Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hànghàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Phan Tuyết Trinh
Nguyễn Thị Mai Trường
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 11/2012
Trang 2Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM giai đoạn hiện nay
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Rủi ro tín dụng 4
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 4
1.2.1 Phân loại rủi ro tín dụng 4
1.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 6
1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội 7
1.2.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng 7
1.2.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội 7
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 8
1.3.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng 8
1.3.2 Sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng 8
1.3.3 Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng 9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 13
2.1 Khả năng quản trị rủi ro tín dụng khi các ngân hàng được công bố tăng hạn mức tín dụng: 13
2.2 Quản lý rủi ro có nguyên tắc rất quan trọng là tài sản thế chấp chỉ là nguồn trả nợ thứ yếu: 14
2.3 Tư duy mới về quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 15
2.4 Xử lý nợ xấu: 16
2.5 Trích lập dự phòng: 20
Trang 3Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM giai đoạn hiện nay
2.6 Thực trạng xếp hạng tín dụng nội bộ tại các Ngân hàng Thương mại Việt
Nam: 23
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 25
3.1 Kiến nghị đối với hệ thống các Ngân hàng thương mại hiện nay: 25
3.1.1 Nhận diện và phân loại rủi ro: 25
3.1.2 Thành lập bộ phận nghiên cứu, phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô 25
3.1.3 Nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ 26
3.1.4 Hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra: 26
3.1.5 Về nhân sự và cơ cấu tổ chức 27
3.1.6 Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả trong toàn hệ thống 30
3.1.7 Hoàn thiện hệ thống thông tin đánh giá khách hàng 31
3.1.8 Phát triển hệ thống công nghệ thông tin 31
3.2 Giải pháp hỗ trợ từ phía ban, ngành liên quan 32
3.2.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 32
3.2.2 Kiến nghị đối với chính phủ 36
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 4Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM giai đoạn hiện nay
P
H Ầ N M Ở Đ Ầ U
Quá trình toàn cầu hóa làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nềnkinh tế trên thế giới Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng không ngoại lệ Vớinhững biến động khôn lường của nền kinh tế, nhất là thị trường tài chính đã tạo ranhững rủi ro khó tránh khỏi cho các DN Nhằm hạn chế những điều này, cácquốc gia phải thực hiện cải cách, xây dựng hệ thông quản lý tài chính và cơ chếphòng ngừa rủi ro tài chính, công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng
để tránh những nguy cơ biến động mạnh của thị trường tài chính
Trong những năm gần đây, tình hình tăng nóng tín dụng đã chứa đựng nhiều nguy
cơ rủi ro cao trong hoạt động của các ngân hàng Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và
nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hànghàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người.Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các ngân hàng có năng lực quả trị rủi ro tíndụng là khả năng quản trị nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ xâydựng một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, phù hợp với môi trường kinh doanh
và năng lực hoạt động của ngân hàng mình
Do đó, yêu cầu kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng một cách bài bản, có hiệu quả,phù hợp với điều kiện Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết để đảm bảo hạn chế rủi
ro trong hoạt động tín dụng, hướng tới các chuẩn mực quốc tế trong quản trị rủi ro,phù hợp với môi trường hội nhập
Trước những đòi hỏi cấp thiết của tình hình quản trị rủi ro hiện nay, nhóm đã
chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng
Thương mại cổ phần giai đoạnhiện nay” làm đề tài tiểu luận của nhóm.
Trang 51.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngânhàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợkhông đúng hạn cho ngân hàng
Căn cứ vào Khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để xử lý rủi ro, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngânhàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của
tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiệnnghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mốiquan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiệnhoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ nghĩa trả nợ khi đến hạn Nó diễn ratrong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, chothuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng Đây còn được gọi là rủi romất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạtđộng tín dụng của ngân hàng
1.2.1 Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên
nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệtcho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi
Trang 6ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ:
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng
khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết địnhcho vay
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹthuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế
trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro
tập trung
Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc
đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay
Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung cho vay quá nhiều đối với một
số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định,
1.1.2.1 Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro
địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm
thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách
cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quankhác
Trang 71.1.2.3 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng
dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả
nợ vay Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồiđược vốn vay
trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, ngân hàng phải thanh
lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ
hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh,cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngânhàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
1.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểmcủa rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích Rủi ro tín dụng có những đặc điểm
cơ bản sau:
ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của kháchhàng Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ởvào thế bị động, ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tinkhông chính xác về những khó khăn, thất bại của khách hàng và do đóthường có những ứng phó chậm trễ
hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi rotín dụng do đặc trưng NH là NH trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Do
Trang 8đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi
ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại
để có biện pháp phòng ngừa phù hợp
hoạt động tín dụng của NHTM Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt độngngân hàng Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mốiquan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đángvới mức rủi ro chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngânhàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, nằm trong phạm vi khả năng cácnguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng
1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và nền kinh tế xã hội
1.2.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp vàlãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khiđến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quayvốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngânhàng tăng lên so với dự kiến
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sửdụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mựcnào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngânhàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi
ro thanh khoản Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chínhgiảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà cònlan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thểdẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp
Trang 9xử lý, khắc phục kịp thời.
1.2.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung giantài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, cácdoanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại Do đó, thực chất quyền sở hữu nhữngkhoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng Bởi vậy,khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi củangười gửi tiền cũng bị ảnh hưởng
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửitiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở cácngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khókhăn Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộnền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thấtnghiệp tăng, xã hội mất ổn định
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau, nhẹnhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặngnhất khi ngân hàng không thu đủ vốn lãi, hoặc bị mất cả vốn lẫn lãi, dẫn đến ngânhàng bị thua lỗ Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống ngânhàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thậntrọng và có những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Trang 10Quản lý rủi ro tín dụng (QLRRTD) là quá trình ngân hàng hoạch định, tổchức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụngnhằm tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận.
1.3.2 Sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng
RRTD là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự tổn thất về vốn của các NHTM
Thường thu nhập của các NHTM được đem lại chủ yếu là từ nguồn thu nhậpcủa hoạt động tín dụng Thực tế, RRTD là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tổnthất về vốn cho các NHTM Vì vậy, RRTD được xem là một trong những nhân
tố hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá vàQLRRTD hiệu quả Một khi ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay cóRRTD cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tínhthanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh cũng như lợinhuận của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản Cho nên, các NHTM cầnphải chú trọng hơn nữa đến QLRRTD để có những giải pháp cụ thể nhằm ngănngừa và hạn chế tối đa RRTD xảy ra
QLRRTD là thước đo năng lực kinh doanh của các NHTM
Tình hình kinh tế ngày càng có nhiều biến động, thị trường tài chính, tiền
tệ và ngân hàng cũng diễn biến phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là RRTD.Mặc dù, trước khi cho vay nhân viên ngân hàng đã tìm hiểu thị trường và dự đoánnhững rủi ro có thể xảy ra nhưng sự tiên liệu, phát hiện rủi ro tiềm ẩn và ứng phócủa nhân viên ngân hàng là có giới hạn, trên thực tế RRTD phát sinh do nhiềunguyên nhân, có thể do nguyên nhân khách quan, chủ quan hay do bất khả kháng…
Vì vậy, QTRRTD phải được xem là một nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo nănglực kinh doanh của các NHTM để ngăn ngừa và hạn chế tối đa những tổn thất doRRTD gây ra
QTRRTD tốt là một lợi thế cạnh tranh của các NHTM
Trang 11QTRRTD được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng sàn lọc đượcnhững khách hàng có năng lực pháp lý tốt, năng lực tài chính tốt, có tiềm năng pháttriển… nhằm giúp cho việc tài trợ vốn của ngân hàng thực sự mang lại hiệu quả,
và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM trong quá trình cạnh tranh
1.3.3 Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng
Mục tiêu của QTRRTD là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở giữ mức độRRTD hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng có thể chấp nhận, được kiểm soát vàtrong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng
Một số công cụ cần thiết trong quản trị rủi ro tín dụng
Chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Chính sách QTRRTD là hệ thống các quan điểm, chủ trương và biện phápcủa NHTM, để nhận diện và QTRRTD một cách có hiệu quả nhằm giảm thiệt hại vànâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nói cách khác, chính sáchQTRRTD là cơ chế và là chính sách cụ thể để giám sát và QTRRTD một cách có hệthống và hiệu quả
Do đó, các NHTM cần xây dựng cơ chế cấp tín dụng hợp lý như phâncấp quản lý và uỷ quyền trong phê duyệt tín dụng; xác định thị trường, ngành nghề,lĩnh vực cho vay; xây dựng các giới hạn trong hoạt động tín dụng; xây dựng chínhsách khách hàng; quy định về TSĐB…
Chính sách phân bổ tín dụng
dụng theo khu vực địa lý, chủ trương ưu tiên mở rộng hoạt động tín dụngtại những nơi có điều kiện mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng bảođảm, giới hạn một mức tối đa ở những khu vực có chất lượng tín dụng thấp
Trang 12- Phân bổ theo kỳ hạn cho vay và loại tiền cho vay: Việc cấp tín
dụng phải bảo đảm sự phù hợp giữa cơ cấu kỳ hạn và loại tiền cho vay.Chẳng hạn, như việc quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sửdụng để cho vay trung và dài hạn
mặt hàng và lĩnh vực đầu tư: Đa dạng hóa các sản phẩm cho vay theo
nguyên tắc hạn chế tối đa rủi ro, đa dạng hóa các đối tượng khách hàngnhằm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra, đa dạng lĩnh vực cho vay theo nguyêntắc phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế và chính sách vĩ mô của Nhànước
Lãi suất
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng,đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan Lãi suất là mộttrong những công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do NHNN điềuhành Nó có tác động rất lớn đối với việc thu hẹp hay mở rộng tín dụng, kích thíchhay cản trở đầu tư, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng Vì vậy,một chính sách lãi suất đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất, lưu thônghàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại
Trong thời gian qua, tình hình biến động theo chiều hướng tăng của lãisuất cho vay đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng của các NHTM.Thật vậy, lãi suất vay vốn trong thời gian qua luôn ở mức cao, đã tạo áp lực lớn
về tiền lãi vay của các doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế còn nhiều khókhăn và phức tạp như hiện nay Mặt khác, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu, điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại,giá cả vật tư hàng hóa tăng cao cùng với sự tăng cao của chi phí lãi vay đã làmcho hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị giảm sútmạnh, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không có khả năng đóng lãi vay và trả nợ
Trang 13gốc khi đến hạn, và nợ quá hạn phát sinh Vì vậy, các ngân hàng cần phải xemchính sách lãi suất là một công cụ cần thiết trong QTRRTD để có những giảipháp can thiệp kịp thời nhằm hạn chế tối đa RRTD xảy ra.
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Hiện nay, việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đang trở nên cầnthiết và quan trọng đối với công tác QTRR nói chung, đặc biệt là RRTD nóiriêng của các ngân hàng Việc thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ nhằm mục đích
là phân loại các khoản nợ, đánh giá chất lượng tín dụng, trích lập dự phòng trongcác hoạt động tín dụng của ngân hàng
Xếp hạng tín dụng nội bộ được xem là một công cụ hiệu quả trong công tác thẩmđịnh, ra quyết định cho vay và giúp ngân hàng có thể đánh giá chính xác mức độrủi ro của từng khoản vay, phân loại nợ theo thông lệ quốc tế, và cũng là cơ sở đểnâng cao chất lượng quản lý tín dụng và trích lập dự phòng phù hợp
Trang 14HƯƠ N G 2 :
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Khả năng quản trị rủi ro tín dụng khi các ngân hàng được công bố tăng hạn mức tín dụng:
Đầu tiên, TienPhong Bank vừa công bố được tăng trưởng tín dụng tối đa27% Ngay sau đó, OceanBank cũng đã được tăng trưởng tín dụng tối đa 27% Mạnhhơn, VPBank cũng được điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 lên 30%,tương đương mức dư nợ tín dụng đến cuối năm là 51.000 tỷ đồng HDBank cũng đãđược chấp thuận việc điều chỉnh dư nợ tín dụng đến ngày 31/12/2012 tối đa là23.115 tỷ đồng, tương đương tăng 30% so với cuối năm 2011
Nếu thực hiện chỉ tiêu tăng tín dụng từ 8-10% trong thời gian ngắn thì giảingân tín dụng sẽ ồ ạt, rất dễ dẫn đến thiếu thận trọng trong các hợp đồng tín dụng,làm tăng rủi ro tín dụng và nợ xấu trong tương lai, đi đôi với nguy cơ lạm phát cao
và bất ổn kinh tế vĩ mô quay trở lại
Trong mấy năm gần đây thì tốc độ tăng trưởng tín dụng đã lên tới khoảng30%/ năm Tốc độ tăng tín dụng quá cao trong khi hiệu quả sử dụng vốn tín dụngchưa cao … là cội nguồn dẫn đến lạm phát Vì thế, cần cẩn trọng để việc tăng vốnnhưng mang lại tăng trưởng thực tế và bền vững
Tín dụng tăng cao chưa chắc kinh tế tăng trưởng tương ứng vì hiệu quả sửdụng vốn không cao do tín dụng đưa ra thêm mà chưa điều phối dòng vốn vào khuvực sản xuất, doanh nghiệp hiệu quả … Như vậy rất có thể xảy ra lạm phát
Vì vậy, các ngân hàng phải tính toán kỹ và ước lượng khả năng quản trị rủi rotín dụng Khi một lượng vốn đổ ra ào ạt nếu không có sự quản lý chặt chẽ dòng tiềnthì sẽ rất rủi ro khi mà sức khỏe hệ thống ngân hàng vẫn chưa thực sự tốt Đây cũng
Trang 15là yếu tố quan trọng vừa nâng cao chất lượng tín dụng đẩy vốn đúng địa chỉ đồngthời kiểm soát rủi ro Ngành ngân hàng phải nhớ hậu quả nhãn tiền của việc tăngtrưởng tín dụng nóng những năm qua ít nhiều là thủ phạm của những món nợ xấuvẫn đang hiện hữu và lực cản cho việc khơi thông dòng vốn.
Tăng trưởng tín dụng có tác động tích cực làm cho GDP tăng; nhưng cũng cótác động ngược lại, nếu quản trị không khéo thì sẽ dễ xảy ra suy thoái kép
2.2 Quản lý rủi ro có nguyên tắc rất quan trọng là tài sản thế chấp chỉ là
nguồn trả nợ thứ yếu:
Trong suốt những năm phát triển vừa qua, Ngân hàng thương mại Việt Namchủ yếu quan tâm đến rủi ro tín dụng Đây là hoạt động chính của các Ngân hàngthương mại Để đảm bảo an toàn cho tín dụng các Ngân hàng thương mại sử dụng tàisản thế chấp Các ngân hàng cũng có phân loại tài sản đảm bảo như giấy tờ có giá(sổ tiết kiệm), bảo lãnh, chứng khoán và bất động sản
Chiếm phần lớn trong đó vẫn là Bất động sản như nhà xưởng, máy móc thiết
bị, nhà ở Điều này cũng phản ánh bản chất của nền kinh tế khi mà người dân vẫnquan niệm phải sở hữu Bất động sản, còn các doanh nghiệp thì không có vốn nênphải lấy đất đai nhà xưởng làm tài sản thế chấp
Với cách tư duy này các Ngân hàng thương mại coi việc thanh lý tài sản thếchấp là phương pháp chính để giải quyết các rủi ro của tín dụng Để có thể thanh lýđược thì tài sản thế chấp phải đảm bảo tính pháp lý, có giá trị, tính khả mại và có khảnăng quản lý
Các Ngân hàng thương mại vẫn thường nhận tài sản thế chấp Bất động sản vàcho vay tối đa 70% giá trị Bất động sản thế chấp Để an toàn hơn thì giá trị Bất độngsản thường được định giá thấp hơn so với giao dịch thực tế Tuy nhiên nhiều trườnghợp khi Bất động sản nằm ở vị trí không tốt, hay gặp phải quy hoạch thì ngân hàngkhông thể phát mại để thu hồi vốn
Trang 16Nếu như hầu hết các tài sản thế chấp đều là Bất động sản thì việc thị trườngBất động sản đi xuống, mất thanh khoản sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới giá trị tài sản thếchấp Do đó quản lý rủi ro có nguyên tắc rất quan trọng là tài sản thế chấp chỉ lànguồn trả nợ thứ yếu, nguồn chính phải là doanh thu và dòng tiền trả nợ của ngườivay.
2.3 Tư duy mới về quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
Quản trị rủi ro tín dụng được coi là có nhiều kinh nghiệm nhất thì các Ngânhàng thương mại cũng chưa có nhận thức đầy đủ Rủi ro tín dụng hiện mới được cácNgân hàng thương mại hiểu là rủi ro khi khách hàng không trả được nợ Thực tế thìcòn một loại rủi ro tín dụng khác là rủi ro danh mục Rủi ro danh mục tín dụng là khitín dụng Ngân hàng thương mại tập trung quá nhiều vào một loại tín dụng không đadạng hóa mà thường “bỏ trứng vào một giỏ” Nhiều Ngân hàng thương mại hiện gặpphải vấn đề này khi mà dư nợ cho vay Bất động sản quá cao và thị trường Bất độngsản có những biểu hiện suy giảm, mất thanh khoản
Ngân hàng nhà nước đã có thực hiện lấy ý kiến chuyên gia để ban hành thông
tư quản lý rủi ro nhưng nhiều ý kiến cho rằng cần phải sửa đổi nhiều để thông tư banhành thực sự nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong hệ thống Ngân hàng thươngmại
Điều quan trọng hiện giờ là hình thành văn hóa quản lý rủi ro và nâng caonhận thức của Hội đồng quản trị về quản lý rủi ro cho chính ngân hàng của mình.Ngân hàng thương mại nên và phải ở vị trí chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạtđộng và rủi ro do ngân hàng gánh chịu Điểm thứ hai là sự độc lập của hoạt độngkiểm soát rủi ro trong các tổ chức tín dụng và tránh sự chồng chéo chức năng nhiệm
vụ dẫn đến xung đột lợi ích và xung đột mục tiêu
Để thực hiện những điều này chắc chắn các ngân hàng sẽ phải bỏ ra mộtnguồn lực không nhỏ để có được hệ thống quản lý rủi ro lành mạnh Điều này có thể
Trang 17làm các ngân hàng hy sinh lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng sẽ đảm bảo lợi thế cạnhtranh trong dài hạn và có được sự tin tưởng từ các nhà đầu tư trên thị trường vàngười dân.
Với sự hội nhập kinh tế và sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài cũngnhư cơ hội để các ngân hàng Việt Nam có hoạt động kinh doanh và hiện diện ở nướcngoài thì việc áp dụng các chuẩn mực quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế là rất cầnthiết
2.4 Xử lý nợ xấu:
Nợ xấu lớn và có chiều hướng tăng nhanh trong hệ thống các tổ chức tín dụnghiện nay đang tác động tiêu cực đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhànước và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng
Thứ nhất, nợ xấu lớn làm giảm khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng.
Do không thu hồi được các khoản nợ, tổ chức tín dụng thiếu nguồn thu để chi trả cáckhoản tiền gửi và nghĩa vụ nợ đến hạn Ở một số tổ chức tín dụng yếu kém, nợ xấu
là nguyên nhân chủ yếu gây mất khả năng chi trả và an toàn hoạt động
Thứ hai, nợ xấu lớn, tăng nhanh dẫn đến các chi phí dự phòng rủi ro phải
trích lập lớn làm tăng chi phí hoạt động và giảm hiệu quả kinh doanh của các tổ chứctín dụng Vì vậy, tổ chức tín dụng có xu hướng giảm lãi suất cho vay chậm hơn lãisuất huy động Một bộ phận tổ chức tín dụng có nợ xấu lớn đã đẩy mạnh huy độngvốn trên thị trường làm chậm quá trình giảm lãi suất trong thời gian qua
Thứ ba, nợ xấu lớn gắn liền với giảm/thiếu thanh khoản cũng là một trong
những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế khả năng cấp tín dụng của tổ chức tíndụng cho nền kinh tế trong các tháng đầu năm 2012 Khách hàng có nợ xấu, nợ quáhạn tại các tổ chức tín dụng cũng gặp khó khăn hơn trong việc vay mới tại tổ chứctín dụng Do đó, trong những tháng đầu năm 2012 dư nợ của hệ thống các tổ chứctín dụng tăng không đáng kể
Trang 18Khi nhìn nhận về những hạn chế, yếu kém của năm 2012, Chính phủ cũng tỏ
ra quan ngại về tổng dư nợ tín dụng tăng thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra vàchênh lệch lớn so với tốc độ tăng huy động vốn Tình trạng nợ xấu của hệ thốngngân hàng chậm được giải quyết
Tùy từng ngân hàng sẽ tính toán để giảm lãi suất vay thấp nhất giúp tháo gỡ
khó khăn trong doanh nghiệp, giảm chi phí giá thành, giảm chi phí cho ngân hàng
Dư nợ cho vay bất động sản những tháng cuối năm có tăng, nhưng mức tăng không đáng kể
Tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2012 ước khoảng 6.17% Hiện tại nợ xấu đã có xuhướng giảm so với những tháng đầu năm nhờ: các ngân hàng đã tích cực xử lý nợxấu của họ; xử lý bằng nguồn trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; phối hợp với cácdoanh nghiệp thực hiện theo Nghị quyết 13 – cho vay mới, thu hồi khoản cũ nhằmgiảm nợ xấu; các ngân hàng đã định kỳ lại các khoản nợ, cho vay lĩnh vực ưu tiên
Mục tiêu giảm nợ xấu ngân hàng xuống dưới 3% vào năm 2013 được đưa ratại báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 2012, kế hoạch 2013 của Bộ Kế hoạch Đầu tưtrình lên Ủy ban Kinh tế Quốc hội Phần nhiệm vụ, giải pháp cho năm sau, báo cáonêu rõ “thực hiện mạnh mẽ tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung trước hết vào ba lĩnhvực: đầu tư công, hệ thống các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp nhà nước”
Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố trên website chínhthức, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng không ngừng tăng Tính từ cuối năm
2011 đến 30/4/2012, tỷ lệ nợ xấu đã tăng từ 3,07% lên 4,22% Căn cứ vào mức dư
nợ tín dụng đã được NHNN công bố (hơn 2.600 nghìn tỷ đồng tính đến 30/4/2012),
số nợ xấu tăng từ 80,8 nghìn tỷ đồng lên 110,4 nghìn tỷ đồng
Chỉ trong 4 tháng đầu năm, nợ xấu của toàn hệ thống đã tăng gần 30 nghìn tỷđồng, tức tăng 36,6% (tăng bình quân 9,2%/tháng)
Trang 19Tuy nhiên, với số nợ xấu này, NHNN vẫn chưa cho biết nợ nhóm 3 (nợ dướitiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) chiếm
tỷ trọng bao nhiêu Cùng với đó, cũng chưa có số liệu cho biết nợ nhóm 1 (nợ đủtiêu chuẩn) chiếm tỷ trọng như thế nào
Theo cơ quan thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước, các khoản nợ đượcphân loại, trích lập dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng mới chỉ bao gồm cáckhoản cấp tín dụng, trong khi nhiều tài sản tiềm ẩn rủi ro tín dụng khác như cáckhoản đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp lại chưa được phân loại Ngoài ra, một
số tổ chức tín dụng hạch toán các khoản có tính chất cấp tín dụng vào các tài khoảnkhác, ví dụ tài khoản phải thu, mua trái phiếu doanh nghiệp , dẫn đến việc phân loại
nợ chưa chính xác
Trước tình hình đáng báo động của nợ xấu, thị trường đang rất chờ đợi về đề
án thành lập công ty mua bán nợ được NHNN xây dựng Song, với chủ trương
không dùng ngân sách Nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại, nhà điều
hành sẽ cần nghiên cứu, xem xét rất nhiều trước khi được trình lên Chính phủ và
công khai lấy ý kiến
Một số giải pháp xử lý nợ xấu:
Trang 20- Về phía ngân hàng, chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện đúng các quy định của
pháp luật về hoạt động cho vay, tỷ lệ an toàn vốn và giới hạn cấp tín dụng, khôngcho vay mới để trả nợ cũ với mục đích che giấu nợ cũ
Yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động phối hợp với khách hàng vay để thựchiện việc đánh giá chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ để có biện pháp xử
lý phù hợp, như: Cơ cấu lại nợ một cách cách hợp lý để giảm khó khăn tài chính tạmthời cho doanh nghiệp, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định, thựchiện tốt việc mua bán nợ
Trường hợp tổ chức tín dụng có nhu cầu chào mua, bán các khoản nợ nhưngchưa tìm được bên bán nợ/bên mua nợ, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tíndụng tổng hợp, báo cáo để Ngân hàng Nhà nước thông tin, khuyến nghị các tổ chứctín dụng khác tham gia mua/bán
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ khó khăn cho doanhnghiệp thông qua giảm lãi suất tiền vay đối với cả lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vựcsản xuất kinh doanh khác
Rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dựphòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam,đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạtđộng ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi rotín dụng trong hoạt động ngân hàng
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảođảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặcbiệt là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định
về an toàn hoạt động tín dụng
Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai
có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ