63 3.3 Khảo sát các nhân tố ngoại cảnh và nội tại tác động đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại huyện Từ Liêm .... Với thay đổi nêu trên, tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HỖ TRỢ KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI HUYỆN TỪ LIÊM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HỖ TRỢ KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI HUYỆN TỪ LIÊM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62 34 05 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG VĂN HẢI
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Trường Sơn
Trang 4Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận án, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii
Danh mục đồ thị iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 8
1.1 Các khái niệm và phân loại 8
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 8
1.1.2 Ngành dịch vụ 11
1.1.3 Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 15
1.2 Các nhân tố ngoại cảnh tác động đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tại Việt Nam 23
1.3 Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp cung ứng DVHTKD ảnh hưởng đến sự phát triển DVHTKD 30
1.3.1 Sự hài lòng của khách hàng 32
1.3.2 Chất lượng dịch vụ cảm nhận 32
1.4 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh của một số nước trên thế giới 39
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ 39
1.4.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ 42
1.4.3 Kinh nghiệm của Việt Nam 43
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 47
2.1 Thiết kế nghiên cứu 47
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu 47
Trang 62.1.2 Quy trình nghiên cứu dạng mô hình hóa 47
2.1.3 Chi tiết các bước quy trình nghiên cứu 49
2.2 Mô hình nghiên cứu 55
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HỖ TRỢ KINH DOANH TẠI HUYỆN TỪ LIÊM 57
3.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội Huyện Từ Liêm 57 3.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 57
3.1.2 Tình hình dân số &nguồn lao động 59
3.1.3 Khả năng khai thác thị trường 60
3.1.4 Các cơ sở kinh tế đã hình thành và khả năng huy động nguồn vốn đầu tư 61
3.1.5 Thực trạng phát triển kinh tế tại huyện Từ Liêm 63
3.3 Khảo sát các nhân tố ngoại cảnh và nội tại tác động đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại huyện Từ Liêm 72
3.3.1 Thông tin tổng quan về các đối tượng khảo sát 72
3.3.2 Phân tích các nhân tố ngoại cảnh theo dữ liệu khảo sát 77
3.3.3 Phân tích các nhân tố nội tại theo dữ liệu khảo sát 80
3.3.4 Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn 92
3.3.5 Kết luận sau quá trình khảo sát về thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tại huyện Từ Liêm 97
CHƯƠNG 4: CÁC ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HỖ TRỢ KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI HUYỆN TỪ LIÊM ĐẾN NĂM 2020 100 4.1 Nhóm giải pháp về phía chính quyền địa phương tại huyện Từ Liêm 100
Trang 74.1.1 Thành lập Trung tâm xúc tiến Thị trường Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
và Hiệp hội các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 100
4.1.2 Kích cầu dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 110
4.1.3 Kích thích cung dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 112
4.1.4 Tham gia xây dựng, hoàn thiện bổ sung khung pháp lý và các văn bản liên quan đến thị trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 114
4.1.5 Tuyên truyền nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 115
4.2 Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 116 4.3 Nhóm giải pháp về phía nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 118
4.4 Mô hình hóa các giải pháp 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2 CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương
3 DVHTKD Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
5 GTZ Tổ chức dịch vụ hợp tác phát triển Cộng Hòa
Liên Bang Đức
6 MPDF Chương trình phát triển dự án Mê Kông
7 ODEC Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế
8 UNCTAD Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và
phát triển
9 UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
10 VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
Bảng 1.2: Cơ cấu đóng góp vào GDP của từng ngành con thuộc lĩnh vực dịch vụ 13
Bảng 1.3: Phân loại DVHTKD theo Mạng lưới hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
Bảng 3.1: Tốc độ tăng giá trị sản xuất tại huyện và Khu vực do huyện quản lý 63
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế tại huyện và khu vực do huyện quản lý 64
Bảng 3.3: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế 65
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 68
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu về ngành thương mại – dịch vụ - du lịch huyện Từ Liêm năm 2010 69
Bảng 3.6: Thông tin về các đối tượng khảo sát 73
Bảng 3.7: Phân tích độ tin cậy 5 nhân tố 82
Bảng 3.8: Ma trận xoay nhân tố 85
Bảng 3.9: Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến 88
Bảng 3.10: Các hệ số hồi quy 89
Bảng 3.11: Kiểm định ý nghĩa thống kê – bảng ANOVA 89
Bảng 3.12: Kiểm định các giả thuyết thống kê 91
Bảng 4.1: Vấn đề thị trường và biện pháp can thiệp 106
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh 1994 12
Hình 1.2: Ví dụ về chuỗi cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 17
Hình 1.3: Môi trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 23
Hình 1.4: Liên hệ giữa dịch vụ cảm nhận và sự trung thành của Khách hàng 31
Hình 1.5: Mô hình SERQUAL của Parasuraman và các cộng sự (1988) về chất lượng dịch vụ cảm nhận 33
Hình 1.6: Mô hình SEVRPERF của Cronin và Taylor 36
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 49
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu của luận án 55
Hình 3.1: Tỷ lệ sử dụng các loại hình dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 77
Hình 3.2: Tỷ lệ cung ứng các loại hình DVHTKD 77
Hình 3.3: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về khung pháp lý và các văn bản chính sách liên quan đến dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 78
Hình 3.4 : Tỷ lệ ý kiến đánh giá và sự hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức/hiệp hội 79
Hình 3.5: Khó khăn chính khi tham gia cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 79
Hình 3.6: Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 81
Hình 3.7: Số lượng doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh phân theo từng loại dịch vụ trong dài hạn 92
Hình 3.8: Tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh phân theo từng loại dịch vụ trong dài hạn trên tổng số doanh nghiệp được khảo sát 93
Hình 3.9: Sốlượng doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh phân theo từng loại dịch vụ trong ngắn hạn 96
Trang 11Hình 3.10: Tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh phân theo từng loại dịch vụ trong ngắn hạn trên tổng số doanh nghiệp được khảo sát 96 Hình 4.1: Mô hình hóa các giải pháp 123
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Vào những năm cuối thế kỷ XX, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (DVHTKD)
đã trở thành một lĩnh vực không thể thiếu, đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Tài liệu hội thảo “Phát triển các thị trường thương mại Các dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS)” (Alexandra & Mc Vay, 2003) đã đưa ra khái niệm về các dịch vụ phát triển kinh doanh là một loạt các dịch vụ rộng khắp được các doanh nghiệp sử dụng để giúp họ hoạt động có hiệu quả và phát triển kinh doanh với mục đích rộng lớn hơn là góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo Thực tế, trong xu thế phát triển của kinh tế thế giới, các doanh nghiệp phát triển với quy mô lớn hiện tại không
“ôm” hết các hoạt động trong sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
mà thực hiện thuê ngoài các dịch vụ kinh doanh hỗ trợ; tại đây các doanh nghiệp có sự phân công lại rất sâu và xu thế hiện đại là khai thác tối đa công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ trợ giúp DVHTKD được tạo ra nhằm phục vụ từ bên ngoài đối với mỗi tổ chức kinh doanh riêng lẻ, thay vì các doanh nghiệp
đó mở rộng quy mô kinh doanh để phục vụ Các loại hình DVHTKD có thể
kể đến là: dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ tư vấn pháp lý, dịch vụ marketing, dịch vụ đào tạo, dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ tư vấn sở hữu trí tuệ, dịch
vụ hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin…
DVHTKD tham gia vào mọi công đoạn của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: đầu nguồn (các hoạt động nghiên cứu khả thi, nghiên cứu phát triển) – giữa nguồn (kế toán, công nghệ thông tin, dịch vụ hành chính…) – cuối nguồn (quảng cáo, kho bãi, phân phối…) Chính các DVHTKD đóng vai trò quan trọng, giúp nền kinh tế được chuyên môn hóa theo từng khâu, nâng
Trang 13cao chất lượng công việc đồng thời giải phóng doanh nghiệp ra khỏi các công việc không thực sự là chuyên môn sâu của doanh nghiệp đó Việc xuất hiện
và phát triển thị trường DVHTKD thay đổi một cách cơ bản cơ chế phân phối
từ chỗ Nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đến chỗ các dịch vụ này có thể được cung cấp bởi các tổ chức tư nhân
DVHTKD cũng được coi là một trong những nhân tố cạnh tranh trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung cũng như thu hút đầu tư nước ngoài của một quốc gia nói riêng Các dịch vụ này chiếm vị trí then chốt trong cơ sở
hạ tầng của bất kỳ nền kinh tế nào và là dịch vụ đầu vào cho tất cả các nghành công nghiệp, sản xuất hàng hóa dịch vụ.Tại các nền kinh tế đang phát triển có một thực tế là khoảng một phần ba giá trị đầu vào các doanh nghiệp mua là những dịch vụ như kế toán, luật pháp, bảo hiểm, nghiên cứu, thiết kế, marketing, vận tải…Chất lượng cũng như mức độ sẵn sàng của các loại dịch
vụ này tác động tới khả năng tăng trưởng và cạnh tranh trong xuất khẩu của các ngành công nghiệp có sử dụng đến các dịch vụ này và từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào quốc gia đó Khi lựa chọn quốc gia để đầu tư, các nhà đầu tư luôn phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh của các quốc gia khác nhau Các nhà đầu tư buộc phải phân tích những thuận lợi, khó khăn của môi trường đầu tư Nếu quốc gia nào thiếu các dịch
vụ hỗ trợ kinh doanh hoặc các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh không phát triển sẽ
là một khó khăn không nhỏ trong môi trường đầu tư Điều này sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
Trên thực tế, vai trò của DVHTKD đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung đã được ghi nhận rộng rãi trên toàn thế giới Ở một số nước phát triển như Singapor, DVHTKD đóng góp tới 15% tổng sản phẩm quốc nội (www.hbi.org.vn); tại một số nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế (ODEC) thì DVHTKD thường có mức tăng
Trang 14trưởng bình quân khoảng 10%/năm Trong khi đó tại Việt Nam, DVHTKD mới chỉ bắt đầu phát triển và chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng sản phẩm quốc nội – khoảng 1% với mức tăng trưởng rất thấp từ 1-2%/năm Trong giai đoạn trước 1986, nền kinh tế Việt Nam được vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nên lĩnh vực DVHTKD của Việt Nam không phải là mục tiêu được chú trọng phát triển hay trở thành mục tiêu của các chiến lược thu hút đầu tư Trải qua vài thập kỷ, dưới cơ chế quản lý kinh tế cũ, lĩnh vực dịch vụ được coi là “phi sản xuất” so với lĩnh vực “sản xuất” của nông nghiệp và sản xuất chế tạo Tuy nhiên từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới (sau 1986), thái độ
và quan niệm chung đã dần dần thay đổi Lĩnh vực dịch vụ ngày càng được công nhận là một nhân tố đóng góp quan trọng vào GDP quốc gia Đặc biệt,
do đề nghị của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng với một số
cơ quan hữu quan khác trong nước, những văn bản hướng dẫn về đầu tư trong nước đã được sửa đổi để tạo cơ sở chú ý nhiều hơn đến những yêu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
Với thay đổi nêu trên, trong những năm gần đây, tại Việt Nam các doanh nghiệp đã dần sử dụng phổ biến các loại DVHTKD như tư vấn tiếp thị,
tư vấn pháp lý, thiết kế xây dựng, quản lý doanh nghiệp…tuy nhiên thị trường dịch vụ này vẫn còn ở mức rất sơ khai.Mặc dù còn ở mức sơ khai nhưng sự phát triển của phân khúc DVHTKD sẽ là tất yếu do đây là nhân tố đầu vào cho tất cả các doanh nghiệp thuộc tất cả các ngành công nghiệp, thương mại
và kể cả dịch vụ Tại Việt Nam, trong bối cảnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 90% tổng số lượng doanh nghiệp thì các dịch vụ này càng chiếm vị trí quan trọng, giúp các doanh nghiệp có sự hỗ trợ về chuyên môn Mặt khác,
để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể mạnh dạn sử dụng các DVHTKD được cung cấp từ các đơn vị bên ngoài thì bản thân các DVHTKD này phải
Trang 15đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của doanh nghiệp, hay nói cách khác là mang đến cho doanh nghiệp sự hài lòng về chất lượng dịch vụ
Tại huyện Từ Liêm – Thành phố Hà Nội, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của các ngành kinh tế khác, các DVHTKD cũng phát triển rất mạnh
mẽ Xuất phát từ thực trạng kinh tế huyện Từ Liêm là nền kinh tế ven đô, đang trong quá trình công nghiệp hóa, dần thoát ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp do đó hàng loạt các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, TNHH cung ứng các DVHTKD đã được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp không chỉ tại huyện Từ Liêm mà còn các doanh nghiệp trên toàn quốc Các doanh nghiệp này thực sự đóng góp vào sự năng động và phát triển của các doanh nghiệp tại thành phố Hà Nội nói chung, huyện Từ Liêm nói riêng cũng như của các tỉnh lân cận Tuy nhiên thực tế chỉ ra rằng các doanh nghiệp ở huyện Từ Liêm thường phải sử dụng các dịch
vụ đến từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc từ Thành phố Hồ Chí Minh Rất nhiều các DVHTKD tại huyệnTừ Liêm còn chưa đa dạng và chất lượng không cao Từ đó rất nhiều vấn đề bức xúc được đặt ra trên cả khía cạnh quản lý nhà nước lẫn trên góc độ các khó khăn gặp phải của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ Như vậy, vấn đề nghiên cứu tìm hiểu thực trạng và hướng phát triển các DVHTKD là rất cần thiết để thúc đẩy mạnh hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, cũng như tăng cường năng lực quản lý, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tại huyện Từ Liêm từ đó sẽ tạo ra những cải thiện đáng kể cho môi trường đầu tư của huyện Từ Liêm Ngoài ra, điểm đáng chú ý ở đây là để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường các DVHTKD, cần có những nghiên cứu toàn diện về nhu cầu của các doanh nghiệp đối với DVHTKD để đưa ra các giải pháp giúp các doanh nghiệp cung ứng DVHTKD nâng cao năng lực cung ứng để phù hợp với yêu cầu đặt ra
Trang 16Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, tác giả lựa chọn
đề tài “Giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: nghiên cứu điển hình tại huyện Từ Liêm” làm đề tài luận án Tiến sỹ chuyên ngành quản trị kinh doanh Luận án sẽ khai thác một hướng nghiên cứu mới, xem xét và phân tích định lượng các nhân tố tác động đến sự hài lòng của các doanh nghiệp đối với DVHTKD, các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của DVHTKD, lấy huyện Từ Liêm làm nghiên cứu điển hình để từ đó rút ra những bài học bổ ích cho các đơn vị khác
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: thông qua phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển thị trường DVHTKD tại Việt Nam nói chung, thành phố
Hà Nội nói riêng và thực hiện khảo sát thực tế các doanh nghiệp cung cấp DVHTKD cũng như doanh nghiệp sử dụng DVHTKD tại huyện Từ Liêm để:
- Đánh giá các nhân tố tác động đến sự phát triển DVHTKD,
- Nhu cầu sử dụng DVHTKD của doanh nghiệp,
- Đưa ra các giải pháp để hỗ trợ sự phát triển DVHTKD tại huyện Từ Liêm Câu hỏi nghiên cứu: từ mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau:
- Các nhân tố ngoại cảnh nào tác động đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tại huyện Từ Liêm, Hà Nội?
- Các nhân tố nội tại nào của doanh nghiệp cung ứng DVHTKD tại huyện
Từ Liêm, Hà Nội đem lại sự hài lòng cho các DNNVV sử dụng dịch vụ này?
- Nhu cầu sử dụng DVHTKD tại huyện Từ Liêm, Hà Nội như thế nào, tập trung vào những loại hình dịch vụ gì?
- Giải pháp phát triển DVHTKD tại huyện Từ Liêm, Hà Nội là gì?
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án: Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 174 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu các nhân tố ngoại cảnh tác động đến sự phát triển DVHTKD, các nhân tố nội tại của doanh nghiệp cung ứng DVHTKD đem lại sự hài lòng cho các DNNVV sử dụng dịch vụ này, nhu cầu sử dụng DVHTKD và giải pháp phát triển DVHTKD
- Phạm vi về không gian: huyện Từ Liêm, Hà Nội
- Phạm vi về thời gian: từ sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành cho đến nay
5 Những đánh giá mới của luận án
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện
về DVHTKD trên địa bàn huyện Từ Liêm, Hà Nội, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này Luận án hướng tới các giá trị mới sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đối với DNVVN
- Nghiên cứu các nhân tố ngoại cảnh và nhân tố nội tại ảnh hưởng đến
sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh trên địa bàn huyện Từ Liêm Từ
đó tổng quát hóa những cơ sở thực tiễn của việc phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh trên địa bàn huyện Từ Liêm
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn tới tại huyện Từ Liêm, Hà Nội
6 Những điểm hạn chế của luận án
Theo quan điểm của tác giả, hiện tại luận án vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, khi phân tích các nhân tố bên ngoài tác động đến sự phát triển của DVHTKD luận án chỉ đánh giá các nhân tố tác động chung chứ chưa phân tích chi tiết tác động theo từng ngành riêng biệt
Thứ hai, khi phân tích sự hài lòng của các doanh nghiệp sử dụng DVHTKD về đối với dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp DVHTKD cung
Trang 18cấp, luận án chưa thực hiện phân tách sự hài lòng của các doanh nghiệp theo các nhóm ngành/nhóm đối tượng khác nhau đến các loại hình dịch vụ khác nhau mà hiện tại chỉ khảo sát, phân tích sự hài lòng nói chung đối với DVHTKD
Thứ ba, quá trình nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập được từ điều tra sử dụng bảng hỏi do đó câu trả lời tại bảng hỏi có thể chưa thực sự chính xác, chủ yếu dựa trên đánh giá chủ quan của các đối tượng được khảo sát mà tác giả không có khả năng kiểm chứng do đó có thể ảnh hưởng đến kết quả của việc phân tích dữ liệu
Thứ tư, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) trong quá trình phân tích đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với DVHTKD tuy nhiên việc sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) bản thân cũng tồn tại hạn chế đó là phương pháp này chỉ đánh giá mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc mà chưa đánh giá mối quan hệ giữa các biến độc lập với các nhân tố cấu thành nên biến đó
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả khảo sát, nghiên cứu thực trạng phát triển dịch
vụ hỗ trợ kinh doanh tại huyện Từ Liêm
Chương 4: Các đề xuất kiến nghị nhằm phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại huyện Từ Liêm đến năm
2020
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ
KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Các khái niệm và phân loại
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thực tế tại Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Theo đó loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế: tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo Mặc dù thị trường doanh nghiệp nhỏ và vừa có tầm quan trọng đáng kể nhưng định nghĩa về thị trường này vẫn còn nhiều điểm khác nhau trên toàn thế giới Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này chủ yếu do tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp tại mỗi quốc gia thường khác nhau tuy nhiên nhìn chung doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động và doanh thu
Theo “Cẩm nang kiến thức dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ” của Công ty tài chính quốc tế IFC thì định nghĩa phổ biến về doanh nghiệp nhỏ và vừa là các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh chưa tới 250 nhân viên, định nghĩa này chiếm đại đa số các công ty trong khu vực kinh tế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Với tiêu chí này, người ta ước tính các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ít nhất 95% các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên toàn thế giới.Theo Ngân hàng thế giới thì doanh nghiệp được chia làm 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người)
Trang 20Tại Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ – CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia làm ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ – CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại tại bảng 1.1:
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để phù hợp với môi trường của Việt Nam, trong các phần nghiên cứu sau của luận án, định nghĩa và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa trong luận văn này được sử dụng theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ – CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tại mỗi quốc gia, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể khác
nhau song nhìn chung có một số vai trò tương đồng:
Trang 21- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh
tế do đó đóng góp của các doanh nghiệp này vào tổng sản lượng quốc gia là khá lớn, đồng thời tạo ra nhiều công ăn việc làm đáng kể cho nền kinh tế
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: thông thường doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn do đó các doanh nghiệp này thường được ví như các “thanh giảm sốc” cho nền kinh tế do sự điều chỉnh các hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm khác nhau giúp nền kinh tế có được
sự ổn định
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hoạt động hơn so với các doanh nghiệp lớn, điều này giúp cho nền kinh
tế trở nên năng động hơn
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh do đó
vô hình chung tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng cho nền kinh tế
- Các doanh nghiệp lớn thường đặt trụ sở tại các trung tâm kinh tế của đất nước trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại phân bổ nhiều ở các địa phương do đó có thể coi doanh nghiệp nhỏ và vừa là trụ cột của kinh tế địa phương, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách, sản lượng và công ăn việc làm ở địa phương
Có thể thấy rõ ràng được rằng khu vực kinh tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia vì nó góp phần đáng kể về công ăn việc làm, GDP và sự tăng trưởng của khu vực này cũng liên quan đến việc hợp thức hóa nền kinh tế Theo “Cẩm nang kiến thức dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ” của Công ty tài chính quốc
tế IFC (một cơ quan hoạt động độc lập của Ngân hàng thế giới) thì ở nhiều quốc gia, phần lớn công ăn việc làm là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra
Trang 22Ở 30 quốc gia có thu nhập cao của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thị trường doanh nghiệp nhỏ và vừa – các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh với quy mô chưa tới 250 nhân viên – chiếm hơn hai phần ba tỷ lệ công ăn việc làm chính thức Ở các quốc gia có thu nhập thấp, con số này có
vẻ thấp hơn, đặc biệt là ở những nơi ngành kinh doanh không chính thức chiếm phần lớn; tuy nhiên vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể Như vậy phát triển thị trường doanh nghiệp nhỏ và vừa là một vấn đề được các quốc gia rất quan tâm và đầu tư nhiều nguồn lực để thực hiện
hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ chuyên ngành cung cấp những kỹ năng chuyên môn để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (Dorothy & Hoài, 1998) Trên thực tế các nhà quản trị và khoa học đều thống nhất xem dịch vụ
Trang 23Hình 1.1: Cơ cấu tổng s
Trên thực tế mặc dù có r
vực dịch vụ trong phát tri
Shelp, 1981; Singelmann, 1978; UNCTAD, 1989, 1993, 1995
của lĩnh vực này vẫn dư
dịch vụ được coi là ngành công nghi
doanh dịch vụ không cầ
số vốn đầu tư không nhi
vụ Đối với kinh tế trong nư
n dường như bị xem nhẹ Xét từ khía cạnh môi trư
c coi là ngành công nghiệp “sạch” Nhiều doanh nghi
ần số vốn ban đầu quá lớn do đó kể cả các cá nhân v
u tư không nhiều cũng có thể thành lập doanh nghiệp cung
trong nước, ngay cả với các quốc gia kém phát triũng đóng góp không dưới 35% tổng sản ph(GDP) và trung bình trên 50% ở hầu hết các quốc gia Ngoài ra, k
t hàng hóa, các đầu vào dịch vụ cũng chiếm phần lớn trong giá tr
ng 70%) Tại Việt Nam, lĩnh vực dịch vụ cũng đóng góp khá
quốc nội (GDP)
c (GDP) theo giá so sánh 1994
ng kê Việt Nam)
tác động của lĩnh (Dorothy Riddle 1984, 1985, 1986, 1987;
c gia Ngoài ra, kể cả trong
n trong giá trị gia ũng đóng góp khá
Trang 24Bảng 1.2: Cơ cấu đóng góp vào GDP của từng ngành con thuộc lĩnh vực
QLNN, ANQP và đảm bảo xã hội 16,018 6.52% 17,193 6.58%
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 8,675 3.53% 9,314 3.56%
Hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội 635 0.26% 676 0.26% Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng 11,279 4.59% 12,006 4.59%
HĐ làm thuê việc GĐ trong các hộ tư nhân 1,014 0.41% 1,080 0.41% Tổng cộng đóng góp vào GPD lĩnh vực
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Từ hình 1.1 và bảng 1.2 có thể thấy vai trò của lĩnh vực dịch vụ trong
sự phát triển chung của nền kinh tế của mỗi quốc gia là không thể phủ nhận.Tuy nhiên, điểm rất đáng tiếc hiện nay đó là việc thu thập và báo cáo những số liệu thống kê về các ngành dịch vụ trên thế giới nói chung còn sơ sài, chưa được chú trọng (Ngân hàng thế giới, 1994) Một số vai trò chính của
Trang 25lĩnh vực dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa có thể kể đến như sau (Trung tâm TTKT – Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM):
- Góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Một ví dụ điển hình có thể kể đến đó là sự ra đời của dịch vụ vận tải hàng hóa đã góp phần khắc phục được trở ngại về địa lý, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, thúc đẩy nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa từ khu vực này đến khu vực khác, từ quốc gia này đến quốc gia khác
- Là một nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất do nhu cầu về dịch
vụ xuất phát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thức được rằng để có thể tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài thì điều cần thiết là phải đưa nhiều hơn các nhân tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành và nâng cao chất lượng dịch vụ như khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ
- Sự tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ là động lực cho sự phát triển kinhtế , cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xã hội Nền kinh tế càng phát triển thì lĩnh vực dịch vụ càng phong phú, đa dạng Hiện nay, sự phát triển thương mại và dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó càng lớn Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội
và chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của đất nước, đặc biệt là khi Việt Nam đã bình thường hóa về thương mại với Hoa Kỳ
và gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO Về kinh tế, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, kinh tế tăng trưởng khá
Trang 26nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh, với những bước
đi đó Việt Nam đã hội nhập vào khu vực thị trường rộng lớn, có tính cạnh tranh cao và gồm những đối tác có năng lực cạnh tranh rất mạnh Những thành quả này vừa tạo ra các tiền đề và cơ sở kinh tế, vừa cung cấp những bài học cần thiết
để chúng ta thực hiện bước hội nhập mới có tầm quan trọng đặc biệt: hội nhập ở cấp độ đa phương & toàn cầu hóa trong Tổ chức Thương mại thế giới
1.1.3 Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Khái niệm dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Từ những năm cuối thế kỷ XX, DVHTKD đã trở thành lĩnh vực vô cùng quan trọng, không thể thiếu, đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng Xu hướng sử dụng dịch vụ thuê ngoài hoặc đưa một phần hoạt động của doanh nghiệp ra ngoài đang trở thành xu thế chung trên thế giới và ngày càng phát huy hiệu quả rõ rệt Trong xu thế chung của thế giới, các doanh nghiệp không còn “ôm trọn” các hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
mà thực hiện thuê ngoài các dịch vụ hỗ trợ được cung cấp bởi các doanh nghiệp khác với chuyên môn sâu hơn từ đó giúp cắt giảm chi phí nhưng cũng nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Hiện nay trên thế giới còn tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về DVHTKD tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích phát triển của thị trường Mặc dù có sự khác biệt nhất định khi đề cập đến thuật ngữ DVHTKD tuy nhiên có thể thấy được một điểm chung đó là DVHTKD là những dịch vụ chuyên cung cấp những kỹ năng chuyên môn cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Dịch vụ này chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế và là dịch vụ đầu vào của các ngành công nghiệp, sản xuất và dịch vụ Sự phát triển của DVHTKD sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm bớt chi phí thông qua việc chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh
Trang 27DVHTKD có thể được hiểu theo một cách phổ biến nhất đó là bất kỳ
dịch vụ phi tài chính nào được cung cấp một cách chính thức hoặc không chính thức và được sử dụng để hỗ trợ doanh nghiệp nhằm thực hiện chức năng kinh doanh hoặc tăng trưởng (Trực, Hòa, Việt Anh, 2010) Đồng thời
DVHTKD cũng có khi được sử dụng để chỉ một nhóm dịch vụ nào đó hoặc một dịch vụ cụ thể
Trong khi đó, Alexandra và Mary (2003) trong tài liệu hội thảo về “Phát triển các thị trường thương mại cho các dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS)” đã định nghĩa khái niệm DVHTKD là: một loạt các dịch vụ rộng khắp được các doanh nghiệp sử dụng để giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và phát triển kinh doanh với mục đích rộng lớn hơn là góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và xóa đói, giảm nghèo Lĩnh vực DVHTKD tập trung chính vào thúc đẩy khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ này của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cũng theo Alexandra và Mary (2003) thì DVHTKD trước đây được biết đến như là
“các dịch vụ phi tài chính” tập trung vào cung cấp đào tạo, tư vấn và các dịch vụ khác nhằm giải quyết những khó khăn nội bộ của các doanh nghiệp như thiếu năng lực kỹ thuật, học vấn…Trong thời gian gần đây, lĩnh vực này đã phát triển và bao gồm cả các dịch vụ marketing và nguồn thông tin nhằm giúp các doanh nghiệp tiếp cận với các dịch vụ thường chỉ các công ty lớn mới được sử dụng Phát triển cơ sở
hạ tầng và cải cách chính sách – những hoạt động nhằm tập trung giải quyết những khó khăn từ bên ngoài của doanh nghiệp cũng được tính là DVHTKD Hiện nay DVHTKD bao gồm nhiều lĩnh vực nhỏ (Mary Mc Vay, 1996) và chính vì sự đa dạng này mà rất khó để có thể rút ra một kết luận chung về DVHTKD
Theo Ủy ban hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ (2001) thì DVHTKD được hiểu là các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Khái niệm về DVHTKD bao gồm rất nhiều mảng của dịch vụ kinh doanh (như đào tạo, tư vấn, marketing, công nghệ thông tin và truyền dữ liệu…) bao gồm cả các vấn đề liên quan đến chiến lược và hoạt động
Trang 28Như vậy tựu chung l
dịch vụ thuê ngoài mà doanh nghi
động, phát triển của doanh nghi
của doanh nghiệp, giảm chi phí, nâng cao năng l
quả hoạt động cao hơn cho doanh nghi
chế rất nhiều lĩnh vực, doanh ng
tạo thành chuỗi các hoạt đ
kinh tế Có thể thấy rất rõ
Công ty A chuyên cung c
Công ty C chuyên cung c
vụ kiểm toán của công ty B D
được cung cấp như dịch v
vụ kế toán, dịch vụ kế toán c
cấp dịch vụ quảng cáo, công ty E c
công ty A – cung cấp ph
riêng hoạt động độc lập nhưng trong n
nhau, doanh nghiệp này s
vào của doanh nghiệp mình Ví d
Hình 1.2: Ví dụ
u chung lại có thể thấy được rằng, DVHTKD là các lothuê ngoài mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hỗ trợ cho quá trình ho
a doanh nghiệp, DVHTKD giúp chuyên môn hóa ho
m chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh từ đó đem l
ng cao hơn cho doanh nghiệp DVHTKD bao gồm nhưng không h
c, doanh nghiệp này sử dụng dịch vụ của doanh nghi
t động từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động chung c
t rõ điều này thông qua ví dụ cụ thể sau:
Công ty A chuyên cung cấp phần mềm máy tính cho Công ty ki
Công ty C chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn quản trị kinh doanh lại thuê ngoài d
a công ty B Dịch vụ tư vấn quản trị kinh doanh c
ch vụ thuê ngoài cho công ty D – là công ty cung ctoán của công ty D lại được thuê ngoài bởi Công ty E cung
ng cáo, công ty E cũng đồng thời quảng cáo cho ho
p phần mềm máy tính Như vậy, mỗi doanh nghi
p nhưng trong nền kinh tế lại có mối liên h
p này sử dụng sản phẩm đầu ra của doanh nghi
p mình Ví dụ được mô hình hóa trong hình 1.2 như
ụ về chuỗi cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
(Nguồn: tác giả
ng, DVHTKD là các loại hình
cho quá trình hoạt
p, DVHTKD giúp chuyên môn hóa hoạt động
đó đem lại hiệu
Trang 29Bản thân một doanh nghiệp cũng có thể sử dụng đồng thời cùng lúc rất nhiều dịch vụ thuê ngoài, điển hình có thể dễ thấy nhất là hiện tại đa số các doanh nghiệp đều thuê ngoài các dịch vụ như dọn dẹp vệ sinh, bảo vệ, bảo trì máy tính, bảo trì hệ thống điện…để cắt giảm chi phí thuê lao động dài hạn
thực hiện các công việc này
Phân loại các loại hình dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Mạng lưới hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phân chia DVHTKD ra làm 07 hạng mục: (1) Tiếp cận thị trường; (2) Cung ứng đầu vào; (3) Phát triển công nghệ và sản phẩm; (4) Hỗ trợ đào tạo và kỹ thuật; (5) Cơ sở hạ tầng; (6) Chính sách/tư vấn pháp lý; (7) Các cơ cấu tài chính thay thế Chi tiết của 07 hạng mục được trình bày cụ thể tại bảng 1.3:
Bảng 1.3: Phân loại DVHTKD theo Mạng lưới hỗ trợ các doanh nghiệp
Các mối liên hệ marketing
Hội chợ thương mại và triển lãm sản phẩm
Phát triển các ví dụ cho người mua
Thông tin thị trường
Thầu phụ và thuê ngoài
Các chuyến thăm và các cuộc họp với mục đích marketing
Nghiên cứu thị trường
Các lò đào tạo kinh doanh
Thông tin liên lạc
Trang 30 Dịch vụ luật sư trực tiếp cho các doanh nghiệp nhỏ
Tài trợ các cuộc hội nghị
Hỗ trợ thành lập các nhóm mua hàng số lượng lớn
Thông tin về các nguồn cung đầu vào
Cấp quyền kinh doanh
Đào tạo quản lý
Đào tạo kỹ thuật
Các dịch vụ tư vấn
Các dịch vụ pháp lý
Tư vấn tài chính và thuế
Kế toán và giữ sổ sách kế toán
Cho thuê và thuê thiết bị
Trang 31Vai trò của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Trước tiên, có thể thấy được rằng DVHTKD đóng vai trò rất quan trọng trong cả quá trình sản xuất UNCTAD đã phân đoạn quá trình cung ứng dịch
vụ thành 03 giai đoạn: đầu nguồn (các hoạt động như nghiên cứu khả thi, nghiên cứu và phát triển) - giữa nguồn (kế toán, thiết kế kỹ thuật, dịch vụ hành chính…) – cuối nguồn (quảng cáo, kho bãi, vận chuyển…) Ngoài ra cung có thể phân loại DVHTKD thông qua chức năng của dịch vụ này đối với công ty
sử dụng: giảm chi phí cố định, cung cấp kỹ năng và nâng cao chất lượng, cải thiện hiệu quả lao động, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ quản lý tài chính, tạo ra cầu nối giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài
Theo Dorothy Riddle (1989a) thì dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn đóng vai trò quan trọng trong một số khía cạnh của quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế.Thứ nhất, DVHTKD giúp tăng cường chuyên môn hóa trong nền kinh tế.Thứ hai, DVHTKD tạo ra sự thay đổi lớn từ chỗ Nhà Nước độc quyền cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đến chỗ các dịch vụ này được cung cấp bởi
cả các tổ chức tư nhân Thứ ba, DVHTKD là đầu vào quan trọng cho quá trình chuyển dịch từ xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp sang xuất khẩu có giá trị gia tăng cao
Cũng trong một loạt các nghiên cứu của mình, Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của DVHTKD đó là: sự có mặt hoặc thiếu vắng những DVHTKD chất lượng cao là nguyên nhân cơ bản tạo nên sự khác biệt giữa một nền kinh tế đang phát triển/chuyển đổi với một nền kinh tế phát triển Trong nhiều nền kinh tế đang phát triển/chuyển đổi, những dịch vụ kiểu như vậy thường chỉ có trong các công ty lớn hoặc các cơ quan Nhà Nước Khi DVHTKD không sẵn có cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực tư nhân thì họ phải đi thuê dưới hình thức tuyển dụng nhân viên (làm gia tăng chi phí vận hành cố định) hoặc
Trang 32mua từ những nguồn ở xa trong nước (giảm cạnh tranh về giá), hay mua từ các nhà cung cấp nước ngoài (làm tăng nhập khẩu cho quốc gia)
Trong hướng dẫn của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thì vai trò của DVHTKD là rất lớn bởi DVHTKD giúp tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và giảm bớt đói nghèo DVHTKD nhìn chung vươn tới việc nâng cao hiệu quả cũng như tính cạnh tranh của các doanh nghiệp từ đó nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thì vai trò của DVHTKD càng thể hiện rõ ràng hơn (Trực, Hòa và Anh, 2010) ở các điểm sau:
-DVHTKD cung cấp các dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp với mức giá hợp lý và chất lượng tốt thay thế quá trình “tự cung tự cấp” Thực tế, tất cả các tổ chức dù là Nhà nước hay tư nhân, dù quy mô lớn hay nhỏ đều phải có các chức năng hỗ trợ trọng yếu đối với sự tồn tại và khả năng cạnh tranh của
nó Ở hầu hết các quốc gia, nhu cầu về sự cần thiết của các chính sách phù hợp nhằm phát triển thị trường DVHTKD cũng như việc khuyến khích cung cấp và sử dụng loại hình dịch vụ này đang ngày càng tăng lên
-Trên bình diện quốc tế, DVHTKD được xem là một trong những nhân
tố chủ chốt nhằm tăng cường hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh
- DVHTKD thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả lao động Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào một số hoạt động chính trong sản xuất kinh doanh chứ không cần đảm nhận tất cả các khâu, các công việc như trước đây.Trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp cần phải tập trung vào sự khác biệt và các lợi thế cạnh tranh Điều này cho thấy rằng phải phát triển mối quan hệ làm việc hiệu quả hơn với các đơn vị cung cấp dịch vụ bên ngoài – những đơn vị có khả năng thực hiện những nhiệm vụ cụ thể tốt hơn, thành thạo hơn, chi phí thấp hơn, độ tin cậy cao hơn đối với các đối tượng bên trong chính tổ chức đó
Trang 33- DVHTKD tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào quá trình sản xuất kinh doanh, tránh sự phân tán nguồn lực dẫn đến hiệu quả thấp Thực tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tổ chức các lớp đào tạo cho người lao động cũng như cán bộ quản lý hay thực tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không nên tổ chức một bộ phận kế toán với đầy đủ các thành phần như một doanh nghiệp lớn Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng thuê ngoài sẽ hiệu quả hơn
- DVHTKD là cầu nối trong quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học thông qua việc tư vấn của chuyên gia từ các tổ chức này
Như vậy, vai trò của DVHTKD là không thể phủ nhận và ngày càng được đánh giá cao tuy nhiên vấn đề đặt ra là làm cách nào để phát triển DVHTKD tại Việt Nam để DVHTKD thực sự phát huy được hết vai trò vốn
có của mình Để đánh giá được vấn đề này, trước tiên phải đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển DVHTKD sau đó đưa ra các giải pháp phát triển DVHTKD Nhân tố ảnh hưởng đến DVHTKD có thể được phân thành 02 nhóm: nhóm nhân tố ngoại cảnh từ bên ngoài và nhóm nhân tố nội tại của các doanh nghiệp cung ứng DVHTKD Chính vì vậy, trong các phần tiếp theo của luận án sẽ lần lượt nghiên cứu: (1) các nhân tố ngoại cảnh tác động đến sự phát triển của DVHTKD, (2) các nhân tố nội tại của doanh nghiệp cung ứng DVHTKD tác động đến sự phát triển của DVHTKD
Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh là sự biến đổi thị trường cung cấp – sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng cũng như cơ cấu của các nhân tố cấu thành nên thị trường DVHTKD Như vậy để đánh giá sự phát triển của thị trường DVHTKD thì phải đánh giá trên cả hai khía cạnh gồm: số lượng các
Trang 34doanh nghiệp tham gia th
hưởng tới DVHTKD bao g
đối với thị trường DVHTKD và (2) môi trư
p tham gia thị trường (bao gồm cả doanh nghiệp cung
ng dịch vụ) và chất lượng dịch vụ được cung c
ại cảnh tác động đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ
ại Việt Nam đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ sự phát triển c
c tiên phải nắm được những nhân tố ngoạTrong đề tài khoa học cấp Bộ năm 2005, T.S Tr
ứu rất kỹ về các nhân tố tác động đến sự kinh doanh tại Việt Nam Các nhân tố tác động đ
u thông qua phân tích cấu trúc, môi trường mà DVHTKD đang
: Môi trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
n thân các nhà cung cấp DVHTKD) Đi vào cụ thể:
Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước đối v
ng như bất kỳ các thị trường nào muốn tồn tại và phát tri
m: Khách hàng , các tổ chức/hiệp
i với thị trường
i và phát triển đều
ch, có khả năng
Trang 35thực thi cao; thị trường DVHTKD cũng cần có một nền tảng pháp lý như vậy
để phát triển Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước đối với thị trường DVHTKD tác động không chỉ đến cung – cầu của thị trường này mà còn đến các nhân tố liên quan khác (tổ chức hỗ trợ, hiệp hội…) do đó để thị trường DVHTKD phát triển thì các nhân tố cấu thành nên thị trường phải được hình thành đồng bộ và được tạo điều kiện để phát triển Khung pháp lý
và chính sách ảnh hưởng đến thị trường DVHTKD bao gồm các quy định liên
quan đến các nhà cung cấp và khách hàng – doanh nghiệp sử dụng DVHTKD
đó Một số văn bản pháp lý quan trọng ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển DVHTKD bao gồm:
- Luật doanh nghiệp: quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của hầu hết mọi loại hình tổ chức doanh nghiệp Nếu luật càng thông thoáng thì việc hình thành các doanh nghiệp càng dễ dàng và do đó thị trường càng được thúc đẩy, ngược lại thị trường sẽ bị kìm hãm Thị trường DVHTKD sẽ không thể hình thành nếu không có luật doanh nghiệp
- Luật phá sản: quy định các vấn đề liên quan đến việc phá sản của doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và các đối tượng có liên quan góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, đảm bảo kỷ cương xã hội Luật này
ra đời tạo sự lành mạnh trong môi trường kinh doanh, tạo niềm tin giữa các doanh nghiệp trong quan hệ với nhau trong đó có quan hệ giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ
- Các văn bản pháp lý về các loại hình DVHTKD và hệ thống tổ chức cung ứng DVHTKD: Muốn thị trường DVHTKD phát triển thì phải có nhận thức đúng đắn về loại hình dịch vụ đặc biệt này Trong các văn bản pháp lý đặc thù về DVHTKD, Nhà nước có thể quy định những chính sách ưu đãi phát triển các tổ chức cung ứng DVHTKD, đưa ra định hướng cho các
Trang 36chương trình DVHTKD Văn bản này cũng có thể đưa ra những hạn chế, trách nhiệm của nhà cung cấp DVHTKD đối với hậu quả xảy ra với doanh nghiệp sử dụng dịch vụ do họ cung ứng
- Các quy định pháp lý về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có tác động rất lớn đến việc hình thành và phát triển DVHTKD Việc ban hành các quy định pháp lý về doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là sự thừa nhận của Nhà nước về vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như sự cần thiết hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển do đó trong các văn bản này phải đưa ra các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mà trong đó chủ yếu là các chương trình cung cấp DVHTKD Các chương trình phải được tổ chức nhằm giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng cường khả năng thanh toán khi sử dụng dịch vụ và thúc đẩy nhu cầu sử dụng DVHTKD
Một điều đáng ghi nhận là các cơ quan Nhà nước, từ cấp Trung ương đến địa phương đều đã tham gia mạnh mẽ vào việc thành lập các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp như: Cơ quan xúc tiến thương mại của Bộ Công Thương, Câu lạc bộ pháp luật của Bộ Tư pháp, Trung tâm thông tin doanh nghiệp và Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Bộ kế hoạch và đầu tư…Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế đối với các hoạt động hỗ trợ đặc biệt là sự hỗ trợ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhiều chính sách còn chưa được thực hiện do thiếu các chương trình hỗ trợ cụ thể Môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản như thủ tục hành chính rườm rà, thiếu sự phối hợp hiệu quả và chặt chẽ giữa các cấp hành chính và các ngành…
Ngoài ra, các hiệp định quốc tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển DVHTKD, điều này thể hiện ở 2 khía cạnh như sau:
- Trong những năm gần đây, Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế thế giới và trở thành thành viên của ASEAN, APEC và WHO, ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương với nhiều nước do đó thị trường sẽ mở cửa
Trang 37hơn đối với các doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam do đó mà số lượng khách hàng sử dụng DVHTKD đồng nghĩa sẽ tăng lên đặc biệt là các dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài
- Việc mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc mở cửa đối với lĩnh vực dịch
vụ trong đó có DVHTKD – lĩnh vực mà lâu nay các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm quyền thống trị Việc mở cửa này sẽ kéo theo việc nhiều đơn vị cung ứng DVHTKD nước ngoài tham gia vào hoạt động của thị trường Nhờ đó cạnh tranh
sẽ trở nên bình đẳng hơn và thị trường DVHTKD tại Việt Nam cũng sẽ có sự ảnh hưởng của nhiều nhà cung cấp có kinh nghiệm lâu năm, uy tín, chất lượng
(2) Môi trường kinh doanh:bao gồm các nhân tố sau:
- Nhận thức của xã hội đối với DVHTKD: là một vấn đề quan trọng để hình thành và phát triển thị trường Mặc dù DVHTKD đã tồn tại và phát triển song song với sự phát triển của doanh nghiệp nhưng mới chỉ được biết đến ở Việt Nam từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước Nhìn chung nhận thức của
xã hội, các ngành, các cấp và các doanh nghiệp về vị trí, tầm quan trọng của DVHTKD còn chưa chính xác và đầy đủ Bản thân chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của DVHTKD, chưa đánh giá được lợi ích to lớn do DVHTKD mang lại Điều này một mặt do khả năng chưa nhận thức đúng đắn về DVHTKD, mặt khác do thị trường này chưa phát triển và các nhà cung cấp DVHTKD chưa được các doanh nghiệp vừa và nhỏ tin cậy vào chất lượng dịch vụ cung cấp
- Trình độ phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước (cầu về dịch vụ): đây là nhân tố tác động lớn đến sự phát triển của DVHTKD Mọi thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cầu của thị trường đó phải ổn định Do
đó thị trường DVHTKD muốn phát triển cũng cần số lượng khách hàng đủ lớn Tuy nhiên đây là thị trường còn mới mẻ ở Việt Nam, người bán chưa khẳng định được giá trị đích thực của mình trong khi người mua cũng chưa tin cậy vào tác động cũng như hiệu quả khi sử dụng dịch vụ này
Trang 38- Khả năng của các nhà cung cấp dịch vụ:đây là một trong những nhân
tố tác động lớn đến sự tồn tại và phát triển của thị trường DVHTKD Để các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều hơn nữa các DVHTKD thì các doanh nghiệp cung ứng DVHTKD phải chứng tỏ được giá trị mà mình mang lại cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Với đặc điểm là nguồn lực hạn chế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ rất cân nhắc khi phải bỏ ra chi phí thuê ngoài DVHTKD
do đó họ phải thấy được lợi ích thực sự của việc sử dụng DVHTKD Việc bỏ chi phí cao để thuê các DVHTKD lại không phải là điều các doanh nghiệp vừa và nhỏ mong muốn trong khi đó lại yêu cầu được cung cấp dịch vụ chất lượng cao – là dịch vụ mà nhà cung cấp DVHTKD phải đầu tư chi phí đáng
kể để đạt được và là khoản đầu tư mạo hiểm
- Sự hỗ trợ và tham gia của các tổ chức trong và ngoài nước: thị trường DVHTKD đang trong giai đoạn sơ khai do đó việc tham gia hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước là rất có ý nghĩa Các tổ chức sẽ hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc sử dụng các DVHTKD, việc hỗ trợ này có thể thông qua nhiều hình thức như tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo, tập huấn…hoặc gián tiếp như hỗ trợ cho các nhà cung cấp DVHTKD để các nhà cung cấp bán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ các dịch vụ với giá thấp hơn giá thị trường, phù hợp khả năng chi trả của doanh nghiệp Ngoài ra, các tổ chức cũng có thể đóng vai trò là người xúc tiến, là trung gian giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp cung ứng DVHTKD để
họ tìm kiếm đến nhau dễ dàng, nhanh chóng hơn, giảm bớt chi phí Các tổ chức đồng thời sẽ tư vấn cho khách hàng sử dụng DVHTKD tìm đến những nhà cung cấp hợp lý nhất với chất lượng dịch vụ và giá cả phải chăng
Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác của Dorothy Riddle và Trần Vũ Hoài (1998) thì hai nhân tố chính gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng DVHTKD tại Việt Nam bao gồm:
Trang 39- Thứ nhất: là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung do đó lĩnh vực
DVHTKD của Việt Nam không phải là mục tiêu được chú trọng phát triển hay trở thành mục tiêu thu hút đầu tư Trải qua vài thập kỷ, dưới một cơ chế quản lý kinh tế cũ, lĩnh vực dịch vụ được coi là “phi sản xuất” so với lĩnh vực
“sản xuất” của nông nghiệp và sản xuất chế tạo.Tuy nhiên từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới (sau năm 1986) thái độ và quan niệm chung đã dần thay đổi Lĩnh vực dịch vụ ngày càng được công nhận là một nhân tố đóng góp rất quan trọng vào GPD của quốc gia Dưới sự tác động của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và nhiều cơ quan hữu quan khác những văn bản hướng dẫn về đầu tư trong nước đã được sửa đổi tạo sự chú ý nhiều hơn đến những yêu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Những thay đổi cụ thể bao gồm những khuyến khích công bố trong Luật đầu tư trong nước có đề cập đến vấn đề thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ tư nhân
Như vậy, có thể khẳng định rằng sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong việc đưa ra các văn bản, khung pháp lý rõ ràng liên quan đến DVHTKD là nhân tố tiên quyết tác động trực tiếp đến sự phát triển của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tại Việt Nam
- Thứ hai: có thể thấy rằng để củng cố tăng cường DVHTKD cần phải
có những thách thức nhất định về chính trị và tư tưởng đối với việc phát triển DVHTKD mà Việt Nam phải chấp nhận giống như những nền kinh tế đang phát triển, quá độ khác Những khó khăn thách thức này có thể tựu chung thành 5 nhóm như sau: (1) khả năng tự điều tiết bị hạn chế; (2) thiếu cọ xát với cạnh tranh quốc tế; (3) vai trò chi phối của các doanh nghiệp dịch vụ Nhà nước; (4) những trở ngại đối với tìm thuê dịch vụ; (5) đánh giá thấp giá trị
dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Như vậy nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến sự
phát triển của DVHTKD chính là tư tưởng, thái độ của bản thân chính các doanh nghiệp đối với việc sử dụng DVHTKD
Trang 40(1) Hạn chế khả năng tự điều tiết: một trong những cơ chế quan trọng
để phát triển chất lượng của DVHTKD là sự hình thành các hiệp hội có quyền
tự chủ phục vụ cho nhiều chức năng như giáo dục cộng đồng kinh doanh về giá trị của một dịch vụ, thẩm định khách quan về năng lực của người cung cấp dịch vụ (thông qua cấp phép hoặc chứng nhận), xây dựng và thực thi những quy tắc về hành vi và ứng xử (gắn kết những thông lệ, quy tắc tốt nhất của quốc tế), đảm bảo giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp được liên tục Cho đến nay chưa một loại hình DVHTKD của Việt Nam có được cơ chế như vậy
(2) Thiếu cọ xát với cạnh tranh quốc tế: một nhân tố quan trọng nữa làm hạn chế việc sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là sự thiếu tiếp xúc trực tiếp với áp lực cạnh tranh toàn cầu Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ “buôn bán” thông qua các cơ quan thương mại Việt Nam hoặc các doanh nghiệp tương tự thuộc sở hữu Nhà Nước và hoàn toàn phụ thuộc vào các đơn vị này trong việc tìm kiếm thị trường Vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa ý thức được về việc những đầu vào được chuyên môn hóa cao có thể nâng cao sức cạnh tranh của họ một cách đáng kể
(3) Vai trò chi phối của các doanh nghiệp dịch vụ Nhà nước: hiện nay phần lớn nhu cầu sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung vào các các đơn vị cung cấp trực thuộc khối Nhà nước do đó những doanh nghiệp cung cấp DVHTKD tư nhân khó cạnh tranh được trừ khi có sẵn thị trường xuất khẩu giúp họ tìm kiếm thêm khách hàng để duy trì sự tăng trưởng
(4) Những trở ngại đối với tìm thuê dịch vụ: tại nhiều quốc gia, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích nâng cao chất lượng của DVHTKD thông qua việc đặt hàng khu vực kinh tế tư nhân để giải quyết những yêu cầu của Chính phủ Một trong những lý do của việc ký kết các hợp đồng dịch vụ là để sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn của Nhà nước Tuy nhiên tại Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước phần lớn được đánh giá