại sao Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông?
ii) Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong thời gian qua như thế nào?
iii) Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Đông chịu tác động bởi những nhân tố nào?
iv) Nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam cần có những giải pháp gì để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế sự tác động của các nhân tố cản trở để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông trong thời gian tới?
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để luận giải rõ ràng các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận án có nhiệm vụ:
Luận giải sự cần thiết của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Làm rõ các nhân tố bên trong, bên ngoài tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Trang 9Luận giải những tác động, ảnh hưởng của các nhân tố đó đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Đông
Đưa ra một số gợi ý về chính sách, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với Việt Nam nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố (bên trong, bên ngoài) ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số quốc gia có quan
hệ thương mại chủ yếu đối với Việt Nam ở thị trường Trung Đông
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Luận án không nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới xuất khẩu dịch
vụ mà tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa hữu hình của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Trang 10Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án
(Nguồn: Nghiên cứu sinh tự thiết kế) 1.4.2 Cách tiếp cận nghiên cứu
1.4.2.1 Cách tiếp cận hệ thống
Với phương pháp tiếp cận này luận án sẽ nghiên cứu: i) Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong mối quan hệ mật thiết với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới; ii) Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Đông phục vụ cho
Các nhân tố từ nước
xuất khẩu (Việt Nam)
Các nhân tố từ thị trường Trung Đông
Tác động tích cực (Thúc đẩy)
Tác động tiêu cực (Cản trở)
Các nhân tố từ Quốc tế
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Đông
Trang 11sự phát triển với các ngành kinh tế khác; iii) Chính sách phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong mối quan hệ với phát triển thị trường xuất khẩu sang khu vực Trung Đông; iv) Sự phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường mới gắn với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Phương pháp tiếp cận hệ thống này xuất phát từ những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: i) Một nền kinh tế hướng đến xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên trọng điểm trong hoạt động kinh tế đối ngoại; ii) Một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với mục tiêu trở thành nền kinh tế thị trường vào năm 2018 (theo các tiêu chí của WTO); iii) Một nền kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
1.4.2.2 Cách tiếp cận lịch sử
Luận án sẽ kết hợp phân tích lý luận và phân tích thực tiễn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Đông theo chiều dài lịch sử kể từ năm 2008 (Đây là năm thực hiện ˝Chương trình hành động thúc đẩy quan /hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông giai đoạn 2008 – 2015˝ của chính phủ Việt Nam)
Luận án sử dụng tiếp cận lịch sử lấy phân tích số liệu lịch sử qua các năm để so sánh đánh giá sự tăng giảm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Luận án sử dụng tiếp cận lịch sử để so sánh cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, Cán cân thương mại, đối tác thương mại của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu
Luận án sử dụng tiếp cận lịch sử để phân tích các chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam với thị trường Trung Đông theo chiều dài lịch sử qua các kỳ đại hội Đảng toàn quốc để so sánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về thị trường Trung Đông
Trang 121.4.3 Các phương pháp nghiên cứu định tính
Trong quá trình triển khai, Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định tính vì các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông có nhiều yếu tố như chính trị, tôn giáo, văn hóa, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên có tác động, ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông nhưng rất khó có thể định lượng được
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án là phương pháp kế thừa, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh
tư liệu nghiên cứu của các tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, Liên hiệp quốc…), Vụ Tây Á Phi - Bộ Ngoại giao, Vụ thị trường châu Phi – Tây Á – Nam Á - Bộ Công thương, của các viện nghiên cứu, các trường đại học và các cá nhân trong và ngoài nước để tìm hiểu định hướng của Đảng, chính sách của nhà nước về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Bên cạnh đó luận án cũng sử dụng các số liệu báo cáo
từ các công trình đã được công bố như sách tham khảo về Trung Đông, các tạp chí nghiên cứu về Trung Đông, tư liệu nghiên cứu của các tổ chức quốc tế, Tổng cục Hải quan, cơ quan ngoại giao, Bộ Công thương v.v…
Luận án cũng sẽ sử dụng các số liệu cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá của một số cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam có quan hệ làm ăn
Trang 13với các doanh nghiệp khu vực Trung Đông theo chương trình Luận án cấp nhà nước “Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020” được thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2013 của Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
1.4.3.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Luận án sử dụng phương pháp này để phân tích các vấn đề lý luận về
xuất khẩu như các lý thuyết thương mại quốc tế, khi tác giả của các Lý thuyết này đưa ra những quan điểm về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia Thông qua việc phân tích các luận điểm nêu trên, Luận án
sẽ có cơ sở để luận giải rõ ràng về những điểm còn hạn chế của một số lý thuyết thương mại quốc tế từ cổ điển đến hiện đại khi nêu ra những nhân tố tác động đến thương mại quốc tế của một quốc gia
Bên cạnh đó, Luận án sử dụng phương pháp phân tích như là một công
cụ để đánh giá các số liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông để thấy được động thái của chúng qua các năm Những số liệu được phân tích này như là những minh chứng cho việc đánh giá những tác động của những nhân tố đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
1.4.3.3 Phương pháp phân tích - so sánh
Luận án sử dụng phương pháp này để đối chiếu, tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong các nghiên cứu cơ sở lý luận về các lý thyết thương mại quốc tế liên quan đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia, các nghiên cứu về các nhân
tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông, thấy được tổng quan và sự đa dạng trong vấn đề nghiên cứu
Thông qua việc so sánh các số liệu, so sánh các câu trả lời phỏng vấn của các nhóm chuyên gia quá trình đánh giá sẽ sâu sắc hơn, nhìn nhận các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông đa chiều hơn So sánh các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam qua các thời
Trang 14kỳ về quan điểm hợp tác kinh tế với các quốc gia trên thế giới nói chung và hợp tác với các quốc gia Trung Đông nói riêng Trên cơ sở đó có những kiến nghị sát thực, hiệu quả cho việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
1.5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, Luận án xây dựng khung khổ phân tích và chỉ ra các nhóm
nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia
Thứ hai, thông qua việc phân tích thực trạng xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam sang thị trường Trung Đông, Luận án đã luận giải nguyên nhân dẫn đến quy mô và tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này còn nhỏ
Thứ ba, Luận án đã chỉ ra các nhân tố tác động tích cực cũng như tiêu
cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ tư, Luận án đưa ra những gợi ý về chính sách đối với Nhà nước
cũng như kiến nghị đối với các doanh nghiệp nhằm góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông trong thời gian tới
1.6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án được cấu trúc làm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
Chương 3: Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông và những nhân tố tác động chủ yếu
Chương 4: Một số gợi ý về chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án
Trung Đông là khu vực quan trọng có vị trí chiến lược và nhiều tiềm năng phát triển Trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tích cực đẩy mạnh quan
hệ kinh tế thương mại với các nước, tình hình nghiên cứu về quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới thời gian qua có nhiều dấu ấn khá đậm nét Các học giả đã đi sâu vào tìm hiểu nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quan hệ kinh tế - thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề Trung Đông trở thành chủ đề được rất nhiều tổ chức, cơ quan nghiên cứu quốc tế, các tờ báo lớn quan tâm Các tổ chức, cơ quan nghiên cứu quốc tế có quan tâm tới Trung Đông có thể kể ra bao gồm World Bank, IMF, Washington Institute for Near East Policy (Mỹ), the Middle East Institute – Colombia University (Mỹ), Istituto Italiano per l’Africa e l’Oriente (Viện NC Châu Phi và Trung Đông của Italia)…vv bên cạnh đó cũng có các tờ báo lớn thường xuyên có bài viết chuyên sâu về các vấn đề của Trung Đông như báo Foreign Affairs, Le Monde, Le Echos, Politique Internationale, The Hindu, Hebdo Al-Ahram (Ai Cập), Tạp chỉ “Tri thức Thế giới” (Trung Quốc) vv
Các vấn đề được nêu trong báo chí hoặc các công trình nghiên cứu rất
đa dạng Nhìn chung có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cơ sở lý luận thương mại quốc tế, những nghiên cứu về Trung Đông
và quan hệ Việt Nam – Trung Đông theo các vấn đề nổi bật đáng quan tâm liên quan đến hướng của Luận án bao gồm các vấn đề sau đây:
Trang 161.1.1 Những nghiên cứu về tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Khi nghiên cứu về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông,
tác giả Đỗ Đức Định - Nguyễn Thanh Hiền trong cuốn sách về “Châu Phi và Trung Đông năm 2008: Những vấn đề và sự kiện nổi bật”, Nhà Xuất bản
Khoa học Xã hội năm 2009 đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để phân tích về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2008 và dự báo cho những năm tiếp theo Theo phân tích của tác giả, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2008 tuy bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng cuối năm 2008 nhưng vẫn đạt kết quả khích lệ và duy trì đà tăng trưởng so với năm 2007, nhận định những năm tiếp theo xuất khảu của Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu [12] Còn tác giả Lê Quang Thắng và Kiều Thanh Nga đã phân tích hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2011 và năm
2012 trong cuốn sách “Một số sự kiện kinh tế - chính trị nổi bật của Châu Phi
và Trung Đông năm 2011, 2012”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Tác giả đã
sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp kế thừa để cung cấp thông tin tổng quan về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2011 và 2012
Số liệu phân tích từ công trình này cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông đã tăng và đạt tốc độ tăng trưởng cao so với năm 2009, 2010 và 2011 Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông cũng thay đổi thể hiện là nhóm các mặt hàng điện thoại di động, thiết bị điện tử, máy vi tính đã đạt tỷ trọng cao nhất trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường Trung Đông [44,33]
Cũng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Bùi Nhật Quang trong cuốn sách
“Một số vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của Trung Đông và xu hướng đến năm 2020”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội năm 2011 Tác giả đã sử dụng
Trang 17phương pháp phân tích - tổng hợp để đánh giá và nhận định về các tác động
về kinh tế, chính trị tới Việt Nam, những lĩnh vực kinh tế mà Việt Nam và các quốc gia Trung Đông có thể bổ sung cho nhau và có mong muốn hợp tác, nâng tầm trở thành lĩnh vực phát triển ưu tiên trong quan hệ giữa hai phía đến năm 2020 Một trong những lĩnh vực bổ sung cho nhau quan trọng nhất đó là lĩnh vực thương mại hàng hóa, theo đó tác giả đã phân tích tổng quan hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2008 luôn có
sự gia tăng về kim ngạch xuất khẩu, các đối tác xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam tại khu vực Trung Đông bao gồm: Arab Saudi, UAE, Israel, quata, Iran Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong giai đoạn này tập trung chủ yếu ở nhóm mặt hàng nông sản, may mặc, da giày, thủy sản v.v.Tốc độ tăng trưởng thương mại Việt Nam – Trung Đông qua các năm tương đối cao, trong một số trường hợp có thể đạt tới 30-40%/năm, tức là cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng thương mại trung bình Điều này chứng tỏ, Trung Đông là thị trường tiềm năng của Việt Nam Tuy nhiên thực trạng hợp tác thương mại nói chung và thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông vẫn còn rất khiêm tốn [37]
Khi bàn về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các quốc gia thuộc
Trung Đông, tác giả Bùi Nhật Quang trong cuốn sách“Thổ Nhĩ Kỳ và khả năng hợp tác của Việt Nam đến năm 2020” Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
(2013), đã đi vào làm rõ các vấn đề chính sau: (1)Thông tin tổng quan về Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, (2) Phân tích các vấn đề nổi bật của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn hiện nay gồm: Cải cách để gia nhập Liên minh châu Âu; Phát triển quan hệ đặc biệt với Hoa Kỳ; Vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực Trung Đông, (3) Phân tích, đánh giá các lợi thế quốc tế của Thổ Nhĩ Kỳ, lợi thế của Việt Nam và khả năng đẩy mạnh quan hệ hợp tác Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn đến năm 2020 với trọng tâm làm rõ: một là, Lợi thế quốc gia của Thổ
Trang 18Nhĩ Kỳ xem xét qua các khác biệt của mô hình phát triển và triển vọng phát triển dài hạn; hai là, Nhận định về khả năng hợp tác Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ đến năm 2020 Quan hệ Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá là còn nhiều triển vọng do hoạt động hợp tác được xây dựng trên nền tảng là quan hệ chính trị - ngoại giao tốt đẹp, có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm phát triển và hai nước đều có chính sách đối ngoại rộng mở Trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả đã nhân định Thổ Nhĩ Kỳ là một thị trường lớn và còn nhiều tiềm năng phát triển ở khu vực Trung Đông,
có nhu cầu nhập khẩu nhiều hàng hóa thuộc thế mạnh của Việt Nam và là đối tác quan trọng, là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam tại khu vực Trung Đông Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2008 trở lại đây là các mặt hàng về điện tử và điện thoại di động chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đó là mặt hàng cao su thiên nhiên,
đồ gỗ, giày dép, rau quả, thủy sản vv [36]
Còn tác giả Đỗ Đức Định - Từ Thanh Thủy trong bài viết “Quan hệ Việt Nam – Trung Đông”, được đăng trong Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung
Đông số 4(04) tháng 12/2005 đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phân tích – so sánh, phương pháp kế thừa để tổng hợp tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông từ năm 2000 đến năm
2005 bao gồm kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu [14]
Trong năm bài viết của tác giả Lê Quang Thắng được đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông về quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung
Đông như: bài viết “Quan hệ Việt Nam – Arập Xêút” số 07/2007, bài viết
“Quan hệ hợp tác Việt Nam – GCC”, số 9/2008, bài viết “ Bài viết quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông từ năm 2010 đến nay”, số 1/2014, bài viết
“Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”,
số 7/2014 và đề tài “Một số nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”, Đề tài cấp Viện Nghiên cứu Châu
Trang 19Phi và Trung Đông năm 2014 Trong các công trình trên, Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp kế thừa để tìm ra các nhân tố tác động trong quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế - thương mại, những tác động trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông và phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Qua đó, tác giả đã đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng hóa, các nhân tố tác động tích cực và tiêu cực và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các quốc gia và của khu vực Trung Đông [45,46,47,47,50]
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Đức Định có tên “ Trung Đông và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam“, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2013, đã khái quát về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2009 và năm 2010 đã gia
tăng mạnh, xuất khẩu năm 2010 tăng 44,7% so với năm 2009 Đây là hai năm đầu tiên kiểm nghiệm sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008 Điều này chứng tỏ khủng hoảng tài chính toàn cầu không ảnh hưởng đến xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, không những thế cuộc khủng hoảng tài chính còn làm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông gia tăng mạnh hơn Điều này cũng được lý giải
do từ cuối năm 2008 nền kinh tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường truyền thống tại EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc [13]
Công trình nghiên cứu “Xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và Trung Đông: Cơ hội lớn, thách thức nhiều“ của tác giả Lê Minh Phương
được đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 1 năm 2014
đã khái quát tổng quan về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông giai đoạn 2008 đến năm 2012 luôn có sự gia tăng về
Trang 20kim ngạch xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao, cũng như cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất khẩu Cơ cấu hàng hóa có sự thay đổi, xuất khẩu hàng hóa từ năm 2008 đến năm 2010 tập trung chủ yếu ở các nhóm hàng xuất khẩu nông sản, mặc may, giày dép v.v từ năm 2010 đến năm 2012, ngoài những mặt hàng xuất khẩu truyền thống nêu trên thì đã có sự góp với tỷ trọng xuất khẩu trong nhóm tỷ trọng cao nhất là nhóm mặt hàng điện thoại di động và linh kiện, nhóm mặt hàng điện tử, điện máy, nhóm mặt hàng máy tính và thiết bị công nghiệp Từ thực trạng xuất khẩu trên, tác giả đã phân tích những cơ hội
và thách thức đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [35]
1.1.2 Những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Khi nghiên cứu về những những nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong công trình nghiên cứu
“Châu Phi và Trung Đông năm 2008: Những vấn đề và sự kiện nổi bật”, Nhà
Xuất bản Khoa học Xã hội năm 2009 của tác giả Đỗ Đức Định - Nguyễn Thanh Hiền Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp về đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường của khu vực Trung Đông trong năm 2008 Đây là những nhân tố từ phía khu vực Trung Đông có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Từ đặc điểm kinh tế cho thấy Trung Đông là khu vực có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ, thu nhập chủ yếu của khu vực này là
từ việc xuất khẩu dầu mỏ, chiếm trên 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực Trung Đông ra thị trường thế giới Các ngành kinh tế phi dầu mỏ của khu vực này không phát triển, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 0,05%
cơ cấu kinh tế của khu vực Trung Đông Về phương diện chính trị, khu vực Trung Đông gồm có 16 quốc gia, các nước Trung Đông theo ba thể chế chính trị là chế độ Cộng hòa, chế độ quân chủ và chế độ quân chủ lập hiến Các
Trang 21quốc gia Hồi giáo Trung Đông tiếp tục chính sách Hồi giáo hóa bộ máy chính trị và hội giáo có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa xã hội của người dân Trung Đông Vì vậy những sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Trung Đông phải được kiểm định đạt tiêu chuẩn là các sản phẩm Hồi giáo Halal [12]
Tiếp tục phân tích các nhân tố của khu vực Trung Đông và nhân tố quốc
tế có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường này,
cuốn sách “Một số sự kiện kinh tế - chính trị nổi bật của Châu Phi và Trung Đông năm 2011, 2012”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội của tác giả Lê Quang
Thắng và Kiều Thanh Nga đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp kế thừa để cung cấp thông tin và dữ liệu cập nhật về tình hình kinh tế, chính trị của châu Phi và Trung Đông trong năm 2011 và năm 2012, góp phần tăng thêm sự hiểu biết của Việt Nam về hai khu vực này, cuốn sách này sẽ phác họa một bức tranh tổng thể về tình hình kinh tế, chính trị của châu Phi và Trung Đông trong năm 2011 và 2012 Công trình đã phác họa một số tác động làm ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa hai nước nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông nói riêng như tác động của tình hình bất ổn chính trị, tác động của khủng hoảng kinh tế đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tới khu vực Trung Đông [44,33]
Khi bàn về những nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, có một số cuốn sách điển hình nghiên cứu về đất nước, con người, điều kiện tự nhiên, chính trị, văn hóa, xã hội, tình hình phát triển kinh tế (thương mại, đầu tư ) của khu vực Trung Đông Đây cũng là vấn đề nóng được nhiều tác giả trên thế giới và Việt Nam quan tâm Cuốn
sách của tác giả Đỗ Đức Định (2008) về “Trung Đông – những vấn đề và xu hướng kinh tế - chính trị trong bối cảnh quốc tế mới”, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích- tổng hợp để phân tích về các vấn đề kinh tế, chính trị của Trung Đông trong năm 2008 và xu hướng
Trang 22kinh tế - chính trị trong bối cảnh quốc tế mới như vấn đề tài nguyên, xung đột
sắc tộc, vấn đề tôn giáo Nội dung cuốn sách cho thấy các nhân tố môi trường
chính trị, nhân tố thị trường, nhân tố tài nguyên khoáng sản của khu vực Trung Đông có tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [11] Cũng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Bùi Nhật
Quang trong cuốn sách “Một số vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của Trung Đông và xu hướng đến năm 2020”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội năm
2011 Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phân tích so sánh
để phân tích thực trạng phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của khu vực Trung Đông, từ đó rút ra những vấn đề nổi bật mà khu vực này đang phải giải quyết trong quá trình phát triển, hội nhập như: các vấn đề khai thác tài nguyên, khai thác dầu mỏ, đầu tư và sử dụng nguồn tài chính có được từ khai thác tài nguyên, các vấn đề về tôn giáo và tương quan ảnh hưởng của các tôn giáo đến đời sống kinh tế, chính trị trong khu vực, các quan hệ quốc tế của Trung Đông
và ảnh hưởng của các nước lớn tại khu vực này Trên cơ sở đó, đã phân tích, đánh giá và nhận định về các tác động tới Việt Nam, những lĩnh vực kinh tế
mà Việt Nam và các quốc gia Trung Đông có thể bổ sung cho nhau và có mong muốn hợp tác Các nhân tố đó bao gồm nhân tố quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Đông luôn phát triển tốt đẹp mở đường cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Đông, nhân tố điều kiện tự nhiên, khí hậu giữa Việt Nam và Trung Đông có sự khác biệt rõ rệt giúp Việt Nam có lợi thế xuất khẩu các mặt hàng nông sản vào thị trường này, ngoài ra Việt Nam có lợi thế nguồn lao động dồi dào với chi phí rẻ đã giúp cho Việt Nam trở thành công xưởng lắp ráp, gia công và sản xuất các sản phẩm điện thoại di động, thiết bị điện tử của các tập đoàn điện tử trên thế giới như Samsung, LG, SONY để xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, trong đó có thị trường Trung Đông [37]
Trang 23Tác giả Đỗ Đức Định (2012) trong cuốn sách “Châu Phi – Trung Đông: Những vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật”, Nhà xuất bản khoa học xã hội đã
tập trung đi sâu phân tích về những vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của các nước châu Phi – Trung Đông giai đoạn 2011-2020 với sáu vấn đề lớn đó là sự thay đổi về thể chế chính trị và kinh tế, vấn đề tôn giáo, vấn đề về sắc tộc, mối quan hệ với các nước lớn, nguồn tài nguyên dầu lửa và mối quan hệ hợp tác với Việt Nam Đây là các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông như nhân tố chính trị - tôn giáo của Trung Đông, nhân tố văn hóa, nhân tố quốc tế và nhân tố điều kiện tự nhiên nhằm phân tích và cung cấp những cứ liệu khoa học góp phần vào việc xây dựng và thực thi các chính sách hợp tác của Việt Nam với các nước châu Phi và Trung Đông [13]
Về nghiên cứu tổng quan khu vực Trung Đông, tác giả Đỗ Đức Hiệp
(2012) trong cuốn sách“Cẩm nang về Trung Đông”, Nhà xuất bản Từ Điển
Bách Khoa đã giới thiệu tổng quan về những đặc điểm tự nhiên, lịch sử hình thành, đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và về quan hệ của Việt Nam của 16 quốc gia Trung Đông bao gồm các nước cụ thể như Saudi Arabia, Baranh, Cata, UAE, Kuwait, Gioocđani, Iran, Iraq, Israel, Libăng, Oman, Palextin, Sip, Thổ Nhĩ Kỳ, Xiri và Yê men Đây là 16 nước được nêu trong đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông giai đoạn
2008 – 2015 mà Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã phê duyệt ngày ngày 12-2001 Cuốn sách này sẽ là tài liêụ tham khảo hữu ích cho luận án trong việc nghiên cứu những nhân tố văn hóa – xã hội, nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị của khu vực Trung Đông có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [18]
25-Còn tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng đã tìm hiểu văn hóa, xã hội và chính
trị Trung Đông theo góc nhìn về Hồi giáo trong cuốn sách “Một số vấn đề cơ bản về Hồi giáo ở Trung Đông: Văn hóa, xã hội và chính trị hồi giáo“, Nhà
Trang 24Xuất bản Khoa học Xã hội năm 2013 Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để phân tích một cách đầy đủ về văn hóa Hồi giáo Trung Đông, Luật Hồi giáo Sharia, Giáo phái trong Hồi giáo, xã hội Hồi giáo ở Trung Đông và các vấn đề về chính trị Hồi giáo ở Trung Đông Nghiên cứu
cơ bản về hồi giáo ở Trung Đông là cần thiết, vừa có tính cấp thiết trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài, nhằm nâng cao hiểu biết của Việt Nam về một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với an ninh và ổn định toàn cầu, nơi thu hút sự can dự của tất cả các cường quốc và có quan hệ ngày càng tăng với Việt Nam Nội dung của công trình phủ lên một không gian Trung Đông rộng lớn, được xác định dựa theo những tiêu chí đặc thù trong nghiên cứu về Hồi giáo ở khu vực này hiện nay Lấy tôn giáo học làm cơ sở phát triển, các nhà nghiên cứu đã bước đầu làm rõ một số kiến thức nền tảng về văn hóa, xã hội
và chính trị Hồi giáo ở Trung Đông, cung cấp một cái nhìn sâu sắc về bản chất của Hồi giáo cũng như sự chi phối của nó tới các thể chế chính trị xã hội Trung Đông vốn rất đa dạng và phức tạp, phân tích hiện trạng và dự báo xu hướng biến chuyển của vấn đề Hồi giáo tại đây trong thời gian tới Những kết quả trong công trình nghiên cứu này có thể giúp các nhà quản lý ban ngành liên quan của Việt Nam có thêm cách nhìn khoa học khi đề ra các chủ trương, biện pháp cụ thể vào công tác quản lý tôn giáo nói chung, Hồi giáo ở Việt Nam nói riêng trong một số hoạt động nghi lễ và lối sống của cộng đồng người Hồi giáo ở Việt Nam hiện nay Về nhân tố tác động, công trình cho một cách đầy đủ về nhân tố tôn giáo và nhân tố xã hội, nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [19]
Còn tác giả Hoàng Giang trong bài viết “Đạo hồi và sự ảnh hưởng đến Trung Đông trong giai đoạn hiện nay”, được đăng trong Tạp chí Nghiên cứu
Châu Phi và Trung Đông số 07(47) tháng 7/2009 đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp kế thừa để tiếp cận các giáo lý, tín ngưỡng
Trang 25Hồi giáo cũng như ảnh hưởng của Hồi giáo đối với Trung Đông Công trình
đã đề cập đến nhân tố môi trường chính trị, nhân tố pháp luật và nhân tố văn hóa là cơ sở khoa học để nghiên cứu sự ảnh hưởng Hồi giáo đến các mặt hàng nhập khẩu của thị trường Trung Đông [15] Tác giả Trần Thị Lan Hương đã
đề cập đến nhân tố văn hóa Hồi giáo tác động đến xuất khẩu hàng hóa của
Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong bài viết về “Sự khác biệt giữa lối sống Hồi giáo và lối sống phương Tây” được đăng trong tạp chí Nghiên cứu
Châu Phi và Trung Đông số tháng 8/2012 Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tư liệu, phân tích so sánh để phân tích những đặc điểm cơ bản của lối sống Hồi giáo và lối sống phương Tây và giải thích đặc điểm về sự khác biệt giữa lối sống Hồi giáo và lối lối phương Tây như cách thức chào hỏi và giao tiếp, về phong tục tập quán, về hành vi đạo đức, về phương thức kinh doanh Sau cùng tác giả phân tích sự cản trở của Đạo hồi trong quá trình phương Tây hóa lối sống của người Arab [23] Trong báo của World Bank về tình hình phát triển của Trung Đông và Bắc Phi năm 2003 trong lĩnh vực
thương mại, đầu tư, toàn cầu hoá trong tài liệu (2003), Trade, Investment and Development in the Middle East and North Africa: Engaging with the World
Báo cáo đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phân tích – so sánh để giải thích tại sao việc mở rộng thương mại và đầu tư là thực sự thiết yếu đối với khu vực Báo cáo cũng phân tích tại sao khu vực này tranh thủ được tiềm năng thương mại và đầu tư toàn cầu, những biện pháp thực hiện là gì, bao gồm cả việc cải thiện môi trường đầu tư nội địa và cải cách chính sách đối với các đối tác bên ngoài, về tình hình đầu tư tư nhân, tăng cường liên kết đầu tư, tiềm năng FDI, vai trò của môi trường đầu tư, FDI với sản xuất toàn cầu, môi trường đầu tư Xét về khía cạnh các nhân tố thuộc khu vực Trung Đông ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này, cho thấy với xu thế toàn cầu hóa bắt đầu từ năm 2000, các quốc gia khu vực Trung Đông đã tiến hành cải cách một số chính sách thương mại theo hướng giảm
Trang 26thiểu các hàng rào xuất nhập khẩu đặc biệt là hàng rào thuế quan, tạo môi
trường kinh doanh thương mại thuận lợi cho các đối tác nước ngoài Các hiệp
định thương mại khu vực và song phương được ký kết ngày càng nhiều đã giúp các nền kinh tế trong khu vực giảm bớt hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu [88] Còn báo cáo khác của World Bank
(2007) có tên “World Economic Forum on the Middle East, Dead Sea, 20/5/2007” đã sử dụng phương pháp phân tích- tổng hợp số liệu, phương
18-pháp phân tích – so sánh để nghiên cứu một cách tỷ mỷ về thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế của khu vực Trung Đông Công trình cũng đề cập đến nhân tố tài nguyên – khoáng sản, nhân tố vị trí địa lý để đề cao vai trò của nhóm các nước xuất khẩu dầu mỏ trong khu vực đối với nền kinh tế thế giới Với tiềm năng về dầu lửa, Trung Đông đang là tâm điểm của các nước lớn trên thế giới như: EU, Mỹ, Nhật và Trung Quốc Theo như dự đoán của các nhà phân tích, năm 2015 giá dầu thô có thể vượt quá 100 USD/thùng Đây là nguồn lợi lớn cho khu vực dầu lửa này Ngoài ra, công trình cũng đề cập đến những nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế của các nước Trung Đông khi mà nguồn dầu mỏ được dự đoán sẽ cạn kiệt trong gần một thập kỷ tới [89]
Trong vấn đề biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông,
Tác giả Nguyễn Hồng Quân trong bài viết “Biến động chính trị và xung đột
vũ trang tại Bắc Phi – Trung Đông: Một số suy nghĩ về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới”, được đăng trong Tạp
chí Châu Phi và Trung Đông số 10(86) tháng 10/2012 đã phân tích những đặc điểm chính về biến động chính trị ở Bắc Phi – Trung Đông, thứ hai tác giả đã trình bầy những hệ lụy ngắn và dài hạn của cuộc biến động này Tiếp theo đặt
ra một số vấn đề đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới Bài viết đã nêu rõ nhân tố bất ổn chính trị sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này [39] Còn tác giả Phạm Thanh Hà
– Trần Thị Thanh Tâm trong bài viết “Tác động của Mùa xuân Arab đối với
Trang 27khu vực Bắc Phi – Trung Đông”, số tháng 10/2013 và tác giả Nguyễn Thanh Hiền trong bài viết “Một số nhìn nhận và đánh giá về biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi – Trung Đông từ tháng 12 năm 2010 đến nay” số tháng
8/2013, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tư liệu để làm rõ những tác động của Mùa xuân Arab đối với khu vực Bắc Phi – Trung Đông trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
xã hội đối với nhiều quốc gia mà phong trào này đã đi qua Ngoài ra bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Hiền còn làm rõ về tính chất của cuộc biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi – Trung Đông; về quá trình diễn biến của một số quốc gia cụ thể trong cuộc biến động tại Bắc Phi – Trung Đông; Về nguyên nhân làm nên phong trào Mùa xuân Arab; Về hệ quả của biến trọng chính trị -
xã hội tại Bắc Phi – Trung Đông Nghiên cứu các nhân tố về an ninh chính trị của khu vực Trung Đông tác động đến xuất khẩu hàng của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [26,20]
Về vấn đề xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập của khu vực Trung Đông Đây là nhân tố thuộc thị trường Trung Đông ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này Cuốn sách của tác giả Hassan
Hakimian và Jeffrey B Nugent (2009) về “Trade Policy and Economic Integration in the Middle East and North Africa” đã sử dụng phương pháp
phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích – so sánh đề cập đến các nhân tố tài nguyên khoáng sản, nhân tố thị trường, nhân tố vị trí địa lý để tìm ra xu hướng trong quá khứ và triển vọng tương lai cho sự phát triển của MENA Ngoài ra, tác giả phân tích các mô hình hội nhập của các khối thương mại và chính sách khu vực, những bài học và kết quả trong hội nhập kinh tế của khu vực MENA [67] Còn tác giả John W.Fox, Nada Mourtada-Sabbah &
Mohammed al-Mutawa (2010) trong cuốn sách “Globalization and the Gulf”
đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích – so sánh để phân tích nhiều vấn đề tranh luận như: trong khu vực Arab vùng
Trang 28Vịnh, tính truyền thống bị toàn cầu hoá hay quá trình toàn cầu hoá sẽ bị truyền thống hoá? Toàn cầu hoá tác động đến các quốc gia Trung Đông như thế nào? Vai trò của các quốc gia Trung Đông nổi bật (như Arab Saudi chẳng hạn) đối với nền kinh tế thế giới trong thời đại toàn cầu hoá ra sao? Những vấn đề như vậy đã được nêu ra để phân tích, tìm câu trả lời và các kiến giải đã thể hiện quan điểm của một trường phái nghiên cứu của Mỹ, phần lớn các quan điểm trường phái nghiên cứu đều cho rằng toàn cầu hóa có tác động tích cực đến các quốc gia Trung Đông trong hợp tác kinh tế toàn cầu, giúp các
quốc gia Trung Đông đạt được những tiến bộ cơ bản trong việc thiết lập môi trường kinh doanh thương mại [79]
Trong cuốn sách“Thổ Nhĩ Kỳ và khả năng hợp tác của Việt Nam đến năm 2020” Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (2013) của tác giả Bùi Nhật
Quang đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phân tích so sánh để phân tích khả năng đẩy mạnh quan hệ hợp tác Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn đến năm 2020 Quan hệ Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá là còn nhiều triển vọng do hoạt động hợp tác được xây dựng trên nền tảng là quan hệ chính trị - ngoại giao tốt đẹp, có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm phát triển và hai nước đều có chính sách đối ngoại rộng mở Về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ gồm có: (1) Nhân
tố quan hệ chính trị- ngoại giao, Việt Nam có quan hệ chính trị tốt đẹp với Thổ Nhĩ Kỳ và hai quốc gia chưa bao giờ có bất kỳ trở ngại chính trị nào, (2) Nhân tố thị trường do Thổ Nhĩ Kỳ nằm trong 20 quốc gia có dân số đông nhất trên thế giới, (3) Nhân tố lao động do Việt Nam có lợi thế nguồn lao động giá
rẻ, cần cù, trong khi Thổ Nhĩ Kỳ đang có nhu cầu lao động lớn cho các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, đặc biệt là nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài để làm việc cho các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư ở nước thứ ba, (4) Nhân tố tài nguyên thiên nhiên là do Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều lợi thế bổ sung các hàng hóa nguyên liệu đầu vào
Trang 29cho ngành công nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ như: cao su, gỗ, dệt may (5) Nhân tố ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ đã giúp hai quốc gia tăng cường hơn nữa quan hệ thương mại và đầu tư [36] Còn tác giả Đỗ Đức Định
- Từ Thanh Thủy trong bài viết “Quan hệ Việt Nam – Trung Đông”, được
đăng trong Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 4(04) tháng 12/2005 đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phân tích – so sánh, phương pháp kế thừa để tổng hợp tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông từ năm 2000 đến năm 2005 bao gồm kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu công trình này đã đề cập đến nhân tố môi trường chính trị, nhân tố thị trường đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam cũng như những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với khu vực này Đây sẽ là tài liệu tham khảo trong việc đánh giá thực trạng của luận án [14] Trong năm bài viết của tác giả Lê Quang Thắng được đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông về quan hệ hợp tác
Việt Nam - Trung Đông như: bài viết “Quan hệ Việt Nam – Arập Xêút” số 07/2007, bài viết “Quan hệ hợp tác Việt Nam – GCC”, số 9/2008, bài viết “ Bài viết quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông từ năm 2010 đến nay”, số 1/2014, bài viết “Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”, số 7/2014 và đề tài “Một số nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”, Đề tài cấp Viện
Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông năm 2014 Trong các công trình nghiên cứu trên, Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp kế thừa để tìm ra các nhân tố tác động trong quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế - thương mại và thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Nhân tố chủ yếu tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông như nhân tố chính trị - ngoại giao, nhân tố công nghệ, nhân tố lao động, nhân
Trang 30tố cạnh tranh, nhân tố vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên, nhân tố văn hóa [45,46,47,48,50]
Tiếp theo trong công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Đức Định có tên
“Trung Đông và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam“, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2013, đã đề cập đến những nhân tố tác động có tác động
đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông gồm: (1) Nhân tố quan hệ chính trị- ngoại giao, Việt Nam có quan hệ chính trị tốt đẹp với các nước Trung Đông và chưa bao giờ có bất kỳ trở ngại chính trị nào, (2) Nhân tố thị trường do thị trường Trung Đông với dân đông và nhiều quốc gia
có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, thị trường tương đối dễ tính và phù hợp với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam (3) Nhân tố lao động do Việt Nam có lợi thế nguồn lao động giá rẻ, cần cù, trong khi nhiều quốc gia Trung Đông đang có nhu cầu lao động lớn cho các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, đặc biệt là nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài để làm việc cho các doanh nghiệp Trung Đông đầu tư ở nước thứ ba, (4) Nhân tố điều kiện tự nhiên là do Việt Nam điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi cho phát triển các sản phẩm nông nghiệp, trong khi nhiều quốc gia Trung Đông không có điều kiện phát triển các sản phẩm nông nghiệp Do đó các quốc gia Trung Đông phải lệ thuộc nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm từ nước ngoài, trong đó có Việt Nam [13]
Các nhân tố tác động trong mối quan hệ này được tiếp tục nêu ra trong
công trình nghiên cứu của tác giả Lê Minh Phương có tên“ Xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và Trung Đông: Cơ hội lớn, thách thức nhiều“ được
đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 1 năm 2014 đã phân tích những cơ hội và thách thức đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông có ảnh hưởng đến các nhân tố Thứ nhất những nhân tố có tác động tích cực gồm: 1) Nhân tố quan hệ chính trị - ngoại giao tốt đẹp giữa các nước Trung Đông nên tạo nền móng vững chắc và
Trang 31mở đường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông; 2) Nhân tố về thị trường đây là nhân tố có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông do nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia trong khu vực này đang gia tăng mạnh do cả thu nhập
và dân số tại khu vực này đang tăng lên, hơn nữa những mặt hàng nhập khẩu vào thị trường Trung Đông không đòi hỏi quá khắt khe về chất lượng và mẫu
mã sản phẩm so với các thị trường các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU; 3) Nhân tố điều kiện tự nhiên của khu vực Trung Đông do đất đai phần lớn là sa mạc nên các nền kinh tế thị trường Trung Đông bị hạn chế
về nông nghiệp Vì thế, Trung Đông có nhu cầu nhập khẩu lớn lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng Đây là nhân tố có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Những nhân tố có tác động tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông gồm: 1)Nhân tố vị trí địa lý giữa Việt Nam với các nước khu vực Trung Đông xa xôi nên vấn đề vận chuyển tương đối khó khăn Về đường biển, vận chuyển bằng đường biển tương đối dài (mất khoảng 40 ngày) Về đường không, hiện có ít đường bay trực tiếp giữa Việt Nam với các khu vực này, ảnh hưởng đến xuất khẩu, đặc biệt là hàng thủy sản và rau quả tươi sống 2) Nhân tố tình an ninh chính trị xã hội tại một số quốc gia Trung Đông đã tác động đến tâm lý e ngại trong các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam [35] Tác giả Trần Phan Hiếu có bài viết Xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Trung Đông – Bắc Phi được đăng trên tạp chí Nghiên cứu Châu Phi
và Trung Đông số 6 năm 2014 cho thấy Bắc Phi và Trung Đông là một thị trường đầy tiềm năng đối với mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam hiện nay Tại khu vực Trung Đông, với nhân tố thị trường thì cà phê là một xu hướng tiêu dùng mới của giới trẻ, kể cả người lao động nước ngoài đến khu vực này làm việc và người dân bản địa Với nhân tố điều kiện tự nhiên – khí hậu thì khu vực Trung Đông không có điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho việc
Trang 32trồng cà phê, vì vậy hầu hết cà phê tiêu dùng ở Trung Đông đều được nhập khẩu ở nước ngoài Đây là cơ hội thuận lợi cho cà phê Việt Nam thâm nhập vào thị trường Trung Đông Đây là các nhân tố tác động tích cực đến xuất
khẩu cà phê của Việt nam sang thị trường Trung Đông [44]
Khi nghiên cứu về các nhân tố quốc tế ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Tác giả Gerd Nonneman
trong cuốn sách (Analyzing Middle East Foreign Policies and the Relationship with Europe (2005), Routedge Press đã sử dụng phương pháp
phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích – so sánh để phân tích chính sách đối ngoại và quan hệ của Trung Đông với các nước Châu Âu Nghiên cứu này luận giải về mối quan hệ gắn bó phức tạp giữa Châu Âu với khu vực Trung Đông với nhiều vấn đề do lịch sử để lại mà cho tới nay vẫn chưa thể giải quyết được Từ thực trạng đó, chính sách đối ngoại của Trung Đông cũng phải được điều chỉnh để hài hoà lợi ích và thúc đẩy quan hệ của Trung Đông với Châu Âu, đặc biệt là với EU nhằm tranh thủ lợi ích có được trong quan hệ với một trọng tâm phát triển kinh tế, thương mại hàng đầu của thế giới Đây là kinh nghiệm quốc tế đối với Việt Nam trong phát triển quan hệ thương mại với thị trường Trung Đông [80] Còn tác giả Hannah Carter and Anoushiravan
Ehteshami trong cuốn sách “The Middle East’s relations with Asia and Russia” đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phân tích – so sánh để
đề cập đến các nhân tố tác động đến quan hệ giữa Trung Đông với châu Á và Nga như nhân tố để tìm hiểu sâu về địa lý chiến lược của Châu Á & tác động của nó tới mối quan hệ Trung Đông- Châu Á; Nga và Trung Đông; Trung Quốc - Trung Đông; Các mô hình của chủ nghĩa Hồi giáo hiện nay ở Trung Á; Sự tranh luận của đạo Hồi ở Trung Á thời hậu Xô Viết; Các mối quan hệ kinh tế giữa GCC-Nam Á- Đông Nam Á [64] Tác giả Lê Quang Thắng có bài
viết “Quan hệ hợp tác Arab Saudi – Trung Quốc”, số 6/2009; và “Quan hệ hợp tác Arab Saudi với EU” số 4/2008 được đăng trong Tạp chí Nghiên cứu
Trang 33Châu Phi và Trung Đông để phân tích về tiềm lực kinh tế, vai trò về dầu lửa của Arab Saudi và quan hệ hợp tác giữa Arab Saudi với EU, Trung Quốc Thực chất các đối tác này muốn thúc đẩy xuất khẩu sang Arab Saudi để khai thác có hiệu quả mỏ dầu lớn nhất thế giới này Quan hệ này xuất phát từ lợi ích của mỗi bên Kinh nghiệm của Trung Quốc và EU sẽ giúp Việt Nam có những bài học quý báu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Arab Saudi Tuy nhiên điều này cho thấy các cường quốc kinh tế đang tranh giành quyền hưởng và sự kiểm soát dầu mỏ và thị trường hàng hóa tại Trung Đông
Nó sẽ gây ra sức tranh cạnh mạnh mẽ về hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [52,53]
Về vấn đề vai trò của các quốc gia Trung Đông với thế giới, Nghiên cứu
về nhân tố chính trị, nhân tố văn hóa, nhân tố tài nguyên dầu lửa, bài của tác
giả Nguyễn Duy Lợi về “Vai trò của Trung Đông trong nền chính trị - kinh tế thế giới”, số 3(03) tháng 11/2005 đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp
để nghiên cứu về thực trạng chính trị của các nước Trung Đông và vai trò của Trung Đông trong chiến lược của Mỹ, EU, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc vv…Các nước lớn sẽ thu được lợi ích gì trong việc tăng cường ảnh hưởng đối với Trung Đông Về lợi ích kinh tế, bài nghiên cứu này cho thấy các nước tranh giành quyền ảnh hưởng và kiểm soát khu vực này nhằm mục đích kiểm soát giếng dầu khổng lồ lớn nhất thế giới sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các nước lớn Ngoài ra với dân số khoảng 300 triệu dân, với nguồn tài chính dồi dào thu được từ xuất khẩu dầu lửa, Trung Đông sẽ là thị trường đầy tiềm năng cho các nước lớn tranh giành quyền ảnh hưởng và kiểm soát khu vực này Đây sẽ là thị trường cạnh tranh đối với hàng hóa của Việt Nam khi xâm nhập thị trường này, đặc biệt là cạnh tranh từ Trung Quốc [31] Trong hai bài viết
của tác Lê Quang Thắng có tên“Vai trò của Arab Saudi trong nền kinh tế thế giới” số 3/2009; và “Thổ Nhĩ Kỳ trong vai trò dàn xếp an ninh – chính trị trong khu vực Trung Đông” số 10/2012 đăng trong Tạp chí nghiên cứu Châu
Trang 34Phi và Trung Đông, Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp kế thừa để tìm ra các nhân tố tác động trong quan hệ xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông như nhân tố môi trường chính trị, nhân tố luật pháp, nhân tố tài nguyên khoáng sản để phân tích về con người, đất nước, tiềm lực, vai trò về dầu lửa cũng như lịch sử quan hệ đối ngoại và quan hệ hợp tác quốc tế của 2 đối tác lớn khu vực Trung Đông là Arab Saudi và Thổ Nhĩ kỳ Qua đó cho thấy đây là hai quốc gia lớn về dân số,
có tiềm lực tài chính và có tầm ảnh hưởng rất lớn với khu vực Trung Đông và trên thế giới Đây cũng là hai đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khu vực Trung Đông [50,51]
1.1.3 Những nghiên cứu về chính sách của Việt Nam đối với việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Đông
Trong các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Quang Thắng có tên
“Quan hệ hợp tác Việt Nam – GCC” số 9/2008, bài viết “ Bài viết quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông từ năm 2010 đến nay”, số 1/2014 và bài viết
“Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”
số 7/2014 đã cho thấy sự phản ứng chính sách của Việt Nam về hợp tác với khu vực Trung Đông được thể hiện bằng việc chính phủ Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại với các nước Trung Đông như: Hiệp định thương mại Việt Nam - Côoét ký ngày 3 tháng 5 năm 1995, hiệp định thương mại Việt Nam - UAE ký tháng 10 năm 1999, hiệp định thương mại Việt Nam - Ôman
ký vào tháng 5 năm 2004, Hiệp định thương mại Việt Nam - Arập Xêút ký ngày ngày 25 tháng 5 năm 2006, Hiệp định thương mại Việt Nam - Thổ Nhĩ
Kỳ ký tháng 8/1997, Nghị định thư về hợp tác kinh tế và thương mại tháng 2/1998, Hiệp định thương mại Việt Nam – Israel ký vào năm 2004 , còn các quốc gia khác Việt Nam chưa ký được Hiệp định Thương mại Các hiệp định này là cơ sở pháp lý, xây dựng nền tảng ngày một vững chắc, mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông [45,47,48]
Trang 35Nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại với các nước khu vực Trung Đông, Chính phủ đã xác định năm 2008 là năm trong quan hệ hợp tác với các nước Trung Đông Ngày 15/12/2009, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 6583/QĐ-BCT về quyết định ban hành chương trình hành động thực hiện đề án thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông của chính phủ giai đoạn 2008-2015 Mục tiêu tổng quát của Quyết định này là thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại với thị trường Trung Đông, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh vào các nước trong khu vực có nhu cầu cao như hàng nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, hàng công nghiệp v.v Tận dụng ưu đãi mà nhiều quốc gia trong khu vực Trung Đông được hưởng từ Mỹ, EU hoặc các nước trong khu vực để tạo cầu nối mở rộng trao đổi thương mại với các quốc gia khác [102]
Ngày 4/5/2009, Thủ tướng chính số đã có Quyết định số 53-QĐ/TTg về tăng cường Thương vụ Việt Nam ở khu vực Trung Đông Theo quyết định Việt Nam đã thành lập thêm thương vụ tại các nước Israel, trụ sở thương vụ tại Tel Aviv; Thương vụ tài Arap Saudi, trụ sở tại thủ đô Riyadh trong năm
2010 Quyết định này nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác thương mại cũng như thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thị trường các nước Trung Đông [102]
Ngoài ra, Nhà nước và chính phủ Việt Nam đã tổ chức nhiều chương trình hội thảo về đánh giá triển vọng và thúc đẩy hợp tác với các doanh nghiệp tại thị trường Trung Đông Ví dụ như: Hội thảo “ Triển vọng kinh doanh và đầu tư với các đối tác Châu Phi – Trung Đông” ngày 25/6/2014 do Trung tâm Hỗ trợ Xuất khẩu – Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương
tổ chức; Ngày 5/11/2014, Diễn đàn hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các đối tác Trung Đông - Bắc Phi do Bộ Ngoại giao chủ trì tổ chức được đánh giá là
cơ hội quan trọng giúp lãnh đạo các bộ ngành, doanh nghiệp hai bên gặp gỡ, thảo luận, xác định phương hướng, lĩnh vực hợp tác kinh tế ưu tiên và đề ra
Trang 36các chủ trương, biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam
và các nước Trung Đông - Bắc Phi; Ngày 6/11/2014, Cục Xúc tiến thương mại – Bộ Công Thương) phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại Thái Bình (Sở Công Thương tỉnh Thái Bình) tổ chức Hội thảo “Triển vọng kinh doanh và đầu tư với khu vực thị trường Trung Đông” tại Thái Bình v v… Như vậy, khu vực Trung Đông là nơi hội tụ của nhiều vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu và xuất phát từ những lợi ích gián tiếp hoặc trực tiếp mà khu vực này trở thành đối tượng nghiên cứu của học giả từ rất nhiều quốc gia, nhất là từ các nước lớn và các nước có nhiều quan hệ lâu đời với Trung Đông Các công trình tìm hiểu khá toàn diện về mọi lĩnh vực tại Trung Đông: từ các luận cứ lý thuyết đến các nghiên cứu chuyên sâu về thương mại, đầu tư, hợp tác lao động, quan hệ quốc tế của Trung Đông…vv Đây đều là các nội dung rất quan trọng có thể đáp ứng tốt yêu cầu thông tin tham khảo để nghiên cứu
về Trung Đông tại Việt Nam, giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam tìm hiểu về khu vực này, gắn với bối cảnh và các điều kiện cụ thể trong nước và tìm ra các giải pháp thiết thực đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang khu vực Trung Đông
1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu một cách có hệ thống về một số nguyên lý thương mại quốc tế, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, thành tựu của thương mại Việt Nam, bài học kinh nghiệm từ thực tiễn và đề xuất những giải pháp về cơ chế, chính sách phát triển thương mại quốc tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, các công trình nghiên cứu nêu trên đã có những phương pháp
nghiên cứu để tìm hiểu khá toàn diện về mọi lĩnh vực tại Trung Đông: từ các luận cứ lý thuyết đến các nghiên cứu chuyên sâu về thương mại, đầu tư, hợp tác lao động, quan hệ quốc tế của Trung Đông…vv Từ đó tìm ra những tác
Trang 37động trong quan hệ thương mại giữa Trung Đông với thế giới Đây đều là các nội dung rất quan trọng có thể đáp ứng tốt yêu cầu thông tin tham khảo để nghiên cứu về Trung Đông tại Việt Nam, giúp luận án tìm hiểu về khu vực này, gắn với bối cảnh và các điều kiện cụ thể trong nước và tìm ra các giải pháp thiết thực đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang khu vực Trung Đông
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích được
một số cơ sở khoa học để để tìm ra các nhân tố tác động cho Việt Nam tận dụng lợi thế của mình để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông
Thứ tư, các công trình nghiên cứu trong nước đã chỉ ra một cách khái
quát các vấn đề kinh tế, chính trị cơ bản, những xu hướng phát triển chủ yếu, những khó khăn và thách thức của khu vực Trung Đông Đồng thời, các công trình này đã nhìn nhận một số ý kiến gợi mở về các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu mà Luận án đã tổng quan ở trên chưa
đề cập đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, do yêu cầu và mục đích khác nhau, nên mặc dù có rất nhiều
công trình nghiên cứu về Trung Đông, nhưng các công trình nghiên cứu nêu trên được tổng quan vẫn chưa đưa ra được cơ sở khoa học của các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ hai, những công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập đến những
nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ ba, những công trình nghiên cứu về Trung Đông mới chỉ dừng lại ở
việc đưa ra một bức tranh tổng thể về Trung Đông, chưa đi sâu nghiên cứu về các nhân tố tại thị trường Trung Đông ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Trang 38Thứ tư, hầu hết các công trình nghiên cứu về hợp tác kinh tế quốc tế hiện
nay mới chỉ nghiên cứu về các nhân tố ảnh hường đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường truyền thống như: EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ năm, các công trình mới chỉ phân tích về tính tất yếu của xuất khẩu
hàng hóa nói chung mà chưa lý giải được tính tất yếu của việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ sáu, các công trình nghiên cứu về Trung Đông và quan hệ Việt Nam
Trung Đông mới chỉ khái quát thực trạng quan hệ chính trị - kinh tế giữa Việt Nam và Trung Đông mà chưa nghiên cứu thực trạng xuất khẩu, chưa có sự so sánh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thế giới và nhập khẩu hàng hóa của Trung Đông từ thế giới
Thứ bảy, phần lớn các công trình tổng quan chỉ nêu thành tựu trong xuất
khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới nói chung, bài học kinh nghiệm và giải pháp cho thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế một cách chung nhất mà chưa phân tích được các thành tựu trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Thứ tám, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Trung Đông
mới chỉ phân tích thực trạng quan hệ và các giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Trung Đông mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống về thực trạng xuất khẩu hàng hóa và các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa cũng như chưa đề ra các giải pháp kích thích các nhân tố tích cực và hạn chế các nhân
tố tiêu cực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông
Nhìn chung các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu về những lĩnh
Trang 39vực như thương mại, đầu tư, an ninh, tôn giáo và cung cấp thông tin về khu vực Trung Đông chứ chưa có nghiên cứu chuyên sâu với phân tích thực sự thấu đáo và đầy đủ một cách có hệ thống cơ sở khoa học về các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, xác định yêu cầu và tiềm năng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Các công trình nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu cụ thể
về thực trạng xuất khẩu, các nhân tố tác động đến xuất khẩu, các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông để các nhà hoạch định chính sách cũng như các doanh ngiệp xuất khẩu của Việt Nam có những chiến lược phù hợp có hiệu quả, lường trước được những nhân
tố tác động tiêu cực để tránh những rủi ro khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông
Tất cả những phân tích trên đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và phân tích một cách có hệ thống nhằm chỉ rõ căn cứ khoa học của các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia, xác định các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, qua đó xác định những nhân tố tác động tích cực và tiêu cực với những dẫn chứng cụ thể về tác động của nhân tố đó đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, từ đó, gợi ý chính sách
để hạn chế những tác động tiêu cực và thúc đẩy hơn nữa những tác động tích cực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông một cách bền vững, góp phần tăng kim ngạch và tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 40CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA MỘT QUỐC GIA 2.1 Các khái niệm liên quan đến xuất khẩu và các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa
2.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu được đề cập đến cùng với khái niệm nhập khẩu là thành hai nhánh của hoạt động thương mại quốc tế Thêm nữa, thương mại quốc tế lại được định nghĩa là việc mua, bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia, từ đó, xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho nước ngoài,
và nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài
Như vậy xét về phạm vi thì khác với hoạt động mua bán diễn ra trên thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu vượt ra biên giới quốc gia và diễn ra phức tạp hơn nhiều bởi thị trường giờ đây vô cùng rộng lớn và khó kiểm soát, việc thanh toán phải tiến hành bằng ngoại tệ (đối với ít nhất một bên tham gia) và các hoạt động này phải tuân theo những tập quán và thông lệ quốc gia cũng như luật pháp của từng địa phương
Như vậy, xét đầy đủ hơn thì “hoạt động xuất khẩu nên được hiểu là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân” [28;36]
2.1.2 Khái niệm về các nhân tố tác động đến xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong nhiều lĩnh vực, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến hàng hoá sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình cho đến hàng hoá vô hình Hoạt động này diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế Những hoạt động xuất khẩu này luôn bị chi phối bởi các nhân