1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần Thuyết động học phân tử vật chất

140 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 915,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một bài thi nhiều câu hỏi thì hình thức thi trắc nghiệm và khách quan có thể bao quát hết nội dung của chương trình học, từ một đề thi gốc có thể tạo ra nhiều đề thi khác mà chất lượ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 KHOA VẬT LÝ 

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài :

GVHD : Thạc Sĩ Lương Hạnh Hoa SVTH : Đỗ Thành Nhân

TP.HCM, Tháng 5 - 2008

Trang 2

PHẦN I : MỞ ĐẦU

1/ Lý do chọn đề tài :

Trong quá trình dạy học, truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho người học là rất quan trọng Bên cạnh đó thì kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của người học tuy là khâu cuối cùng trong quá trình dạy học nhưng cũng đóng vai trò quan trọng không kém Vì có kiểm tra và đánh giá kết quả học tập thì người dạy mới nhận thấy được tính hiệu quả về công việc của mình trong quá trình dạy học Còn người học biết được mình cần phải bổ sung những kiến thức và kỹ năng nào trong chương trình học Từ đó mà người dạy mới phát huy hay là điều chỉnh lại phương pháp dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học hơn nữa, còn người học tự điều chỉnh lại phương pháp học để hoàn thiện thêm kiến thức và kỹ năng cho mình

Mặt khác để đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay đòi hỏi nhà trường và đội ngũ những người làm công tác giảng dạy phải có chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực và phải tiếp cận với các phương pháp giáo dục tiên tiến trên thế giới Muốn vậy nền giáo dục Việt Nam cần phải có sự đổi mới về mọi mặt, trong đó việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập là một trong những mũi nhọn của sự đổi mới

Trước đây, trong dạy học người ta thường dùng hình thức thi tự luận để kiểm tra và đánh giá, tuy nhiên hình thức thi này còn nhiều hạn chế như : người học có thể gian lận trong lúc làm bài, việc chấm điểm còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người chấm, bài kiểm tra không bao quát hết nội dung chương trình dẫn đến tình trạng học tủ Bên cạnh đó có một hình thức thi có thể khắc phục được những mặt hạn chế của hình thức thi tự luận đó là hình thức thi trắc nghiệm khách quan Với một bài thi nhiều câu hỏi thì hình thức thi trắc nghiệm và khách quan có thể bao quát hết nội dung của chương trình học, từ một đề thi gốc có thể tạo ra nhiều đề thi khác mà chất lượng mỗi đề vẫn thi như nhau, từ đó hạn chế được sự gian lận trong thi cử, thêm vào đó có thể chấm bài thi rất nhanh mà lại rất khách quan

Từ những ưu điểm của hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan cùng với xu hướng của giáo dục hiện nay thì hình thức thi trắc nghiệm khách quan đã và đang được áp dụng ở mọi cấp học Trong các kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng những năm gần đây Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo cũng đã sử dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan Các trường Đại Học trong cả nước, cũng như ở trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM và Khoa Vật Lý của em cũng đã áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan này

Nhận thấy được nhiều ưu điểm của hình thức thi trắc nghiệm khách quan, và với mong muốn được giúp cho các bạn sinh viên trong khoa Vật Lý có thêm tài liệu tham khảo về hình thức thi trắc nghiệm khách quan trong lĩnh vực Nhiệt

Học nên em đã quyết định chọn đề tài nghiên cưú là : Xây dựng hệ thống câu

hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Nhiệt Học phần “ Thuyết Động

Trang 3

Học Phân Tử Của Vật Chất ” cho sinh viên Khoa Vật Lý trường Đại Học

Sư Phạm TP.HCM

2/ Mục đích của đề tài :

- Nghiên cưú cách thức soạn thảo và sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Ứng dụng cách thức soạn thảo câu trắc nghiệm để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn phần : “ Thuyết động học phân tử của vật chất

3/ Nhiệm vụ của đề tài :

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hình thức đánh giá kết quả học tập bằng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Phân tích nội dung kiến thức của phần : “ Thuyết động học phân tử của vật chất ”

- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần : “ Thuyết động học phân tử của vật chất ”

- Thực nghiệm sư phạm cho sinh viên năm I Khoa Vật Lý

- Xử lý kết quả để đánh giá lại chất lượng câu hỏi trắc nghiệm từ đó sửa chữa và hoàn thiện lại hệ thống câu hỏi

4/ Đối tượng của đề tài :

Nghiên cứu việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bằng hình thức thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

5/ Phạm vi của đề tài :

- Nghiên cứu việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập phần : “ Thuyết động học phân tử của vật chất ” bằng hình thức thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với sinh viên năm I hệ chính quy và hệ cử nhân Khoa Vật Lý của trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

6/ Phương pháp nghiên cứu :

- Về mặt lý luận :

+ Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến hình thức kiểm tra và đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan

+ Tham khảo các tài liệu chuyên môn liên quan đến phần “ Thuyết động học phân tử của vật chất ”

+ Tham khảo các sách trắc nghiệm đã soạn sẵn của các tác giả

- Về mặt thực nghiệm :

Trang 4

+ Tổ chức thi trắc nghiệm với hệ thống câu trắc nghiệm đã soạn sẵn cho sinh viên năm I hệ chính quy và cử nhân Khoa Vật Lý của trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

+ Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê để đánh giá lại hệ thống câu hỏi trắc nghiệm

- Về phương tiện :

+ Tìm kiếm tài liệu thông qua sách giáo trình và mạng Internet

+ Các đề thi trắc nghiệm trước đây

+ Máy vi tính và phần mềm soạn đề trắc nghiệm

PHẦN II : NỘI DUNG

Trang 5

Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

I/ Tổng quan về đo lường và đánh giá kết quả học tập :

1/ Đo lường là gì ?

- Đo lường là quá trình thực hiện một lối mô tả để xác định mức độ của một đặc điểm hay một tiêu chí nào đó, và mức độ này được biểu diễn bằng một chỉ số của thang đo

- Đo lường thành quả học tập là lượng giá mức độ đạt được các mục tiêu cuối cùng hay tiêu chí trong một khoá học, một giai đoạn học

Chú ý : Trong bất kì sự đo lường nào cũng cần có thước đo, trong đo lường

thành quả học tập thì điểm số là số đo, tuy nhiên điểm số không phải là một thang đo vật lý với những tỉ lệ nhất định Một học sinh 9 điểm không phải là người có trình độ gấp 3 lần người có điểm 3, một người có điểm 0 không phải là người chẳng có chút kiến thức nào

2/ Đánh giá là gì ?

- Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để nâng cao chất lượng công việc

- Đánh giá là phương tiện để xác định các mục đích và mục tiêu của một công việc có đạt được hay không

- Đánh giá là quá trình thu thập, phân tích, và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục tiêu giảng dạy về phía học sinh

- Các loại đánh giá :

+ Đánh giá khởi sự : là lối đánh giá liên quan đến thành tích ban đầu, những kiến thức, kỹ năng nào mà học sinh đang có để bước vào nội dung giảng mới

+ Đánh giá hình thành : được dùng để theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong quá trình giảng dạy, nhằm giúp giáo viên điều chỉnh lại hoạt động dạy + Đánh giá chẩn đoán : liên quan đến sự khó khăn của học sinh trong quá trình học tập mặc dù giáo viên đã cố gắng sửa chữa bằng mọi cách, lúc này người giáo viên phải đánh giá chẩn đoán chi tiết hơn nữa nhằm phát hiện ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa

+ Đánh giá tổng kết : thường được thực hiện vào cuối thời kỳ giảng dạy một khoá học Đánh giá loại này nhằm xác định mức độ đạt được các mục tiêu giảng huấn của học sinh đến đâu, từ đó xem xét lại hiệu quả của việc giảng dạy

3/ Trắc nghiệm là gì ?

Trắc nghiệm là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối

Trang 6

với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hay là tuyển chọn những người có năng lực nhất vào một khoá học

a/ Các phương pháp trắc nghiệm :

- Quan sát :

+ Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức Chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống nào đó

+ Quan sát sư phạm : Sử dụng trong trường hợp cần ghi lại những nét độc đáo về tình cách, thái độ, hành vi, tình huống xảy ra trong dạy học

+ Phương pháp này thường không có tiêu chuẩn đồng nhất khi đánh giá, được sử dụng chủ yếu để đánh giá học nhỏ tuổi hoặc có hứng thú đặc biệt

+ Nhược điểm : kết quả đánh giá bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm

- Vấn đáp :

+ Là phương pháp kiểm tra đánh giá mức độ thu nhận kiến thức cũng như khả năng tư duy của học sinh thông qua việc đối thoại trực tiếp giữa giáo viên và người học

+ Có tác dụng tốt khi nêu lên các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng Chẳng hạn như nhà tuyển dụng cần xác định thái độ khi phỏng vấn

+ Nhược điểm : ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm, tốn nhiều thời gian và không thể kiểm tra một lúc hết tất cả nội dung

- Viết

Các loại trắc nghiệm

Quan sát Viết Vấn đáp

Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan

Điền khuyết

Tiểu luận

Giải đáp vấn đề đặt ra

Trang 7

+ Luận đề : đây là bài đo lường dưới dạng những câu hỏi bắt buộc người học trả lời theo dạng mở, người học phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra

+ Trắc nghiệm khách quan : là phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, mỗi câu hỏi nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho người học chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu

+ Ưu điểm của phương pháp viết là có thể kiểm tra nhiều người cùng một lúc và có thể đo lường được tư duy ở mức độ cao

b/ Lịch sử nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan :

- Phương pháp đo lường thành quả học tập bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đầu tiên được tiến hành vào thế kỉ XVII - XVIII tại Châu Âu Sang thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được chú ý nhiều hơn

- Năm 1904 nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã nghiên cứu một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Vì vậy trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford-Binet

- Vào đầu thế kỉ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên dùng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đo lường trình độ học sinh trong môn đại số và sau đó là một số môn khác

- Ở Việt Nam trắc nghiệm khách quan được sử dụng muộn hơn Năm 1960 đã có một số tác giả sử dụng trắc nghiệm khách quan trong ngành học tâm lý

- Năm 1969 tác giả Dương Thiệu Tống đã đưa một số môn trắc nghiệm khách quan vào giảng dạy tại lớp cao học ở trường đại học Sài Gòn

- Năm 1974 ở miền Nam đã thi tú tài bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan

- Tháng 7 năm 1996 phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được thí điểm trong kì thi tuyển sinh đại học tại trường Đại Học Đà Lạt và đã thành công

- Hiện nay hình thức thi trắc nghiệm đã được sử dụng rộng rãi tại các trường đại học cũng như phổ thông

4/ Các loại trắc nghiệm :

- Trắc nghiệm tâm lý và trắc nghiệm giáo dục :

+ Trắc nghiệm tâm lý là các trắc nghiệm dùng để đo phẩm chất và khả năng tâm lý của con người Chẳng hạn như : trắc nghiệm trí tuệ, trắc nghiệm nhân cách

+ Trắc nghiệm giáo dục là các trắc nghiệm liên quan đến đo lường các thành quả học tập các môn học của học sinh

Trang 8

- Trắc nghiệm chuẩn mực và trắc nghiệm tiêu chí :

+ Trắc nghiệm chuẩn mực là trắc nghiệm được soạn ra nhằm cung cấp một số đo lường thành tích mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên vị thế tương đối của một cá nhân so với một nhóm người nào đó đã được biết

+ Trắc nghiệm tiêu chí là trắc nghiệm được soạn ra nhằm cung cấp một số đo lường mức độ thành thạo mà người ta có thể giải thích được căn cứ trên một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập đã được xác định và được giới hạn

- Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo và trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá :

+ Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo : là loại trắc nghiệm thành tích được dùng để đo lường tri thức hoặc kỹ năng của học sinh trong một giai đoạn học tập về một môn học hay một lĩnh vực khoa học cụ thể nào đó Những bài trắc nghiệm này thường được giáo viên soạn thảo vào cuối học kỳ hay khóa học nào đó chứ không có sẵn

+ Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá là loại trắc nghiệm do các chuyên gia về trắc nghiệm soạn thảo, sau đó được đưa đi thử nghiệm và chỉnh sửa nhiều lần Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa được xem như là chuẩn mực, nên nó có tính tin cậy rất cao và được phân phối trên thị trường

Bảng so sánh

Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa Trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo

- Được soạn thảo dựa trên nội dung và

mục tiêu của một quốc gia, vùng rộng

- Có độ tin cậy cao

- Cung cấp các chuẩn mực cho nhiều

nhóm người khác nhau

- Được soạn thảo dựa trên nội dung và mục tiêu của một lớp học

- Đề cập đến một chủ đề hay một kỹ năng chuyên biệt nào đó

- Được soạn thảo bởi một giáo viên

- Dùng những câu trắc nghiệm chưa được kiểm chứng

- Có độ tin cậy không cao

- Thường được giới hạn trong lớp học hay một trường

5/ Cơ sở để đánh giá bài trắc nghiệm :

a/ Tính tin cậy :

- Là một khái niệm cho biết mức độ ổn định, tính vững chãi của các kết quả

đo được khi tiến hành đo vật thể đó nhiều lần

Ví dụ : Khi cân một gói đường, lần đầu tiên cân được 105 gam, lần hai cân

được 100gam, lần thứ ba cân được 95 gam , ta nói cái cân có tính tin cậy

- Một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả có tính cách vững chãi Có nghĩa là nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần, mỗi học sinh vẫn giữ được thứ hạng tương đối của mình trong nhóm

Trang 9

- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tin cậy :

+ Chọn mẫu các câu hỏi : một bài trắc nghiệm chỉ có khoảng mấy chục câu, trong khi đó có hàng ngàn câu hỏi trắc nghiệm có thể dùng để khảo sát kiến thức đó Do đó một điểm số duy nhất dựa trên một mẫu các câu trắc nghiệm không phải là hoàn toàn đáng tin cậy

+ Yếu tố may rủi trong việc chọn đáp án : nếu học sinh càng có nhiều câu phỏng đoán may rủi thì khi học sinh đó làm lại bài trắc nghiệm nhiều lần thì điểm số có thể khác nhau nhiều, dẫn đến bài trắc nghiệm không đáng tin cậy + Độ khó của bài trắc nghiệm : nếu bài trắc nghiệm có nhiều câu dễ thì điểm số tập trung vào đầu mút cao, hoặc là nếu bài trắc nghiệm toàn câu khó thì điểm số tập trung vào đầu mút thấp dẫn đến giáo viên không phân biệt được trình độ khác nhau của học sinh, do đó bài trắc nghiệm không còn đáng tin cậy

- Những điều cần làm để gia tăng tính tin cậy :

+ Hạn chế sử dụng câu trắc nghiệm hai lựa chọn

+ Viết những lời chỉ dẫn sao cho thật rõ ràng để học sinh khỏi nhầm lẫn + Chuẩn bị trước các bảng điểm, ghi rõ câu đúng

+ Nên tham khảo các đồng nghiệp về các câu trắc nghiệm trước khi cho kiểm tra

b/ Tính giá trị :

- Tính giá trị của một dụng cụ đo là một khái niệm chỉ ra rằng dụng cụ này có khả năng đo đúng được cái cần đo

Ví dụ : Khi cân gói đường 100 gam, nếu bỏ lên cân thấy 100gam thì cái cân

có tính giá trị, nếu cân nhiều lần thấy 80gam thì cái cân có tính tin cậy chứ không có tính giá trị

- Phân loại tính giá trị của các câu trắc nghiệm :

+ Giá trị đồng thời : nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với một tiêu chí khác đồng thời, đã có sẵn mà bài trắc nghiệm muốn đo lường + Giá trị tiên đoán : nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với một tiêu chí khác căn cứ vào khả năng ở thời điểm tương lai

+ Giá trị nội dung : là mức độ bao trùm được nội dung môn học, bài học + Giá trị khái niệm tạo lập : là giá trị liên quan đến các loại học tập được quy định trong các mục tiêu dạy và học như : mục tiêu biết, thông hiểu, phân tích

+ Giá trị thực nghiệm : là loại giá trị nói lên sự tương quan giữa các điểm số trắc nghiệm với một tiêu chí ( hay một loại đo lường nào khác) về khả năng mà bài trắc nghiệm muốn đo lường

+ Giá trị yếu tố : là sự tương quan giữa bài trắc nghiệm ấy với yếu tố chung cho cả một nhóm gồm nhiều bài trắc nghiệm

Chú ý : Một bài trắc nghiệm có thể có tính tin cậy mà không có tính giá trị

Nhưng một bài trắc nghiệm không có tính tin cậy thì chắc chắn không có tính giá trị

6/ So sánh về tự luận và trắc nghiệm khách quan

a/ Điểm giống nhau :

Trang 10

- Đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng phương pháp viết có thể khảo sát được

- Đều có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh học tập nhằm đạt đến các mục tiêu : hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề

- Đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan

- Gía trị của cả hai loại trắc nghiệm và luận đề tuỳ thuộc vào tính khách quan và tính tin cậy của chúng

b/ Điểm khác nhau

- Đòi hỏi người học phải tự soạn câu

trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ

của chính mình

- Ít câu hỏi, nhưng câu hỏi mang tính

chất tổng quát với câu trả lời dài dòng

- Người làm bài phải tốn nhiều thời

gian để suy nghĩ và viết

- Chất lượng của bài luận đề phụ thuộc

vào kỹ năng của người chấm bài

- Dễ soạn đề tự luận nhưng khó chấm

bài, khó cho điểm chính xác

- Người làm bài có nhiều bộc bạch cá

tính của mình trong câu trả lời, người

chấm bài có thể tự do cho điểm theo

xu hướng của mình

- Các mục tiêu trong học tập không thể

hiện được rõ ràng

- Cho phép và đôi khi khuyến khích sự

“lừa phỉnh” Vì người học có thể dùng

các từ ngữ hoa mỹ, các phát biểu khó

xác định được

- Sự phân bố điểm số của một bài thi

luận đề có thể được kiểm soát một

phần lớn do người chấm

- Bắt buộc người học phải lựa đáp án đúng nhất trong một số câu có sẵn

- Gồm nhiều câu hỏi mang tính chất chuyên biệt với câu trả lời ngắn

- Người làm bài phải tốn nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ

- Chất lượng của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng của người soạn đề

- Khó soạn đề trắc nghiệm nhưng dễ chấm bài, dễ cho điểm số chính xác hơn

- Người soạn đề được tự do bộc lộ kiến thức và kỹ năng của mình qua việc đặt các câu hỏi, người làm bài thì không được tự do trả lời theo ý kiến riêng của mình

- Các mục tiêu trong học tập được người giáo viên thẩm định rõ ràng hơn

- Cho phép và đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán Vì nguời học có thể chọn một đáp án bất kỳ mà không biết chắc là đúng hay sai

- Sự phân bố điểm số của bài trắc nghiệm phần lớn hoàn toàn phụ thuộc vào bài trắc nghiệm đó

c/ Sử dụng luận đề trong những trường hợp sau :

- Khi nhóm học sinh dự thi hay kiểm tra không quá đông, và đề thi chỉ được sử dụng một lần, không dùng lại nữa

- Khi giáo viên cố gắng để khuyến khích và khen thưởng sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết của học sinh

Trang 11

- Khi giáo viên muốn tìm hiểu thêm về quá trình tư duy và diễn biến tư tưởng của học sinh về một vấn đề nào đó ngoài việc khảo sát kết quả học tập

- Khi giáo viên tin tưởng vào khả năng phê phán và chấm bài luận đề một cách vô tư và chính xác

- Khi không có nhiều thời gian soạn thảo bài kiểm tra nhưng lại có thời gian để chấm bài

d/ Sử dụng trắc nghiệm khách quan trong những trường hợp sau :

- Khi ta cần khảo sát kết quả học tập của một số đông học sinh, hay muốn sử dụng lại bài khảo sát ấy vào một lúc khác

- Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc phần lớn vào chủ quan của người chấm bài

- Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác được coi là những yếu tố quan trọng nhất của việc thi cử

- Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa chọn và cấu trúc lại một bài trắc nghiệm mới

- Khi ta muốn chấm nhanh và công bố kết quả sớm

- Khi ta muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt, và gian lận trong thi cử của học sinh

II/ Trắc nghiệm khách quan :

1/ Ưu điểm :

- Với nội dung bài trắc nghiệm khoảng 40-60 câu, và mỗi câu lại có nhiều

phương án lựa chọn do đó bài trắc nghiệm có thể kiểm tra được nhiều nội

dung của môn học

- Với đáp án của mỗi bài trắc nghiệm đã có sẵn, hoặc là đúng hoặc là sai do

đó điểm số của bài trắc nghiệm không phụ thuộc vào sự chủ quan của người

chấm bài

- Nội dung kiến thức trong bài kiểm tra trắc nghiệm tương đối rộng do đó

người học khó có thể học tủ

- Mỗi câu hỏi có nhiều lựa chọn, và có thể tạo ra nhiều đề thi bằng cách tráo

câu hỏi do đó người học khó có thể gian lận trong thi cử

- Có thể kiểm tra nhiều người mà thời gian chấm bài lại nhanh chóng

- Ít tốn công chấm bài

2/ Nhược điểm :

- Tốn nhiều công sức để soạn đề trắc nghiệm

- Không đánh giá được khả năng diễn đạt, khả năng tư duy

- Học sinh dễ đoán mò

III/ Các hình thức câu trắc nghiệm khách quan

Các câu trắc nghiệm khách quan có thể được đặt ra dưới nhiều hình thức khác nhau Hình thức nào cũng có những ưu khuyết điểm riêng, người soạn câu trắc nghiệm phải nắm rõ công dụng, cũng như ưu khuyết điểm của từng loại để soạn được bài trắc nghiệm theo mục đích sử dụng của mình Dưới đây là các hình thức câu trắc nghiệm thông dụng

1/ Loại câu trắc nghiệm Đúng - Sai :

Trang 12

- Loại câu trắc nghiệm này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và yêu cầu người làm bài phải chọn Đúng hoặc Sai

Ví dụ : Theo quan điểm vi mô, nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cho mức độ nóng hay lạnh của vật

b/ Khuyết điểm :

+ Loại câu trắc nghiệm này chỉ có 2 phương án trả lời nên có độ may rủi là 50 phần trăm, độ may rủi cao như vậy dễ khuyến khích người làm bài đoán mò

+ Các câu trắc nghiệm loại này được cho là tầm thường vì người soạn đề thường lấy sẵn những câu có trong sách

+ Loại câu trắc nghiệm này thường được trích sẵn trong sách nên người làm bài trắc nghiệm chỉ cần học vẹt Như vậy là chưa đánh giá được khả năng hiểu thấu đáo của người học

+ Những câu phát biểu loại này nếu dùng lời văn không chính xác, hay là thiếu thông tin sẽ gây khó khăn cho người làm trắc nghiệm

+ Câu phát biểu loại này thường không có câu phát biểu khác để so sánh,

do đó nó có thể đúng trong trường hợp này nhưng sai trong trường hợp khác

c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :

+ Những câu phát biểu loại này phải dựa trên những kiến thức căn bản, và phải chắc chắn là kiến thức đó là đúng hay sai Không được dựa trên cảm tính đúng hay sai của người soạn câu trắc nghiệm

+ Chọn câu phát biểu nào mà một người có khả năng trung bình không thể nhận ra ngay là đúng hay sai, mà phải có chút suy nghĩ mới có thể nhận ra + Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn đạt một ý, tránh dùng những câu phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết

+ Không nên chép nguyên văn những câu trích từ sách, như vậy dễ khuyến khích người học thuộc bài một cách máy móc

+ Tránh dùng những từ như “tất cả”, “không bao giờ”, “không thể nào”,

“luôn luôn” những từ này thường diễn đạt một phát biểu sai Cũng như tránh những từ “thường thường”, “đôi khi”, “ có khi” những từ này thường diễn đạt một phát biểu đúng

2/ Loại câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi

- Câu trắc nghiệm loại này cũng là một dạng đặc biệt của hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn Loại câu trắc nghiệm này gồm 3 phần :

+ Phần chỉ dẫn cách trả lời

Trang 13

+ Phần gốc ( cột 1 ) : gồm những từ, cụm từ, câu phát biểu cần được làm rõ hơn

+ Phần lựa chọn ( cột 2 ) : gồm những cụm từ, câu để diễn đạt phù hợp nhất với phần gốc

- Chẳng hạn bên trái ( cột 1) là các đại lượng vật lý, bên phải ( cột 2 ) là các định nghĩa tương ứng với các đại lượng đó

Ví dụ : Hãy tìm ra các khái niệm ở cột bên phải tương ứng với các đại

lượng ở cột bên trái

1 Áp suất cơ học A Là đại lượng vật lý đặc trưng cho mức độ

2 Áp suất nội tại chuyển động nhanh hay chậm của phân tử

3 Áp suất phụ B Là dạng áp suất được gây ra bởi mặt khum

4 Áp suất thuỷ tĩnh của chất lỏng trong ống mao dẫn

C Là đại lượng vật lý đặc trưng cho lực tác

dụng của các phân tử khí lên 1 đơn vị diện

tích của bình chứa

D Là đại lượng vật lý đặc trưng cho độ lớn

của lực tác dụng vuông góc lên 1 đơn vị diện

tích

E Là dạng áp suất của chất lỏng có độ sâu

nào đó so với mặt thoáng

F Là dạng áp suất được gây ra bởi sự tương

tác giữa các phân tử khí thực

a/ Ưu điểm :

+ Có độ may rủi rất thấp, người làm bài khó có thể đoán mò được

+ Có thể hỏi người làm bài được nhiều vấn đề trong một câu hỏi, đòi hỏi người làm phải có so sánh, phân tích trước khi chọn đáp án

+ Nếu soạn đúng quy cách, kết quả bài trắc nghiệm có tính tin cậy và tính giá trị cao

+ Loại câu hỏi này dễ soạn, dễ dùng và phù hợp tâm lý học sinh

+ Có hiệu quả trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, hay lập các mối tương quan

b/ Nhược điểm :

+ Không hiệu quả cho việc kiểm tra đánh giá khả năng sắp đặt và vận dụng của học sinh

+ Học sinh tốn nhiều thời gian để đọc

+ Đòi hỏi thời gian nhiều để soạn câu trắc nghiệm loại này

+ Tốn nhiều thời gian chấm điểm cho câu trắc nghiệm loại này hơn

c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :

+ Phải đặt số lựa chọn ở cột 2 nhiều hơn số câu hỏi ở phần gốc Vì khi người làm bài trả lời được gần hết đáp án chỉ còn một hai câu thì họ có thể họ đoán đúng được câu còn lại

+ Không nên soạn các lựa chọn cũng như các từ gợi ý ở cả 2 cột quá dài dòng, làm cho người làm bài mất nhiều thời gian

Trang 14

3/ Loại câu điền khuyết

- Là những câu phát biểu, mệnh đề, định nghĩa còn chừa lại chỗ trống để người làm bài có thể điền vào Loại câu này có 2 dạng là :

+ Gồm những câu hỏi với lời giải đáp ngắn

Ví dụ : Theo quan điểm vi mô đại lượng vật lý đặc trưng cho mức độ

chuyển động nhanh hay chậm của phân tử là

+ Gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống mà người làm bài phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn

Ví dụ : Trong quá trình đẳng nhiệt của một lượng khí thì

của lượng khí tỉ lệ nghịch với của lượng khí đó

a/ Ưu điểm :

+ Câu trả lời rất ngắn do đó tiêu chuẩn đúng sai rất rõ rệt

+ Khi không tìm được số mồi nhử cần thiết cho câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn thì có thể dùng loại câu này Do đó rất dễ để soạn câu trắc nghiệm điền khuyết

+ Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng kiến

+ Học sinh không có cơ hội đoán mò

b/ Khuyết điểm :

+ Việc chấm điểm loại câu này thường khó khăn và tốn nhiều thời gian + Nhiều khi người soạn đề không lường trước hết những đáp án đúng có thể điền vào chỗ trống Người làm bài có thể trả lời nhiều cách khác nhau nhưng vẫn hợp lý

c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :

+ Nên soạn thảo các phần để trống sao cho những từ điền vào là duy nhất đúng, không thể thay thế bằng các từ khác

4/ Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

- Loại câu trắc nghiệm này gồm có 2 phần : phần gốc và phần lựa chọn Phần gốc là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn tất Phần lựa chọn gồm một số câu trả lời hay câu bổ sung ý còn thiếu của phần gốc

- Phần gốc phải đưa ra ý muốn hỏi một cách rõ ràng, tránh dùng từ ngữ dài dòng khiến người làm bài không biết chọn đáp án nào cho phù hợp

- Phần lựa chọn gồm 4 hoặc 5 câu trả lời, trong đó có 1 câu là đúng nhất, các câu còn lại làm mồi nhử cũng phải hấp dẫn, để những người chưa học bài hay học chưa kỹ khó phát hiện được phương án đúng

Ví dụ : Một lượng khí giãn đẳng nhiệt thì số phân tử khí trong một đơn vị

thể tích của lượng khí đó sẽ :

A giảm tỉ lệ nghịch với áp suất

B giảm tỉ lệ thuận với áp suất

C tăng tỉ lệ nghịch với áp suất

D tăng tỉ lệ thuận với áp suất

 Ở câu trắc nghiệm này, người học phải biết được quá trình đẳng nhiệt thì áp suất chất khí tỉ lệ nghịch với thể tích, trong quá trình giãn nở thì thể tích chất

Trang 15

khí tăng dẫn đến áp suất giảm, nhưng thể tích tăng thì cũng dẫn đến mật độ phân tử giảm do đó mật độ phân tử sẽ giảm tỉ lệ thuận với áp suất, do đó nếu người học không học bài hoặc học bài không kỹ thì cũng khó biết được lựa chọn nào là đúng

a/ Ưu điểm :

- Câu hỏi trắc nghiệm loại này có nhiều hình thức lựa chọn hơn : phần gốc có thể là câu hỏi, câu bỏ lửng, một đồ thị, tuỳ theo mục tiêu đặt ra mà người soạn trắc nghiệm có thể chọn cho phù hợp

- Độ may rủi thấp hơn (25% đối với câu 4 lựa chọn,20% đối với câu 5 lựa chọn)

- Nếu soạn đúng quy cách, kết quả bài trắc nghiệm có tính tin cậy và tính giá trị cao

- Có thể khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, chấm điểm nhanh, kết quả chính xác

- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra- đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như :

+ Xác định mối tương quan nhân quả

+ Nhận biết các điều sai lầm

+ Ghép các kết quả hoặc các điều quan sát được với nhau

+ Định nghĩa các khái niệm

+ Tìm nguyên nhân của các sự kiện

+ Nhận biết điểm tương đồng giữa hay khác biệt giữa nhiều vật

+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện

+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật

+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

c/ Yêu cầu khi soạn câu trắc nghiệm loại này :

+ Câu hỏi hay câu bỏ lửng của phần gốc có ý nghĩa rõ ràng, sáng nghĩa + Phần dẫn phải mang ý nghĩa trọn vẹn, phần trả lời phải ngắn gọn

+ Nên có 4 hay 5 lựa chọn cho mỗi câu hỏi

+ Tránh dùng hai từ “không” liên tiếp trong một câu hỏi

+ Tránh dùng câu dẫn dắt mang tính phủ định, nếu dùng thì phải chú ý

gạch dưới hoặc tô đậm từ “ không”

+ Không nên dùng các câu hỏi không thể xảy ra trong thực tế

+ Phải đảm bảo sao cho câu trả lời đúng là câu rõ ràng vàø đúng nhất + Phải đảm bảo các câu dẫn và các câu trả lời là đúng cấu trúc ngữ pháp + Soạn các câu mồi nhử cũng phải hấp dẫn như đáp án đúng

+ Không nên dùng loại câu trả lời “ Không một câu nào đúng cả”

+ Soạn các phương án trả lời có độ dài và văn phong giống nhau

Trang 16

+ Không nên dùng mồi nhử để gài bẫy học sinh, mục đích của mồi nhử là phân loại học sinh

+ Có bốn bước phải làm khi soạn mồi nhử :

 B1: Ra các câu hỏi mở về nội dung dự định trắc nghiệm để học sinh tự viết câu trả lời

 B2: Thu các bản trả lời của học sinh, loại bỏ câu trả lời đúng, giữ lại câu trả lời sai

 B3: Thống kê phân loại các câu trả lời sai và ghi lại tần số xuất hiện từng loại câu sai

 B4: Ưu tiên chọn những câu sai làm mồi nhử

IV/ Quy trình soạn thảo một bài trắc nghiệm

Thông thường khi soạn thảo một bài trắc nghiệm thì người soạn trắc nghiệm phải biết mình muốn kiểm tra nội dung nào của môn học ? Mục tiêu của bài trắc nghiệm là gì? Cần phải khảo sát những gì ở học sinh ? Phần quan trọng của môn học cần khảo sát là phần nào ? Số câu hỏi cần khảo sát ? Hay là phải soạn câu trắc nghiệm dưới hình thức nào là phù hợp ? Do đó việc soạn thảo câu trắc nghiệm không thể là việc tuỳ tiện được Người soạn thảo cần phải làm theo quy trình hợp lý, nếu không thì kết quả bài trắc nghiệm sẽ không đo lường được cái mà người soạn thảo muốn, bài trắc nghiệm sẽ không có tính tin cậy và giá trị Dưới đây là một số vấn đề mà người soạn thảo trắc nghiệm cần phải làm trước khi viết câu trắc nghiệm

1/ Xác định mục đích của bài trắc nghiệm

- Xác định mục tiêu của từng môn học, từng phần của môn học là điều rất quan trọng Khi xác định rõ mục tiêu của bài trắc nghiệm chẳng hạn như : kỹ năng, kiến thức mà học sinh cần đạt được để sau đó chúng ta xây dựng bài trắc nghiệm phù hợp để đo lường xem học sinh có đạt được kiến thức hay kỹ năng đó hay không ?

- Một bài trắc nghiệm có thể có nhiều mục đích khác nhau nhưng bài trắc nghiệm có ích lợi nhất và hiệu quả nhất khi nó phục vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó

- Nếu bài kiểm tra là bài thi kiểm tra cuối học kỳ nhằm cho điểm và phân loại học sinh trong quá trình học tập lâu dài thì cần soạn thảo bài trắc nghiệm có độ phân tán khá rộng, như vậy mới có thể phát hiện được sự khác nhau giữa các loại học sinh

- Nếu bài kiểm tra chỉ là bài thi kiểm tra thông thường ( 15phút chẳng hạn) chỉ dùng để kiểm tra một phần nhỏ của môn học thì phải soạn thảo bài trắc nghiệm để hầu hết học sinh có thể làm bài được, nếu học sinh đã thực sự tiếp thu được bài học

- Hoặc là nếu chúng ta cần một bài trắc nghiệm để tìm ra kiến thức mà người học hay nhầm lẫn để từ đó dùng phương pháp giảng dạy khác cho phần kiến thức đó Lúc này bài trắc nghiệm của chúng ta cần hướng vào những phần mà học sinh nếu không học kỹ sẽ dễ mắc sai lầm

Trang 17

- Tóm lại có nhiều mục đích khác nhau do đó người soạn đề trắc nghiệm phải biết được mục đích bài trắc nghiệm của mình từ đó mà soạn nội dung bài trắc nghiệm cho phù hợp từ đó bài trắc nghiệm mới có tính giá trị

2/ Phân tích nội dung môn học và xác định mục tiêu học tập :

2.1/ Phân tích nội dung môn học :

- Phân tích nội dung môn học chủ yếu là xem xét và phân biệt 4 loại học tập Bao gồm : những thông tin mang tính chất sự kiện mà người học phải nhớ hay nhận ra ; những khái niệm và ý tưởng mà người học phải giải thích hay minh hoạ; những ý tưởng phức tạp cần được giải thích hay giải nghĩa; những thông tin,

ý tưởng và kỹ năng cần được ứng dụng hay chuyển dịch sang một tình huống hay hoàn cảnh mới

- Chú ý : Trong việc phân tích nội dung một phần nào đó của môn học ta có thể đảo ngược thứ tự các loại học tập nói trên đây như sau : tìm ra những điều khái quát, ý tưởng cốt lõi của môn học trước, nội dung còn lại là minh họa và giải nghĩa cho ý tưởng cốt lõi đó

- Như vậy các bước phân tích nội dung môn học là :

 Bước 1 : tìm ra những ý tưởng chính yếu của môn học ấy

 Bước 2 : lựa chọn từ ngữ , nhóm từ, ký hiệu mà người học phải giải nghĩa được Tìm ra các khái niệm quan trọng trong nội dung môn học để đem ra khảo sát

 Bước 3 : là phân loại hai hạng thông tin được trình bày trong môn học : thứ nhất là những thông tin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa, thứ hai là những khái luận quan trọng của môn học Người soạn trắc nghiệm cần phải biết những thông tin nào quan trọng mà học sinh cần phải nhớ

 Bước 4: là lựa chọn những thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khả năng ứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong những tình huống mới Những thông tin loại này có thể được khảo sát bằng nhiều cách, chẳng hạn như đối chiếu, nêu ra những sự tương đồng và dị biệt, đặt ra những bài toán, những tình huống đòi hỏi học sinh phải biết ứng dụng những thông tin đã biết để tìm ra cách giải quyết

2.2/ Xác định mục tiêu học tập

a/ Các loại mục tiêu học tập

- Mục tiêu học tập tổng quát : đây là mục tiêu được đưa ra khá tổng quát,

nó bao gồm nhiều mục tiêu học tập chuyên biệt Những mục tiêu này thường bao trùm một lĩnh vực hoặc một môn học nào đó Chẳng hạn như : mục tiêu học tập tổng quát của môn vật lý là giúp cho học sinh giải thích được các hiện tượng vật lý trong đời sống

- Mục tiêu học tập chuyên biệt : đó là những mục tiêu cụ thể mà người học

có thể đạt được khi họ đã đạt được mục tiêu học tập tổng quát Chẳng hạn như khi học sinh đã được học phần tĩnh điện thì học sinh có thể giải thích được tại sao phải dùng cột thu lôi ở các nhà cao tầng

- So sánh mục tiêu học tập tổng quát và mục tiêu học tập riêng biệt :

Mục tiêu học tập tổng quát Mục tiêu học tập chuyên biệt

- Thường dài hạn - Thường xác định trong khoảng

thời gian ngắn

Trang 18

b/ Những thuận lợi khi xác định mục tiêu học tập

- Giúp cho người soạn trắc nghiệm biết được những mục tiêu nào quan trọng và không quan trọng của môn học, hoặc của một phần kiến thức nào đó, từ đó giúp người soạn phân bố câu trắc nghiệm cho phù hợp

- Tạo dễ dàng cho việc kiểm tra và chấm điểm công bằng

- Mục tiêu cho phép người đánh giá xác định hoạt động giảng dạy và tài liệu học tập nào có hiệu quả

- Cho thấy rõ ràng sự đối chiếu kết quả đào tạo giữa nội dung giáo viên truyền đạt và nội dung học sinh tiếp thu

- Khuyến khích học sinh hoàn thiện những tri thức còn thiếu, vì muốn đạt được những mục tiêu cao hơn thì phải biết những kiến thức cơ bản trước

c/ Đặc điểm của mục tiêu

- Mục tiêu cần phải cụ thể, phải nêu ra kết quả mà nó đạt được

- Mục tiêu phải có thể đo được

- Mục tiêu cần phải đạt được, tránh nêu ra những mục tiêu xa vời, mơ hồ, không thể đạt được

- Mục tiêu cần phải hướng vào kết quả

- Mục tiêu cần phải giới hạn thời gian

d/ Phân loại mục tiêu giảng dạy

- Có nhiều cách phân loại mục tiêu, nhưng phổ biến nhất là cách phân loại của Benjamin S.Bloom

- Theo Benjamin S.Bloom đưa ra vào năm 1956 thì lĩnh vực tri thức được chia làm 6 phạm trù chính là :

Kiến thức ( Biết ) : bao gồm những thông tin có tính chất chuyên biệt mà

một người học có thể nhớ hay nhận ra khi được đưa ra một câu hỏi hay một câu trắc nghiệm loại điền thế, đúng sai, nhiều lựa chọn Thí dụ người học có thể lặp lại đúng định luật bảo toàn động lượng cho một hệ kín mà chưa cần phải giải thích hay áp dụng định luật đó Đây là mức độ thành quả thấp nhất trong lĩnh vực kiến thức, vì nó chỉ đòi hỏi sự vận dụng trí nhớ mà thôi

Thông hiểu : bao gồm cả kiến thức , nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ ,

nó có liên quan đến ý nghĩa và các mối liên hệ của những gì người học đã biết, đã học Chẳng hạn khi một người học lặp lại đúng một định luật vật lý, người ấy

- Hướng tới khả năng tư duy - Hướng tới khả năng hành động

- Khó đo lường - Dễ đo lường

- Khái quát về nội dung - Cụ thể về nội dung

Trang 19

chứng tỏ đã biết định luật đó, nhưng để chứng tỏ sự thông hiểu, người học phải giải thích được ý nghĩa của những đại lượng, những mối liên hệ trong định luật Sự thông hiểu bao gồm : sự hiểu biết các khái niệm đơn giản và các ý tưởng phức tạp

 Bài trắc nghiệm nhằm đo lường sự thông hiểu các khái niệm, hay ý nghĩa đơn giản phải được diễn tả bằng các ngôn ngữ khác với những gì viết trong sách vở Ngoài ra người học có thể phải đưa ra những ý kiến, thí dụ để minh họa thêm cho kiến thức đó nhằm chứng tỏ sự thông hiểu của mình

 Sự thông hiểu các ý tưởng phức tạp bao gồm các nguyên lý , các mối liên hệ, những điều khái quát hoá, trừu tượng hoá, mục tiêu loại này đòi hỏi người học phải có những suy luận phức tạp để tìm ra ý đúng Thông thường đòi hỏi người học phải giải thích, phân biệt dữ kiện, lựa chọn thông tin cần thiết, suy diễn từ dữ kiện để tìm ra kết quả

Áp dụng : khả năng này đòi hỏi người học phải biết vận dụng kiến thức,

sử dụng phương pháp, định luật hay ý tưởng để giải quyết vấn đề Mục tiêu loại này đòi hỏi người học phải biết di chuyển kiến thức quen thuộc sang một hoàn cảnh mới, và quyết định dùng nguyên lý, định luật nào cần áp dụng để giải quyết vấn đề

Phân tích : là khả năng chia thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao

cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó, và thiết lập mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng Yêu cầu chỉ ra được bộ phận cấu thành, xác định được mối liên hệ giữa các bộ phận, và hiểu được nguyên lý, cấu trúc của các bộ phận cấu thành Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu về cả nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật hiện tượng

Tổng hợp : Sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài

liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Yêu cầu tạo ra được một chủ đề mới, một vấn đề mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

Đánh giá : Nhận xét, nhận định, xác định được một giá trị của một tư

tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là bước tiến mới trong việc lĩnh hội tri thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất bên trong của đối tượng, sự vật, hiện tượng Yêu cầu xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng được để đánh giá Đây là mức độ cao nhất của nhận thức vì nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức trên

Chú ý : Thông thường trong việc kiểm tra và đánh giá học sinh người ta chỉ

thường sử dụng 3 mục tiêu lớn là : Biết, thông hiểu và áp dụng

e/ Các động từ hành động thường dùng để viết các mục tiêu nhận thức : Kiến thức

Định nghĩa mô tả thuật lại viết

Nhận biết nhớ lại gọi tên kể ra

Lựa chọn tìm kiếm tìm ra cái phù hợp kể lại

Chỉ rõ vị trí chỉ ra phát biểu tóm lược

Trang 20

Thông hiểu

Giải thích cắt nghĩa so sánh đối chiếu

Chỉ ra minh họa suy luận đánh giá

Cho ví dụ chỉ rõ phân biệt tóm tắt

Trình bày đọc

Áp dụng

Sử dụng tính toán thiết kế vận dụng

Giải quyết ghi lại chứng minh hoàn thiện

Dự đoán tìm ra thay đổi làm

Ước tính sắp xếp trật tự điều khiển

Phân tích

Phân tích phân loại so sánh tìm ra

Phân biệt phân cách đối chiếu lập giả thuyết

Lập sơ đồ tách bạch phân chia chọn lọc

Tổng hợp

Tạo nên soạn đặt kế hoạch kết luận

Kết hợp đề xuất giảng giải tổ chức

Thực hiện làm ra thiết kế kể lại

Đánh giá

Chọn quyết định đánh giá so sánh

Thảo luận phán đoán tranh luận cân nhắc

Phê phán ủng hộ xác định bảo vệ

3/ Xác định số câu hỏi trong bài trắc nghiệm :

- Số câu hỏi trắc nghiệm phần lớn phụ thuộc vào thời gian làm bài của học sinh Nếu kiểm tra trong lớp học thường là kiểm tra 45 phút, nếu trong kì thi học

kì chẳng hạn có thể là 90 phút hoặc 120 phút Nếu thời gian càng dài thì số câu trắc nghiệm càng nhiều, điểm số của bài trắc nghiệm càng có tinh cậy

- Trong môn học có rất nhiều kiến thức, kỹ năng cần được kiểm tra nhưng số câu trắc nghiệm trong bài thi sẽ có hạn chế nên người soạn đề làm sao phải chọn số câu trắc nghiệm có tính tiêu biểu cho toàn bộ kiến thức đó

- Mỗi câu trắc nghiệm đòi hỏi quá trình tư duy khác nhau, số câu trắc nghiệm mỗi học sinh làm được trong một phút tuỳ thuộc vào loại câu trắc nghiệm đó là khó hay dễ Một học sinh làm nhanh nhất có thể làm xong bài trắc nghiệm chỉ bằng nửa thời gian của học sinh làm chậm nhất

- Do đó phương pháp tốt nhất để xác định số câu trắc nghiệm hợp lý cho thời gian tương ứng là dựa vào kinh nghiệm

- Nếu không có kinh nghiệm thì cứ bình quân 1 phút cho loại câu nhiều lựa chọn và nửa phút cho loại câu đúng-sai

Chú ý :

+ Thời gian làm bài trắc nghiệm tối đa là 120 phút

+ Số câu trắc nghiệm nên là một số chẵn

4/ Mức độ khó của các câu trắc nghiệm

Trang 21

- Một bài trắc nghiệm gồm những câu quá dễ, tất cả học sinh đều làm được Hoặc những câu quá khó, mà không có học sinh nào trả lời được thì bài trắc nghiệm đó hoàn toàn không có tính giá trị

- Để đạt hiệu quả đo lường thì nên chọn lựa các câu trắc nghiệm sao cho điểm trung bình trên bài trắc nghiệm xấp xỉ bằng 50% số câu hỏi Tuy nhiên độ khó của từng câu trắc nghiệm có thể biến thiên từ 15% đến 85%

- Nếu bài trắc nghiệm dùng để tìm ra những người học yếu để phụ đạo thêm thì nên soạn một đề trắc nghiệm có nhiều câu dễ

- Nếu bài trắc nghiệm dùng để tìm ra những người học giỏi thì nên soạn một đề trắc nghiệm có nhiều câu khó

5/ Thiết lập dàn bài trắc nghiệm:

- Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung cũng như nắm được mục tiêu học tập của từng nội dung môn học, người soạn thảo có thể thiết lập dàn bài trắc nghiệm

- Dàn bài trắc nghiệm là bảng dự kiến phân bố hợp lý các câu hỏi của bài

trắc nghiệm theo mục tiêu và nội dung của môn học sao cho có thể đo lường

chính xác các khả năng mà ta muốn đo Thông thường một dàn bài trắc nghiệm là một bảng quy định 2 chiều : một chiều là nội dung, một chiều là mục tiêu Trong nội dung thì lại chia nhỏ từng phần, từng kiến thức của môn học, trong mục tiêu cũng chia nhỏ thành các mục tiêu cụ thể tương ứng với từng kiến thức, từng phần của môn học Sau đó trong mỗi ô tương ứng với cả nội dung môn học và mục tiêu ta ghi số câu trắc nghiệm dự trù cần khảo sát

Ví dụ : Dưới đây là dàn bài trắc nghiệm gồm 100 câu

Nội dung : gồm 5 chủ đề

Mục tiêu : gồm 3 mục tiêu lớn là : Biết, Hiểu, Áp dụng

Tỉ lệ nội dung : Chủ đề 1 (14%), Chủ đề 2 (18%), Chủ đề 3 (16%),

Chủ đề 1 (36%), Chủ đề 1 (16%),

Tỉ lệ mục tiêu : Biết ( 28%) , Hiểu ( 32% ) , Áp dụng ( 40% )

Trang 22

Sau khi đã làm song các phần trên đây thì chúng ta có thể bắt tay vào để soạn ra các câu trắc nghiệm phù hợp

V/ Những điều cần lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm :

- Diễn đạt câu hỏi càng sáng sủa càng tốt và chú ý đến cấu trúc ngữ pháp

- Chọn từ có nghĩa chính xác

- Dùng những câu hỏi thật đơn giản

- Đưa tất cả những thông tin cần thiết vào trong câu dẫn nếu có thể được

- Hãy đọc lại nhiều lần câu hỏi để tìm ra những chỗ gây hiểu lầm chưa phát hiện được khi viết câu hỏi

- Đừng cố tăng độ khó của câu trắc nghiệm bằng cách diễn đạt câu hỏi theo cách phức tạp hơn

- Tránh cung cấp những chi tiết dễ làm lộ đáp án

- Tránh những câu rập khuôn hay những câu trích dẫn từ sách giáo khoa

- Tránh nêu nhiều hơn một ý tưởng độc lập cho một câu dẫn

- Tránh những từ dư thừa

- Tránh những câu hỏi có nội dung đan xen, phụ thuộc lẫn nhau

- Tránh những câu hỏi mang tính chất lừa bẫy

VI/ Phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm :

Phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm là công việc rất cần thiết và hữu ích đối với người soạn câu trắc nghiệm

1/ Mục đích của phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm

Nội dung

Mục tiêu

Chủ đề

1

Chủ đề

2

Chủ đề

3

Chủ đề

4

Chủ đề

5

Tổng cộng

Trang 23

- Biết được câu trắc nghiệm nào là quá khó, câu trắc nghiệm nào là quá dễ để sử dụng sau này

- Lựa ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi với học sinh kém

- Biết được lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và phải loại bỏ hoặc sửa chữa như thế nào cho tốt hơn

- Làm gia tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm

2/ Cơ sở để đánh giá câu trắc nghiệm

2.1/ Độ phân cách

a/ Khái niệm

- Một bài trắc nghiệm dự tính là phải khó đối với học sinh yếu và tương đối dễ hơn với học sinh giỏi, vì vậy bài trắc nghiệm đó là công cụ để phân biệt học sinh giỏi và học sinh yếu

- Độ phân cách câu trắc nghiệm là một chỉ số dùng để phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém Câu trắc nghiệm có độ phân cách tốt đóng góp vào làm gia tăng tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm đó

b/ Cách tính độ phân cách của câu trắc nghiệm ( Kí hiệu độ phân cách là :

D )

- Sau khi đã chấm điểm bài trắc nghiệm xong ta làm các bước sau đây :

 B1: Xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ cao xuống thấp

 B2: Phân chia các bảng trả lời theo hai nhóm : nhóm CAO gồm có xấp

xỉ 27% tổng số người làm bài mà có điểm số cao nhất, nhóm THẤP gồm có xấp

xỉ 27% tổng số người làm bài mà có điểm số thấp nhất

 B3: Ghi số lần ( tần số ) trả lời của học sinh trong mỗi nhóm cao và thấp cho mỗi lựa chọn của câu trắc nghiệm

Ví dụ : Câu trắc nghiệm số 15 dành cho 50 người làm bài có bảng trả lời như

sau :

Nhóm CAO ( 27%) gồm khoảng 13 người

Nhóm THẤP ( 27%) gồm khoảng 13 người

Trong ví dụ trên : (B* là đáp án đúng)

+ Số người làm đúng trong nhóm cao là: 9 người

+ Số người làm đúng trong nhóm thấp là: 2 người

+ Chỉ số phân cách : D = 9 2

13

 = 0,54

Trang 24

c/ Phân loại chỉ số phân cách :

Chỉ số phân cách D Đánh giá câu trắc nghiệm

Từ 0,40 trở lên Rất tốt

Từ 0,30 đến 0,39 Khá tốt, nhưng có thể sửa chữa tốt hơn

Từ 0,20 đến 0,29 Tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh

Dưới 0,19 Kém, cần loại bỏ hoặc sửa chữa lại

Chú ý : Với hai bài trắc nghiệm tương đương nhau, bài trắc nghiệm nào có chỉ

số phân cách trung bình càng cao thì càng tốt, càng có tính tin cậy cao

2.2/ Độ khó của câu trắc nghiệm

a/ Khái niệm

- Thông thường chúng ta không biết giải thích tại sao câu trắc nghiệm này lại khó hơn câu trắc nghiệm khác Từ đây các chuyên gia đo lường cho rằng nếu tất cả mọi người đều làm đúng thì câu trắc nghiệm đó là rất dễ, nếu tất cả mọi người đều làm sai thì câu trắc nghiệm đó là quá khó

- Độ khó của câu trắc nghiệm cũng là chỉ số dùng để phân biệt được học sinh giỏi và học sinh yếu

b/ Cách tính độ khó của câu trắc nghiệm ( Kí hiệu độ khó là : p )

Số người trả lời đúng câu i

Độ khó p của câu trắc nghiệm i =

Số người làm bài trắc nghiệm

c/ Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm

- Một bài trắc nghiệm tốt là bài trắc nghiệm có nhiều câu trắc nghiệm độ khó vừa phải

100% + % may rủi kỳ vọng

- Cách tính : Độ khó vừa phải =

2

- Câu trắc nghiệm đúng-sai có 2 đáp án trả lời nên có tỉ lệ là 50% may rủi kỳ vọng

Độ khó vừa phải là 75%

- Câu trắc nghiệm 4 lựa chọn có tỉ lệ là 25% may rủi kỳ vọng

Độ khó vừa phải là 62,5%

- Câu trắc nghiệm 5 lựa chọn có tỉ lệ là 20% may rủi kỳ vọng

Độ khó vừa phải là 60%

- Câu trắc nghiệm điền khuyết thì độ khó vừa phải là 50%

d/ Độ khó của câu trắc nghiệm

- Nếu độ khó của câu trắc nghiệm lớn hơn độ khó vừa phải thì ta kết luận rằng : Câu trắc nghiệm đó là dễ so với trình độ học sinh của lớp làm trắc

nghiệm

Trang 25

- Nếu độ khó của câu trắc nghiệm nhỏ hơn độ khó vừa phải thì ta kết luận rằng : Câu trắc nghiệm đó là khó so với trình độ học sinh của lớp làm trắc

Câu TN khó Câu TN vừa phải Câu TN dễ

2.3/ Phân tích đáp án và mồi nhử :

- Việc phân tích đáp án và mồi nhử cũng góp phần làm cho bài trắc nghiệm tốt hơn

- Đáp án là lựa chọn được xác định là đúng so với phần trả lời Một đáp án

tốt làđáp án có số người trong nhóm CAO chọn nó nhiều hơn là số người trong

nhóm Thấp chọn nó ( tương quan thuận )

- Mồi nhử là lựa chọn được xác định là sai so với phần trả lời Một mồi nhử

tốt là mồi nhử có số người trong nhóm CAO chọn nó ít hơn là số người trong

nhóm Thấp chọn nó ( tương quan nghịch )

2.4/ Một số tiêu chuẩn để chọn được câu trắc nghiệm tốt :

- Những câu trắc nghiệm có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời có độ

phân cách âm hoặc quá thấp là những câu kém cần phải xem lại để loại đi hay sửa chữa cho tốt hơn

- Với đáp án trong câu trắc nghiệm, số người nhóm cao chọn phải nhiều

hơn số người nhóm thấp

- Với các mồi nhử trong câu trắc nghiệm, số người nhóm cao chọn phải ít

hơn số người nhóm thấp

3/ Một số ví dụ về cách phân tích câu trắc nghiệm :

- Ví dụ 1 : Câu trắc nghiệm số 1 có bảng trả lời sau :

+ Chỉ số khó của câu này là p = (14+6) / 40 = 0,5

+ Độ phân cách của câu này là D = (14-6) / 20= 0,4

Phân tích :

+ Câu này có p = 0,5 là hơi khó vì độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn là 0,625

+ Câu này có độ phân cách D = 0,4 là câu có độ phân cách tốt

+ Về đáp án đúng B* có sự tương quan thuận (14-6) là có thể hài lòng

+ Về các mồi nhử C,D có sự tương quan nghịch ( số người trong nhóm cao làm sai ít hơn) như ta mong muốn

Trang 26

+ Về mồi nhử A có sự tương quan thuận (2-1) trái với mong đợi, nhưng sự khác biệt không lớn lắm

Kết luận : ta có thể hài lòng về câu trắc nghiệm này Nếu cần sửa chữa thì

cần sửa chữa lại mồi nhử A hấp dẫn chút nữa

- Ví dụ 2 : Câu trắc nghiệm số 2 có bảng trả lời sau :

+ Chỉ số khó của câu này là p = (10+7) / 40 = 0,43

+ Độ phân cách của câu này là D = (10-7) / 20= 0,15

Phân tích :

+ Câu này có p = 0,43 là câu khó vì độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn là 0,625

+ Câu này có độ phân cách D = 0,15 là câu có độ phân cách thấp

+ Về đáp án đúng D* có tương quan thuận (10-7) nhưng chênh lệch thấp

+ Về các mồi nhử B,C có tương quan nghịch như mong muốn

+ Về mồi nhử A có tương quan có tương quan thuận (8-4), độ chênh lệch còn cao hơn chênh lệch ở đáp án (10-7)

Kết luận : ta không hài lòng về câu này, cần phải xem xét lại toàn bộ câu

này Đáp án D* có tương quan thuận tức là đáp án này không sai Số học sinh trong nhóm cao chọn đáp án A rất nhiều, chắc là đáp án này có nhiều điểm đúng theo một phương diện nào đó Cần sửa chữa lại câu này để chỉ có 1 đáp án đúng

- Ví dụ 3 : Câu trắc nghiệm số 3 có bảng trả lời sau :

+ Chỉ số khó của câu này là p = (5+7) / 40 = 0,3

+ Độ phân cách của câu này là D = (5-7) / 20 = - 0,1

Phân tích :

+ Câu này có p = 0,3 là rất khó vì độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn là 0,625

+ Câu này có độ phân cách D = - 0,1 là câu có độ phân cách âm

+ Về đáp án đúng B* có sự tương quan nghịch (5-7) là không thể hài lòng

+ Về các mồi nhử A,C có sự tương quan thuận ( số người trong nhóm cao làm sai ít hơn) , trái với điều ta mong muốn

+ Về mồi nhử D có sự tương quan nghịch (6-7) nhưng sự khác biệt rất ít

Kết luận : ta không thể hài lòng về câu này, phải xem xét lại toàn bộ câu

này Câu này có độ phân cách rất kém, các số liệu gần như là bằng nhau, do đó có thể đoán rằng các lựa chọn có thể là đúng hết hoặc là sai hết

- Ví dụ 4 : Câu trắc nghiệm số 4 có bảng trả lời sau :

Trang 27

+ Chỉ số khó của câu này là p = (3+6) / 40 = 0,23

+ Độ phân cách của câu này là D = (3-6) / 20 = - 0,15

Phân tích :

+ Câu này có p = 0,23 là rất khó vì độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn là 0,625

+ Câu này có độ phân cách D = - 0,15 là câu có độ phân cách âm

+ Về đáp án đúng D* có sự tương quan nghịch (3-6) là không thể hài lòng

+ Về mồi nhử A không có ai chọn, mồi nhử A là vô dụng

+ Về mồi nhử B có sự tương quan nghịch (4-6) như mong đợi

+ Về mồi nhử C có tương quan nghịch (13-8) độ chênh lệch rất cao, ta không thể hài lòng về mồi nhử này

Kết luận : ta không thể hài lòng về câu trắc nghiệm này Đây là câu trắc

nghiệm có độ phân cách kém Mồi nhử C có nhiều người trong nhóm cao chọn, trong khi đáp án D có ít người chọn Có thể là người soạn trắc nghiệm đã chọn nhầm đáp án đúng, hoặc là khi soạn đề đã quên một yếu tố nào đó trong đáp án đúng Cần xem lại đáp án đúng, và sửa mồi nhử A hấp dẫn hơn

- Ví dụ 5 : Câu trắc nghiệm số 5 có bảng trả lời sau :

+ Chỉ số khó của câu này là p = (17+16) / 40 = 0,83

+ Độ phân cách của câu này là D = (17-16) / 20 = 0,05

+ Về mồi nhử B không có ai chọn, mồi nhử B là vô dụng

+ Về mồi nhử C cả hai nhóm có sự lựa chọn bằng nhau

+ Về mồi nhử D có tương quan nghịch (2-3) , nhưng chênh lệch rất ít

Kết luận : ta không thể hài lòng về câu trắc nghiệm này Câu trắc nghiệm

này rõ ràng là quá dễ nên không có độ phân cách tốt Cần loại bỏ câu này

VII/ Các thông số đánh giá bài trắc nghiệm :

1/ Phân bố điểm số trên một nhóm học sinh :

Trang 28

a/ Định nghĩa : Một phân bố tần số là một bảng liệt kê tất cả các đơn vị điểm số

trên một hàng và số học sinh có mỗi đơn vị điểm ấy được liệt kê ở hàng thứ hai

Ví dụ : Một bảng phân bố điểm số của 44 học sinh như sau :

Tần

b/ Các dạng phân bố :

- Nếu phân bố tần số tập trung ở nhóm điểm số cao, tức là trong nhóm có nhiều học sinh đạt điểm từ 7-10 thì bài trắc nghiệm là tương đối dễ so với trình độ của nhóm

- Nếu phân bố tần số tập trung ở nhóm điểm số thấp, tức là trong nhóm có nhiều học sinh đạt điểm từ 0-4 thì bài trắc nghiệm là tương đối khó so với trình độ của nhóm

- Nếu phân bố tần số tập trung ở điểm số trung bình 5-6, các điểm số thấp và cao ít hơn, thì bài trắc nghiệm đó là vừa sức đối với nhóm

- Thông thường một nhóm học sinh đông có điểm số phân bố theo một đường cong bình thường ( đường cong Gauss)

Tần số

0 Điểm số

2/ Các thông số định tâm :

a/ Số yếu vị ( Mode) :

- Là điểm số chiếm nhiều nhất trong một phân bố điểm số

- Nếu chúng ta phân chia điểm số theo nhóm, chẳng hạn chia điểm số từ 1 -

10 thành 5 nhóm là : 1-2, 3-4, , 9-10 Thì nhóm điểm nào có tần số cao nhất nhóm điểm số đó gọi là đẳng loại yếu vị Số yếu vị trong trường hợp này là trung điểm của đẳng loại yếu vị

Chú ý :

+ Nếu có hai loại điểm số liền nhau đều có tần số cao nhất và bằng nhau thì Mode là trung bình cộng của hai số đó

Trang 29

+ Nếu có hai loại điểm số không liền nhau đều có tần số cao nhất và bằng nhau thì cả hai số đó đều là Mode

+ Nếu phân bố điểm có số yếu vị là 8 chẳng hạn thì vùng điểm số trung tâm được dời lên phía điểm số cao, như vậy bài trắc nghiệm là dễ so với trình độ của nhóm

+ Nếu phân bố điểm có số yếu vị là 3 chẳng hạn thì vùng điểm số trung tâm được dời về phía điểm số thấp, như vậy bài trắc nghiệm là khó so với trình độ của nhóm

b/ Số trung vị ( Median) :

- Là điểm số nằm ngay tại vị trí chính giữa của một phân bố điểm số Đây là điểm phân chia một phân bố điểm số thành hai phần bằng nhau và bằng 50% điểm số

B4 : Dò theo cột tần số tích luỹ, ta sẽ thấy vị trí của số trung vị thuộc về điểm số nào Điểm số đó chính là số trung vị Me

Chú ý : Nếu vị trí của số trung vị nằm giữa hai điểm số thì số trung vị

Me là trung bình cộng của hai điểm số đó

Ví dụ : Một bảng phân bố tần số như sau :

 B1 : Sắp xếp bảng phân bố tần số

 B4 : Vị trí 20,5 là vị trí nằm giữa 20 và 21

Ở vị trí 20 là điểm số 5 , ở vị trí 21 cũng là điểm số 5

Do đó số trung vị Me = ( 5 + 5 ) / 2 = 5

Công dụng : Biết được số trung vị và bảng phân bố tần số ta có thể biết

được có khoảng bao nhiêu người có điểm số trên số trung vị, từ đó có thể đánh giá được bài trắc nghiệm

c/ Số trung bình cộng ( Mean ) :

Trang 30

- Là điểm số được tính bằng cách cộng tất cả các điểm số của học sinh lại và sau đó chia cho tổng số học sinh làm bài

Ví dụ : Có bảng phân bố tần số như sau :

3/ Các thông số đo độ phân tán :

a/ Hàng số ( Range) :

- Hàng số là số đo khoảng cách giữa điểm số cao nhất và điểm số thấp nhất

- Công thức tính : Hàng số = Max - Min

Ví dụ : Có dãy điểm số sau đây : 3,5,4,7,9,10,8,5,4,7,8,9,6

Hàng số = 10 - 3 = 7

Công dụng :

+ Hàng số cho biết độ phân tán điểm số của học sinh trong một nhóm

+ Nếu giá trị hàng số lớn thì các điểm số bị phân tán xa vùng điểm số trung tâm

+ Nếu giá trị hàng số nhỏ thì các điểm số tập trung vùng điểm số trung tâm

+ Hàng số thường dùng để so sánh mức phân tán điểm số giữa các lớp học

Ví dụ : Kết quả làm bài của hai lớp 10A1 và 10A2 có phân bố như sau :

Nhận xét : Lớp 10A1 có hàng số là 10 - 1 = 9

Lớp 10A2 có hàng số là 8 - 3 = 5

- Như vậy điểm số của lớp 10A1 phân tán nhiều hơn, do đó lớp 10A2 học đều hơn lớp 10A1 Lớp 10A1 có cả học sinh giỏi và học sinh kém, lớp 10A2 không có học sinh kém và học sinh giỏi

- Lớp 10A1 học giỏi hơn lớp 10A2

b/ Độ lệch tiêu chuẩn ( Standard Deviation ) :

- Độ lệch tiêu chuẩn là căn số bậc hai của số trung bình của bình phương các độ lệch

- Độ lệch bằng hiệu của một điểm số so với trị số trung bình

- Kí hiệu : s ( là độ lệch tiêu chuẩn của một mẫu )

Trang 31

  ( X : là điểm số ; n là cỡ của mẫu )

Ví dụ : Có một dãy điểm số như sau :

Công dụng : Độ lệch tiêu chuẩn là một số đo lường cho biết các điểm số

trong một phân bố đã lệch đi so với trung bình là bao nhiêu

+ Nếu giá trị s là nhỏ thì các điểm số tập trung quanh giá trị trung bình + Nếu giá trị s là lớn thì các điểm số lệch xa giá trị trung bình

- Người ta thường sử dụng độ lệch tiêu chuẩn để so sánh mức phân tán hay mức đồng nhất của nhiều nhóm điểm số

- Người ta còn dùng độ lệch tiêu chuẩn để xét tính chất tượng trưng của trung bình cộng Phân bố nào có SD nhỏ hơn thì trung bình cộng của phân bố ấy có tính tượng trưng hơn

- Ngoài ra độ lệch tiêu chuẩn còn giúp ta xác định vị trí của một điểm số trong phân bố

4/ Độ khó của bài trắc nghiệm

 Cách 1 :

- Để xét độ khó của bài trắc nghiệm thì chúng ta đối chiếu điểm số trung bình của bài trắc nghiệm với điểm số trung bình lý tưởng của nó

Điểm tối đa + Điểm may rủi kỳ vọng

Điểm trung bình lý tưởng =

2

Ví dụ :

+ Một bài trắc nghiệm có 100 câu, loại câu 4 lựa chọn, mỗi câu 1 điểm + Loại câu có 4 lựa chọn có tỉ lệ 25% may rủi kỳ vọng tức là khoảng 25 câu tức là điểm may rủi là 25điểm

+ Điểm trung bình lý tưởng = (100 + 25) / 2 = 62,5 điểm

- Nếu điểm số trung bình của lớp học là xấp xỉ 62,5 thì đây là bài trắc nghiệm đó có độ khó vừa phải cho lớp học đó

- Nếu điểm số trung bình của lớp học lớn hơn hoặc nhỏ hơn 62,5 rất nhiều thì bài trắc nghiệm này là dễ hoặc khó so với lớp học đó

Cách 2 :

- Có thể xác định độ khó của bài trắc nghiệm bằng cách so sánh điểm trung bình của cả lớp học với trung điểm của điểm cao nhất và thấp nhất của lớp học đó

Trang 32

- Nếu cả lớp học có điểm trung bình là 48 thì bài trắc nghiệm này là khó so với lớp đó

- Nếu cả lớp học có điểm trung bình là 70 thì bài trắc nghiệm này là dễ so với lớp đó

- Nếu cả lớp học có điểm trung bình xấp xỉ 60 thì bài trắc nghiệm này là vừa phải so với lớp đó

VIII/ Các loại điểm số trắc nghiệm :

1/ Điểm thô :

- Là tổng điểm số của từng câu trắc nghiệm

- Điểm số này không cho biết được nhiều điều,

2/ Các loại điểm chuẩn

a/ Điểm phần trăm đúng :

X = Đ.100

T

X : là điểm phần trăm đúng

Đ : là số câu học sinh làm đúng

T : là tổng số câu của bài trắc nghiệm

Chú ý : điểm số loại này phụ thuộc vào độ khó của nội dung bài trắc nghiệm,

vì nó được so sánh với điểm tối đa đạt được của bài trắc nghiệm Thông thường giáo viên đặt ra tiêu chuẩn là học sinh phải làm được khoảng 50% hay 60% là đạt yêu cầu, tuy nhiên cách đặt như vậy là tuỳ tiện và không khách quan, vì muốn cho học sinh làm được điểm cao hay thấp thì giáo viên sẽ soạn đề dễ hay khó

b/ Điểm chữ :

- Về căn bản giống như điểm phần trăm đúng, điểm chữ dùng các mẫu tự như A, B, C, D trong đó người ta ấn định : điểm A gồm các điểm phần trăm đúng từ 90-100, điểm B gồm các điểm phần trăm đúng từ 70-89,

c/ Điểm thứ hạng bách phân :

- Đây là điểm có được do sự biến đổi các điểm thô ra thành các trị số phần trăm trong một nhóm chọn làm chuẩn mực

- Kí hiệu : PR

- Công dụng : điểm PR có thể so sánh điểm của các học sinh làm bài trắc nghiệm này với một nhóm lớn đã được chọn làm chuẩn mực

Ví dụ : Trong kỳ thi đại học, một học sinh làm bài trắc nghiệm Vật Lý có

PR là 82, có nghĩa là học sinh này đứng trên 82% số học sinh tham gia làm bài môn Vật Lý

Trang 33

cf/mp = 1

2.f + tần số tích luỹ của điểm số ngay dưới nó

 B4 : Tính số phần trăm tích lũy ( cP/mp )

cP/mp = 100

N cf/mp ( N là số người làm bài )

 B5 : Tìm ra thứ hạng bách phân bằng cách làm tròn cP/mp Nếu các trị số cP/mp nhỏ hơn 0 hoặc lớn hơn 99 thì được xem là 0 và 99

Ví dụ : Tính thứ hạng bách phân của phân bố điểm số của N = 50 học sinh

99,0 97,0 94,0 88,0 82,0 75,0 64,0 50,0 37,0 28,0 20,0 12,0 5,0 2,0 1,0

Chú ý : Nếu chúng ta muốn tính xem với điểm số nào thì có bao nhiêu phần

trăm người ( C%) làm bài có điểm số từ điểm số đó trở xuống thì chúng ta vẫn có thể dùng bảng trên để tính được

Ví dụ : Tìm xem ứng với điểm số nào thì có 30% số người làm bài có điểm

số đó trở xuống

 B1 : Tính xem 30% ứng với bao nhiêu người làm bài

30 50 15

100C N 100  người

 B2 : Đếm từ dưới lên trên đến người thứ 15

Ở bảng trên ta thấy người thứ 15 ứng với điểm số thô là 16

Nhưng ta thấy từ vị trí 13 - 16 ( 4 người ) đều có điểm số thô là 16 Người thứ 15 của chúng ta nằm vị trí thứ 3 so với 4 người

Vị trí biên dưới của điểm số 16 là 15,5 và biên trên là 16,5

Vậy điểm số cần tính = 3 15,5

4 = 16,25

( có 30% người làm bài có điểm số từ 16,25 trở xuống )

Trang 34

d/ Điểm chuẩn Z :

- Là điểm biến đổi từ điểm thô dựa trên cơ sở độ lệch tiêu chuẩn của phân

bố điểm số Chúng có thể xem như được gán cho một trung bình và một độ

lệch tiêu chuẩn nào đó

+ Khó giải thích ý nghĩa của các điểm số, vì nó phụ thuộc vào độ lệch chuẩn

Ví dụ : Điểm trung bình của lớp học là X = 55, và độ lệch tiêu chuẩn là s = 7 Nếu học sinh có điểm thô là X = 62

Đổi sang điểm :Z X X

Vậy học sinh có điểm Z = 1,0 thì học sinh này đứng trên khoảng 84,13% học sinh trong lớp

Trang 35

Chương II : SOẠN CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỆT HỌC PHẦN :“ THUYẾT ĐỘNG HỌC PHÂN TỬ CỦA VẬT CHẤT ”

I/ PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH :

1/ Thuyết cấu tạo phân tử của vật chất

- Các chất được cấu tạo bởi một số rất lớn những hạt có kích thước rất nhỏ gọi là phân tử

- Các phân tử vật chất chuyển động không ngừng

- Khoảng cách giữa các

phân tử xa nhau

- Lực tương tác giữa các

phân tử yếu

- Các phân tử chuyển

động hỗn loạn

- Không có thể tích và

- Có thể tích xác định, và hình dạng không xác định

-Khoảng cách giữa các phân tử gần nhau

- Lực tương tác giữa các phân tử rất mạnh

- Các phân tử dao động quanh vị trí cân bằng cố định

- Có thể tích và hình dạng xác định

2/ Khí lý tưởng

2.1/ Thuyết động học phân tử chất khí

- Chất khí bao gồm các phân tử có kích thước rất nhỏ

- Các phân tử chuyển động hỗn loạn không ngừng, phân tử chuyển động càng nhanh thì nhiệt độ chất khí càng cao

- Khi chuyển động các phân tử va chạm với thành bình gây nên áp suất lên thành bình

Trang 36

2.2/ Mẫu khí lý tưởng

- Các phân tử khí lý tưởng được xem là chất điểm, và chỉ tương tác nhau khi va chạm

- Va chạm giữa các phân tử là va chạm đàn hồi

2.3/ Áp suất chất khí

- Áp suất chất khí là lực tác dụng của các phân tử lên một đơn vị diện tích của thành bình

- Là đại lượng cơ bản đặc trưng cho chất khí

- Công thức cơ bản của thuyết động học phân tử của chất khí lý tưởng 2

- Đại lượng đặc trưng cho sự nóng hay lạnh của vật

- Theo quan điểm vi mô : nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cho mức độ nhanh hay chậm của chuyển động hỗn loạn của phân tử

- Kí hiệu : 2

3E d kT

  

- Các loại thang đo nhiệt độ :

 Nhiệt giai Celcius ( t0C ) : người ta lấy khoảng nhiệt độ giữa nhiệt độ nước đá đang tan ( quy ước 00C ) và nhiệt độ hơi nước đang sôi ( quy ước 1000C ) chia làm 100 phần bằng nhau, mỗi phần một độ

 Nhiệt giai Farenhait : t0F = 9 0 32

5t C   Nhiệt giai Reanmur : t0R = 4 0

5t C  Nhiệt giai Kelvin : T(K) = t0C + 273

2.5/ Các định luật của khí lý tưởng

- Định luật Boilơ-Mariot : Trong quá trình đẳng nhiệt của một lượng khí

nhất định, áp suất của chất khí tỉ lệ nghịch với thể tích của nó

Biểu thức : p.V = constant

Trang 37

* Các dạng đường đẳng nhiệt :

- Định luật Saclơ : Trong quá trình đẳng tích của một lượng khí nhất định,

áp suất của chất khí tỉ lệ thuận với nhiệt độ của nó

- Định luật Gay-Luysac : Trong quá trình đẳng áp của một lượng khí nhất

định, thể tích của chất khí tỉ lệ thuận với nhiệt độ của nó

- Định luật Danton : Áp suất của tổng hỗn hợp khí bằng tổng áp suất riêng

phần của khí thành phần tạo nên hỗn hợp

Biểu thức : p = p1 + p2 + p3 + + pn

2.6/ Phương trình trạng thái của khí lý tưởng :

- Áp suất, nhiệt độ, thể tích của một lượng khí gọi là các thông số trạng

thái, các thông số này có mối liên hệ với nhau

- Phương trình biểu thị mối quan hệ giữa 3 thông số trạng thái của chất khí :

 Phương trình trạng thái : pVN kT

 Phương trình Claperon-Mendeleep : pV M .RT

Trang 38

Hằng số Bolzmant : k = 1,38.10-23 J/độ

Hằng số chất khí R = N0.k = 8,31 J/mol.độ

2.7/ Sự phân bố vận tốc phân tử theo Maxwell

- Các phân tử có vận tốc rất khác nhau, nhưng xét trong một tập hợp rất lớn thì các phân tử phân bố theo định luật nhất định, không phải là sự ngẫu nhiên

- Công thức phân bố vận tốc phân tử của Maxwell

2

3 2

2 2

4

2

mc kT

- f(v).dv : là xác suất để phân tử có vận tốc nằm trong khoảng từ c đến c+dc

- Các loại vận tốc phân tử :

 Vận tốc trung bình : i i

i

n c c

2.8/ Sự phân bố mật độ phân tử khí đặt trong trường trọng lực :

- Sự phụ thuộc của áp suất khí quyển vào độ cao : p p e 0 kT mgh

- Sự phụ thuộc của mật độ phân tử khí theo độ cao : n n e 0 mgh kT

2.9/ Các hiện tượng truyền trong chất khí

- Quãng đường tự do trung bình của phân tử : là quãng đường trung bình mà phân tử chuyển động tự do giữa hai lần va chạm liên tiếp

- Biểu thức quãng đường tự do trung bình của phân tử : 2

- Hiện tượng khuếch tán :

+ Theo quan điểm vĩ mô : hiện tượng khuếch tán là sự truyền khối lượng khí từ chỗ có khối lượng riêng lớn đến nơi có khối lượng riêng nhỏ + Trong quá trình khuếch tán chỉ khi nào khối lượng riêng của chất khí đồng nhất tại mọi điểm thì hiện tượng khuếch tán mới ngừng

+ Trong quá trình khuếch tán xảy ra chậm thì xem như khối lượng riêng tại mọi điểm không thay đổi theo thời gian gọi là sự khuếch tán dừng

Trang 39

+ Định luật Fick: giả sử hiện tượng khuếch tán xảy ra theo trục x, trong khoảng dx khối lượng riêng thay đổi một lượng làd, thì khối lượng khí dM đã truyền qua một tiết diện dS trong thời gian dt là : dM K d dSdt

+ Hệ số khuếch tán : K = -1

3c  + Hệ số khuếch tán K phụ thuộc vào áp suất p, nhiệt độ T và bản chất chất khí

- Hiện tượng dẫn nhiệt :

+ Theo quan điểm vĩ mô : là hiện tượng truyền nhiệt lượng từ lớp khí nóng hơn sang lớp khí lạnh hơn khi hai lớp khí này tiếp xúc với nhau

+ Trong quá trình dẫn nhiệt xảy ra chậm có thể coi nhiệt độ tại mọi điểm không thay đổi theo thời gian

+ Định luật Furie : giả sử nhiệt độ biến thiên dọc theo trục x, trong khoảng dx nhiệt độ biến thiên một lượng là dT ,khi đó nhiệt lượng dQ đã truyền qua tiết diện dS trong khoảng thời gian dt là : dQ D dT dSdt

dx

+ Theo quan điểm vi mô : là hiện tượng truyền một phần động năng của các phân tử ở lớp khí nóng hơn cho các phân tử ở lớp khí lạnh hơn khi chúng

va chạm với nhau

+ Hệ số dẫn nhiệt : D = 1

3c c v  + Hệ số dẫn nhiệt D phụ thuộc vào nhiệt độ T, bản chất chất khí, ở điều kiện bình thường hệ số khuếch tán không phụ thuộc vào áp suất p

- Hiện tượng nội ma sát :

+ Theo quan điểm vĩ mô : là hiện tượng sinh ra những lực ma sát giữa các lớp khí chuyển động thành dòng có vận tốc khác nhau

+ Định luật thực nghiệm của Niutơn : f d dS

 là gradient vận tốc dòng theo trục x )

+ Theo quan điểm vi mô : là hiện tượng truyền động lượng theo một hướng xác định của các phân tử có vận tốc dòng này cho các phân tử có vận tốc dòng khác

+ Hệ số nội ma sát : 1

3 c

    + Hệ số nội ma sát  phụ thuộc vào nhiệt độ T, bản chất chất khí, ở điều kiện bình thường hệ số nội ma sát không phụ thuộc vào áp suất p

3/ Khí thực :

3.1/ Lực tương tác và thế năng tương tác

Trang 40

- Lý thuyết và thực nghiệm đều chứng minh được là giữa các phân tử vừa

hút nhau vừa đẩy nhau Bản chất cơ bản của lực tương tác là lực điện

- Lực tương tác chỉ đáng kể khi khoảng cách giữa các phân tử vào khoảng

10-7-10-8 cm

- Đồ thị thế năng tương tác giữa hai phân tử : Et

 Năng lượng toàn phần E là đường đứt nét ,

động năng phân tử Eđ là khoảng cách từ đường M E

biểu diễn Et đến đường biểu diễn E

 Từ đồ thị ta thấy khi phân tử B từ xa tiến lại

gần phân tử A,ứng với nhánh CD thế năng tương 0 N L D

tác giảm, động năng tăng  Khi phân tử B ở vị trí L ( OL = r0), lúc này lực

đẩy cân bằng với lực hút, thì động năng cực đại, C

thế năng tương tác đạt cực tiểu

 Nhờ có động năng phân tử B tiếp tục di chuyển

đến vị trí N, lúc này lực tương tác tổng hợp là lực đẩy, thế năng tương tác

tăng dần đến giá trị cực đại, còn động năng giảm dần về 0

 Sau khi tới vị trí N phân tử B dừng lại, sau đó di chuyển ngược trở lại

- Đồ thị của thế năng tổng hợp trên đây là ứng với phân tử ở trạng thái khí,

nếu phân tử ở trạng thái lỏng thì đường biểu diễn năng lượng E ở xấp xỉ

miệng hố thế năng Đối với phân tử vật chất ở trạng thái rắn thì đường biểu

diễn mức năng lượng E ở dưới miệng hố thế năng

3.2/ Phương trình Vandervan :

- Do phân tử khí thực có thể tích đáng kể so với khoảng cách giữa các phân

tử, và giữa các phân tử khí thực lại có lực tương tác nên không thể áp dụng

phương trình trạng thái khí lý tưởng cho khí thực

- Để sử dụng phương trình trạng thái thì Vandervan đã hiệu chỉnh lại

phương trình trạng thái khí lý tưởng

 Hiệu chỉnh do lực tương tác tổng hợp là lực đẩy : do kích thước các

phân tử đáng kể nên thể tích dành cho chuyển động của các phân tử khí thực

là V= V0 - b

với b = 4N0.V (V : là thể tích của một phân tử)

 Hiệu chỉnh do lực tương tác tổng hợp là lực hút : Khi các phân tử va

chạm với thành gây nên áp suất thì các phân tử đó bị các phân tử khác hút

vào phía trong do đó áp suất khí thực là : p + pi ( với 2

0

i

a p V

Ngày đăng: 28/11/2015, 23:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dạng xác định - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
Hình d ạng xác định (Trang 35)
Câu 22/ Đồ thị nào sau đây biểu diễn định luật Boilo-Mariot ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
u 22/ Đồ thị nào sau đây biểu diễn định luật Boilo-Mariot ? (Trang 57)
Câu 30/ Đồ thị nào sau đây là đường biểu diễn định luật Saclơ ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
u 30/ Đồ thị nào sau đây là đường biểu diễn định luật Saclơ ? (Trang 58)
Câu 39/ Đồ thị nào sau đây là đường biểu diễn của định luật Gay-Luýtsac ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
u 39/ Đồ thị nào sau đây là đường biểu diễn của định luật Gay-Luýtsac ? (Trang 60)
Hình vẽ . Trong hệ toạ độ (p,T) chu trình có đồ thị nào sau đây ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
Hình v ẽ . Trong hệ toạ độ (p,T) chu trình có đồ thị nào sau đây ? (Trang 61)
Hình vẽ .Trong hệ toạ độ (V,T) chu trình có đồ thị nào sau đây ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
Hình v ẽ .Trong hệ toạ độ (V,T) chu trình có đồ thị nào sau đây ? (Trang 62)
Hình vẽ .Trong hệ toạ độ (p,V) chu trình có đồ thị nào sau đây ? - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
Hình v ẽ .Trong hệ toạ độ (p,V) chu trình có đồ thị nào sau đây ? (Trang 62)
Câu 133/ Hình vẽ nào sau đây là đúng : - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
u 133/ Hình vẽ nào sau đây là đúng : (Trang 73)
Câu 35/ Hình vẽ nào sau đây là đúng : - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phần  Thuyết động học phân tử vật chất
u 35/ Hình vẽ nào sau đây là đúng : (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w