1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý

103 751 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý

Trang 1

Lời cảm ơn

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, thạc sĩ Nguyễn Thị Chúc Sự hướng dẫnnhiệt tình, chu đáo, đầy tinh thần trách nhiệm của cô đã giúp em hoàn thành

đề tài nghiên cứu khoa học này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo dục,trường ĐHSP – ĐHTN đã góp ý và tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tàinghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp GDTC K44B và lớp GDTCK45C, trường ĐHSP – ĐHTN đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tôi trong quátrình điều tra

Do điều kiện và năng lực còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những saisót Kính mong các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn góp ý để đề tài nàyhoàn thiện hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2011 Tác giả đề tài

Trang 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Khách thể nghiên cứu

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Khách thể nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Khái niệm về ma túy

1.2.2 Nguồn gốc của các chất ma tuý

1.2.3 Phân loại ma tuý

1.2.4 Một số chất ma tuý thường gặp

1.2.5 Tác hại của ma tuý

1.2.6 Khái niệm nghiện ma tuý

1.2.7 Một số biểu hiện của người nghiện ma tuý và dấu hiệu nhận biếtngười nghiện ma tuý

Trang 4

1.2.8 Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý

1.2.9 Biện pháp phòng, chống ma túy

1.3 Nhận thức về vấn đề ma tuý

1.3.1 Nhận thức về khái niệm ma tuý

1.3.2 Nhận thức về tác hại của ma tuý

1.3.3 Nhận thức về dấu hiệu nhận biết người nghiện ma tuý

1.3.4 Nhận thức về nguyên nhân gây nghiện ma tuý

2.1 Vài nét về khách thể điều tra

2.2 Thực trạng nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về vấn đề

2.2.5 Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về những dấu hiệunhận biết người nghiện ma tuý

2.2.6 Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về nguyên nhândẫn đến nghiện ma tuý

Trang 5

2.2.7 Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về các biện phápphòng, tránh ma tuý

2.3 Các nguồn thông tin giúp sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN có hiểubiết về ma tuý

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hơn 20 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng CộngSản Việt Nam cùng với sự nỗ lực to lớn của toàn dân, công cuộc đổi mới đấtnước đã được thực hiện thành công và đem lại cho đất nước một bộ mặtmới, đó là: Kinh tế, văn hoá, xã hội đạt được nhiều thành tựu to lớn

Bên cạnh những mặt tích cực đó, nền kinh tế thị trường còn chứa đựngnhiều mặt trái và làm nảy sinh hàng loạt những vấn đề xã hội phức tạp, gâykhó khăn, cản trở cho đất nước về mọi mặt

Một trong những vấn đề xã hội khiến nhiều người quan tâm và đáng longại nhất hiện nay là tệ nạn xã hội nói chung và tệ nạn ma tuý nói riêng Matuý xâm nhập vào tất cả các quốc gia trên thế giới, trở thành hiểm hoạ của xãhội, đe doạ sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia

Các tổ chức chính quyền, cơ quan, đoàn thể xã hội đã đưa ra nhiềubiện pháp nhằm ngăn chặn sự gia tăng của tệ nạn ma tuý Đầu năm 1990,

cộng đồng quốc tế đã triển khai “Cuộc chiến chống đại dịch ma tuý trên

toàn cầu” nhưng tệ nạn ma tuý vẫn tăng mạnh theo từng năm Nhiều nước ở

phương Tây đã trải qua thời kỳ “đại dịch tiêm chích ma tuý” trong những

năm cuối thập kỷ 60 và kéo dài tới thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX

Tại Việt Nam, ma tuý cũng là vấn đề gây nhức nhối toàn xã hội vàđang thâm nhập vào thế hệ trẻ theo chiều hướng gia tăng

Đến cuối năm 2009, cả nước có tới 146.000 người nghiện ma tuý, trong đó

có 70 % người nghiện ma tuý trong độ tuổi thanh niên (http://phapluattp.vn/,

Trang 7

truy cập ngày 20 / 11 / 2010) Người ta đã sử dụng cụm từ “Ma tuý họcđường” một cách phổ biến để nói lên tình trạng lạm dụng ma túy trong họcsinh, sinh viên hiện nay.

Tệ nạn ma tuý gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng với người nghiện,với gia đình và là hiểm hoạ của toàn xã hội: Nó làm biến dạng các quan hệ

xã hội, thay đổi các định hướng giá trị theo chiều hướng tiêu cực, làm suygiảm đạo đức, nhân cách của con người, làm gia tăng bạo lực, tham nhũng

và gây mất trật tự an toàn xã hội

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý Một trong số đóphải kể đến nguyên nhân về nhận thức Số người nghiện ma tuý là thanhniên, sinh viên chiếm tỉ lệ cao, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu kỹ năngsống, không nhận thức được đầy đủ tác hại của ma tuý

Sinh viên ở các trường Đại học Sư phạm nói chung và sinh viêntrường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên nói riêng, mặc dù đượctrang bị những tri thức cơ bản về ma tuý, tác hại của ma tuý và cách phòngtránh ma tuý qua một số môn học nhưng không phải ai cũng có nhận thứcđầy đủ, đúng đắn.Vẫn còn nhiều sinh viên chưa có nhận thức đầy đủ về vấn

đề ma tuý

Trước tệ nạn ma tuý đang là một hiểm hoạ xã hội, chúng ta không thểthờ ơ mà phải hành động để xây dựng một môi trường xã hội nói chung vàmôi trường Sư phạm nói riêng trong sạch, lành mạnh Vì vậy, cần giúp sinhviên có những hiểu biết đúng đắn về ma tuý, để bảo vệ bản thân và góp phầntích cực vào việc bài trừ ma tuý ra khỏi cuộc sống

Kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của những đề tài trước

cùng với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên trường

Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý” để nghiên cứu

nhằm góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý, từ đó giúp sinh viên có kỹ năngphòng, tránh ma tuý

Trang 8

-2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm

- Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý Trên cơ sở đó, đề xuất một số ýkiến nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về vấn đề ma tuý và cáchphòng tránh ma tuý

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học TháiNguyên về vấn đề ma tuý

3.2 Khách thể nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành điều tra 115 sinh viên của 2 lớp: Lớp Giáo dục thểchất - K 44B, Lớp Giáo dục thể chất - K45C, trường Đại học Sư phạm – Đạihọc Thái Nguyên Cụ thể là:

- 45 sinh viên lớp Giáo dục thể chất - K44B

- 70 sinh viên lớp Giáo dục thể chất - K45C

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Sưphạm - Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý

- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về vấn

đề ma tuý và cách phòng tránh ma tuý

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ma tuý là một vấn đề rộng lớn và phức tạp nên trong phạm vi của một

đề tài nghiên cứu khoa học, chúng tôi chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bảnsau:

- Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết phải hiểu biết về ma túy

- Nhận thức của sinh viên về khái niệm ma túy

- Nhận thức của sinh viên về các chất ma túy

Trang 9

- Nhận thức của sinh viên về tác hại của ma túy

- Nhận thức của sinh viên về những dấu hiệu nhận biết người nghiện

ma túy

- Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy

- Nhận thức của sinh viên về các biện pháp phòng, chống ma túy

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phươngpháp:

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc và tham khảo các tài liệu,giáo trình Tâm lý học, Giáo dục học, các báo, luận văn có liên quan đến vấn

đề nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi, trò chuyện với sinh viên để thuthập thông tin, làm rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra bằng Anket: Chúng tôi xây dựng một hệthống câu hỏi đóng và mở, tiến hành điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng nhậnthức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về vấn đề ma tuý

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nhận thức

1.1.1 Nhận thức là gì?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhận thức

- Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Nhận thức là quá trình

hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó”.[ 4, tr.882 ]

- Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam: “Nhận thức là quá

trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [

8, tr 589 ]

- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã cho rằng: “Nhận thức chỉ là sự phức

hợp những cảm giác của con người” [ 7, tr.292 ]

- Theo chủ nghĩa duy tâm khách quan: “Nhận thức là sự hồi tưởng lại

của linh hồn bất tử về thế giới các ý niệm mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng đã bị lãng quên” [ 7, tr 294 ]

- Theo quan điểm của C.Mac và Ănghen: “Nhận thức là sự phản ánh

hiện thực khách quan vào bộ óc của con người Sự phản ánh đó không phải

là một hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo” [ 7, tr 220 ].

- Theo V.I.Lênin: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi

con người nhưng không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn Quá trình này là cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách có điều kiện gần đúng tính quy luật phổ biến của thế giới

tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” [ 11, tr 192]

Trang 11

- Dưới góc độ Tâm lý học: Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản củađời sống tâm lý của con người (nhận thức – tình cảm – hành động ý chí) Nó

có mối quan hệ chặt chẽ với hai mặt kia và với các hiện tượng tâm lý khác

- Nhận thức là một quá trình, ở con người quá trình này gắn với mụcđích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưngnổi bật của hoạt động nhận thức là phản ánh những thuộc tính, những mốiliên hệ, quan hệ của bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực kháchquan

Nhận thức là một cơ chế tâm lý đi trước trong hành vi có ý thức, có mụcđích của mỗi người Nó là cơ sở để lựa chọn các cách thức hành động, hìnhthành tính tích cực, thế giới quan, niềm tin của mỗi người

Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhận thức Trong phạm

vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi lấy khái niệm về nhận thức dưới góc

độ Tâm lý học làm khái niệm công cụ

1.1.2 Các giai đoạn của nhận thức

Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt đến những mức độnhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Hoạt độngnhận thức của con người bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực kháchquan với những mức độ phản ánh khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưduy, tưởng tượng) và mang lại cho ta những sản phẩm khác nhau (hình ảnh,hình tượng, biểu tượng, khái niệm…)

Căn cứ vào tính chất phản ánh, có thể chia toàn bộ hoạt động nhậnthức thành hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

- Nhận thức cảm tính: Đây là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong hoạt động

nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉphản ánh những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đangtrực tiếp tác động vào các giác quan Nhận thức cảm tính bao gồm hai quátrình: Cảm giác và tri giác

Trang 12

Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ

của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc

tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giácquan của ta

Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong việc định hướng và điềuchỉnh hoạt động của con người, giúp con người thích nghi với môi trường

Nó là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhận thức lý tính

- Nhận thức lý tính: Là giai đoạn nhận thức cao hơn nhận thức cảm

tính Nó phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ, quan hệbản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó conngười chưa biết Nhận thức lý tính bao gồm hai quá trình: Tư duy và tưởngtượng

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất,

những mối liên hệ, quan hệ bên trong có tính quy luật của các sự vật, hiệntượng trong hiện thực khách quan mà trước đó con người chưa biết

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có

trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên

cơ sở những biểu tượng đã có

Nhận thức lý tính có vai trò rất quan trọng, là điều kiện để con người làmchủ tự nhiên, xã hội và bản thân

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhậnthức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính, là nguồn cung cấp nguyên liệucho nhận thức lý tính Ngược lại, nhận thức lý tính chi phối, tác động trở lạinhận thức cảm tính, giúp con người nhận thức đúng đắn, đầy đủ về thế giới

Từ mối quan hệ này, V I.Lênin đã tổng kết thành quy luật của hoạt động

nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư

duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [ 3, tr.189 ].

Trang 13

- Ngoài hai giai đoạn trên, hoạt động nhận thức còn có quá trình trunggian giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, đó là trí nhớ.

Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có

của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và táitạo lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm,hành động hay suy nghĩ trước đây

Trí nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý của con người, nó phảnánh kinh nghiệm của con người ở mọi lĩnh vực, giúp con người đáp ứngnhững yêu cầu ngày càng cao của cá nhân và của toàn xã hội

1.1.3 Vài nét về đặc điểm nhận thức của sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ chữ Latinh “student” – những

người làm việc, tìm kiếm, khai thác tri thức

Sinh viên là những người có độ tuổi từ 18 đến 25, đang học ở cáctrường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp

Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội, là lớp người đang đượcchuẩn bị cho hoạt động trong lĩnh vực nhất định Họ là người có học vấncao, bổ sung cho đội ngũ cán bộ của đất nước trong tương lai

Đây là thời kỳ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất cũng như nhậnthức, trí tuệ Sinh viên là lớp người đang từng bước tích luỹ tri thức về mọilĩnh vực Sinh viên có thể xử lý các vấn đề của hiện thực khách quan bằngnhận thức lý tính nhiều hơn nhận thức cảm tính nên hiệu quả cao hơn.Trongthời kỳ này, sinh viên có sự biến động mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xãhội có liên quan đến nghề nghiệp

Nhận thức của sinh viên diễn ra từ mức độ thấp là cảm giác đến mức

độ cao là tư duy Nét đặc trưng cho hoạt động nhận thức của sinh viên là họ

có thể hoạt động trí tuệ tập trung, có thể tiến hành hoạt động tư duy với sựphối hợp của nhiều thao tác: Phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá,khái quát hoá… Họ đi sâu vào tìm hiểu những môn học, những chuyênnghành khoa học cụ thể để nắm vững đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp,

Trang 14

quy luật của các khoa học đó với mục đích trở thành các chuyên gia về cáclĩnh vực nhất định.

Khả năng nhận thức của sinh viên phát triển mạnh, thể hiện ở tốc độphản ánh và khả năng định hướng hoạt động tăng Nhiều sinh viên khi đượcgiao các nhiệm vụ nhận thức đã nhanh chóng định hướng được các hoạtđộng thông qua việc xác định mục đích, yêu cầu và tìm kiếm cách thức tiếnhành hợp lý Năng lực nhận thức, sự tự tin và phản ứng nhanh được coi làhạt nhân cơ bản về khả năng nhận thức của sinh viên

Tính độc lập, sáng tạo ở các quá trình nhận thức của lứa tuổi sinh viênđạt mức độ cao hơn nhiều so với các giai đoạn lứa tuổi trước Sinh viên đãxác định cho mình một hướng đi tương lai, bắt đầu thể nghiệm mình trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sinh viên có khát vọng được cống hiến,mong muốn được xã hội đánh giá và có khả năng tự đánh giá mình, mongmuốn tự hoàn thiện mình

Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản về nhận thức của sinh viên, ta cóthể khẳng định rằng: Giáo dục đúng hướng sẽ giúp họ có nhận thức đúngđắn và hành động thích hợp với những vấn đề đặt ra trong hiện thực kháchquan

1.2 Ma tuý

1.2.1 Khái niệm về ma tuý

Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về ma tuý

- Theo từ điển Hán Việt: “Ma” là tê mê, “tuý” là say sưa Ma tuý làchất đưa đến sự say sưa, mê mẩn

- Theo tiếng Anh: Ma tuý - “Narcotic drug” dùng để chỉ các chất gâynghiện nói chung

- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Ma tuý là bất kỳ chất gì khi đưavào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơthể

Trang 15

- Theo tổ chức Liên Hợp Quốc (UNODC): Ma tuý là các chất cónguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi thâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây

ra tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó.Nếu sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó lệ thuộc vào nó,dẫn đến tổn thương và gây nguy hại cho cá nhân, cộng đồng

- Theo Hiến pháp Việt Nam:

+ Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ 1/6/2000 quy định về ma tuý như sau:

Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cola, heroine, cocaine,các chất ma tuý khác ở thể lỏng và ở thể rắn

+ Luật phòng chống ma tuý được Quốc hội thông qua ngày9/12/2000 có hiệu lực từ ngày 1/6/2000, tại điều 1 khoản 2 quy định: Chất

ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong cácdanh mục do chính phủ ban hành

+ Trong điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sựnăm 1985 đã quy định một số chất ma tuý cụ thể thường gặp như: Heroine,cocaine, nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cola Ngoài ra, trong điều luậtcòn quy định các chất ma tuý khác ở thể rắn hoặc thể lỏng mà không liệt kê

cụ thể đó là chất gì Vì vậy, cần phải hiểu các chất ma tuý khác là các chấtđược quy định cụ thể trong công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý mà ViệtNam đã tham gia

- Theo pháp luật của Trung Quốc: Uỷ ban thường vụ quốc hội về việcchống ma tuý ngày 28/2/1990 quy định tại điều 1: Các chất ma tuý gồmthuốc phiện, heroine, morphine, marijuana, cocaine, các chất gây nghiệnkhác và các chất hướng thần đặt dưới sự kiểm soát của các quy định củaquốc vụ viện

Như vậy, ma tuý là một chất độc, gây nghiện và bị pháp luật cấm sửdụng, cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ

Trang 16

Tóm lại, từ những điều đã trình bày trên, ta có thể đưa ra khái niệm

chung nhất về ma tuý như sau: Ma tuý là bất kỳ chất gây nghiện khi đưa vào

cơ thể sống sẽ làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm sinh lý của con người Dùng nhiều lần sẽ bị lệ thuộc vào nó cả về thể chất lẫn tinh thần, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội.

1.2.2 Nguồn gốc của các chất ma tuý

- Cách đây khoảng 4000 năm TCN, người ta đã biết đến cây thuốcphiện (ả phù dung, anh tử túc, á phiện ) hay cây thẩu (PapaverSomniferum) Nhưng mãi đến thế kỷ 17, người Châu Âu mới biết được tácdụng trị bệnh của thuốc phiện (giảm đau, giảm ho, cầm tiêu chảy )

- 2700 năm TCN, cần sa được mô tả trong "Bản thảo cương mục" củavua Thần Nông (Trung Quốc) Trước đó, người ta đã dùng cần sa làm thuốchút, hít, uống để có được ảo giác do cần sa gây ra Y học dân gian thì dùngcần sa để giảm đau, giảm ho, giảm cơn suyễn, chống co giật Tây y thì dùngmột hoạt chất của cần sa là -9 (Tetrahydro Canna Biol -9 THC) làm thuốc anthần, chống nôn ói cho người bệnh ung thư

- Năm 1806, người ta đã sản xuất được morphine

- Từ xa xưa, người dân Nam Mỹ đã nhai lá Coca với vôi để không cảmthấy đói, không cảm thấy mệt.Ngày nay, Tây y dùng Cocaine làm thuốc têkhi chữa các bệnh trong tai, mũi, họng, răng miệng Cocaine được chiết xuất

từ lá Coca, được sản xuất lần đầu tiên vào năm 1855

- Ma túy, mà đại diện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâutrước đây Hơn 8000 năm trước đây, thuốc phiện đã được người Somai ở tây

Á sử dụng, người ta đã biết được những khoái cảm và sự thoải mái hết sức

mà thuốc phiện mang lại khi dùng

- Thế kỷ thứ 1, Rioskelires đã miêu tả khá kỹ về thuốc phiện trongcuốn sách "Dược điển luận" của mình Tuy nhiên ở thời kỳ này, người tamới chỉ chú trọng đến những khoái cảm, những tác dụng trong chữa bệnh

Trang 17

mà thuốc phiện mang lại chứ chưa chú ý tới mặt trái của nó, đó là tác dụnggây nghiện khó cai.

- Năm 1935 người ta mới phát hiện tính chất kích thích củaAmphetamine và được dùng để điều trị chứng ngủ rũ

- Năm 1960, một số nước đã tổng hợp được LSD (Lysergic AcidDiethylamide)

1.2.3 Phân loại ma tuý

Có nhiều cách phân loại ma tuý

* Theo mức độ gây nghiện:

Ma túy gồm 3 loại sau :

- Loại mạnh: Thuốc phiện, heroine, cocaine

- Loại trung gian: Morphine, dolargan, nôvôcain, atropine

- Loại nhẹ: Thuốc lá, tài mà, thuốc lào Canada (còn gọi là cỏ Malay,pin), thuốc lào ẢRập (còn gọi là shisha)

* Theo Liên Hợp Quốc:

Ma tuý gồm 5 nhóm sau :

- Nhóm ma tuý là các chất từ cây thuốc phiện (opiates)

- Nhóm ma tuý là các chất từ cây cần sa (cannabis)

- Nhóm ma tuý là các chất kích thích (stimulats)

- Nhóm ma tuý là các chất ức chế (depressants)

- Nhóm ma tuý là các chất gây ảo giác (hallueinogent)

Trang 18

* Theo quy định sử dụng:

Ma túy gồm 2 loại:

- Loại ma tuý được dùng : Thuốc lá, rượu

- Loại ma tuý cấm dùng : Thuốc phiện, sản phẩm điều chế từ thuốcphiện như : Heroine, morphine, cây cola và các chất chế tạo từ lá cây cocanhư cocaine

- Các chất kích thích: Thuốc kích thích tổng hợp bezedrine, cocaine,encain anpha và beta, ephedrine, nicotine, caffine

- Các chất gây ảo giác: Marijuana, cần sa ; ancaloit gây ảo giác cótrong cây xương rồng (peyote cactus); LSD (Lysergic Acid Diethylamide)hay còn gọi là ma tuý gây ảo giác; amphetamine, ecstasy(thuốc lắc):

Trang 19

(MDMA/methylenedioxymethamphetamine); ketamine; hashish;phencyclidine (PCP); thuốc có thể hoà tan và thuốc hít: Keo dán, chất để phaloãng sơn

1.2.4 Một số chất ma tuý thường gặp

1.2.4.1 Thuốc phiện (opium)

- Cây thuốc phiện (cây anh túc) là loại cây thân cỏ, thân thẳng đứng,cao từ 1 - 1,5m, mọc ở nơi khí hậu mát, thích hợp với đất sét vôi Nó có từ 8

- 12 nhánh phụ, mỗi nhánh có 1 bông hoa nhiều màu sắc, từ hoa sinh ra quả.Nhựa từ quả gọi là thuốc phiện sống Còn có tên là nha phiến, á phiện Trong thuốc phiện có morphine, công dụng chính là giảm đau, gây ngủ

- Nhựa thuốc phiện thường được dùng để hút Lúc đầu hút vào thấy

có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng phấn, làm giảm đau nhức, mệt mỏi.Nhưng càng hút thì càng ngày càng phải tăng liều mới đạt được cảm giácnhư lần trước Dần dần người hút bị suy sụp, mất hết nghị lực, không còn ýchí và cảm giác Hơn thế, ở người sử dụng ma tuý, hút thuốc phiện còn xuấthiện các biến chứng như: Viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính, táo bón daidẳng, phát ban ngoài da, tiểu tiện ra abumin, thường hay bị sưng phổi, mạchđập chậm và không đều Nguy hiểm hơn là khi không có thuốc, người sửdụng ma tuý phải nạo xái  trong ống thuốc ra để hút, hút xái độc hơn vì nó

có khoảng 80 - 90% chất morphine

Trang 20

Hình 1 - Quả thuốc phiện (poppy head)

1.2.4.2 Morphine

- Ðây là hoạt chất chính của thuốc phiện Morphine dạng bột: Kếttinh màu trắng, không mùi, vị đắng và chua, dễ chuyển màu xám dưới ánhsáng và không khí Morphine dạng nước: Không màu, có mùi khai củaAmoniac Morphine dạng viên: Morphine Sulfate (Moscontine) thực chất làthuốc tây trị đau ở người bệnh ung thư, còn để điều chế Apo Morphine gâynôn ói khi ngộ độc

- Morphine là một loại thuốc giảm đau gây nghiện (opiat), là mộtalcaloid có hàm lượng cao nhất (10%) trong nhựa khô ở quả cây thuốcphiện, về mặt cấu tạo có chứa nhân piperridin-phenanthren

- Morphine là chất được dùng làm chất giảm đau và nguyên liệu bántổng hợp để sản xuất thuốc trị ho, giảm đau, tiêu chảy trong y học.Morphine có tác dụng trực tiếp tới tế bào thần kinh trung ương, nhất là vỏnão làm cho thần kinh trung ương bị ức chế (như trung tâm đau, trung tâm

hô hấp, trung tâm gây ho) và mốt số trung tâm bị kích thích gây nôn, cođồng tử, chậm nhịp tim

Trang 21

- Với liều điều trị morphine làm tăng trí tưởng tượng, hết buồn rầu,mất sợ hãi, tạo trạng thái lạc quan, nhìn màu sắc thấy đẹp, nghe tiếng độngthấy dễ chịu, mất cảm giác đói Sử dụng morphine ở liều cao làm hạ huyết

áp, làm giảm dịch tiết, ra mồ hôi nhiều

- Người sử dụng morphine có mắt bị phù, móng tay và môi thâm tím;

bị rối loạn tâm lý, nói không thật, lười biếng, ít chú ý đến vệ sinh thân thể,thường hay ngáp vặt, co đồng tử, thiếu máu, chán ăn nên sút cân, mất ngủ,già trước tuổi, nôn, vã mồ hôi, chảy nước mắt, đau thắt ngực, trầm cảm, thầnkinh bị kích thích Sau khi tiêm vào cơ thể khoảng 24 giờ thì 85 - 90% lượngmorphine được thải ra từ cơ thể theo nước tiểu

1.2.4.3 Heroine

- Heroine hay còn gọi là hàng trắng, bạch phiến, xì ke (Scag) đượctổng hợp từ morphine Heroine có dạng bột trắng, dễ hút nước, được góitrong giấy bạc thành viên nhỏ, vào túi nylon nhỏ thành tép hàn kín Heroineđược sử dụng bằng cách: Hút (trộn với thuốc lá), hoặc hít (để lên tờ giấybạc, hơ lửa cho heroine bốc khói và hít khói; nặng hơn thì không cần hơ màhít thẳng vào mũi); hoặc chích (pha vào nước chích vào tĩnh mạch hay độngmạch)

- Heroine thường được chế biến thành 2 loại: Loại bột trắng hồng, xốpnhư bông gọi là "heroine 4" (còn gọi là bạch phiến) dùng để chích vào tĩnhmạch Loại bột màu nâu hồng gọi là "heroine 3" dùng để hút, hít

- Dùng heroine lần đầu sẽ có cảm giác mơ màng, khoan khoái, quênmọi khổ đau, bi thương Nhưng khi cơn nghiện đến mà không có heroine,

cơ thể sẽ bị đau co thắt Nếu dùng quá liều heroine thì người sẽ bị tê liệt thầnkinh, hôn mê và có thể chết sau vài phút Nghiện heroine làm cho con ngườithay đổi về tính cách, trở nên cô độc, thù ghét đồng loại, mất khả năng sinhdục; dễ gây ra các hành vi vi phạm pháp luật

Trang 22

và pha loãng chất kết dính và là một chất dễ bay hơi.

- Việc hít keo (dung môi hữu cơ) thường được tiến hành bằng các cáchsau đây: hít trực tiếp bằng mũi hoặc bằng miệng từ các chai lọ đựng dungmôi hoặc keo dán; tẩm dung môi trên vải, và sau đó chụp lên mũi và miệng;cho dung môi hoặc hỗn hợp keo dán có chứa dung môi vào túi nhựa và sau

đó chụp lên mũi, miệng hoặc trùm qua đầu

- Có nhiều loại keo dán khác nhau nhưng có hai loại keo dán phổ biến

mà một số thanh, thiếu niên đang sử dụng đó là keo dán gỗ và nhựa Kết quảphân tích hai loại keo trên cho thấy: Trong hai loại keo này có 28 loại dungmôi hữu cơ khác nhau, trong đó có ba loại rất độc cho sức khỏe là methylenechloride (hàm lượng 12,95%), ethyl acetate (6,20%) và toluene (77,11%).Ngoài ra, trong hai loại keo này còn có nhiều loại hóa chất độc hại khác

Trang 23

nhưng ở hàm lượng thấp hơn các loại trên như xylene, benzene, butylacetate, ethyl cyclopentane

- Tác hại của việc hít keo: Một người sau khi hít keo có các loại dungmôi methylene chloride, ethyl acetate, toluene, cyclohexane sẽ có tác dụnggây cảm giác lâng lâng, đê mê (kiểu ma túy) Các dung môi hữu cơ này làloại dung môi bay hơi có thể gây nghiện nếu thường xuyên hít, ngửi các chấtnày người hít có cảm giác sảng khoái, ảo giác Nếu hít thời gian ngắn có thểgây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, gây trầm cảm, ức chế hô hấp,tổn hại phổi, hại gan, thận, gây suy tủy xương, rối loạn nhịp tim, thoái hóanão, ảnh hưởng đến dây thần kinh ngoại biên; nếu hít thường xuyên, lâu dài

sẽ bị bệnh ung thư Cũng như các chất gây nghiện khác, khi đã nghiện dungmôi bay hơi, người nghiện sẽ luôn nhớ cảm giác do nó mang lại và phải tiếptục sử dụng nó Đến một lúc nào đó sử dụng liều cũ không thỏa mãn, họ phải

sử dụng liều cao hơn để đạt được cảm giác mong muốn, dần dần họ trởthành “nô lệ” của chất gây nghiện

Hình 3 - Thanh thiếu niên hít keo

* Thuốc lào Canada (còn được gọi là pin ):

Trang 24

- “Pin” được chế biến dưới dạng sợi thuốc gói trong túi nylon hoặc épthành bánh để người sử dụng cắt ra, bóp vụn rồi quấn vào giấy để hút, kèmtheo pin là một loại giấy có tên là OCB dùng để quấn thuốc, phần tẩu thuốcthường được làm bằng vỏ thuốc lá Vinataba

- Sử dụng loại thảo dược này sẽ kích thích đến não người sử dụng ởmức độ nhẹ hơn ma túy Sau khi hút pin, người hút bị kích thích thần kinh,tùy theo ảo giác từng người khi như bay bổng, lúc ngồi yên đờ đẫn Ngườihút lâu dài sẽ tổn thương các tế bào não và có thể làm người sử dụng bị suynhược thần kinh, rối loạn nhận thức, mất khả năng tập trung

Hình 4 - Giới trẻ sử dụng pin ma tuý

* Thuốc lào Ả rập (còn được gọi là shisha):

- Thành phần thuốc chủ yếu là mật ong, lá và rễ cây được ướp hươngcác loại trái cây như nho, cam, táo, dâu… Shisha được hút thông qua chiếcbình lọc giống như điếu bình

- Hút shisha là một kiểu hút thuốc qua ống nước, phổ biến ở các quốcgia Ảrập, trong đó những loại thảo mộc tạo mùi thơm được đốt cách nhiệtbằng than, qua một ống nước và người dùng hít khí vào bằng ống

Trang 25

- Hút shisha thường xuyên có thể làm hư hại não vì người người sử dụng hít phải nồng độ khí CO cao.

- Những năm gần đây nước ta đã xuất hiện các chất ma tuý tổng hợprất nguy hiểm, đặc biệt là các chất ma tuý kích thích dạng amphetamine (viếttắt là ATS - amphetamine - type - stimulans) có xu hướng gia tăng rất mạnh.Các chất ma tuý thuộc nhóm ATS như amphetamine, methamphetamine,

Trang 26

MDMA (3, 4 methylenedioxymethaphetamine, còn gọi là Ecstasy) đều cóthể được hấp thụ qua đường tiêu hoá, sau 24 giờ thì khoảng 70 - 90% đượcbài tiết qua nước tiểu và được bài tiết gần hết sau 2 - 3 ngày Hiện nay,người ta đã điều chế được nhiều chất có cấu trúc hóa học gần giốngamphetamine, có tác dụng kích thích thần kinh mạnh hoặc gây ảo giác, trong

đó điển hình là ecstasy (MDMA - methylenedioxy methamphetamine)

- Nếu dùng ATS thời gian dài sẽ gây nghiện Người sử dụng ATSthường thiếu ngủ, chán ăn, đánh trống ngực, chóng mặt và có các dấu hiệucường giao cảm như: Tăng huyết áp, tăng thân nhiệt và rối loạn tâm thần, rốiloạn nội tiết, rối loạn tâm sinh lý và nhiều chức năng khác của cơ thể

Hình 6 - Ma tuý tổng hợp dạng bột

- Ðây là hoạt chất trích từ lá cây coca,chủ yếu được sản xuất dướidạng bột trắng (gọi là Cocaine Hydrochloride), tơi xốp như bông tuyết, mượtmà; tinh thể nhỏ, hình kim, sáng bóng, không màu và không mùi, vị hơiđắng mát và gây cảm giác hơi tê cho đầu lưỡi

Trang 27

- Cocaine còn được gọi là Crack, Ice, hay "morphine nhân tạo".Cocaine có tác dụng giống morphine nhưng không được chế biến từ câythuốc phiện Cocaine được tổng hợp thành Pethidine (meperidine, Dolosal,Dolargan ) Cocaine được dùng qua đường hít và tiêm vào tĩnh mạch, cótác dụng giảm đau, chống co giật, êm dịu thần kinh như các loại Demerol,Methadone Cocaine gây nghiện, gây hoang tưởng bộ phận, nếu sử dụngquá liều có thể gây tử vong.

Hình 7 - Cây coca Hình 8 - Cocaine

1.2.4.8 Cần sa (canabis):

- Còn gọi là cây gai dầu, cây gai mèo, cây đai ma Cần sa giống sợithuốc lá, màu nâu đen, được vấn thành điếu như điếu thuốc nhưng bẻ congđầu hoặc gói vào giấy thành từng gói

- Từ xa xưa, người ta đã dùng cần sa để làm thuốc hút, nhai, hít vàthuốc uống Lá cần sa có mùi tanh, khó ngửi, khói mùi khét Cần sa để hútđược chế biến hoặc từ lá, hoa, rễ hay nhánh của cây Cannabis sativa phơikhô trộn lẫn với nhau Thường có màu nâu hoặc xanh xám, cần sa chứa gần

400 hóa chất mà chất chính là THC (delta-9-tetrahydrocannabinol) Tácđộng đầu tiên đối với một người mới hút cần sa có thể là một sự kích thích

Trang 28

mạnh

1.2.4.9 Các chất kích thích hệ thần kinh

* Amphetamine: Loại này được sản xuất ở dạng bột, viên nén, viên

con nhộng, ống tiêm khi dùng ở liều cao, sẽ làm cho cơ thể bị choáng, suysụp, không muốn ăn uống, đau đớn, loạn nhịp tim, giảm khả năng lao động

và học tập Dùng lâu có thể bị rối loạn thần kinh, dẫn đến tâm thần

* Methamphetamine:

- Mạnh hơn Amphetamine và gấp 500 lần so với thuốc phiện

- Loại ma túy này rất nguy hiểm và có hại hơn ma túy tự nhiên rấtnhiều bởi nó có nồng độ cao, khả năng gây nghiện nhanh và tác động mạnhlên hệ thần kinh, làm cho người sử dụng loại này dễ bị kích thích, có thể gâytội ác ngay

1.2.4.10 Các chất ức chế hệ thần kinh

* Barbiturat: Là một loại thuốc an thần, chống co giật Dùng lâu hoặc

quá liều sẽ dẫn tới mất trí nhớ, nói ngọng, gây tổn thương cho hệ tuần hoàn,thậm chí gây ngộ độc, dẫn đến tử vong

* Methaqualon: Với liều điều trị, mecloqualon, benzodiazepin làm

giảm đau, an thần, chống co giật, thư giãn cơ bắp nhưng lại là những chấtgây nghiện đối với người hay sử dụng chúng

* Thuốc an thần: Seduxen, mepropamate dùng để chữa bệnh, chống

lo âu, hồi họp, khó ngủ và đau đầu Nhưng nếu lạm dụng các chất này sẽ gâynghiện

1.2.5 Tác hại của ma tuý

1.2.5.1 Tác hại đối với bản thân

Trang 29

- Ma tuý gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các cơ quan trong cơthể:

+ Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần

số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùngquá liều Nhiều trường hợp ngưng thở rất đột ngột, nếu không cấp cứu kịpthời sẽ dẫn đến tử vong

Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, trànkhí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quảntắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản

+ Đối với hệ tim mạch : Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp

tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắtngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim Chúng cũng là nguyên nhân củacác rối loạn nhịp, đe dọa tính mạng người dùng ma túy Ngoài ra còn gâynên tình trạng co mạch, làm tăng huyết áp

+ Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn

đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, ma tuý cũng có thể gâycác tai biến như: Co giật, xuất huyết, đột quị

+ Đối với hệ sinh dục : Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục suygiảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốcmột thời gian khá lâu, gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống Các chất

ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmôn sinh sản, làm giảm khả năng sinhhoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo

cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giốngNgoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: Hoại tử

tế bào gan, ảo thính, ảo thị

Trang 30

- Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập,làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều có thể dẫnđến cái chết

- Lạm dụng ma tuý gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút Tiêm chích

ma tuý, dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêmgan virut B, C, đặc biệt là  HIV (dẫn đến cái chết).  Tiêm chích ma tuý làmột trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam

- Nghiện ma tuý dẫn đến thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lốisống buông thả, dễ vi phạm pháp luật

- Ma tuý gây nên những mâu thuẫn và bất hoà giữa người sử dụng vớibạn bè, thầy cô giáo và gia đình đồng thời làm mất lòng tin với mọi người,

dễ bị người khác lợi dụng Người nghiện ma túy có kết quả học tập giảm súthoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việclàm

1.2.5.2 Tác hại của ma tuý đối với gia đình 

- Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu cần tiền đểmua ma tuý của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000-100.000đ thậm chí 1.000.000 - 2.000.000đ/ngày Vì vậy, khi lên cơn nghiện,người nghiện ma tuý có thể  tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đìnhvào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sửdụng ma tuý, nhiều người đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chígiết người, cướp của

- Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặccảm,  ăn không ngon, ngủ không yên vì trong gia đình có người nghiện)

Trang 31

- Ma túy gây ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình : Thực tế cho thấy cótới 90- 100 % nội bộ gia đình có người nghiện ma tuý nảy sinh mâu thuẫn,mất đoàn kết Có khoảng 38 - 42 % số cặp vợ chồng ly hôn là do một tronghai người nghiện ma tuý.

- Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh chongười nghiện do ma tuý gây ra

1.2.5.3 Tác hại của ma tuý đối với kinh tế và xã hội

Theo kết quả điều tra xã hội học cho thấy: 80% số người nghiện matuý trả lời: Sẵn sàng làm tất cả mọi việc kể cả phạm tội để có tiền thoả mãnnhu cầu ma tuý.Vì vậy, họ đã làm suy sụp kinh tế gia đình, mất uy tín tronggia đình, bạn bè và xã hội Cũng theo số liệu thống kê thì trong số ngườinghiện, có 85,5% là đối tượng có tiền án, tiền sự Do đó, ma tuý là tác nhângây mất trật tự an toàn xã hội, phá hoại hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đếnthuần phong mỹ tục

* Tác hại của ma túy đối với kinh tế

- Tệ nạn nghiện ma tuý gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước Với

trên 100.000 người nghiện hàng ngày, dùng nhiều chất ma tuý khác nhau cóloại như heroine: 100.000 đồng/liều, có loại 30.000 – 70.000 đồng/liều Mỗinăm số người nghiện sẽ tiêu phí hết 2.000 tỷ đồng Với tình trạng như vậy,hàng năm số người nghiện ma tuý toàn thế giới đã sử dụng hàng chục tỷUSD

- Tệ nạn ma tuý hàng năm đã làm cho Nhà nước phải dành một khoảnngân sách lớn cho công tác phòng, chống ma tuý Cụ thể là:

+ Chi phí cho công tác tuyên truyền giáo dục phòng, chống ma tuý

Trang 32

+ Chi phí cho công tác vận động xoá bỏ cây thuốc phiện.

+ Chi phí cho công tác tổ chức cai nghiện tại cộng đồng, xây dựng vàquản lý các trung tâm cai nghiện

+ Chi phí cho hoạt động kiểm soát ma tuý ở biên giới và hoạt độngđiều tra truy tố, xét xử tội phạm về ma tuý

+ Chi phí về giam giữ cải tạo số người phạm tội về ma tuý

* Tác hại của ma túy đối với xã hội

- Tệ nạn ma tuý ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xãhội Để có tiền sử dụng ma tuý, hàng vạn người nghiện đã phạm tội trộmcắp, cướp của, giết người Qua thống kê xã hội học cho thấy: 70% số vụphạm tội hàng năm là do người nghiện ma tuý hoặc có liên quan đến ma tuýgây ra Trong số những người bị bắt hàng năm vì phạm tội, có từ 30 – 50%

số người phạm tội về ma tuý

+ Tệ nạn ma tuý đã làm gia tăng tệ nạn mại dâm, tăng số người bịnhiễm HIV/AIDS

+ Tệ nạn ma tuý làm gia tăng tai nạn giao thông, trong đó có nhiều

vụ tai nạn do người nghiện ma tuý không làm chủ được tốc độ

+ Ma tuý tác động xấu đến sức khoẻ, đạo đức của hàng vạn thanhthiếu niên, ảnh hưởng trực tiếp đến lao động của xã hội, làm suy giảm lựclượng lao động của xã hội

Tóm lại, ma tuý ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội,đến sức khoẻ, tính mạng của con người, đến hạnh phúc của mỗi gia đình

1.2.6 Khái niệm nghiện ma tuý

Trang 33

- Theo Từ điển Tiếng Việt của NXB Đà Nẵng (2009): “Nghiện” có nghĩa là “ham thích đến mức thành thói quen khó bỏ” [ 12, tr.874 ].

- Theo quan điểm y học: Nghiện ma túy là một trạng thái phụ thuộc của

cơ thể con người vào một loại ma tuý mà khi sử dụng nó lâu thành thói quen,gây nên tình trạng “đói” ma tuý và những rối loạn về tinh thần ở người nghiện.Hiểu theo một cách khác, nghiện ma tuý là sự lệ thuộc cả về thể chất và tinhthần vào các chất ma tuý

thuộc về mặt tâm lý hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý.

Trong đề tài này, chúng tôi lấy khái niệm nghiện ma túy của tổ chức y

tế thế giới làm khái niệm công cụ

1.2.7 Một số biểu hiện của người nghiện ma tuý và dấu hiệu nhận biết người nghiện ma tuý

1.2.7.1 Các biểu hiện thường gặp ở người vừa sử dụng ma tuý

Sau khi người sử dụng ma tuý vừa sử dụng xong một liều ma tuýthường có biểu hiện: Tinh thần hưng phấn, vẻ mặt sung mãn, đỏ mặt, mắt đỏ

và ướt, trông hoạt bát khác thường Các dấu hiệu trên được biểu hiện cụ thểqua các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Sau khi dùng 5 – 10 phút, biểu hiện phổ biến là mắt đỏ

và trông ướt long lanh, sau đó chuyển qua sụp mi mắt, ngồi tại chỗ mắt limdim, gãi chân tay, vò đầu, bứt tóc… thể hiện rõ nhất trong trường hợp dùngthuốc phiện pha lẫn seduexen Những biểu hiện này người nhà khó phát hiện

ra vì nó thường xảy ra ở nơi hút chích

Trang 34

- Giai đoạn 2: Sau 10 đến 20 phút, mắt đỏ ướt, đồng tử teo, giọng nóikhàn khàn, uống nhiều nước lạnh, tâm lý ở trạng thái hưng phấn cao, nóinhiều, cử chỉ và động tác thiếu chính xác Nếu có tật thì tật thường xuất hiện

ở mức cao như vuốt mũi, nhổ râu, cắn móng tay…

- Giai đoạn 3: Sau 90 phút, người sử dụng ma tuý tìm chỗ yên tĩnh đểthưởng thức cơn nghiện Lúc này họ nằm như ngủ, nhưng không ngủ mà hútnhiều thuốc lá, tàn thuốc vung vãi Quan sát nơi họ nằm thường thấy chănmàn, đồ đạc bề bộn, hôi Người sử dụng ma tuý thường sợ tắm, sợ ồn ào

1.2.7.2 Một số dấu hiệu nhận biết người nghiện ma tuý

Theo tài liệu của Uỷ ban quốc gia phòng chống ma tuý thì có các cáchnhận biết một người đã nghiện ma tuý qua các biểu hiện sau đây:

1 Thay đổi bất thường giờ giấc sinh hoạt: Thức khuya, đêm ít ngủ, dậymuộn, ngày ngủ nhiều

2 Hay tụ tập, chơi với những người không có công ăn việc làm, không laođộng, không học hành, hay chơi thân với người nghiện ma tuý

3 Thích ở một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi người (kể cả người thântrong gia đình)

4 Tâm trạng thường lo lắng, bồn chồn, đôi khi nói nhiều, nói dối, hay cóbiểu hiện chống đối, cáu gắt

5 Hay ngáp vặt, người lừ đừ, mệt mỏi, lười lao động, không chăm lo vệ sinh

cá nhân, nếu là học sinh thì thường đi muộn, trốn học, lực học giảm sút, ngồihọc trong lớp hay ngủ gật

Trang 35

6 Nhu cầu tiêu tiền ngày một nhiều, sử dụng tiền không có lý do chínhđáng, thường xuyên xin tiền người thân, hay bán đồ đạc cá nhân và của giađình, nợ nần nhiều, trộm cắp vặt.

7 Túi quần, áo, cặp sách, phòng ở thường có nhiều thứ như: Giấy bạc, thuốc

lá, kẹo cao su, bật lửa ga, bơm xi lanh, kim tiêm, ống thuốc, thuốc phiện, góinhỏ heroine

8 Có dấu kim tiêm trên mạch máu ở mu bàn tay, cổ tay, mặt trên khuỷu tay,mặt trong mắt cá chân, bẹn, ở cổ

9 Đối với người đã nghiện nặng, ngoài các dấu hiệu trên còn biểu hiện: Sứckhỏe giảm sút rõ rệt, thường xuyên ngáp vặt, mắt lờ đờ, da tái, môi thâm, cơthể hôi hám, ít tắm giặt, ăn mặc luộm thuộm

Những người nào có càng nhiều những biểu hiện nêu trên thì mức độnghiện ma tuý càng nặng Chắc chắn nhất là lấy nước tiểu đem xét nghiệmchất ma tuý để khẳng định

1.2.8 Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc tình trạng nghiện ma tuý, trong

đó phải kể đến những nguyên nhân sau:

1.2.8.1 Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân chủ quan hay các yếu tố chủ quan là tập hợp các nhân

tố trong nhận thức của con người, là các yếu tố tinh thần Đây là nhómnguyên nhân giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn tới thái độ và hành vi củacon người đối với ma túy Những nguyên nhân chủ quan đó là:

- Do trình độ văn hoá thấp, nhận thức và hiểu biết xã hội còn hạn chế,tính tự chủ của bản thân không cao, không có niềm tin vào cuộc sống, thiếuthốn tình cảm và tự ti

Trang 36

- Do thiếu hiểu biết về tác hại của ma túy. 

- Do lạm dụng các thuốc giảm đau khi chữa bệnh, hoặc có vấn đề sứckhỏe tâm thần

- Do đua đòi, thích tìm cảm giác lạ

- Do buồn chán, căng thẳng

- Do thất nghiệp, không có giải pháp khi bị thất nghiệp hoặc bi quantrước tiền đồ, cuộc sống

- Do mâu thuẫn với cha mẹ, bạn bè, người thân…

Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan kể trên, phải tính đến những nguyênnhân khách quan sau

1.2.8.2 Nguyên nhân khách quan

Là những điều kiện khách quan mà hàng ngày con người phải tiếp xúc,

va chạm hay là những điều kiện sống, học tập và sinh hoạt

- Phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt (đồng bào vùng cao cho rằnghút thuốc phiện là thú vui)

- Do tác động của nền kinh tế thị trường tới lối sống, thói quen củacon người

-  Các thành viên trong gia đình không quan tâm đến nhau

-   Nạn sản xuất, tàng trữ, vận chuyển ma tuý, buôn bán, sử dụng matuý chưa được nghiêm trị ở mọi lúc, mọi nơi

- Do công tác cai nghiện còn thiếu tính đồng bộ, không khoa học vàthiếu kinh nghiệm

- Do công tác tuyên truyền, giáo dục để người dân, gia đình, tổ chức,đoàn thể nâng cao nhận thức và chủ động phòng chống ma tuý chưa đủmạnh, còn dàn trải, thiên về hậu quả, ít chú ý nhân rộng, phổ biến các kinhnghiệm, tấm gương tốt trong phòng ngừa và đấu tranh chống ma tuý

- Do việc sản xuất, mua bán, sử dụng ma tuý tồn tại dưới nhiều hìnhthức mới, khó kiểm soát

Trang 37

Việc phân loại các nguyên nhân kể trên chỉ là tương đối, khái quát và

cơ bản nên khi tìm hiểu các nguyên nhân gây nghiện ma tuý, cần phải có sựkết hợp xem xét cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

1.2.9 Biện pháp phòng, chống ma tuý

Tùy theo từng cơ quan, đơn vị mà có biện pháp phòng, chống ma tuý khácnhau

1.2.9.1 Đối với cá nhân, gia đình

Để phòng, chống ma tuý, cá nhân, gia đình cần có những biện pháp sau

- Giáo dục thành viên trong gia đình nhận thức về tác hại của ma túy,tầm quan trọng của công tác phòng chống ma tuý và thực hiện quy định củapháp luật về phòng, chống ma túy; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viêntrong gia đình tham gia tệ nạn ma túy

- Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gâynghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh

- Mỗi cá nhân cần tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy tại các

cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người thân đã cainghiện ma túy hòa nhập cộng đồng

- Cá nhân, gia đình phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về

tệ nạn ma túy trong khu vực mình sinh sống cho cơ quan công an

1.2.9.2 Đối với nhà trường và các cơ sở giáo dục khác

Ở nước ta trong những năm gần đây tình trạng nghiện hút, tiêm chích

và tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý diễn ra rất phức tạp với nhiềuthủ đoạn xảo quyệt Tệ nạn ma tuý đã xâm nhập vào một bộ phận học sinh,sinh viên Vì vậy, trong công tác phòng, chống ma tuý, nhà trường cần thựchiện những biện pháp sau:

Trang 38

- Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma túytrong nhà trường, bằng việc lồng ghép vào chương trình học chính khoá đểcho học sinh, sinh viên, hiểu rõ về tác hại của ma tuý.

- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy cho sinhviên thông qua “Tuần sinh hoạt công dân, học sinh, sinh viên” đầu khoá,cuối khoá, đầu năm học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thôngqua các hoạt động văn nghệ, các cuộc thi tìm hiểu, các phong trào thi đua vềphòng, chống ma tuý trong trường học; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn họcsinh, sinh viên tham gia tệ nạn ma túy

- Giáo dục lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, không tham giavào các tệ nạn xã hội, tạo ra một môi trường giáo dục trong sạch

- Chấn chỉnh kỷ cương, nề nếp trong nhà trường, xây dựng các văn bảnquy định về quản lý học sinh, sinh viên trong đó chú trọng đến giáo dục phòng, chống ma túy cho cả học sinh, sinh viên nội trú và ngoại trú Quản lýchặt chẽ số học sinh, sinh viên ngoại trú của các trường để ngăn chặn đẩy lùi

sự xâm nhập của tệ nạn ma túy

- Phối hợp với gia đình, cơ quan tổ chức và chính quyền địa phương

để quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên về phòng, chống ma túy

- Phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức xétnghiệm khi cần thiết để phát hiện học sinh, sinh viên nghiện ma túy Từ đó

có biện pháp quản lý, giáo dục đối với những đối tượng bị nghiện ma tuýđồng thời ngăn chặn tình trạng nghiện ma tuý trong môi trường giáo dục

1.2.9.3 Đối với các cơ quan, tổ chức xã hội

- Cơ quan, tổ chức xã hội cần phát hiện, báo cáo kịp thời cho công anviệc trồng cây thuốc phiện; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma túy dochính quyền địa phương tổ chức

Trang 39

- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức, pháp luật vềphòng, chống ma túy; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh.

- Vận động, thuyết phục, để người dân không tham gia sản xuất, buônbán, sử dụng ma tuý

- Tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, lưu thông các chất

ma túy trong phạm vi cả nước

- Giám sát hoạt động phòng, chống ma túy ở cơ quan, nhà trường, các

cơ sở giáo dục khác và địa bàn dân cư

- Phối hợp với chính quyền các cấp, cơ quan công an để vận độngngười nghiện cai nghiện ma túy; tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm

và giúp đỡ người đã cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống

tái nghiện

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống ma tuý

- Ngoài ra, các cơ quan tổ chức xã hội cần có các biện pháp kinh tế - xãhội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, tạo sự côngbằng xã hội

1.3 Nhận thức về vấn đề ma túy

- Nhận thức về ma tuý là quá trình phản ánh khái niệm về ma tuý;nguồn gốc của các chất ma tuý; các loại ma tuý; tác hại của ma tuý với bảnthân người nghiện, với gia đình và xã hội đồng thời phản ánh được biểu hiệncủa người nghiện ma tuý và các biện pháp phòng, chống ma tuý

- Khi nói đến nhận thức về vấn đề ma tuý, ta phải đề cập đến các nộidung sau:

1.3.1 Nhận thức về khái niệm ma tuý

Trang 40

- Ma tuý xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, các địa bàn trên cả nước từnông thôn đến thành thị và lan nhanh vào trong các trường học từ THPT đếnCao đẳng, Đại học, Trung cấp chuyên nghiệp Vì vậy, việc giúp sinh viên cókiến thức về khái niệm ma tuý, các loại ma tuý thường gặp là điều rất cầnthiết.

- Để hiểu khái niệm ma tuý, trước hết cá nhân phải trả lời được câu

hỏi: Ma tuý là gì?

- Khi đưa ra khái niệm ma tuý, các nhà khoa học dựa trên những cơ sởnhận thức khoa học khác nhau, dựa trên quan điểm của các tổ chức khácnhau nên có rất nhiều khái niệm khác nhau về ma tuý Để có được khái niệmđúng đắn, đầy đủ về ma tuý, các cá nhân phải có sự tổng hợp những điểmchung nhất của các quan điểm về ma tuý

- Ma tuý là một khái niệm rất rộng bao gồm cả ma tuý tự nhiên và matuý tổng hợp Cá nhân cần nhận thức được một số loại ma tuý thường gặp

để có biện pháp phòng, tránh ma túy

1.3.2 Nhận thức về tác hại của ma tuý

- Ma tuý là một vấn đề toàn cầu, là nỗi lo của toàn xã hội, nó ảnhhưởng tới tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, văn hoá – xã hội, đặc biệt là ảnhhưởng nghiêm trọng tới thế hệ trẻ Mỗi người cần nhận thức đầy đủ về táchại của ma tuý để có kỹ năng phòng, tránh ma túy

- Nhận thức về tác hại của ma tuý là quá trình phản ánh những ảnhhưởng của ma tuý tới bản thân người nghiện, ảnh hưởng của ma tuý tới giađình người nghiện và với kinh tế - xã hội

- Nhận thức về tác hại của ma tuý đòi hỏi cá nhân phải trả lời được

câu hỏi: Ma tuý có những tác hại gì đối với đời sống của con người?

1.3.3 Nhận thức về dấu hiệu nhận biết người nghiện ma tuý

- Nhận thức về những dấu hiệu của người nghiện ma tuý là một điều

cơ bản, mỗi cá nhân cần có những hiểu biết về vấn đề này

Ngày đăng: 28/11/2015, 18:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Bừng (1997), Phòng chống ma túy trong nhà trường, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống ma túy trong nhà trường
Tác giả: Vũ Ngọc Bừng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1997
2. Nguyễn Minh Đức (2002), Tìm hiểu luật phòng chống ma tuý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu luật phòng chống ma tuý
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Đặng Ngọc Hùng (2002), Ma tuý tổng hợp ATS - thực trạng và giải pháp, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma tuý tổng hợp ATS - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2002
4. Lênin (1963), Bút ký triết học, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút ký triết học
Tác giả: Lênin
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1963
6. Trần Văn Luyện (1998), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy
Tác giả: Trần Văn Luyện
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
8. Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2007
8. Nguyễn Đức Tâm (chủ biên), Hoàng Thị Hồng, Lê Văn Thuần, Vũ Quang Vinh (1998) , Từ điển các chất ma tuý, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển các chất ma tuý
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
9. Triết học Mac – Lênin (2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mac – Lênin
Tác giả: Triết học Mac – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
10. Triết và bút kí triết học (1963) , NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết và bút kí triết học
Nhà XB: NXB Sự thật
11. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2005), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam
Tác giả: Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2005
12. Từ điển Tiếng Việt (2009), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2009
13. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên), Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn Vang (2007), Tâm lý học đại cương, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên), Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
14. V.I. Lênin – Toàn tập (1981) - T29, NXB tiến bộ Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.I. Lênin – Toàn tập
Nhà XB: NXB tiến bộ Matxcova
7. Sở lao động thương binh xã hội(10/ 1996), Tài liệu tư vấn phòng chống ma tuý Khác
7. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (2007), Tài liệu tập huấn giáo sinh về nội dung giáo dục phòng, chống HIV / AIDS Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 - Quả thuốc phiện (poppy head) - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 1 Quả thuốc phiện (poppy head) (Trang 20)
Hình 2 - Heroine - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 2 Heroine (Trang 22)
Hình 3 - Thanh thiếu niên hít keo - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 3 Thanh thiếu niên hít keo (Trang 23)
Hình 4 - Giới trẻ sử dụng pin ma tuý - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 4 Giới trẻ sử dụng pin ma tuý (Trang 24)
Hình 6 - Ma tuý tổng hợp dạng bột. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 6 Ma tuý tổng hợp dạng bột (Trang 26)
Hình 7 - Cây coca.                                                              Hình 8 - Cocaine. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 7 Cây coca. Hình 8 - Cocaine (Trang 27)
Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết phải hiểu biết về ma  túy. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 1 Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết phải hiểu biết về ma túy (Trang 44)
Bảng 2: Nhận thức của sinh viên về khái niệm ma túy. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 2 Nhận thức của sinh viên về khái niệm ma túy (Trang 46)
Bảng 4.1: Nhận thức của sinh viên về tác hại của ma túy đối với bản  thân người nghiện - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 4.1 Nhận thức của sinh viên về tác hại của ma túy đối với bản thân người nghiện (Trang 55)
Bảng 8 : Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma  túy - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 8 Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy (Trang 67)
Bảng 8.2. Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân khách quan dẫn đến  nghiện ma túy. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 8.2. Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân khách quan dẫn đến nghiện ma túy (Trang 70)
Bảng 9 : Nhận thức của sinh viên về các biện pháp phòng, chống ma túy - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Bảng 9 Nhận thức của sinh viên về các biện pháp phòng, chống ma túy (Trang 71)
Hình 9 - Hoa anh túc. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 9 Hoa anh túc (Trang 94)
Hình 22. Morphine - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 22. Morphine (Trang 100)
Hình 24. Ma tuý đá. - Nhận thức của sinh viên trường đại học sư phạm đại học thái nguyên về vấn đề ma tuý
Hình 24. Ma tuý đá (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w