Một góc nhìn về khủng hoảng tài chính đông á và những bài học kinh nghiệm cho việt nam
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Chương 1 Lý thuyết về khủng hoảng tài chính 4
1.1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính: 4
1.2 Các dạng khủng hoảng đặc thù: 4
Chương 2 Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 6
2.1 Nguyên nhân của cuộc khủng khoảng 6
2.1.1 Tóm tắt quá trình cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á: 6
2.1.2 Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng: 7
2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan 7
2.1.2.2 Nhóm nguyên nhân khách quan: 12
2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á ở một số nước: 13
2.2.1 Thái Lan- ngòi nổ của cuộc khủng hoảng: 13
2.2.2 Philippines- Nước kế tiếp tuyến lửa 15
2.2.3 Malaysia 16
2.2.4 Indonesia 16
2.2.5 Hồng Kông 17
2.2.6 Hàn Quốc-sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế lớn: 17
2.7 Nhật Bản: 18
2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng: 18
2.3.1 Tác động tiêu cực 18
2.3.2 Tác động tích cực: 20
Chương 3 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đến Việt Nam và những bài học rút ra 22
3.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đến Việt Nam: 22
3.1.1 Tác động tiêu cực: 22
3.1.2 Tác động tích cực: 24
3.2 Vì sao Việt Nam không chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng: 24
3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam: 26
3.4 Những chính sách gợi ý cho Việt Nam: 26
Kết luận 31
Tài liệu tham khảo 32
Trang 2MỤC LỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP) 8
Bảng 1.2: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%) 8
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước Đông Á (%) 19
Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng GDP thực tế và tỉ lệ làm phát 1990-2008 (%) 23
Trang 3Lời mở đầu
Trong thập kỉ 90, châu Á là tâm điểm của mọi sự chú ý trên thế giới với tốc độphát triển thần kì trong suốt 5 năm liền nhưng rồi chững lại vào năm 1996 do sựtăng trưởng chậm của xuất khẩu và sự suy giảm của thu nhập quốc dân Nhữngnhững nghi ngờ về sức mạnh thực sự của những “con hổ” châu Á trở nên nghiêmtrọng vào năm 1997 khi Đông Á trải qua một cú sốc kinh tế lớn gọi là cuộc khủnghoảng tài chính Đông Á, bắt nguồn từ Thái Lan, sau đó lan sang Hàn Quốc,Malaysia, Indonesia, Philipine, Hong Kong và Singapore Mặc dù được gọi là cơnkhủng hoảng "Đông Á", nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và vớinhững tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ
Trong sự lây lan kinh hoàng đó, Việt Nam đã gần như “miễn nhiễm” Nhưngđiều kiện và đặc điểm kinh tế hiện đại của Việt Nam đã khác so với thập kỉ trước
Đó là sự ra đời của thị trường chứng khoán và sự đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế Chúng ta đang dần hòa nhập vào những sân chơi lớn của khu vực và thếgiới bằng việc tham gia vào các tổ chức mậu dịch tự do, mở cửa tài khoản vốn vàtiến hành tự do hóa tài chính Trong khi đó, sự thua lỗ của các doanh nghiệp nhànước, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, tính cạnh tranh kém của hàng hóa ViệtNam, và những bất cập trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô vẫn đang là nhữngvấn đề nhức nhối Vì vậy, nguy cơ nền kinh tế Việt Nam xảy ra một cuộc khủnghoảng tương tự trong tương lai là hoàn toàn có thể Do đó, việc tìm hiểu về cuộckhủng hoảng tài chính Đông Á và những bài học rút ra cho Việt Nam sau cuộckhủng hoảng là vô cùng cần thiết để tránh mắc phải những sai lầm đáng tiếc trongcông cuộc “ hóa rồng” của đất nước ta Đó cũng chính là lý do cho đề tài “Một góc nhìn về khủng hoảng tài chính Đông Á và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”.
Trang 4Chương 1 Lý thuyết về khủng hoảng tài chính
1.1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính:
“ Khủng hoảng tài chính-tiền tệ chính là sự đổ vỡ trầm trọng các thành phần củathị trường tài chính-tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt các ngân hàng và tổchức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của
nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính và sự sụt giảm nghiêm trọngcủa các hoạt động kinh tế.”
Theo định nghĩa của Sundarajan và Balino năm 1991: “Khủng hoảng tài chính làtình trạng mà trong đó một bộ phận của nền tài chính có những khoản nợ lớn hơngiá trị tài sản thực có trên thị trường gây ảnh hưởng tới các cán cân đầu tư khác, dẫntới sự sụp đổ của không ít công ty tài chính, dẫn tới việc chính phủ bắt buộc phải cónhững can thiệp.”
Theo định nghĩa của Miskin thì khủng hoảng tài chính lại là sự đổ vỡ của thịtrường tài chính mà trong đó do những lựa chọn bất lợi và tâm lý hoang mang đã trởnên xấu đi, dẫn đến hậu quả thị trường tài chính không thể có những quỹ hiệu quảcũng như cơ hội đầu tư tốt nhất
Trang 51.2 Các dạng khủng hoảng đặc thù:
Khủng hoảng ngân hàng : là dạng khủng hoảng rất hay gặp do ngân hàng là
trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay nên sẽmắc phải rủi ro từ sự “bất cập kỳ hạn thanh toán” cũng như “bất cập về chủng loạitiền” Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồilại được dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn cao làm ngân hàng không thể thanh toán cácnghĩa vụ khi đến hạn Hơn nữa, ngân hàng là một hệ thống chặt chẽ nên khủnghoảng rất dễ lây lan và tạo khủng hoảng toàn hệ thống ngân hàng Trong trường hợpkhủng hoảng, các ngân hàng thương mại thường có xu hướng siết chặt các điều kiệntín dụng hay nâng lãi suất để bù đắp rủi ro và kết quả là đẩy các doanh nghiệp – bạnhàng chủ yếu của ngân hàng vào tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạtđộng, từ đó dẫn đến việc nền kinh tế bị giảm năng lực sản xuất
Khủng hoảng tiền tệ: là hiện tượng nền kinh tế không đủ ngoại tệ để thanh
toán các nghĩa vụ nợ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ,buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giánội tệ cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng
Khủng hoảng kép : xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng
xảy ra đồng thời với nhau
Khủng hoảng thị trường chứng khoán : xảy ra khi giá chứng khoán biến động
mạnh (“tuột dốc” hay “không thang” quá nhanh), vượt ngoài tầm kiểm soát và dohiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “bán đổ, bán tháo” hay thị trường bị
“đông cứng” vì không có giao dịch, tạo ra sự thâm hụt giữa tiền (chứng khoán) vào
so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứng khoán)
Trang 6Chương 2 Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á
2.1 Nguyên nhân của cuộc khủng khoảng
2.1.1 Tóm tắt quá trình cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á:
Khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Đông Á xảy ra khi nền kinh tế tích lũy đủ 4nguyên nhân gây ra khủng khoảng là:
- Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
- Sự kém hiệu quả của các công ty tài chính
-Sự lên giá của đồng nội tệ
- Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Khi đồng nội tệ bị lên giá do quốc gia duy trì tỷ giá hối đoái cố định quá lâu sẽdẫn đến yếu kém về xuất khẩu cũng như việc giữ lãi suất cao hơn các đồng tiềnmạnh ở nước ngoài, thì trước sau gì nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia
đó sẽ càng lớn, khả năng giữ tỷ giá cố định sẽ ngày càng suy yếu và việc thả nổiđồng nội tệ, tức là tăng tỷ giá hối đoái có nguy cơ rất cao
Khi một số nhà đầu tư tiên đoán được quốc gia sở tại sắp hết dự trữ để duy trì tỷgiá hối đoái cố định, họ sẽ bán tài sản đầu tư ở nước đó đem ra nước ngoài Lúc đầuchính phủ các nước sở tại thường bán dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá cũ Song đếnmột lúc nào đó, nguồn dự trữ ngoại tệ gần như cạn kiệt thì bắt buộc nước đó phảithả nổi tỷ giá Lúc này, các nhà đầu tư nước ngoài còn lại chưa bán tài sản (cổphiếu, trái phiếu, tín phiếu…) thì sẽ tìm cách bán thật nhanh và đổi sang ngoại tệmạnh để tối thiểu hóa thiệt hại Áp lực này càng làm tỷ giá tăng vọt
Khi tỷ giá tăng, thì nợ nước ngoải ở các ngân hàng cũng như công ty tài chínhbằng đồng nội tệ sẽ tăng vọt theo, trong khi đó người dân lại đổ xô rút tiết kiệmkhỏi ngân hàng Các ngân hàng vốn làm ăn yếu kém sẽ dẫn đến bị phá sản
Việc các ngân hàng phá sản sẽ gây tâm lý lo âu cho người dân gửi tiết kiệm ởcác ngân hàng khác, khiến họ đổ xô đi rút tiền ở các ngân hàng khác, dẫn đến sựsụp đổ dây chuyền của rất nhiều các ngân hàng
Trang 7Tỷ giá hối đoái tăng mạnh sẽ làm nợ ở các doanh nghiệp tính bằng tiền nội địa
sẽ tăng vọt, cùng với việc các ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không cònnguồn tín dụng cho các doanh nghiệp này hoạt động nữa Các doanh nghiệp nàohoạt động kém hiệu quá thì sẽ càng sớm bị đẩy đến tình trạng thua lỗ và phá sản.Khi các doanh nghiệp bị phá sản, ngân hàng, các công ty tài chính khác lại khôngthể đòi được nợ, dẫn đến sự phá sản tiếp theo của hàng loạt ngân hàng và công ty tàichính
Mặt khác, khi các nước bị khủng hoảng, tỷ giá hối đoái tăng cao làm tăng tínhcạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu từ nước đó, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đếnnhững nước áp dụng tỷ giá hối đoái cố định Điều này làm cho cán cân thương mại
ở những nước đó càng trở nên thâm hụt, nguồn dự trữ ngoại tệ càng thiếu hụt, dẫnđến khả năng thanh toán của một quốc gia bị đe dọa Đây là áp lực buộc các nướcnày phải phá giá đồng nội tệ để đẩy mạnh xuất khẩu, đảm bảo khả năng thanh toáncủa quốc gia Đây là tác động dây chuyền của việc phá giá nội tệ của một nước đếncác nước khác khi khủng hoảng xảy ra
2.1.2 Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng:
Giờ đây, khi thế giới nhìn lại những gì đã xảy ra, chúng ta sẽ thấy khó hiểu ở haihiện tượng khác nhau: một châu Á hùng mạnh đạt được thành tựu kinh tế như mộthuyền thoại và một châu Á yếu ớt khi đột ngột mắc phải “sự truyền nhiễm” của
“dịch khủng hoàng tài chính” Vậy điều gì đã khiến các nước này trượt khỏi quỹđạo tăng trưởng đó? Phải chăng trong mỗi “con hổ” đều đã tiềm ẩn những mầmmống của căn bệnh, dẫn đến sự bất ổn của toàn châu Á
2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan
- Thâm hụt tài khoản vãng lai lớn Từ năm 1991-1996, nền kinh tế ở khu vực
Đông Á tăng trưởng nóng với tốc độ 7% đến 8% Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởngnhanh đã tạo ra sức ép lên giá cả do chi phí sản xuất ngày càng tăng, từ đó tạo ra sựmất cân đối bên trong của nền kinh tế Đối với Thái Lan chỉ số giá tiêu dùng tăngnhanh, đạt mức 5,6% năm 1996 so với 3,4% năm 1993 Chính phủ vì thế phải tăng
Trang 8trung bình 3% Đặc điểm này diển ra tương tự như ở Malaysia, Indonesia vàPhilippines Mặt khác, các nước phải tăng vốn vay từ bên ngoài để bù đắp cho việcthiếu hụt trong nước nhằm đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa sản xuất, tăng cường đầu
tư cơ sở hạ tầng
Theo cảnh báo của IMF, nếu thâm hụt ngân sách trên 5% so với GDP thì sẽđẩy nước này vào tình trạng khủng hoảng Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy tình trạngthâm hụt ngân sách ở các nước Đông Nam Á đang ở ngưỡng đáng báo động, cũng
có nghĩa là những nền kinh tế này đang mất cân đối nghiêm trọng với bên ngoài
Bảng 1.1: Thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP)
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thâm hụt là do kim ngạch xuất khẩu
ở các nước này sụt giảm mạnh
Bảng 1.2: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%)
Vậy câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao trước khi khủng hoảng, chính phủ cácnước lại không lo lắng nhiều về tình trạng thâm hụt này? Lãnh đạo các nước đã đưa
ra lập luận kinh tế hết sức hợp lý rằng sự gia tăng phần lớn thâm hụt của nền kinh tế
Trang 9châu Á chủ yếu phản ánh một sự đầu tư cao hơn chứ không phải do tiêu dùng thìcuối cùng nó sẽ làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế và tăng khả năng hoàn trả
nợ vay Vì lập luận này, để bù đắp sự thâm hụt tài khoản vãng lai, chính phủ đã tíchcực vay các khoản ngắn hạn của nước ngoài để bù đắp chi tiêu trong nước, tích lũytình trạng mất khả năng thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, dẫn đến khủng hoảng
Điều đáng tiếc là phần lớn các khoản vay để chi tiêu lại được đầu tư vào việcphát triển bất động sản hơn là để cải thiện chất lượng và sức cạnh tranh của hàngxuất khẩu Thêm vảo đó, chính phủ các nước này nói chung đã xem tình trạng xuấtkhẩu sụt giảm chỉ có tính chu kỳ, cơ bản là do cầu ở Nhật và Châu Âu yếu đi, đồng
đô la lên giá Họ hy võng cả hai yếu tố này bằng cách nào đó sẽ thay đổi, nhưng hyvọng đó đã tắt ngấm khi ngọn lửa khủng hoảng bùng lên
- Sự đánh giá quá cao đồng bản tệ.Trước khủng hoảng, các nước châu Á
luôn giữ cho đồng bản tệ có một tỷ giá tương đối ổn định so với đồng đô la, điềunày đã dẫn đến sự mất giá hoàng loạt của các đồng tiền trong khu vực Xét về mặt
lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods, có ý nghĩatích cực trong việc ổn định hóa đòng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trưởngkinh tế Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong điều kiện đồngnội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tếmất cân đối lớn sẽ dẫn đến nguy cơ khủng hoảng
Trong giai đoạn phát triển thần kì của châu Á, lạm phát cũng hoành hành cácnước châu Á làm hàng hóa ở khu vực này có nguy cơ bị mất khả năng cạnh tranhtrong dài hạn Ở những nước mà năng suất tăng đủ để bù đắp cho sự chênh lệch về
tỷ lệ lạm phát thì sự lên giá thực của đồng bản tệ có thể bị hấp thụ Nhưng đáng tiếc,điều này đã không xảy ra ở các nước châu Á, trong giai đoạn này năng suất laođộng còn thấp Chính sự mất cạnh tranh trong xuất khẩu làm trầm trọng thêm tìnhtrạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước này Đáng lẽ, năm 1996, khi nhữngtriệu chứng của việc thâm hụt tài khoản vãng lai của các nước này đang ở mức báođộng, thì chính phủ đã phải áp dụng một chế độ tỷ giá linh hoạt hơn Nhưng ngượclại, việc kiên trì bảo vệ tỷ giá, khiến khoản thâm hụt đã vượt xa so với nguồn dự trữ
Trang 10ngoại hối Do đó, các nước trong khu vực Đông Á đành bất lực thả nổi tỷ giá vì dựtrữ ngoại tệ đã không đủ để cứu vãn thị trường ngoại hối khi có những đợt đầu cơtiền tệ xảy ra.
Mặt khác, một chế độ tỷ giá ổn định đã khiến người ta quên đi rủi ro về tỷgiá trong các khoản vay và cho vay ngắn hạn Do chi phí chênh lệch rủi ro tín dụng,rủi ro lạm phát nên lãi suất trong nước tính bằng đồng bản tệ thường cao hơn lãisuất thế giới, chủ yếu là lãi suất tính bằng đồng đô la Các đối tượng như ngân hàng,công ty và đôi khi là cá nhân thường thích vay từ nước ngoài bằng đồng đôla vì chiphí lãi suất thấp và dường như không phải chịu rủi ro về tỷ giá Tương tự, các nhàđầu tư nước ngoài cho rằng thị trường mới nổi ở Đông Á cho mức lợi tức cao hơn ở
Mỹ cũng như là cho vay ngắn hạn có vẻ như an toàn vì khả năng đồng tiền mất giátrong ngắn hạn là rất thấp Vì vậy, chế độ tỷ giá cố định đã gián tiếp chồng chấtthêm những món nợ ngắn hạn với nước ngoài ở các nước Đông Á
- Các luồng vốn ngắn hạn đổ vào quá nhiều Từ năm 1990 đến 1997, lượng
vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng 5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷUSD Đông Á là nơi thu hút một lượng lớn dòng vốn này, chiếm tới 60% trong nửađầu thập niên 90 (theo NHTG 1998)
Suất sinh lời thấp ở các nước phát triển và sự thần kỳ trong tăng trưởng củaĐông Á là động lực thúc đẩy các dòng vốn di chuyển từ Mỹ, EU, Nhật Bản tới cácnền kinh tế Đông Á Chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh tế Đông Á và các trungtâm tiền tệ thế giới luôn ở mức dương Dòng vốn tư nhân càng được thúc đẩy vàothập niên 90, khi Mỹ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và sự nới lỏng chính sáchtài chính ở châu Âu Lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi suất nội địa, tỷ giá hối đoáiđược cố định rõ ràng là một khuyến khích cho các tổ chức kinh doanh và tài chínhtrong nước đi vay vốn nước ngoài Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ
và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làmcác công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngânhàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và
nợ không tự bảo hiểm rủi ro Tâm lý ỷ lại cũng xuất hiện đối với các nhà đầu tư
Trang 11nước ngoài Nhìn vào một nền kinh tế tăng trưởng như vũ bão, lượng vốn đầu tư ồ
ạt chảy vào thì không ai nghĩ đến khả năng không thể đảo nợ của các nước Đông Átrong giai đoạn này Từ đây đã xuất hiện sự bất cân xứng thông tin dẫn đến vấn đềlựa chọn nghịch diễn ra
Một điểm đáng lưu ý nữa là hàng loạt các khoản vay ngắn hạn lại được đầu
tư vào dài hạn Một tỷ trọng lớn vốn vay của ngân hàng và tổ chức phi ngân hàngđược đầu tư vào bất động sản Ở Indonesia, các khoản cho vay trong khu vực bấtđộng sản tăng 37%/ năm giai đoạn 1992-1997 Ở Thái Lan, các khoản cho vay bấtđộng sản tăng đến 42%/ năm giai đoạn 1990-1995 Ở Hàn Quốc, các khoản cho vayngân hàng lại tập trung vào các tập đoàn tài chính lớn Chính điều này đã khiến nềnkinh tế các nước Đông Á mất khả năng thanh toán nợ trong ngắn hạn Vì vậy, cácnước Đông Á đứng trên bờ vực vỡ nợ ngắn hạn khi có khủng hoảng xảy ra
- Khu vực tài chính yếu kém và sự giám sát lỏng lẻo Bài học đắt giá nhất mà
các nước đã trải quả khủng hoảng năm 1997 rút ra được là: trong một nước khôngthể tồn tại tình trạng: tốc độ tăng trưởng nóng nhưng khu vực tài chính lại yếu kém.Một nhà kinh tế học đã viết: “ Khi mọi việc tốt đẹp thì tài chính hoạt động ở đằngsau một cách âm thầm và lặng lẽ Nhưng khi mọi thứ trở nên xấu đi thì thất bại củakhu vực tài chính lại là niềm đau to lớn nhất.”
Trong giai đoạn năm 1997-1998, ở châu Á, ngân hàng giữ vai trò chủ đạotrong việc rót những khoản tiết kiệm trong nước vào đầu tư Ngân hàng là nơithường xuyên nhận các khoản tiền gửi ngắn hạn nhưng lại dùng vốn tái đầu tư vàodài hạn, từ đó làm xuất hiện “sự bất cập về kì hạn” Bên cạnh đó, các khoản nợnước ngoài của ngân hàng thường được tính bằng các đồng tiền mạnh như yênNhật, đô la, nhưng khi các ngân hàng cho những người đi vay trong nước vay từnguồn vốn nước ngoài này thì lại tính các khoản nợ bằng đồng nội tệ, làm xuất hiện
“sự bất cập về tiền tệ” Sự bất cập kép trên quả thực là một vấn đề nan giải đối vớinhiều ngân hàng lớn và tổ chức phi ngân hàng ở châu Á trong gia đoạn này Chính
bộ đôi bất cập trên là nguyên nhân giải thích cho sự sụp đổ của hàng loạt các ngânhàng khi khủng hoảng xảy ra Triệu chứng đầu tiên của dịch khủng hoảng toàn châu
Trang 12Á chính là sự sụt giá nhanh chóng của đồng nội tệ, “sự bất cập về tiền tệ” đã làmcho các khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng tính bằng ngoại tệ tăng vọt Mặt khác,khi nội tệ trượt giá, các nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút vốn khỏi các ngân hàng để chuyểnsang ngoại tệ, lúc này, do sự “bất cập về kì hạn”, ngân hàng sẽ mất khả năng thanhtoán trong ngắn hạn, dẫn đến sụp đổ.
Bên cạnh đó, sự lỏng lẻo trong việc giám sát hoạt động của các ngân hàngcũng chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng Để hạn chế sự cạnh tranhkhông lành mạnh cũng như hoạt động yếu kém, một số nước đã hạn chế sự thànhlập của các ngân hàng, để đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả.Chính vì tâm lý khi các ngân hảng có một lượng lợi nhuận ổn định, các ngân hàng
sẽ phát triển mạnh theo đà tăng trưởng kinh tế, họ lại nới lỏng việc điều tiết hoạtđộng ngân hàng, dẫn đến việc các ngân hàng cho vay qua mức, cũng như giám sátnguồn vốn đầu tư, dẫn đến việc hình thành các bong bóng bất động sản Mặt khác,khi nền kinh tế đang tăng trưởng rất lạc quan, không ai lại để ý đến sự minh bạchtrong các báo cáo kế toán đầy mập mờ của các ngân hàng Vì vậy, khi bong bóngbất động sản vỡ, mọi người mới giật mình trước những khoản nợ kê đọng đã trởthành gánh nặng khổng lồ cho nền kinh tế
2.1.2.2 Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Sự đầu cơ và rút vốn hàng loạt Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài
chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạtkhỏi các nước châu Á Khi phát hiện những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngânhàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường họat động đầu
cơ tiền tệ Theo nguồn tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300quỹ tín dụng tư nhân ở Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khuvực này trong 2 tháng 7-8/1997 Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹtín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar Họ mua đồng Baht sau đóPeso, Ringgit, Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu cơ Đối với cácnước có tỷ giá hối đoái cố định, các nhà đầu cơ kiếm lời bằng cách bán khống nội tệkhiến cầu ngoại tệ tăng lên và rút ngoại tệ ra khi nội tệ sụt giá
Trang 13Sau những đợt tấn công man rợ của giới đầu cơ vào thị trường Thái Lan,khiến bong bóng tài sản ở nước này bắt đầu vỡ Các nhà đầu tư bắt đầu hoang mang
lo sợ chính phủ không thể giữ tỷ giá cố định được nữa cũng như nguồn dự trữ ngoạihối không còn đủ để trả các khoản nợ ngắn hạn Nắm được điểm yếu chết ngườinày, hoạt động rút vốn chuyển ra nước ngoài được thực hiện ráo riết Các nhà đầu tư
ồ ạt rút vốn khỏi ngân hàng, khiến cho ngân hàng khó trong thời điểm đó không thểtrả tiền cho tất cả mọi người Mặt khác, ngân hàng cũng đòi lại vốn vay, từ chối đảo
nợ và cho vay mới, còn các đầu tư chứng khoán thì bán tháo chứng khoản, đổingoại tệ chuyển ra nước ngoài
- Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới Nhật Bản, một trong những thị
trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990.Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tốkhác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùngloại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lạisau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới
sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạmphát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với cácnước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãisuất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền của các nướcĐông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nênkém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của ĐôngNam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ
2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á ở một
số nước:
2.2.1 Thái Lan- ngòi nổ của cuộc khủng hoảng:
Trước cuộc khủng hoảng Thái Lan có một nền kinh tế dường như rất mạnh, vớitốc độ tăng trưởng ổn định, 7% đến 8% từ năm 1991-1996, lạm phát thấp, ngân sáchchính phủ luôn dư thừa, cán cân thanh toán có thể kiểm soát được, đầu tư tăng vọt,
Trang 14tình trạng thất nghiệp hầu như không có Lúc này, Thái Lan nổi lên như một “conhổ” đang thỏa sức vẫy vùng ở khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, bản thân nó đã tích
tụ những mầm mống của căn bệnh làm triệt tiêu hoàn toàn sức đề kháng và khi vừatrúng mũi tên đầu tiên, nó lập tức bị gục ngã
Từ năm 1991-1996, đầu tư vào Thái Lan rất cao, hằng năm chiếm 40% GDP.Bên cạnh đó, hệ số ICOR của nền kinh tế Thái Lan trong thời gian này trung bình là5,22 Điều này cho thấy vốn đầu tư vào Thái Lan hiệu quả rất kém
Các doanh nghiệp kinh doanh cũng trở nên kém hiệu quả Một đặc điểm đặc biệt
ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991-1996 đầu tư nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷtrọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính và sử dụng vốn vay ngắn hạn của nước ngoài.Việc sử dụng gần 90% vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạn
sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty vì phải trả lãi thường xuyên và bằngngoại tệ (với tín dụng ngắn hạn) Hậu quả là nếu quản lý kinh doanh không tốt thìhiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty sẽ thấp Tỷ suất lợi nhuận trên tài sảnbình quân của các doanh nghiệp đã giảm từ 8%/ năm vào năm 1991 xuống chỉ còn1%/năm vào năm 1996 Trong nền kinh tế mà lãi suất cho vay là 16.3%/năm cònhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là 1%/năm thì rõ ràng đã và đang tích luỹnguy cơ khủng hoảng “phá sản doanh nghiệp”
Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả Các ngân hàng và công ty tàichính Thái Lan đã rất tích cực vay nợ từ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệptrong nước Trong cùng thời gian này, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA) của hệthống ngân hàng Thái Lan giảm còn 0,09%/ năm Rõ ràng Thái đang tích luỹ nguy
cơ khủng hoảng “phá sản các ngân hàng”
Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán trong suốt các năm
1991-1996, cán cân thương mại thâm hụt liên tục tổng cộng là 35,26 tỷ đôla Thâm hụt tàikhoản vãng lai năm 1996 tới 4,7 tỷ đôla Lý do của tình trạng này là xuất khẩu bịkìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích, lạm phát cao, đồng baht lên giá Để bù đắpthâm hụt thương mại, Thái Lan phải vay nợ nước ngoài , nợ nước ngoài tăng 35,99
tỷ đôla (năm 1991) lên 89 tỷ (năm 1996), gấp 2,47 lần trong 5 năm Nợ ngắn hạn
Trang 15năm 1995 và 1996 gấp gần 1,18 lần dự trữ ngoại tệ quốc gia Tức là Thái Lan thực
tế đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995 Kết quả là tỷ giá hốiđoái tăng, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gianày càng cao
Cuối năm 1996 đầu 1997, nguy cơ khủng hoảng ở Thái Lan đã tích lũy đến mứccao Những người đầy đủ thông tin sẽ lo lắng các ngân hàng và tổ chức tài chínhphá sản thúc đẩy họ rút tiền ra khỏi những tổ chức này Từ đầu năm 1997 đến tháng3/1997, các cá nhân và nhà đầu tư đã bắt đầu rút tiền ra khỏi ngân hàng và các công
ty tài chính Tháng 4/1997, chính phủ phải ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính,nâng tổng số công ty bị đóng cửa lên 58/91 công ty cả nước Để cố định tỷ giá hốiđoái trong điều kiện số lượng mua tăng vọt, chính phủ buộc phải bán ngoại tệ, làm
dự trữ ngoại tệ giảm mạnh
Thấy trước được nguy cơ chính phủ có thể mất khả năng bán ngoại tệ để duy trì
tỷ giá hối đoái, ngày 2/7/1997, Thủ tướng Thái Lan đã tuyên bố thả nổi tỷ giá, kếtquả là tỷ giá tăng từ 25Baht/USD lên 53Baht/USD (tháng 1/1998) Chỉ số thị trườngchứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm
1997 Trong 5 tháng đầu năm 1998, đã có 4000 doanh nghiệp bị phá sản, hàng loạtcác ngân hàng và tổ chức tài chính ngừng hoạt động mà tiêu biểu nhất là sự phá sảncủa công ty tài chính lớn nhất Thái Lan-Finance One
2.2.2 Philippines- Nước kế tiếp tuyến lửa
Khi đồng Baht ở Thái Lan mất giá, các tay đầu cơ tiền tệ đã nhanh chóng quaysang tấn công các nước láng giềng Malina đã cố gắng kháng cự sự tấn công vàođồng Peso bằng cách chi ra hàng trăm triệu đô la để chống đỡ cho đồng Peso trướckhi phải chịu thua và thả nổi đồng peso vào ngày 11/7 Đồng peso cũng bắt đầu rớtgiá không phanh từ 26 peso ăn 1USD xuống còn 40 peso ăn 1 USD vào cuối đợtkhủng hoảng
Trang 162.2.3 Malaysia
Năm 1997, tài khoản vãng lai ở quốc gia này thâm hụt bằng 6% GDP Tháng7/1997, đồng Ringgit bị tấn công bởi những kẻ đầu cơ bằng việc bán đi một cáchbất hợp pháp các cổ phần có nguồn gốc Malaysia ở Singapore 4 ngày sau, Standard
& Poor’s đánh giá thấp tỷ lệ nợ của Malaysia 1 tuần sau, thị trường chứng khoánKuala Lumpur sụt xuống còn 856 điểm, thấp nhất kể từ 1993 Mùng 2 tháng 10,đồng Ringgit lại một lần nữa rớt giá, thủ tướng Mahathir bin Mohamad ngay lập tứcđưa ra chương trình kiểm soát vốn Tuy nhiên, hệ thống tiền tệ vẫn không tránhkhỏi sự sụp đổ vào cuối năm 1997 khi thủ tướng tuyên bố sẽ sử dụng 10 tỷ Ringgitvào các kế hoạch đường bộ, tàu điện và ống dẫn dầu Năm 1998, sản lượng đầu racủa nền kinh tế bị suy giảm Sản lượng của khu vực xây dựng rút xuống 23,5%,ngành công nghiệp thu hẹp 9% còn nông nghiệp là 5,9% Xét tổng thể thì GDP củaMalaysia giảm mạnh 6,2% năm 1998
bị bán ra ồ ạt và lượng cầu đô la ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả giá Rupiah lẫnchỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử
Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặcbiệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tìnhhình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua đô la vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiếncho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMFkhiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng nàytăng lên Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở