1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình

117 1,2K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Trường học Trường Đại Học Thái Bình
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài:Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn vàgần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Khu vực nông thôn có 13triệu hộ trong đó có khoảng 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp Vì thế đảm bảosinh kế bền vững cho hộ nông dân là vấn đề được quan tâm nhiều trong nông thônkhi mà hiện nay quá trình CNH - HĐH ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh chóng.Ngay từ Đại hội Đảng VI (1986) Đảng và nhà nước ta đã chủ trương xây dựng nềnkinh tế thị trường theo định hướng XHCN, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp.Đến nay Việt Nam đã có khoảng trên 150 KCN tập trung với diện tích đất tự nhiênvào khoảng 30.000ha ở 45 tỉnh thành trong cả nước, thu hút hàng nghìn dự án vớitổng số vốn đầu tư lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng

Quá trình phát triển KCN đã mang lại nhiều kết quả tốt, giúp nhiều địaphương có điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên cùng với đó là việcthu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng ngàn hộ gia đình Các hộ

bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông nghiệp Sau khi bị thu hồi đất, cónhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng

có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm Hàng năm có khoảng 50 – 60 nghìn

ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng vớikhoảng 1.5 lao động/hộ bị mất việc làm.Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nôngdân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị,các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáotrộn xã hội Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìmcách kiếm sống mới Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động chân tay, ngườinông dân đã xoay xở như thế nào với cuộc sống mới? Có nhiều người phải đổ rathành thị để kiếm việc làm và đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ítlao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao độngtìm kiếm việc làm tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xâydựng nhà ở cho thuê ) Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất cũng bị

Trang 2

tác động đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sanglàm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công nghiệp Đảng và nhà nước tacũng đã có nhiều biện pháp tác động nhằm ổn định đời sống cho người dân sau khi

bị thu hồi đất như: Chính sách định cư, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổinghề… Mặc dù thế vấn đề sinh kế của người dân mất đất sản xuất nông nghiệpcòn gặp rất nhiều khó khăn

Như vậy, cùng với tốc độ hình thành các KCN thì số lao động nông nghiệpkhông còn đất sản xuất nông nghiệp hoặc còn quá ít đất sản xuất nông nghiệp ngàycàng tăng lên, trong số đó một số đã thích nghi được với điều kiện mới và đã tìmđược việc làm đảm bảo cho cuộc sống, xây dựng mô hình sinh kế phù hợp với điềukiện của hộ, tăng thu nhập, song nhiều hộ lại vẫn đang thiếu việc làm, rất cần sự trợgiúp của các cấp, ngành và của địa phương để họ ổn định với cuộc sống mới

Xã Đông Mỹ là một xã nằm ven trung tâm thành phố Thái Bình - tỉnh TháiBình, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội Theo quy hoạch của tỉnh TháiBình năm 2007 đã thu hồi gần 14ha đất nông nghiệp của xã để xây dựng khu côngnghiệp Gia Lễ Gần 140 hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất Có nhiều lao động đượcnhận vào làm việc trong nhà máy thuộc khu công nghiệp và cũng có nhiều lao động chỉ

có việc làm tạm thời hoặc rơi vào cảnh thiếu việc làm Họ phải đi làm thuê để kiếmsống hoặc mở quán nước Nhìn chung đời sống của họ cũng còn nhiều khó khăn Vấn

đề đặt ra là sau khi mất đất sinh kế của các hộ dân thay đổi như thế nào? Có đảm bảocho cuộc sống hiện tại của họ hay không? Mức sống của họ thay đổi ra sao? Làm sao

để ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho họ?

Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 3

- Góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về sinh kế của hộ nông dân sauthu hồi đất để xây dựng KCN.

- Đánh giá thực trạng sinh kế và kết quả sinh kế sau thu hồi đất của hộ nôngdân xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sinh kế cho hộ nông dânsau thu hồi đất

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân, nguồn lực sinh kế, các hoạtđộng tạo thu nhập, sự chuyển đổi nghề nghiệp sau khi mất ruộng, thu nhập và đờisống của các hộ dân xã Đông Mỹ sau thu hồi đất

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sinh kế của hộnông dân sau thu hồi đất sản xuất cho xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ.Phân tích quá trình thay đổi sinh kế và các yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế của ngườidân trong xã, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục và phát triển kinh tế hộ

- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xã Đông Mỹ, thành phốThái Bình, tỉnh Thái Bình

- Phạm vi về thời gian:

+ Số liệu được thu thập qua 3 năm (2006 - 2008)

+ Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 08/01/2009 đến ngày 22/5/2009

Trang 4

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp

Có nhiều khái niệm về khu công nghiệp, tuy nhiên có thể liệt kê một số kháiniệm sau:

KCN: là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp và cả xí nghiệp công nghiệp,doanh nghiệp phục vụ sản xuất và doanh nghiệp phục vụ khác Có ranh giới địa lýxác định Các doanh nghiệp trong KCN cùng xây dựng một hệ thống kỹ thuật hạtầng và hạ tầng xã hội

KCN tập trung là một khu vực được xây dựng cho các xí nghiệp công nghiệpvừa và nhỏ Trong đó có sẵn các khu nhà máy cũng như các dịch vụ và tiện nghicho những người làm việc trong KCN sinh sống

Chức năng chủ yếu của KCN là sản xuất và cung cấp dịch vụ trực tiếp phục

vụ sản xuất Trong những trường hợp cụ thể KCN có thể có khu dịch vụ công cộng,khu nhà ở… trong KCN có thể có khu chế xuất, khu kỹ thuật cao

Các KCN ở Việt Nam do Chính phủ quyết định thành lập và quản lý pháttriển theo một quy chế riêng

Có nhiều khái niệm về KCN

- KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xenvới nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt,vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… Thực chất mô hình này là khuhành chính kinh tế đặc biệt như KCN Bata (Indonexia), các khu công viên côngcộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây Âu

Trang 5

Như vậy KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách trong đườngbao hữu hình hoặc vô hình Được phân bổ tập trung với hạt nhân là doanh nghiệp sảnxuất công nghiệp (hay tiêu dùng, công nghệ chế biến, tư liệu sản xuất) và hệ thốngdoanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công nghiệp

sử dụng hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo cơ chế tổ chức quản lý thống nhất của Banquản lý KCN Trong KCN có doanh nghiệp xây dựng KCN, có trách nhiệm đảmbảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong thời gian tồn tại KCN

Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động trong nước và tại chỗ

Được quản lý trực tiếp của Chính phủ (từ quyết định thành lập, quy hoạchtổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát…)

* Vai trò của xây dựng KCN

+ Thu hút vốn đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế

+ Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu

+ Tạo nhiều việc làm cho lao động Trong khi các nước đang phát triển dưthừa sức lao động thì tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ởcác nước tư bản phát triển đặt các nước này trước sự lựa chọn sử dụng lao động dồidào ở các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu thựchiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sửdụng lao động một cách hiệu quả nhất ở các nước đang phát triển

+ Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

+ Chuyển giao công nghệ mới Nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽnâng cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cán bộ kỹ thuật, và như vậy sẽ

có một lực lượng lao động có tay nghề cao trong sản xuất

+ Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm bảo sự phát triển kinh tế

xã hội trong vùng

+ Kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường Do tập trung các cơ sở sản xuấtnên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát xử lý chất thải và bảo vệ môi trường.KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thànhphố lớn, phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững

Trang 6

+ Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đôthị hoá Xây dựng KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác động lan toảtích cực trong việc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.

+ KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốcgia KCN là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính sách kinh tếđối ngoại KCN luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh tế đối ngoại và củatoàn bộ nền kinh tế

+ KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân KCN sẽ

là đầu tầu tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự phát triển ở những vùng lân cận vànhững vùng khác của đất nước

* Một số mô hình công nghiệp khác: KCN địa phương, khu TTCN, KCN (nông –

lâm – ngư nghiệp) là các khu sản xuất gắn với địa phương có các nghề TTCN, nghềtruyền thống, sản xuất sản phẩm nông – lâm – ngư nghiệp kết hợp với dịch vụ kinhdoanh du lịch…

Đặc điểm cơ cấu sản xuất của các KCN này chủ yếu dành cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ gắn với vùng dân cư có các nghề nghiệp truyền thống, TTCN vàcác lợi thế về nông – lâm – ngư nghiệp (cây trồng, chăn nuôi, chế biến)

+ Thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài KCN là nơi du nhập kỹthuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản

Trang 7

+ KCN tạo thêm nhiều ngành nghề, dịch vụ phát triển từ đó giải quyết việc làm chomột lực luợng lớn lao động tại chỗ cũng như trong vùng Bên cạnh đó cũng kíchthích các ngành nghề truyền thống ở địa phương phát triển do nguời dân không cònđất sản xuất.

+ KCN phát triển người dân trong vùng có cơ hội kinh doanh các loại hình dịch vụ

để tăng thu nhập

+ KCN góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương có KCN, CSHTcủa địa phương phát triển, cơ sở vật chất của hộ cũng được tăng thêm nhờ số tiềnđền bù Chuyển dịch nguồn lực lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.+ Trình độ dân trí và ý thức cộng đồng ngày càng nâng cao hơn

 Tác động tiêu cực:

+ Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng KCN đã làm mất đi tài sảnsinh kế đặc biệt của nông dân là đất đai, hàng vạn lao động phải chuyển đổi nghềnghiệp, số người có công việc gắn với công nghiệp hóa tăng rất ít, nguy cơ thấtnghiệp cao

+ Tệ nạn xã hội ở địa phương có nguy cơ gia tăng do lực lượng lớn lao động ở vùngkhác vào làm việc ở KCN và tạm trú ở địa phương

+ Giá cả lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng sẽ tăng lên do nhu cầu tăng lên.+ Nhiều hạng mục công trình bị phá vỡ một phần do việc xây dựng KCN (như côngtrình thủy lợi, nước sạch…)

+ KCN làm giảm quỹ đất nông nghiệp, từ đó làm phá vỡ môi trường tự nhiên, suygiảm hệ động thực vật Chất thải của KCN làm ô nhiễm môi trường đất, môi trườngđất, môi trường không khí, môi trường nước (nhiều con sông bị ô nhiễm, nước sinhhoạt cũng bị ô nhiễm) Điều đó ảnh hưởng đến đời sống của nguời dân

+ KCN tăng làm lối sống đô thị thâm nhập vào quan hệ cộng đồng làng xã, làmtruyền thống làng xã mất dần đi

Như vậy, việc xây dựng KCN giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội - vănhóa của địa phương cũng như của đất nước Phát triển KCN góp phần đẩy mạnhCNH – HĐH đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì nó cũngđưa đến nhiều tác động tiêu cực cần khắc phục

Trang 8

2.1.2 Khái niệm và nội dung sinh kế

2.1.2.1 Khái niệm về sinh kế

Phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mớitrong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống hộ gia đình

mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng bền vững và hiệu quả.Người đi đầu về nội dung sinh kế đó là Robert Chambers trong tác phẩm của ôngvào những năm 1980 (sau đó được phát triển và hoàn thiện hơn nữa bởi Chamber,Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quanphát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện Phươngpháp tiếp cận sinh kế đã được phát triển và hoàn thiện ở các nước phát triển trên thếgiới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFDI) về

“Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững” Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra trong Sách Trắng năm

1997 nhằm đạt được những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo

Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như

là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”.

Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ nhữnghoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có củacon người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độphát triển của khoa học công nghệ

Tiếp cận sinh kế là cách tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho pháttriển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo Đây là phương pháp tiếp cận sâu rộng vớimục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặttrọng của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố (như các vấn đề kinh tế,

Trang 9

lấy người dân làm trung tâm Phương pháp này thừa nhận người dân có nhữngquyền nhất định, cũng như trách nhiệm giữa họ với nhau và xã hội nói chung

Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giácác chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiên có, sửdụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiêncứu Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt vàkhả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống

Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồmnhững vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các

nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ (Seppala, 1996) Để duy trì hộ, hộ gia đình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau, theo (Seppala, 1996) chiến lược

sinh kế có thể chia làm 3 loại:

Chiến lược tích luỹ: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và cóthể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ và giàu có

Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thunhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội

Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thunhập chỉ để tồn tại mà không tích luỹ

2.1.2.2 Khung sinh kế bền vững

Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh

kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể sử dụng đểlên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sựbền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:

- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên

hệ giữa những thành phần này

- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng

- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnhhưởng tới sinh kế

Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:

Trang 10

Sơ đồ 2.1: Khung sinh kế bền vững

Chú thích: N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên

H (Human Capital): Nguồn lực con người

P (Physical Capital): Nguồn lực vật chất

F (Financial Capital): Nguồn lực tài chính

S (Social Capital): Nguồn lực xã hội

Đây là khung giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh kế hiệnhữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển và các hoạtđộng khác Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện cónhư phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phương pháp đánh giá

Khả năng phục hồi sau sốc Thiết lập trạng thái cân bằng mới

KẾT QUẢ ĐẦU RA

- Cuộc sống của hộ ra sao? (cải thiện an ninh lương thưc? Thu nhập tốt hơn? Giảm tính dễ

bị tổn thương?)

- Năng lực của hộ có được cải thiện? (sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên)

CÁC LỰA CHỌN CỦA HỘ

- Các hoạt động tạo thu nhập

- Xây dựng năng lực

- Các lựa chọn khác được xem như quá trình điều chỉnh và thích ứng sau sốc

Các tài sản (N, H, P,

Trang 11

- Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tàisản sinh kế của người dân.

- Các chiến lược mà người dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình.Khung sinh kế giúp ta sắp xếp những nhân tố gây cản trở hoặc tăng cường các

cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thức chúng liên quan với nhau như thế nào

Nó không phải là mô hình chính xác trong thực tế mà nó chỉ đưa ra một cách tư duy

về sinh kế, nhìn nhận nó trên góc độ phức hợp và sâu rộng nhưng vẫn trong khuônkhổ có thể quản lý được Khung sinh kế luôn được đặt trong trạng thái động, nókhông có điểm đầu, điểm cuối Giá trị của một khung sinh kế giúp cho người sử dụngnhìn nhận một cách bao quát và có hệ thống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mốiquan hệ giữa chúng Có thể đó là những cú sốc và các xu hướng bất lợi, các chínhsách và thể chế hoạt động kém hiệu quả hoặc việc thiếu cơ bản các tài sản sinh kế

Mục đích sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà conngười đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như đểđạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Mà những mục tiêu và ước nguyện màcon người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi làkết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể

cả trước mắt cũng như lâu dài

Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn tớicác hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũngcho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới Kết quả sinh

kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khảnăng tổn thương giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững cácnguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó cần phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đấtđai, vốn, khoa học công nghệ

2.1.2.3 Các thành phần của khung sinh kế bền vững

a, Hoàn cảnh dễ bị tổn thương

Hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người.Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướngchủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính những điều này khiếnsinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được

Trang 12

Một số ví dụ về các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản và sinh kế của con người:

- Xu hướng: xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột, xu hướngkinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng thể chế (bao gồm chính sách, những xuhướng kỹ thuật )

- Cú sốc: cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh câytrồng vật nuôi

- Tính thời vụ: biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc.Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tácđộng trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ

mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi

b, Những tài sản sinh kế

Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người Nó cốgắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sảnhoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích

Sơ đồ 2.2: Tài sản sinh kế của người dân

Nguồn: http://www.livelihoods.org/info/guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf

Trang 13

kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ giađình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Nhữngthay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo

vệ sức khoẻ

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nó được xem lànền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập

Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người dân ở nông thôn?

Việc hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong

cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người, chính bản thân

họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khoá đàotạo hay trường học Tiếp cận với các dịch vụ phòng ngừa dịch bệnh Trong trườnghợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (những tiêu chuẩn

xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn cấm phụ nữ tới trường) thì việc hỗ trợ giántiếp vào việc phát triển vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trong nhiều trường hợp ta nên kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ Cơ chế phùhợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ là thực hiện các chương trình trọng điểm Cácchương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đế xuấtnhững thông tin thông qua việc phân tích các phương thức kiếm sống để chắc chắnrằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất

Cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, côngnghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồnvốn con người

- Nguồn vốn xã hội

Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người vẽ ra

để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm:

Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen)

và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động làm tăng cả uytín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như cácthể chế chính trị và cộng đồng

Là thành viên trong một nhóm ảnh hưởng hoặc kế thừa triệt để các quyết địnhchung, các quy tắc được chấp nhận, các tiêu chuẩn và mệnh lệnh Uy tín của các mối

Trang 14

quan hệ, sự nhân nhượng và sự trao đổi khuyến khích kết hợp, cắt giảm các chi phí giaodịch và có thể tạo ra một mạng lưới không chính thức xung quanh vấn đề nghèo đói

Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắcnhất đối với sự chuyển dịch quá trình và chuyển dịch cơ cấu Thực sự có thể là hữu íchnếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua các mốiquan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xãhội Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn

VD: + Khi người ta sẵn sàng liên kết các tiêu chuẩn và mệnh lệnh thôngthường chúng có thể làm cho việc hình thành các hoạt đông mới dễ dàng hơn đểtheo đuổi các mối quan tâm của họ

+ Những người có địa vị trong xã hội giúp chúng ta gọt giũa các chínhsách và bảo đảm rằng các mối quan tâm của họ được thể hiện trong luật pháp

Làm gì để tạo ra nguồn vốn xã hội cho người dân nông thôn?

Hầu hết những nỗ lực xây dựng vốn xã hội đều tập trung vào các thể chế địaphương, ngay cả hoạt động trực tiếp (thông qua việc tạo ra các khả năng, huấnluyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc gián tiếp thông qua việc tạo ra mộtmôi trường dân chủ thông thoáng

Trong khi việc trao quyền cho các nhóm có thể xem như một mục tiêu chính,vốn xã hội có thể được xem là sản phẩm phụ trong các hoạt động khác (tham gianghiên cứu sự hình thành nên các nhóm để phát triển và kiểm tra các công nghệ cókhả năng nâng cao đời sống của họ) Thông thường, những biến động gia tăngnguồn vốn xã hội được theo đuổi cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác Do đócần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm và tín dụng vào nguồn vốn xãhội Cũng như việc kết hợp quản lý các tai hoạ cần phải dựa vào việc kết nối cáchành động để hạn chế chúng

- Nguồn vốn tự nhiên

Trang 15

Trong khung sinh kế bền vững Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và cáctổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh nhai của người nghèothường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháyrừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) Và tính mùa vụthì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tựnhiên qua các năm.

Điều gì có thể làm nên nguồn vốn tự nhiên cho người dân nông thôn?

Mục tiêu sinh kế hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người

và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc (những cách thức phân phốiđất, các quy tắc rút ra từ việc đánh bắt cá) trong quá trình xác định cách mà cácnguồn vốn tự nhiên được tạo ra và sử dụng

Những tiến trình và cấu trúc điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối vớinguồn lực tự nhiên và có thể khuyến khích, hoặc ép buộc khi cần thiết để cải thiệnviệc quản lý các nguồn lực Nếu các thị trường hoàn thiện hơn thì giá trị các nguồnlực cũng được cao hơn, việc xúc tiến quản lý tốt hơn (trong một vài trường hợp, thịtrường phát triển có thể dẫn đến sự sụt giảm doanh số bởi vì nghèo đói có thể làmtăng sự cơ cực)

Việc hỗ trợ gián tiếp đối với vốn tự nhiên thông qua sự chuyển đổi các tiếntrình và cấu trúc thì có ý nghĩa rất quan trọng Sự hỗ trợ trực tiếp tập trung vào cácnguồn lực mà chính các nguồn lực đó có thể chống lại khả năng sử dụng các nguồnlực đó của con người vẫn có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai Mộttrong các thành phần chính của mục tiêu sinh kế bền vững là tin và theo đuổi mụctiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau Sao cho không ảnh hưởng đến sự ổnđịnh của môi trường (ổn định nguồn vốn tự nhiên và các dịch vụ của nó, như giảmkhí cacbon và quản lý sự xói mòn)

- Nguồn vốn vật thể

Vốn vật thể gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh

kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấpnăng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin

Chúng ta phải làm gì để tạo ra nguồn vốn vật thể cho người dân nông thôn?

Trang 16

Trước đây DFID đã khuyến khích việc dự trữ trực tiếp hàng hoá sản xuất chongười nghèo Có thể là vấn đề của một số nguyên nhân:

• Hoạt động nhỏ một nhà cung ứng trực tiếp hàng hoá sản xuất dẫn đến sựphụ thuộc và phá vỡ thị trường tư nhân

• Dự trữ trực tiếp có thể làm giảm sự tham gia cải thiện cơ cấu và quy trìnhthể chế để đảm bảo những gì đạt được là bền vững và hàng hoá sản xuất được sửdụng là tốt nhất

Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận thích hợp, nhữngthứ giúp ích cho sinh kế của người nghèo Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiếtlập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng

Vốn vật thể (in particular infrastructure) có thể là đắt đỏ Nó không chỉ yêucầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra

và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ.Vìvậy, việc nhấn mạnh cung cấp một dịch vụ không chỉ đáp ứng những nhu cầu trunggian của người sử dụng mà còn phải đủ trong thời gian dài Nó không chỉ quantrọng để cung cấp sự khuyến khích cùng một lúc đến phát triển kĩ năng, năng lực đểđảm bảo việc quản lý có hiệu quả của dân chúng địa phương

Cơ sở hạ tầng là một trong những loại tài sản hỗ trợ trực tiếp người dân, đặcbiệt là người nghèo Tài sản này có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cáchnhanh chóng, nếu được đầu tư đúng, và phù hợp với sinh kế hộ nghèo Như hệthống đường xá, vận tải, y tế

- Nguồn vốn tài chính

Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướngtới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chấtkinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùngsản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế

Trang 17

hàng, hoặc tài sản thanh khoản khác như vật nuôi, nữ trang Nguồn lực tài chính

có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng

+ Dòng tiền đều: Ngoại trừ thu nhập hầu hết loại này là tiền trợ cấp, hoặc sựchuyển giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xácthực (trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khácnhau giữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư)

Chúng ta làm gì để tạo nguồn vốn tài chính cho người dân nông thôn?

Những chi nhánh ngân hàng phát triển không giao tiền cho người nghèo ( hỗtrợ trực tiếp vốn tài chính) Người nghèo ít có khả năng vay, vì ít tài sản thế chấp,đồng thời cho người nghèo vay rủi ro thường cao hơn, đó là việc không trả được nợ

Do đó tiếp cận vốn tài chính đối với người nghèo chỉ có thể thông qua các tổ chức,trung gian gián tiếp Có thể là:

+ Mang tính tổ chức: Tăng tiết kiệm và dòng tài chính nhờ sự hỗ trợ để pháttriển sản xuất hiệu quả thông qua những tổ chức dịch vụ tài chính cho người nghèo.Bằng cách truyền đạt cho họ phương thức sản xuất hiệu quả, đồng thời các dịch vụtài chính này, cần phải đảm bảo nguồn hỗ trợ không bị thất thoát, người nhận cuốicùng phải là người nghèo

+ Có tính chất cơ quan: Tăng sự tiếp cận dịch vụ tài chính, vượt qua rào cảnliên đới những người nghèo với nhau ( cung cấp cho họ sự bảo đảm hoặc máy mócđồng nhất để họ có được những loại tài sản hoạt động song song nhau)

+ Lập pháp/ sự điều chỉnh – cải thiện môi trường dịch vụ tài chính để tổchức hoặc giúp đỡ chính phủ cung cấp tốt hơn độ an toàn cho những ngườinghèo (như trợ cấp)

Vấn đề có tính tổ chức của sự bền vững là sự gia nhập quan trọng của bộphận tài chính vi mô Trừ khi người ta tin tưởng rằng những tổ chức dịch vụ tàichính sẽ tồn tại theo thời gian và sẽ tiếp tục đưa ra lãi suất hợp lý, họ không thể giaophó tiết kiệm của họ cho những tổ chức đó hoặc tin rằng sẽ được trả nợ

Khi tiết kiệm không theo một hình thức rõ ràng, đặc biệt đến nhu cầu và vănhoá của chính người sử dụng, cách thức hỗ trợ khác nhau có thể thích hợp Ví dụ,người chăn nuôi có được lợi nhuận từ việc cải tiến sức khoẻ vật nuôi và hệ thốngtiếp thị, thị trường giảm rủi ro khi kết hợp với tiết kiệm của họ (ở hình thức vậtnuôi) hơn là thiết lập ngân hàng địa phương

Trang 18

Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản

- Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộngđồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó

- Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có thể tiếp cậnchắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ cóthể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê

- Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay đổiliên tục theo thời gian

- Hình dạng của ngũ giác diển tả khả năng tiếp cận của người dân với cácloại tài sản Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào Các điểmnằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản Như vậy những ngũ giác cóhình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc chonhững nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó Điều quan trọng là một tài sảnriêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Sơ đồ hình ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm rađiểm nào thích hợp, những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hộikhác nhau và cân bằng giữa những tài sản đó như thế nào

c, Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế

Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của

họ Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiềucách sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộcvào điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thi trường, việc làm trongnền kinh tế và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sửdụng những gì mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại

Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của

họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của cáchoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được

Trang 19

sao ? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kếtrước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của những thay đổicuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được.

2.1.2.4 Mối quan hệ giữa các loại tài sản trong khung

a, Quan hệ giữa các tài sản

Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quả sinh

kế có lợi Hai loại quan hệ quan trọng là:

- Sự tuần tự: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêm cácloại tài sản khác Ví dụ người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính) để mua sắm vậtdụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể)

- Sự thay thế: Một loại tài sản có thể thay thế cho những loại tài sản kháckhông? Sự gia tăng nguồn vốn con người có đủ đền bù sự thiếu hụt nguồn vốn tàichính không? Nếu có, điều này có thể dựa vào mở rộng lựa chọn cho cung cấp

b, Mối quan hệ trong khung

- Tài sản và hoản cảnh dễ bị tổn thương: Tài sản có thể vừa bị phá huỷ vừađược tạo ra thông qua các biến động của hoàn cảnh

- Tài sản và sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế: Thể chế, chính sách

và sự chuyển dịch cơ cấu, quy trình sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năngtiếp cận tài sản

- Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng CSHT cơ bản (nguồn vốn hữuhình) hoặc phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tại của những thểchế địa phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội

- Xác định cách tiếp cận tài sản: Quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnhcách tiếp cận với những nguồn tài nguyên phổ biến

- Ảnh hưởng tỉ lệ tích luỹ tài sản: Chính sách thuế ảnh hưởng đến doanh thucủa những chiến lược sinh kế

Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân vànhững nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế.Nói chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càngnhiều Vì vậy một cách để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dânxây dựng những tài sản của họ

Trang 20

Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh

hướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược đểđảm bảo sinh kế của họ

Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộc

chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau cần

để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau

Ví dụ thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính: Diệntích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định ngoàiđất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới Tất cả cácyếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ Sự giatăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nôngnghiệp, bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việclàm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển

(Seppala, 1996) từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn.

Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, cóthể góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thunhập nông hộ gia tăng Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần laođộng gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và cáchoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thươngmaị và dịch vụ Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhậpthông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng

cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn.Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũnglàm tăng thêm thu nhập của nông hộ

2.2 Vấn đề sinh kế hộ nông dân và thay đổi sinh kế hộ nông dân ở một số

Trang 21

giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn,hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thếnhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và mở cửa nền kinh tếnăm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông quachính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ở nông thôn, từ đó rút ngắnkhoảng cách nông thôn và thành thị Trung Quốc coi việc phát triển công nghiệp nôngthôn là con đường giải quyết vấn đề việc làm và sinh kế của người dân Quá trình côngnghiệp hoá, đô thị hoá đã thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó,chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhânvào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địaphương Trong những năm đầu đã có đến 20% thậm chí có nơi 50% tổng thu nhập củangười dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương.

Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnhxây dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hoá,thu mua bảo trợ hàng hoá nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thịtrường tín dụng

Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1978 đến 1991) Trung Quốc đã thu hút được

96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13.8% lực lượng lao động ởnông thôn), tạo ra được 1162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khuvực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và 1/4 GDP cả nước) Đây là mộtthành công lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991)

Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn

đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằmnâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọngviệc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang cácngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng

Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho ngườidân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinhnghiệm sau:

Trang 22

- Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá

ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở manghoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh tế vàlàm đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vàocác hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn

- Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong

nước Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế củangười dân cũng được cải thiện hơn

- Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn chế

sinh kế của người dân nông thôn Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trảlương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tếcủa Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp,nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu

Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bìnhquân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 –

350 USD/người/năm

Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cáchruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3ha để bán lại cho nông hộ thiếuđất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965đến năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2.5% Năm 1971 đến năm 1978tăng 6.9%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao.Năm 1975 tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8 –10%/năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây, con,ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng số

Trang 23

Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra 1 con đường giải phóng đó là phong trào

“Sumomidon” (phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấy nôngnghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặt vẫn pháttriển công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực của người nôngdân trên mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nôngnghiệp bằng vật chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng là chỉ đầu tưtài chính một phần mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp khôngthể ra thị trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép xây dựng cơ sở vật chất như:đường giao thông, các công trình công cộng (trường học, bệnh viện )

Mặt khác chuyển giao một số khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vựcnông thôn Xây dựng các phương án, dự án phát triển theo từng cấp:

Cấp 1: Nâng cao điều kiện sống cho người dân

Cấp 2: Nâng cao cơ sở hạ tầng

Cấp 3: Tăng thu nhập cho nông dân

Làm từ thấp đến cao, chỉ khi nào hoàn thành cấp 1 mới được làm tiếp cấp 2

Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm : Phát triển công nghiệp songsong với đầu từ phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiện được CNH – HĐHđất nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôntheo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia

2.2.2 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn vàlàm nông nghiệp Theo thống kê của hội Nông dân Việt Nam, mỗi năm nước ta cókhoảng 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng vớimỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nướcphải có biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, làm sao để đảmbảo sinh kế bền vững cho họ Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 11/2006/CT –TTG yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có định hướng quyhoạch, kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng, chủ động xây dựng kế hoạch hỗtrợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động ngay

Trang 24

trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp.

- Thứ nhất là việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả,

nâng cao độ phì của đất, bồi dưỡng đất, tăng hiệu quả kinh tế của đất Vì đất đai là

tư liệu sản xuất đặc biệt, không sinh thêm mà lại ngày càng thu hẹp lại cho nên phải

có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đất nào sử dụng với mục đích ấy Hạnchế tối đa việc sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng KCN, khu đô thị Nên sử dụngđất đồi, đất bãi để xây dựng KCN Trước khi quy hoạch sử dụng đất để xây dựngKCN, khu chế xuất, khu đô thị mới thì cần thông báo công khai cho nhân dân biết.Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp để tuyên truyềnchủ trương, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước Thu hồi đất, giải phóng mặtbằng và đền bù phải theo quy định

- Thứ hai là việc giải quyết việc làm cho nông dân đang là vấn đề bức xúc.

Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho ngườidân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợ đào tạonghề, chuyển đổi nghề Các cấp chính quyền nên tạo điều kiện cho những hộnông dân bị mất đất sản xuất có việc làm mới ngay trên địa bàn: cho họ vào làmtại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất của họ trước đây Thực hiệnphương châm “Ly nông bất ly hương” Phải có biện pháp bắt buộc thực hiệnchính sách dạy nghề miễn phí cho người dân trong vùng bị lấy đất Phải có lớptập huấn, đào tạo để giúp người nông dân có kiến thức về sản xuất, kinh doanh,giúp họ tiếp cận thị trường Chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cũng cầncải cách Ngoài ra, một biện pháp đang được đánh giá ưu việt là khi thu hồi đấtnhà đầu tư không bồi hoàn tất cả mà để lại cho người dân một phần cổ phần nhấtđịnh trong dự án đó Nếu bồi hoàn toàn bộ 1 lượng tiền, người nông dân không

có nghề nghiệp có thể sẽ tiêu hết tiền và trở thành người trắng tay, trong khi nếu

Trang 25

PTTH sẽ tiếp tục học lên Cao đẳng, Đại học; 1/3 đào tạo nghề theo mô hình công nhân

kỹ thuật cao, số này sẽ cung cấp lao động cho các KCN, khu chế xuất và phục vụ xuấtkhẩu, 1/3 còn lại sẽ được đào tạo nghề kỹ thuật cơ bản, nghề thủ công truyền thống, sốnày có thể đáp ứng được lực lượng lao động cho khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Với những hộ nông dân có nhu cầu đến vùng khác để sinh sống thì chínhquyền địa phương nên phối hợp với hội nông dân và các ban ngành khác để cóchính sách hỗ trợ việc di dân, định canh, định cư

- Thứ ba là tình trạng hộ nông dân thiếu đất sản xuất do phát triển KCN ngày

càng có xu hướng tăng Vì vậy việc giao đất ở địa phương không chỉ giao chonhững hộ có hộ khẩu trong vùng, mà phải mở rộng cho các đối tượng nghèo không

có ruộng khác Tuy nhiên phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để bị lợi dụnggiao đất sai đối tượng, giao đất sai mục đích Chính quyền các cấp kết hợp với cácđoàn thể, đặc biệt là hội nông dân vận động người dân nâng cao nhận thức, tuân thủluật pháp nói chung và luật đất đai nói riêng

2.2.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ nông dân

bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.

2.2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Theo thống kê của Bộ Lao động – TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) sốngười mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN, khu chếxuất, khu đô thị ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8 năm (từ 2001 đến 2007),

Hà nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất Thành phố đãbàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đấtnông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giảiphóng mặt bằng gần 1000ha (http://vietnamnet.vn/chinhtr i/2008/03/772111/).

Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chínhsách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến nguy

cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họ khó họcnghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đáp ứng đượcnhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi bị thu hồi trên 30% diệntích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận, huyện bị thu hồi nhiều nhất, có

1223 hộ nghèo với 4389 nhân khẩu (http://vietnamnet.vn/chinhtri /2008/03/772111/).

Trang 26

Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ ra

là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bịthu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình trạng ngườidân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thểđảm bảo cuộc sống ổn định khi Nhà nước thu hồi đất

Mới đây Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân bị thuhồi đất như sau:

- Một là, UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống,

phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đấtsản xuất nông nghiệp được giao theo NĐ64/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ có vốnban đầu là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phícủa các nhà đầu tư khi được giao đất

- Hai là, trẻ em của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ

thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề

có giá trị tối đa 6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạtđộng dịch vụ tại các khu đô thị và KCN Hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho ngườitrên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ

Ngoài ra các giải pháp khác được UBND Thành phố quan tâm đó là xâydựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị,KCN mới hình thành, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCNxây dựng trên diện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham giakinh doanh, đặc biệt sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tíchđất sản xuất Có cơ chế về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thuhồi nhiều đất nông nghiệp để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ phục vụ các KCN,khu đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị

và KCN với vùng dân cư

Trang 27

Thứ hai, Hà Nội đã có chính sách hỗ trợ học phí cho con em những hộ bị mất

đất Lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống

2.2.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ 1997đến 2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17.1%.Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xâydựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân

bị mất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khitái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp đểxây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000

hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, cókhoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây,đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn tư liệusản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm.Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh đã có nhiều chủtrương, biện pháp giải quyết cơ bản…

Với quan điểm: Có “an cư” mới “lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống chongười dân có đất ở bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư chodân Đây là quan điểm nhất quán của tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định cưcho dân phải bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trênthực tế đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánhgiá cao như Vĩnh Yên, Mê Linh, Phúc Yên…

Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nôngthôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểmthực hiện cho đến năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng,nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; hỗ trợhọc phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanh niên); phát triển hệ thốngcác trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạonghề lên 45% vào năm 2010 Đến nay toàn tỉnh đã có 52 cơ sở đào tạo nghề, với cơcấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơbản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động Ngành nông nghiệp

Trang 28

Vĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản,thú y, điện, kinh tế, tin học cho trên 11.640 nông dân tham gia học tập Để nângcao hơn nữa số lượng thanh niên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhậnvào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chínhsách để hỗ trợ như: các hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếutham gia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; tham giahọc bổ túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000đồng/học viên/tháng) Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nôngthôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa được đào tạonghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo nghề), hỗ trợ học phí vớimức từ 250 ngàn đến 300 ngàn đồng/tháng/ học viên /khoá học đào tạo nghề; hỗ trợ 1triệu đồng/người/ khoá đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động.Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi laođộng thuộc hộ có đất chuyển đổi mục đích sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phía Bắcđược hỗ trợ 300 nghìn đồng, đi miền Trung 500 nghìn đồng và đi miền Nam là 700nghìn đồng Từ nay đến năm 2010, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới cơ khí,may, điện, điện tử cho trên 90.000 nông dân; đồng thời mở các điểm tư vấn, thôngtin việc làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tỉnh đến huyện, xã phục vụngười dân Chính từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay, 23% lao động nôngthôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn định trong các khu công nghiệp.

Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổinghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ Để làm được điều này,một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyềnthống, các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… vàocuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhu

Trang 29

(360m2) đất thu hồi sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (tối thiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất

“dịch vụ” sẽ được nông dân sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hàng

ăn, tạp phẩm… tùy từng gia đình Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sựđồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân có đất bị thu hồi Đất “dịch vụ” khôngnhững giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn có tác dụng tích cựctrong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng…

Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh VĩnhPhúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từngđối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đấtnhưng tuổi đã cao Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyếtđược tình trạng thiều việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp đó chưamang tính đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồng ghép sâurộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc

2.2.4 Một số thành tựu của các công trình nghiên cứu có liên quan

Trong những năm gần đây, việc xây dựng các KCN diễn ra ngày càng nhiều.Vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế bền vững chongười nông dân, đặc biệt là những hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp đang là vấn đềbức xúc được các cấp ngành và nhiều người quan tâm

Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề sinh tế hộ nông dân, cụthể là sinh kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp như:

- Sinh kế của hộ nông dân sau khi mất đất sản xuất nông nghiệp do xây dựngKCN ở xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên ThS Nguyễn Trọng Đắc – ThS.Nguyễn Thị Minh Thu – ThS Nguyễn Viết Đăng 2007

- Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại thôn Thọ

Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga 2008

- Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng vàgiải pháp Luận văn thạc sỹ, năm 2008, Nguyễn Duy Hoàn

- Ảnh hưởng của xây dựng KCN đến sinh kế của người dân ven khu côngnghiệp Nam Sách - Hải Dương Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2008, Đỗ Thị Dung

Trang 30

- Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống củacác hộ nông dân xã Tứ Minh – thành phố Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp đại học,năm 2005, Vũ Tiến Quang.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN BắcPhú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây Luận văn tốtnghiệp đại học, năm 2008, Ngô Văn Hoàng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tậptrung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu - Quế Võ - Bắc Ninh.Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2005, Trần Thị Thoa

- Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của hộdân xã Yên Sơn - Quốc Oai – Hà Tây Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2006,Nguyễn Thị Xuân

Các nghiên cứu này đều tìm hiểu sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đấtnông nghiệp, ứng xử của họ Nói lên ảnh hưởng của việc thu hồi đất hay ảnh hưởngcủa KCN đến sinh kế của người dân Hầu hết các nghiên cứu cho rằng việc thu hồiđất để xây dựng KCN có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, mặc dù nó tạo cơhội việc làm mới cho nông dân nhưng do trình độ của người dân thấp nên không thểđáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao của nhà máy, xí nghiệp Dẫn đếntình trạng thất nghiệp và khả năng kiếm sống của họ bị đe doạ

Trang 31

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Xã Đông Mỹ nằm ở phía Bắc của thành phố Thái Bình, cách trung tâm thànhphố khoảng 6 km

- Phía Bắc giáp với xã Đông Xuân - huyện Đông Hưng

- Phía Nam giáp với phường Hoàng Diệu

Phía Đông giáp với xã Đông Hoàng

-huyện Đông Hưng

- Phía Tây giáp với xã Đông Dương và

Đông Thọ - huyện Đông Hưng

* Theo NĐ181 của Chính phủ về mở rộng

không gian Thành phố Thái Bình, cuối năm

2007, xã Đông Mỹ được tách khỏi huyện

Đông Hưng và sáp nhập vào thành phố Thái Bình Với tổng diện tích đất tự nhiên là422.6 ha

Xã Đông Mỹ có 2 tuyến đường quốc lộ lớn đi qua là Quốc lộ 10 (đường TháiBình đi Hải Phòng) và quốc lộ 39B (tuyến đường liên huyện) Hai tuyến đường nàytạo thành Ngã tư Gia Lễ nằm trên địa bàn xã Đây là trung tâm giao lưu kinh tế

Mặt khác kết hợp với trục giao thông liên xã đã được tu sửa là điều kiệnthuận lợi cho việc đi lại của nhân dân cũng như trao đổi hàng hoá với bên ngoài.Thời tiết ở đây mang đậm nét đặc trưng của vùng Đồng bằng Bắc Bộ: ôn hoà, mưatương đối nhiều Vì vậy rất thích hợp cho nhiều loại cây trồng cũng như việc thâmcanh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng

* Về đất đai

Qua bảng số liệu ta thấy trong 3 năm qua tình hình đất đai của xã có một sốbiến động Tổng diện tích đất tự nhiên của xã năm 2007, 2008 là 422,458 ha, tăng0.078 ha so với năm 2006 Mức tăng này không đáng kể nhưng nguyên do của sựtăng lên này là do UBND tỉnh điều chỉnh

Trang 32

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008

SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) 07/06 08/07 BQ

1 Tổng DT đất tự nhiên 422.38 100.00 422.458 100.00 422.458 100.00 100.02 100.00 100.011.1 DT đất nông nghiệp 310.1 73.42 293.873 69.56 291.481 69.00 94.77 99.19 96.95

Trang 33

Đáng chú ý là diện tích đất nông nghiệp giảm đáng kể Năm 2006 diện tíchnày là 310,1 ha, đến năm 2007 chỉ còn gần 294 ha, giảm 16ha, tức là giảm 5.23%.Đến năm 2008 lại tiếp tục giảm gần 3ha, chỉ còn 291,481 ha Bình quân mỗi nămgiảm 3.05% Theo đó đất canh tác cũng giảm dần Điều này là do chủ trương thuhồi đất để xây dựng KCN của tỉnh.

Diện tích mặt nước không có nhiều biến động, luôn ở trong khoảng 19 ha.Diện tích đất vườn cũng tăng đáng kể, đặc biệt năm 2008 tăng gần 3ha (tức

là tăng 27.93%) so với năm trước Lý do là từ diện tích đất canh tác hình thànhvườn để trồng cây cảnh

Đất nông nghiệp giảm dẫn đến đất nông nghiệp bình quân/hộ cũng giảm dầntrong 3 năm qua, từ 0.164 ha năm 2006 xuống còn 0.153 ha năm 2008 Đất nông nghiệpbình quân trên 1 khẩu và đất nông nghiệp bình quân trên1 lao động cũng giảm dần

Đất chuyên dùng cũng tăng lên nhiều, năm 2006 diện tích này là 59.65 ha, đếnnăm 2007 là 75.56 ha, tăng 15.91 ha tương ứng tăng 26.67% Năm 2008 cũng tăng3.17% so với năm trước, bình quân mỗi năm tăng 14.32% Điều này là do năm 2007 cónghị quyết về việc xây dựng khu công nghiệp Gia Lễ trên địa phận thôn An Lễ của xã.Điều này cũng kéo theo việc đất thổ cư năm 2007 cũng tăng lên Đó là sự tăng lên củadiện tích nhà cho thuê được xây dựng Tuy nhiên lượng tăng lên này không lớn

Nhìn chung tình hình đất đai của xã trong 3 năm qua có sự chuyển dịch từđất nông nghiệp sang đất chuyên dùng Đây là sự biến động lớn nhất Những hộ dân

bị mất đất sản xuất gặp nhiều khó khăn cho việc tìm kế mưu sinh của mình

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

* Dân số: Tính đến cuối năm 2008 toàn xã có 1905 hộ với 6435 khẩu được chia làm

5 thôn So với năm 2006 thì cả số nhân khẩu và số hộ đều tăng lên, mỗi năm tăng từ 3đến 7 hộ Trong đó, số hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn: năm 2006 tỷ lệ này là96.25%, đến năm 2008 giảm xuống còn 94.75% Đó là do có những hộ bị mất hết đấtsản xuất chuyển sang nghề mới, cũng do khu trung tâm giao lưu kinh tế là Ngã tư Gia

Lễ ngày càng phát triển kết hợp với việc KCN xây ngay cạnh đó dẫn đến nhiều hộchuyển sang những ngành nghề phi nông nghiệp như buôn bán Số hộ nông nghiệpgiảm thì số hộ phi nông nghiệp lại tăng lên từ 71 hộ năm 2006 lên đến 100 hộ năm

2008, bình quân mỗi năm tăng 18.68% Nhìn chung biến động dân số của xã trong 3năm qua không đáng kể ngoại trừ sự biến động về số hộ phi nông nghiệp

Trang 34

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 – 2008

5 Một số chỉ tiêu BQ

Nguồn: Ban thống kê xã.

Trang 35

* Lao động: Đông Mỹ là xã có dân số trẻ, hiện nay số nhân khẩu đang trong độ tuổi

lao động có việc làm là 3165 người, xấp xỉ 50% tổng số nhân khẩu trong toàn xã.Chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm 74.22%, con số này đã giảm rất nhiều sovới năm 2007 và 2006, năm 2006 là 87.35% và năm 2007 là 77.69%, mỗi năm giảm7.80% Tuy tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm nhưng vẫn còn rất lớn, điều này nóilên trình độ lao động ở đây còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông

Ngược lại với lao động nông nghiệp, số lao động phi nông nghiệp khôngngừng tăng lên trong 3 năm qua Từ 427 người năm 2006, tăng lên 705 người năm

2007, 816 người năm 2008, mỗi năm tăng 38.24% Có sự biến động mạnh này là domất đất sản xuất nông nghiệp, nhiều người chuyển sang ngành nghề khác, khá nhiềungười đã vào làm ở KCN

Số người ngoài độ tuổi lao động có khoảng hơn 900 người

Từ bảng số liệu ta thấy trung bình 1 hộ trong xã có khoảng 3 đến 4 nhânkhẩu, có từ 1 đến 2 lao động Như vậy bình quân một lao động phải làm việc đểnuôi chính mình và 1 người khác nữa

* Tình hình cơ sở hạ tầng:

Nhìn chung trong xã Đông Mỹ hệ thống cơ sở hạ tầng khá phát triển Vì đây là

xã có vị trí thuận lợi, giao thông dễ dàng, là một xã có kinh tế khá của huyện ĐôngHưng trước đây Nhìn vào bảng số liệu ta thấy hệ thống đường giao thông đã được cảithiện qua các năm Toàn xã có trên 1 km đường liên tỉnh, huyện; đường liên thôn hầuhết đã được đổ bê tông Hàng năm những tuyến đường bị hư hại đều được đầu tư tusửa

Hệ thống lưới điện trong xã đã đưa điện đến 100% hộ dân trong xã từ hơn 10năm nay với khoảng 6km đường dây hạ thế Toàn xã có 1 bưu điện đặt tại trung tâm

xã, để thuận tiện cho việc liên lạc của nhân dân Số quán Internet trong xã khôngngừng tăng lên, năm 2006 mới chỉ có 2 quán, năm 2007 tăng gấp đôi năm 2006.Đến năm 2008 thì số quán Internet đã lên đến con số 5 Các quán Internet này hầuhết được đặt ở khu vực ngã tư Gia Lễ - đây là nơi kinh tế phát triển, buôn bán hànghóa và giao thông rất thuận tiện, là trung tâm của các xã lân cận Hơn thế nữa trongmấy năm gần đây việc mở rộng thị trường, thu hút khách hàng của các mạng viễnthông dẫn đến hoà mạng cước phí rẻ, lắp đặt ít tốn kém

Trang 36

Về Y tế, giáo dục cũng được cải thiện nhiều trong những năm qua cùng với

đà phát triển kinh tế Trạm y tế xã được xây dựng kiên cố ở ngay khu trung tâm xã,thuận tiện cho việc đi lại khám chữa bệnh của nhân dân Số phòng chữa bệnh cũngđược mở rộng trong 2 năm qua Từ 5 phòng năm 2006 đến cuối năm 2008 đã có 8phòng Mạng lưới cán bộ y tế cơ sở cũng được đưa đến từng thôn Hệ thống trườngcấp I, cấp II được xây 2 tầng khang trang, sạch sẽ, đồ dùng học tập khá đầy đủ

Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Đông Mỹ

07/06 08/07 BQ

1 Đường giao thông

1.1 Đường nhựa km 2.25 2.25 2.25 100.00 100.00 100.001.2 Đường bê tông km 3.68 3.705 3.72 100.68 100.40 100.54

2 Điện và điện thoại

4.2 Kênh mương kiên cố km 3 2.8 2.9 93.33 103.57 98.32

Về công trình thuỷ lợi: Toàn xã có 6 trạm bơm điện, mương kiên cố giảm ít

do đất sản xuất bị thu hồi

Nguồn:Ban thống kê xã.

3.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã

Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Đông Mỹ trong 3 năm qua có xu hướngtăng Tổng GTSX năm 2006 là 36713.46 triệu đồng, đến năm 2008 là 48460.68

triệu đồng, tăng 11747.22 triệu đồng tương ứng tăng 14.89% mỗi năm Trong đó,

Trang 37

lên 12034.86 triệu đồng năm 2008 Đó là do trong những năm qua Đông Mỹ đã thựchiện các NQ 01, 02, 04, 08, 12 của tỉnh uỷ, chương trình hành động của thành uỷ, củaĐảng bộ về chuyển đổi cây trồng vật nuôi, đẩy mạnh cây màu, cây vụ đông giai đoạn

2006 – 2010 và việc duy trì 2 cánh đồng 50 triệu với diện tích 12.1 ha Giá trị ngànhchăn nuôi cũng không ngừng tăng lên, bình quân mỗi năm tăng 8%

Đạt tỷ trọng thứ hai trong cơ cấu kinh tế của xã là tiểu thủ công nghiệp vàngành nghề Năm 2006 tỷ trọng này là 24.98% và mới chỉ đạt 9712.6 triệu đồng thìđến năm 2008 đã đạt 14236.36 triệu đồng, nâng tỷ trọng ngành này lên 29.38%.Bình quân mỗi năm giá trị tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề tăng 24.58% Cácngành nghề trong xã như nghề mộc, thêu ren, mây tre đan đã giải quyết việc làmcho rất nhiều lao động

Thuơng mại dịch vụ trong những năm qua cũng phát triển mạnh nhờ có vị tríđịa lý thuận lợi Hoạt động dịch vụ chủ yếu trong xã là buôn bán, kinh doanh diễn raphần lớn ở khu vực Ngã tư Gia Lễ Giá trị thương mại dịch vụ năm 2006 là 6511.22triệu đồng, đến năm 2007 là 7487.9 triệu đồng, năm 2008 là 9810.91 triệu đồng,mỗi năm tăng 22.75% Theo đó tỷ trọng của ngành TMDV trong cơ cấu kinh tế toàn

xã cũng không ngừng tăng lên Năm 2006 là 17.74% thì đến năm 2007 đã tăng lên18.18%, năm 2008 là 20.25%

Nhìn chung kinh tế của xã có sự chuyển dịch cơ cấu khá mạnh từ ngànhnông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp – ngành nghề và TMDV Đây là sự chuyểnhướng đúng đắn trong công cuộc CNH – HĐH của nước ta

Trang 38

Nguồn: Ban thống kê xã.

Bảng 3.4: Kết quả sản suất kinh doanh của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008

Trang 39

3.1.4 Những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

* Những thuận lợi

Đông Mỹ là xã có vị trí thuận lợi cho việc đi lại và phát triển TMDV dorất gần trung tâm thành phố và KCN Thuận lợi cho việc buôn bán, cho thuê nhàtrọ Thời tiết ôn hoà rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Lao động dồi dào Hệthống cơ sở hạ tầng của địa phương đã được cải thiện nhiều phục vụ cho đờisống của nhân dân

 Lao động nhiều nhưng trình độ của lao động chủ yếu là ở bậc phổ thông, cònnhiều lao động không có việc làm lúc nông nhàn Cần phải giải quyết việc làm cholao động để không gây nên những áp lực cho phát triển kinh tế cũng như trật tự antoàn trong địa bàn xã

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Đông Mỹ là một xã nằm ven trung tâm thành phố Thái Bình, mới sáp nhậpvào thành phố Thái Bình được hơn 1 năm Do có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi(là nơi giao nhau của 2 trục đường giao thông lớn là quốc lộ 10 (đường liên tỉnhThái Bình đi Hải Phòng) và quốc lộ 39 (tuyến đường liên huyện) Mặt khác xãĐông Mỹ cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 6km nên xã Đông Mỹ và một

số xã khác được chọn để quy hoạch xây dựng KCN Toàn bộ KCN Gia Lễ rộng84.43 ha, diện tích KCN đặt trên địa bàn xã Đông Mỹ khoảng 14 ha.Vấn đề mưusinh của người dân sau khi bị thu hồi đất có nhiều thay đổi

Trang 40

- Chọn hộ nghiên cứu:

Chọn 60 hộ nông dân dựa trên phương pháp phân tổ thống kê Tiêu chí phân

tổ là diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi Theo tiêu chí này có 3 nhóm hộ sau:

+ Nhóm 1: Nhóm hộ bị mất nhiều đất: là hộ có diện tích đất bị thu hồi lớntrên 70% tổng diện tích đất canh tác được giao

+ Nhóm 2: Nhóm hộ bị mất ít đất: là hộ có diện tích đất bị thu hồi dưới 70%tổng diện tích đất canh tác được giao

+ Nhóm 3: Nhóm hộ không bị mất đất: là hộ không có diện tích đất đuợcgiao nằm trong khu đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp

Số mẫu cụ thể cho mỗi nhóm được chia theo tỷ lệ hộ mất đất so với tổng số

hộ trong thôn An Lễ (do số hộ bị thu hồi đất trong xã năm hầu hết ở thôn An Lễ)

Bảng 3.5: Mẫu điều tra Diễn giải SL (hộ) Cơ cấu (%) Điều tra (hộ)

Nguồn: Chọn mẫu điều tra của tác giả

Chọn 3 nhóm hộ trên để xem xét bối cảnh dễ gây tổn thương đối với hộ, tìnhtrạng và sự dịch chuyển các nguồn lực sinh kế của hộ, sự thay đổi chiến lược và môhình sinh kế của hộ, kết quả sinh kế của từng nhóm hộ, những khó khăn về sinh kếcủa hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.2.1 Thông tin thứ cấp

Thông tin thứ cấp là những thông tin có sẵn được thu thập từ các nguồn sáchbáo, trang Web, các báo cáo tổng kết của xã Đông Mỹ…

Ngày đăng: 23/04/2013, 11:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga. 2008. Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội. Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn. Số 5. Trang 10 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn
16. Hoàng Văn Đại. 2008. Nghiên cứu sinh kế của người dân xã Đông Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh kế của người dân xã Đông Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
17. Nguyễn Duy Hoàn. 2008. Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh – Thực trạng và giải pháp. Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh – Thực trạng và giải pháp
18. Ngô Văn Hoàng. 2008. Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây.Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây
19. Vũ Tiến Quang. 2005. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân xã Tứ Minh – thành phố Hải Phòng. Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân xã Tứ Minh – thành phố Hải Phòng
20. Trần Thị Thoa. 2005. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tập trung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu – Quế Võ – Bắc Ninh. Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tập trung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu – Quế Võ – Bắc Ninh
2008. Vấn đề việc làm của nông dân hiện nay – Bài toán không dễ giải. Số 7 (151) năm 2008. Cập nhật ngày 12/04/2008. Nguồnhttp://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=11448185 Link
1. GS. TS. Đỗ Kim Chung. 2008. Giáo trình kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
2. Phạm Thị Mỹ Dung. 1996. Phân tích kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
3. TS. Phạm Văn Hùng. 2008. Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế Khác
4. TS. Nguyễn Phúc Thọ, ThS Lương Xuân Chính, CN. Vũ Thanh Hương. Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế. 2006. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
5. PGS. TS. Lê Trọng. 2003. Phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế hoạch với hạch toán kinh doanh. NXB Văn hoá dân tộc Khác
6. TS. Đỗ Văn Viện, Ths. Đặng Văn Tiến. 2000. Bài giảng kinh tế hộ nông dân Khác
7. ThS. Nguyễn Trọng Đắc – ThS. Nguyễn Thị Minh Thu – ThS. Nguyễn Viết Đăng Khác
9. UBND tỉnh Thái Bình. 2006. Quyết định số 2133/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu công nghiệp Gia Lễ, tỉnh Thái Bình Khác
10. UBND xã Đông Mỹ. 2006. Báo cáo tình hình phát triển KT – XH năm 2006, phương hướng nhiệm vụ phát triển KT – XH năm 2007 Khác
11. UBND xã Đông Mỹ. 2007. Báo cáo tình hình phát triển KT – XH năm 2007, phương hướng nhiệm vụ phát triển KT – XH năm 2008 Khác
12. UBND xã Đông Mỹ. 2008. Báo cáo tình hình phát triển KT – XH năm 2008, phương hướng nhiệm vụ phát triển KT – XH năm 2009 Khác
13. UBND xã Đông Mỹ. 2008. Báo cáo về việc quản lý sử dụng đất đai năm 2008 và phương hướng biện pháp thực hiện Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2: Tài sản sinh kế của người dân - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 2.2 Tài sản sinh kế của người dân (Trang 12)
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008 (Trang 32)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 – 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 – 2008 (Trang 34)
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Đông Mỹ - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Đông Mỹ (Trang 36)
Bảng 3.4: Kết quả sản suất kinh doanh của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 3.4 Kết quả sản suất kinh doanh của xã Đông Mỹ qua 3 năm 2006 - 2008 (Trang 38)
Bảng 3.5: Mẫu điều tra - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 3.5 Mẫu điều tra (Trang 41)
Bảng 4.1: Tình hình thu hồi đất của xã - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.1 Tình hình thu hồi đất của xã (Trang 48)
Bảng 4.3: Diện tích đất đai BQ của các nhóm hộ điều tra giai đoạn 2006 - 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.3 Diện tích đất đai BQ của các nhóm hộ điều tra giai đoạn 2006 - 2008 (Trang 51)
Bảng 4.4: Kết quả điều tra về nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp năm 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.4 Kết quả điều tra về nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp năm 2008 (Trang 53)
Bảng 4.5: Chủ hộ của các hộ điều tra năm 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.5 Chủ hộ của các hộ điều tra năm 2008 (Trang 54)
Bảng 4.6: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.6 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra (Trang 56)
Bảng 4.7: Tình hình việc làm của các hộ điều tra năm 2006; 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.7 Tình hình việc làm của các hộ điều tra năm 2006; 2008 (Trang 59)
Bảng 4.9: Cơ cấu sử dụng tiền đền bù theo tuổi chủ hộ điều tra - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.9 Cơ cấu sử dụng tiền đền bù theo tuổi chủ hộ điều tra (Trang 64)
Bảng 4.10: Mức thu trung bình từ các nguồn thu của hộ điều tra năm 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.10 Mức thu trung bình từ các nguồn thu của hộ điều tra năm 2008 (Trang 66)
Bảng 4.12: Tình hình vay vốn của các hộ điều tra năm 2008 - Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Bảng 4.12 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra năm 2008 (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w