Giả thuyết nghiên cứu Việc tổ chức xây dựng và sử dụng trang Web tư liệu dạy học một cách hợp lý, phát huy được tính tích cực học tập của HS sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
===***===
TRƯƠNG THỊ KIỀU LOAN
XÂY DỰNG TRANG WEB TƯ LIỆU
HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN “HIĐROCACBON
MẠCH HỞ” - SGK HÓA HỌC LỚP 11
NÂNG CAO TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học
HÀ NỘI - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
===***===
TRƯƠNG THỊ KIỀU LOAN
XÂY DỰNG TRANG WEB TƯ LIỆU
HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN “HIĐROCACBON
MẠCH HỞ” - SGK HÓA HỌC LỚP 11
NÂNG CAO TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐÀO THỊ VIỆT ANH
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đào Thị Việt Anh
- người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóa luận Qua đây tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các thầy (cô) giáo trong khoa Hóa học, các thầy (cô) giáo trong tổ phương pháp đã tạo điều kiện giúp đỡ để khóa luận của tôi được hoàn thành
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy (cô) giáo và các em học sinh lớp 11A7, 11A8 trường THPT Xuân Hòa - Vĩnh Phúc đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công việc thực nghiệm sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy (cô) giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài này càng hoàn thiện và mang lại hiệu quả cao hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Trương Thị Kiều Loan
Trang 4
BẢNG DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Số thứ tự Viết tắt Viết đầy đủ
10 CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
15 BGD - ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giả thuyết nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khóa luận 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 4
1.1.1 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới 4
1.1.2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 5
1.2 Cơ sở lí luận để đổi mới phương pháp dạy học 6
1.2.1 Phương pháp tích cực 6
1.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực 6
1.2.3 Áp dụng dạy và học tích cực trong giảng dạy môn Hóa học 8
1.3 Công nghệ mới và việc đổi mới phương pháp dạy học 9
1.3.1 CNTT với đổi mới phương pháp dạy học 9
1.3.2 Quan niệm về dạy học theo cách tiếp cận CNTT 11
1.3.3 Vì sao phải ứng dụng CNTT trong dạy học 12
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học 13
1.4.1 Tình hình sử dụng máy tính và Internet ở nước ta 13
1.4.2 Xu hướng tích hợp đa phương tiện để nâng cao hiệu quả dạy và học 15
1.5 Sự cần thiết của việc sử dụng các trang Web dạy học hiện nay 16
1.6 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học ở trường Trung học phổ thông 18
Trang 6CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG TRANG WEB TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON MẠCH HỞ - SGK HÓA HỌC LỚP 11 NÂNG
CAO TRƯỜNG THPT 24
2.1 Các nguyên tắc khi xây dựng trang Web 24
2.2 Quy trình xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học 25
2.2.1 Xây dựng kịch bản cho trang Web 25
2.2.2 Lựa chọn công cụ và những phần mềm thích hợp để xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học 26
2.2.3 Chuẩn bị học liệu và xây dựng trang Web 29
2.2.4 Vận hành thử và hoàn thiện trang Web 29
2.3 Xây dựng cấu trúc của trang Web 29
2.3.1 Những cấu trúc thông tin cơ bản 29
2.3.2 Cấu trúc của trang Web tư liệu 32
2.4 Kết quả xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học phần Hiđrocacbon mạch hở trường THPT 34
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1 Mục đích thực nghiệm 36
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 36
3.3 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 37
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 37
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 40
3.6 Nhận xét về kết quả thực nghiệm sư phạm 42
3.6.1 Về mặt định tính 42
3.6.2 Về mặt định lượng 42
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21 - kỷ nguyên của thời đại kỹ thuật số và thông tin toàn cầu, xã hội loài người có nhiều chuyển biến và do đó quan niệm giáo dục cũng đã có những thay đổi cơ bản Dạy học không còn là quá trình truyền thụ kiến thức một chiều mà hướng tới việc đào tạo theo khả năng và nhu cầu của người học, tạo điều kiện để họ phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo Thời gian đào tạo không chỉ giới hạn trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường mà mọi người cần phải được rèn luyện để có thể tự học,
tự nghiên cứu suốt đời Để đạt được mục tiêu đó, việc tạo hứng thú học tập là rất quan trọng, nó vừa có vai trò là động cơ tích cực, vừa đảm bảo hiệu quả của quá trình học tập
Phần hoá học hữu cơ trong chương trình SGK lớp 11 là phần rất quan trọng, đây là những kiến thức nền tảng mở đầu về hoá học hữu cơ mà HS được tìm hiểu trong chương trình hoá học phổ thông Các kiến thức này đều rất trừu tượng đặc biệt là các kiến thức về phần cấu trúc phân tử, đồng phân, các loại phản ứng hoá học, các phương pháp điều chế, các khái niệm về phân cắt đồng li, phân cắt dị li… làm cho HS rất khó tiếp thu và vận dụng được kiến thức vào các bài tiếp theo
Hiện nay, với sự phát triển của CNTT, việc sử dụng internet ngày càng thuận tiện và phổ biến, các website có khả năng tương tác cao là công cụ tuyệt vời để hỗ trợ cho quá trình dạy và học Thông qua website, hệ thống kiến thức hoá học được truyền tải một cách nhanh chóng với những hình ảnh minh họa sống động Các tiện ích của website giúp cho HS có thể tiếp cận với những nội dung bổ ích, đa dạng, được trình bày một cách trực quan và gần gũi, từ đó
HS dễ tiếp thu và hiểu bài hơn
Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hóa ở trường THPT, cũng như tạo ra một môi trường học tập, trao đổi kiến thức cho
Trang 8học sinh, tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học phần “Hiđrocacbon mạch hở” - SGK Hóa học lớp 11 nâng cao trường THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học môn học Hóa học nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học môn Hóa học nói chung và phần Hóa học Hữu
cơ lớp 11 nói riêng ở trường Trung học phổ thông (THPT)
3 Giả thuyết nghiên cứu
Việc tổ chức xây dựng và sử dụng trang Web tư liệu dạy học một cách hợp lý, phát huy được tính tích cực học tập của HS sẽ có tác dụng nâng cao
chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Nội dung chương trình Hóa học lớp 11 - nâng cao
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Phần Hiđrocacbon mạch hở trong SGK Hóa học lớp 11 - nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu vị trí, vai trò, cấu trúc, nội dung của chương trình Hóa học lớp 11 đặc biệt là phần Hóa hữu cơ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc ứng dụng CNTT trong dạy học
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng trang Web
- Thu thập tư liệu phục vụ cho việc thiết kế trang Web
- Xây dựng trang Web
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của trang Web đã lập
- Chỉnh sửa và hoàn thiện trang Web
Trang 96 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê toán học
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phục lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học phần Hiđrocacbon mạch hở ở trường Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
1.1.1 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới [9]
Hiện nay, trên thế giới có một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học sau:
- Chuyển mô hình truyền thụ một chiều sang hợp tác hai chiều
- Chuyển từ quan điểm phương pháp dạy học lấy “GV làm trung tâm” sang “HS làm trung tâm”
- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học, tự đánh giá
- Học không chỉ là nắm lấy kiến thức mà cả phương pháp giành lấy kiến thức
- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong đó có ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy là phổ biến
Các nước đã chú trọng vào việc trang bị kiến thức về tin học cho GV và
HS coi đây là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển giáo dục
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã có những nỗ lực trong việc xây dựng các phần mềm phục vụ cho việc giảng dạy các môn học Tổ chức kết hợp phần mềm quốc gia - NSCU (National Software Coordination Unit) được thành lập đã cung cấp chương trình giáo dục máy tính cho trường trung học từ những năm 1984 - 1985
Ở Ấn Độ, Ủy ban quốc gia về đào tạo và nghiên cứu giáo dục - NCERT (National Council of Education Research and Training) ở NewDehli đã thực hiện đề án Class (Computer Literacy and Studies in School) Đề án đã đề cập đến việc sử dụng máy tính khai thác các phần mềm tin học trợ giúp việc dạy học trong lớp, đồng thời coi trọng vai trò của máy tính như một công cụ ưu
Trang 11việt, đánh dấu sự thay đổi có ý nghĩa về phương pháp luận Các phần mềm tin học đưa vào dạy học trong nhà trường không thay thế SGK, mà chỉ vạch rõ con đường để hình thành các loại kỹ năng khác nhau
Ở Nhật Bản, CNTT đặc biệt là việc khai thác các phần mềm tin học được dùng làm công cụ để trình bày kiến thức rèn luyện kĩ năng tiếp thu bài mới và giải quyết vấn đề đặt ra trong tiết học Nhật Bản đã khẳng định việc xây dựng
và khai thác các phần mềm để dạy học, đặc biệt trong nhà trường phổ thông Điều đó đã kích thích tốt hứng thú học tập của người học, nâng cao chất lượng giảng dạy
1.1.2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta [7, 13]
Trong xu thế phát triển của thời đại, xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta gắn liền với xu hướng chung của thế giới
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực, yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần tạo những bước chuyển cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Đại hội Đảng
XI đã nêu: “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh”
Điều đó cũng được thể hiện trong Luật giáo dục nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 02/12/1998 đã ghi rõ ở điều 24: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Hiện nay, nói đến đổi mới dạy và học không thể không nói đến việc ứng dụng CNTT, hầu hết các trường đều có máy tính, nhiều trường tiểu học tự trang bị máy tính để HS làm quen Vì vậy, một trong những xu hướng đổi mới
phương pháp dạy học ở nước ta là: “Ứng dụng CNTT vào giảng dạy, coi
Trang 12CNTT là hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các môn học”
1.2 Cơ sở lí luận để đổi mới phương pháp dạy học [1, 5, 6]
1.2.1 Phương pháp tích cực
Phương pháp tích cực là cách nói ngắn gọn để chỉ các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực sáng tạo của học sinh
- Tính tích cực: là một phẩm chất vốn có của con người Con người
không chỉ sử dụng những gì vốn có trong tự nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, chủ động cải biến môi trường tự nhiên và xã hội Vì vậy mà hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội
- Tích cực học tập: là tích cực nhận thức, biểu hiện ở khát vọng hiểu biết
cố gắng phát triển trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong học tập, HS phải khám phá ra những tri thức hiểu biết mới đối với bản thân, dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV
Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập, động cơ đúng tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tự giác Tính tích cực tạo ra nếp tư duy độc lập, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo
1.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
Phương pháp tích cực có 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt với
các phương pháp thụ động:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS
Trong phương pháp tích cực, HS được đặt vào vị trí chủ thể của hoạt động học tập, GV là tác nhân, là người tổ chức chỉ đạo hướng dẫn động viên
để HS tự lực khám phá điều mình chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức do GV sắp đặt sẵn và thông báo Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, HS trực tiếp quan sát các đối tượng nghiên cứu,
Trang 13giải quyết các vấn đề đặt ra theo cách nghĩ của mình, qua đó HS vừa nắm được kiến thức kỹ năng không theo khuôn mẫu sẵn có, vừa bộc lộ và phát huy được tiềm năng sáng tạo
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ về CNTT thì không thể dạy học theo kiểu nhồi nhét kiến thức mà phải quan tâm dạy phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên cao thì càng được chú trọng Trong phương pháp dạy học thì cốt lõi là phương pháp tự học Tự học và phát triển tự học được đặt ra ngay trong trường phổ thông và không chỉ tự học ở nhà mà ngay cả trong các giờ lên lớp có sự hướng dẫn của giáo viên
- Dạy học tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác
Học hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hình thành nhiệm vụ chung Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp Trong việc học tập hợp tác, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được phát triển
- Kết hợp đánh giá của thầy cô với tự đánh giá của trò
Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Bên cạnh đó, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hành động kịp thời là năng lực cần cho sự thành đạt trong cuộc sống của HS sau này
Để đào tạo những con người năng động sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra - đánh giá không chỉ dừng lại ở nhu cầu tái hiện kiến thức lặp lại những kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống cụ thể
Trang 141.2.3 Áp dụng dạy và học tích cực trong giảng dạy môn Hóa học
Trong hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống, có một số
phương pháp tích cực đó là:
- Nhóm phương pháp trực quan (đặc biệt là sử dụng thí nghiệm, phương
tiện trực quan theo phương pháp nghiên cứu)
- Nhóm phương pháp thực hành: HS được trực tiếp tác động vào đối
tượng quan sát mẫu chất, lắp dụng cụ thí nghiệm, làm thí nghiệm, tự lực khám phá tri thức mới
- Vấn đáp tìm tòi: GV là người tổ chức sự tìm tòi còn HS là người tự lực
phát hiện kiến thức mới
- Dạy học nêu vấn đề
- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Trong các phương pháp tích cực, HS được phát huy tính tự giác, tích cực trong việc tìm tòi khám phá tri thức, qua đó không chỉ nắm được kiến thức mà còn nắm được cả con đường chiếm lĩnh tri thức mà GV đóng vai trò định hướng cho hoạt động nhận thức của HS
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, vì thế dạy học Hóa học không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức một chiều từ thầy tới trò mà là quá trình
GV thiết kế tổ chức điều khiển các hoạt động của HS để đạt mục tiêu cụ thể của mỗi bài, mỗi chương, mỗi phần Hóa học cụ thể
Áp dụng dạy và học tích cực trong giảng dạy Hóa học cần phải đổi mới các phương diện sau:
- Về mục tiêu dạy học:
Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cần thiết, đồng thời giúp HS vận dụng những kiến thức đó vào đời sống hàng ngày
- Về nội dung dạy học:
Chú trọng thiết kế nội dung dạy học theo nguyên tắc hoạt động, để HS tự giành lấy kiến thức và vận dụng linh hoạt được những kiến thức đã học trong mọi hoàn cảnh khác nhau
Trang 15- Về phương pháp dạy học:
Coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học, phát huy suy nghĩ
và tìm tòi độc lập theo nhóm nhỏ thông qua thảo luận, thực nghiệm, thực hành
và thâm nhập thực tế GV quan tâm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân cũng như cả tập thể HS để xây dựng bài học Giáo án được thiết kế nhiều phương pháp theo kiểu phân nhánh được GV sử dụng linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của HS Giờ học phân hóa theo trình độ năng lực của HS tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân Hình thức bố trí tiết học được thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt động trong tiết học, thậm chí trong từng phần của tiết học
- Về kiểm tra - đánh giá:
HS tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia
tự giác đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng giai đoạn học tập, chú trọng mặt chưa đạt được so với nhiều mục tiêu
Trong phương pháp tích cực, vai trò của HS là: HS không phải được đặt trước những câu hỏi có sẵn mà là được đặt trước những tình huống vấn đề cụ thể và thực tế vô cùng phong phú, HS tự lực tìm hiểu phân tích, xử lý tình huống, tự mình tìm ra kiến thức chân lý Bên cạnh đó, vai trò của GV là đảm nhiệm trách nhiệm chuẩn bị cho HS thật nhiều tình huống phong phú chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu HS GV là người định hướng đạo diễn cho HS tự mình khám phá ra chân lý, tự mình tìm ra kiến thức
1.3 Công nghệ mới và việc đổi mới phương pháp dạy học [3, 8, 10]
1.3.1 CNTT với đổi mới phương pháp dạy học
Công nghệ thông tin - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa
Kỳ vào năm 1995 (Wiles và Bondi, 2002) và sau đó được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay, với việc dạy và học thì vai trò của CNTT là rất quan trọng và càng quan trọng hơn khi vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục hiện nay đang là vấn đề rất cấp thiết
Trang 16Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực, hiệu quả và sáng tạo của cả GV và HS; nâng cao tính tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của HS, tạo điều kiện để HS có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo án điện tử trên máy tính; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ thông tin do khoảng cách địa lý đem lại
Theo quan điểm của CNTT, để đổi mới phương pháp dạy học người ta tìm những “Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn” Chính vì mục tiêu đó, CNTT đã sáng tạo ra những phương tiện dạy học nhằm trợ giúp GV và HS có thể tự tìm tòi và phát huy kiến thức một cách hiệu quả nhất
Dạy học với phương tiện hiện đại sẽ có ưu thế sau:
- GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần
- Các phần mềm dạy học có thể thực hiện các thí nghiệm ảo, trợ giúp cho quá trình giảng dạy thực hành của GV, tăng tính năng động cho người học, cho phép HS học theo khả năng
- Các phương tiện hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại
- Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp
- HS không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ… và điều quan trọng hơn là nhiều HS được dự và nghe bài giảng của nhiều GV giỏi
Một số hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT:
- Ứng dụng công nghệ hội tụ đa phương tiện, xây dựng trạm học tập tương tác, xây dựng mạng trực tuyến và các trang Web học tập để HS có thể
tự học, tự chiếm lĩnh tri thức
Trang 17- Xây dựng và thiết kế BGĐT bằng các phần mềm mô phỏng trên máy tính nhằm hỗ trợ cho phương pháp dạy học truyền thống trong quá trình giảng dạy
- Xây dựng phần mềm dạy học trên đĩa CD - ROM phục vụ việc tự học trên máy tính
- Mô phỏng các thí nghiệm ảo, PTN ảo, phòng thực hành ảo trên máy tính phục vụ cho việc học tập
1.3.2 Quan niệm về dạy học theo cách tiếp cận CNTT
Hiện nay, việc đưa phương tiện, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào dạy học là một trong những phương hướng cơ bản của nhà trường hiện tại
Những năm gần đây, cùng với những sự thay đổi mang tính đột phá trong công tác kiểm tra, đánh giá học tập của người học phổ thông là những thay đổi đáng kể về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho ðồng
bộ với nhau Ít nhiều GV đã lựa chọn những phương thức kết hợp công nghệ thông tin trong dạy học ở các mức độ khác nhau để tăng cường “đa giác quan hóa” quá trình học tập của người học Đặc biệt là môn Hóa học, GV đã triển khai BGĐT hóa học nhằm giúp trực quan hóa các khái niệm lý thuyết trừu tượng, những thí nghiệm hóa học độc hại hoặc phản ứng diễn ra quá nhanh hay quá chậm… Tuy nhiên, công nghệ cần phải giúp tạo nên sự phấn khích và
hỗ trợ các hoạt động thúc đẩy tư duy của người học, qua đó dẫn đến nhu cầu học tập khám phá
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm nội dung dạy học, việc dạy và việc học Ngày nay, với nhu cầu hội nhập và phát triển, việc dạy không đơn giản là truyền đạt kiến thức một chiều từ thầy đến trò mà là việc truyền đạt kiến thức hai chiều Việc dạy của thầy có tác động điều khiển việc học của trò, qua đó trò tự tìm tòi và phát hiện ra kiến thức, từ đó phát huy cao độ được
Trang 18tính tự giác, tích cực, tự lực của trò Việc học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại Trong đó, chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu thập xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình Và với sự tiếp cận CNTT, việc dạy và học đều được sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, làm cho chúng trở nên dễ dàng và phát triển theo hướng tích cực
1.3.3 Vì sao phải ứng dụng CNTT trong dạy học
Tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu trữ tri thức là không thể phủ nhận Ai cũng biết rằng con người dùng cả năm giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác để học Tuy nhiên, theo như kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu thì con người học được 83% qua thị giác, 10% qua thính giác và phần còn lại qua khứu giác, vị giác, xúc giác Chính vì vậy, người dạy nên nắm chắc thực tế này và dùng nó để tận dụng tối đa trong việc giúp người học đạt kết quả tốt hơn bằng cách tăng cường “đa giác quan hóa” quá trình dạy học Trực quan hóa làm cho người học hiểu một cách cụ thể và rõ ràng, hạn chế hiểu sai
Tích hợp CNTT trong quá trình dạy học góp phần cuốn hút người học tham gia tích cực vào bài giảng, làm cho lớp học năng động, không buồn tẻ, hiệu quả giảng dạy tốt hơn CNTT giúp tối đa hóa thời gian mà việc học thật
sự diễn ra, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác Vấn đề sử dụng công nghệ mới vào quá trình dạy và học có tầm quan trọng lớn Chúng ta đang sống ở trong thời đại thông tin - thời đại mà nhân loại đang quá độ sang nền kinh tế tri thứ, mà đặc điểm của nó là sự bùng nổ thông tin, tri thức Trong bối cảnh đó, những ưu thế của công nghệ mới sẽ có khả năng giúp con người chọn lọc từ biển cả thông tin những thông tin cần thiết và xử lí chúng một cách nhanh chóng để biến thành tri thức của mình Ngoài ra, công nghệ mới là một khía cạnh văn hóa của thế giới mới, như mọi thứ văn hóa, nó sẽ được tiếp
Trang 19nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp người học định hướng tư duy và thái độ của mình trong thời đại mới, để từ đó làm chủ được tri thức và nhân loại
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học [8, 9]
1.4.1 Tình hình sử dụng máy tính và Internet ở nước ta
Cách đây hơn mười năm, ngày 19/11/1997, dịch vụ Internet chính thức
có mặt tại Việt Nam Việc thử nghiệm Internet được tiến hành rất sớm Internet lúc đầu được xem là dịch vụ cao cấp dành cho một nhóm cá nhân, tập thể thật sự có nhu cầu Vì là dịch vụ mới nên cước phí cao, thủ tục đăng kí phức tạp… Còn bây giờ, dịch vụ Internet không chỉ có mặt ở các đô thị mà còn lan tỏa rộng khắp 64 tỉnh thành Mọi ngành nghề đều cần đến Internet để thu thập thông tin và tương tác đa chiều cùng phát triển
Trong điều kiện hệ thống giáo dục nước ta chưa thực sự thích nghi với việc phát triển nhanh chóng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề cần thiết đặt ra là phải coi trọng đầu tư cho giáo dục, đó là một trong những chương trình của đầu tư phát triển đất nước Song, nhìn lại những gì đã đạt được trong những năm vừa qua, chúng ta thấy thành công tuy đã đạt được những bước đầu nhưng vẫn tồn tại những bất cập và khó khăn trong việc đổi mới phương pháp dạy học Điều đó dẫn đến hệ quả là những công dân tương lai còn thiếu năng động, sáng tạo, còn bỡ ngỡ và lúng túng trước thực tế cuộc sống vốn đa dạng và biến động không ngừng
Để hòa cùng nhịp độ phát triển giáo dục chung của các nước trên thế giới, từ những năm 1990 trở lại đây, BGD - ĐT đã có những cố gắng trong việc tăng cường trang thiết bị cho nhà trường, cung cấp thêm nhiều máy tính,
mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khoa Công nghệ thông tin,
cử nhiều giáo viên đi học thêm tin học, khuyến khích các cán bộ nghiên cứu các phần mềm dạy học
Trong khoảng 10 năm gần đây, BGD - ĐT đã đưa chương trình dạy tin học vào nhà trường THPT, trình độ giảng dạy và ứng dụng tin học đã có cơ sở
Trang 20vững chắc, nhiều phần mềm dạy học đã được thử nghiệm Nhiều GV đã thử ứng dụng phần mềm của nước ngoài để làm công cụ dạy học Song, các phần mềm đó còn quá ít ỏi, các ứng dụng còn mang tính thử nghiệm Nếu xây dựng
và đưa các phần mềm vào dạy học phổ biến sẽ là một bước ngoặt quan trọng cho nền giáo dục nước nhà Hiện nay, ở hầu hết các trường THPT đã được trang bị máy vi tính để dạy môn Tin học Một số bộ môn Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, tiếng Anh cũng bắt đầu khai thác các phần mềm để phục vụ giảng dạy bộ môn của mình
Đối với bộ môn Hóa học, việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp thiết bị dạy học đang từng bước cải tiến Hầu hết các GV thấy được tầm quan trọng của việc khai thác các phần mềm phục vụ cho việc dạy học Tuy nhiên, trình độ tin học của GV còn hạn chế, kinh phí đầu tư cho các phương tiện, thiết bị dạy học còn hạn hẹp… cho nên việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy hóa học còn gặp nhiều khó khăn, chưa được phổ biến rộng rãi, phần lớn chỉ tập trung ở một số trường Đại học, một số trung tâm Công nghệ, các trường phổ thông thuộc các thành phố lớn, chẳng hạn như: Trung tâm công nghệ dạy học của ĐHSP Hà Nội đã sử dụng phần mềm cho kiểm tra đánh giá một số môn học ở trường THCS từ năm 1995 Năm 1997 mới có phần mềm thử nghiệm kiểm tra thi cho từng sinh viên trên máy như môn Hóa đại cương A1 của khoa Hóa ĐHSP Hà Nội Năm 1988 Viện vật lí kỹ thuật, ĐHBK Hà Nội đã xây dựng một số phần mềm thí nghiệm mô phỏng như đun nước sôi, chưng cất rượu… Ở Hội nghị Hóa tin đã có những báo cáo về ứng dụng phần mềm trong giảng dạy Hóa học, trong đó, tác giả đã cho HS sử dụng phần mềm Hóa học đại cương “Interactive General Chemistry” và “Logal Expore”, phần mềm “The Elemet” (Philip Harris 1996) cho phép HS khảo sát và phân tích tính chất của các nguyên tố, chiều hướng biến thiên tính chất của chúng trong hệ thống tuần hoàn (HTTH)
Trang 21Từ năm 2001, trong nước đã xây dựng một số phần mềm dạy học, các đĩa CD - ROM về thí nghiệm hóa học, bài giảng điện tử ở phổ thông nhưng chất lượng chưa cao
Năm 2008 là năm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học Trong năm
2008 - 2009, Bộ GD - ĐT đã cung cấp cho toàn ngành các phần mềm quản lý quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, hỗ trợ xếp thời khóa biểu, hệ thống họp và đào tạo qua mạng… giúp toàn ngành tiến nhanh, tiến mạnh về ứng dụng CNTT trên phạm vi rộng lớn
Năm 2011 - 2016 nước ta thực hiện dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập internet công cộng tại Việt Nam”
1.4.2 Xu hướng tích hợp đa phương tiện để nâng cao hiệu quả dạy và học
Đa phương tiện là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ họa, âm thanh, cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác đa chiều Thật vậy, kỹ thuật siêu liên kết của CNTT đã giúp kết nối nhanh chóng nhiều cơ sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ họa, âm thanh, trở thành một nguồn dữ liệu đa năng và phong phú, tăng tốc độ tương tác giữa người sử dụng và nguồn dữ liệu
Truyền thông là các phương tiện để giao tiếp giữa con người với nhau Một từ được viết ra, những bộ phim, những âm thanh, âm nhạc, các bức tranh hoạt họa… đều là phương tiện truyền thông Khi những thứ này kết hợp với nhau trong một quá trình giao tiếp trở thành đa phương tiện truyền thông
Trong các sách giáo khoa, một quá trình đa phương tiện truyền thông được chuyển sang dạng từ ngữ mà người đọc và người học bắt buộc phải chuyển đổi lại thành các hình ảnh tưởng tượng Như thế, quá trình này đòi hỏi năng lực tưởng tượng và dường như cách học đó có vẻ khô khan và khó hiểu Nếu chúng ta sử dụng một phương pháp năng động, trực tiếp hơn để trình bày các khái niệm và quá trình dưới dạng đa phương tiện truyền thông thì người học sẽ hiểu vấn đề dễ dàng hơn
Trang 22Với đa phương tiện truyền thông, nội dung tri thức tương tác một cách trực tiếp với các giác quan của người học Đây là một trong những sự khác biệt rất lớn khi mà đa phương tiện truyền thông được sử dụng theo một cách tương tác vào giảng dạy
Máy tính cũng không quá phức tạp, nó không chỉ mang lại sự tiện ích cho việc giảng dạy hiện nay mà còn giúp cho người học hiểu biết nhanh hơn
Nó cho phép người học học thêm ở nhà, đối với những người đã nghỉ học trong một thời gian dài, máy tính cho phép họ tự làm quen với môn học một cách nhanh chóng
Mặc dù những tài liệu về đa phương tiện truyền thông được sử dụng rất nhiều trong giáo dục nhưng trên thị trường lại không có nhiều các tài liệu tốt Những chuyên gia tốt nhất về đa phương tiện truyền thông thì lại đi vào lĩnh vực sản xuất các sản phẩm trò chơi máy tính hoặc phim ảnh Người học sẽ không chấp nhận kiến thức được truyền đạt theo cách truyền thống - qua sách giáo khoa khi đã quen học qua máy tính
Dù là thời đại nào chăng nữa thì sách vẫn giữ một tầm quan trọng nhất định Nếu người học không đọc sách mà chỉ tập trung vào môi trường đa phương tiện truyền thông thì khả năng tư duy và suy nghĩ của họ sẽ trở nên rất hạn chế Nếu các phương pháp giáo dục của chúng ta dựa hoàn toàn vào
đa phương tiện truyền thông mà không sử dụng sách thì khả năng văn chương của chúng ta sẽ yếu đi Chúng ta vẫn phải dựa vào ngôn ngữ để tự suy nghĩ và
tư duy
1.5 Sự cần thiết của việc sử dụng các trang Web dạy học hiện nay [8]
Thứ nhất: Môi trường dạy học hiện nay có tích hợp công nghệ sẽ mang
một cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng sau:
- Hệ thống tự tổ chức (có định hướng của người dạy), mang tính mở
- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện
Trang 23- Quá trình dạy học sẽ có một sự biến đổi mạnh mẽ cả về chất và lượng Quá trình dạy học nhờ đó sẽ được triển khai chủ yếu dựa trên nguyên tắc hoạt động nhận thức tích cực mang tính định hướng cá nhân của người học (người học chủ động, người dạy chủ đạo, dạy học phân hóa theo đối tượng, dạy học theo định hướng vào nhân cách)
Phát huy vai trò, vị trí của người dạy, người học, trong môi trường học tập mới có sử dụng công nghệ hiện đại, người học thực sự đứng ở trung tâm,
là người chủ, khám phá của việc học với đầy đủ các đặc điểm: cá thể hóa, hoạt động tương tác, hợp tác, tính tích cực và đa dạng về phong cách học tập Người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, học bất cứ điều gì quan tâm, hứng thú, học bất cứ với ai, tự lựa chọn cho mình cấp độ và tốc độ học cho phù hợp
từ một khách hàng sử dụng để trở thành nhà sản xuất, người sáng tạo, người biết hợp tác trong việc tạo ra các học phẩm nhờ có công nghệ thông tin
- Dạy học bằng chính hoạt động học tập của người học
- Dạy học cá thể hóa trong hoạt động tương tác, hợp tác
- Dạy học hướng vào cách tự học, tự nghiên cứu
- Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá
Thứ hai: Việc ứng dụng CNTT như sử dụng các trang Web học tập thay
dạy học truyền thống sẽ kéo theo những biến đổi căn bản trong hoạt động của nguời dạy và người học như sau:
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác, người học có thể sử dụng những đường dẫn trong trang Web để liên kết đến các kho dữ liệu khổng lồ
- Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình dạy học (người học có thể nghe, nhìn, học qua Web với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi)
- Chuyển từ hoạt động những với người học có năng lực khá là chủ yếu sang hoạt động với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm
Trang 24nhỏ để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trong Web)
- Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học (mỗi người học
sẽ tự chọn cho mình cách thức, cấp độ và tốc độ giải quyết nhiệm vụ học tập)
- Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất cứ hình thức nào để giải quyết nhiệm vụ miễn là đạt mục tiêu)
- Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm ưu thế chủ đạo trong mọi hoạt động (cạnh tranh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập)
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh một loại kiến thức (đơn ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực)
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể thao tác được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động)
1.6 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học ở trường Trung học phổ thông
Để việc xây dựng website hỗ trợ dạy học thực sự có hiệu quả chúng tôi
đã tiến hành tìm hiểu về thực trạng ứng dụng CNTT&TT ở 6 trường THPT trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc: trường THPT Xuân Hòa, THPT Bến Tre, THPT Tam Dương, THPT Trần Phú, THPT Yên Lạc và THPT Tam Đảo
Kết quả điều tra cho thấy:
- Về trang thiết bị cơ sở vật chất:
Hầu hết ở các trường phổ thông đã được trang bị phòng máy tính (trung bình khoảng 30 máy tính), trong đó các máy tính đều được kết nối mạng LAN, mạng internet để phục vụ dạy và học
Như vậy, có thể thấy trang thiết bị cơ sở vật chất ở các trường phổ thông
đã tương đối đầy đủ Vấn đề cần quan tâm ở đây là thực tế việc ứng dụng
Trang 25CNTT&TT phục vụ dạy và học được GV và HS tiếp nhận như thế nào Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề đó, trước tiên, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng ứng dụng CNTT&TT vào dạy và học các môn học nói chung và môn Hóa nói riêng
- Vấn đề ứng dụng CNTT&TT trong dạy học của GV Hóa ở trường phổ thông:
Qua trao đổi, tọa đàm cho thấy: các cấp quản lý giáo dục đã đánh giá việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học là quan trọng và cần thiết Hầu hết các đơn vị ra chỉ tiêu về số tiết học ứng dụng CNTT&TT trong một kì học để tất cả các GV đều phải nỗ lực tiếp cận việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học Để biết khả năng ứng dụng CNTT&TT của GV các trường phổ thông như thế nào chúng tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả như sau:
Bảng số 1.6.1 Bảng điều tra về mức độ ứng dụng CNTT&TT trong dạy học
của GV Hóa ở các trường THPT
Stt
Mức độ
Nội dung
Tổng số phiếu điều tra
Tổng phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
Trang 26Qua bảng số liệu cho thấy:
- Phần lớn GV Hóa ở các trường phổ thông đều đã tiếp cận và biết sử dụng CNTT&TT trong dạy học
- Số GV sử dụng bài giảng điện tử nhiều
Tuy nhiên, các hình thức ứng dụng CNTT&TT trong dạy học như sử dụng phần mềm trong dạy học còn ít Đặc biệt, việc sử dụng website hỗ trợ dạy học chưa có GV nào sử dụng trong việc hỗ trợ dạy học
Điều tra về mức độ khai thác thông tin trên mạng của GV Hóa chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng số 1.6.2 Bảng điều tra về mức độ khai thác thông tin trên mạng của
Tổng phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Tra cứu tài liệu trên mạng 25 phiếu 5 9 11
2 Tìm hiểu thông tin giáo dục
3 Trao đổi kinh nghiệm dạy học
4 Vào các website dạy học 25 phiếu 3 9 13
Thông qua bảng điều tra, ta thấy:
- Nhìn chung, mức độ khai thác thông tin trên mạng của các GV còn ở mức hạn chế:
+ Số lượng GV thường xuyên truy cập và tra cứu tài liệu trên mạng là 5
GV (chiếm 20%)
Trang 27+ 3 GV trong trong tổng số GV của 6 trường thường xuyên truy cập vào các website dạy học (chiếm 12%), 9 GV ở mức độ thỉnh thoảng, 13 GV chưa bao giờ sử dụng (chiếm 52%)
- Ngoài ra có thể thấy, việc các GV sử dụng internet để tìm hiểu thông tin giáo dục, trao đổi kinh nghiệm dạy học… còn chưa được tích cực
Từ đó dẫn tới hiện trạng của việc sử dụng và kĩ năng sử dụng các phần mềm dạy học còn chưa phổ biến thể hiện ở bảng 1.6.3
Bảng số 1.6.3 Bảng điều tra về kĩ năng sử dụng phần mềm dạy học của
Tổng phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
- Có thể nói: ứng dụng CNTT&TT trong dạy học của các GV ở các trường phổ thông mới bước đầu dừng lại ở việc truyền đạt thông tin, chưa có
Trang 28sự phát triển tích cực hơn, chưa thực sự phát huy được mối quan hệ tương tác giữa HS, GV để hình thành nội dung kiến thức môn học
Nhưng tuy nhiên, bảng số liệu cũng cho thấy được hầu hết GV đã được tiếp cận với CNTT&TT, tạo điều kiện cho việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy và học trở nên phổ biến hơn, hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả khả quan hơn trong việc đổi mới PPDH, theo hướng tích cực: làm thay đổi phong cách làm việc của GV, thay đổi thái độ học tập thụ động, ỉ lại của HS
- Tâm lý HS về việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học:
HS phổ thông có tư duy rất phát triển, năng động, dễ dàng tiếp cận với những cái mới, cái tiến bộ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đặc biệt là CNTT sẽ có tác động tương đối đến tâm lý của HS CNTT khiêu khích tính tò mò, ham muốn được hiểu biết, thông thạo và những ứng dụng của CNTT tạo điều kiện tương đối tốt để GV có thể có cơ sở áp dụng PPDH theo hướng ứng dụng CNTT&TT trong dạy học Điều này được thể hiện ở bảng điều tra dưới đây:
Bảng 1.6.4 Bảng điều tra về khả năng ứng dụng CNTT&TT của HS
trong việc tự học
Stt Điều tra việc truy cập
mạng Internet
Số phiếu điều tra
Số phiếu trả lời Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Giải trí trên trên mạng 1024 phiếu 176 347 501
4 Một trong ba hình thức trên 1024 phiếu 236 308 480
Trang 29Như vậy thấy: khả năng HS tiếp cận với CNTT là rất nhanh Tuy nhiên mục đích học tập còn chưa rõ ràng Nếu xây dựng được các website dạy học
và định hướng cho các em thì việc dạy học của GV và tự học của HS có sử dụng CNTT&TT hứa hẹn có nhiều triển vọng hơn
Trang 30CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG TRANG WEB TƯ LIỆU HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON MẠCH HỞ - SGK HÓA HỌC LỚP 11 NÂNG CAO
TRƯỜNG THPT 2.1 Các nguyên tắc khi xây dựng trang Web [2]
Để tạo được một trang Web đem lại lợi ích thực sự cho người xem thì cần chú ý những nguyên tắc sau:
- Tổ chức website chặt chẽ và dễ sử dụng
Website của bạn cần có cấu trúc rõ ràng, dễ hiểu Điều quan trọng ở đây
là phải làm sao để người xem thấy được ngay các thông tin mà họ hy vọng có thể thu được từ website của bạn
- Sử dụng từ ngữ dễ hiểu, đọc và kiểm tra cẩn thận tất cả các nội dung
- Dễ dàng khám phá các đường link
Bạn hãy tạo các đường link bằng chữ hay biểu tượng ở tất cả các trang con để mọi người có thể xem lại hoặc xem tiếp mà không phải sử dụng đến nút “Back” hay “Forward” của trình duyệt
- Chú trọng nội dung
Bạn hãy nhớ rằng nội dung cần được bày trí hấp dẫn nhưng cũng phải thực sự hữu ích Website nên có khả năng đưa ra thông tin có liên quan nhanh nhất Điều đó mang lại sự thú vị cho người đọc
- Tránh để các hình ảnh nhấp nháy làm sao nhãng sự thu hút người đọc nội dung Một số người xem cũng cho rằng các hình ảnh này làm phiền họ và
họ sẽ che chúng đi để tập trung vào nội dung
- Đừng quá tập trung vào các đồ họa thu hút Hãy tập trung đến việc xử
lý lỗi, cấu trúc và bố cục trang được như nhau
- Hãy chú ý tới trang chủ vì những người xem sẽ nhìn thấy trước tiên Trang chủ nên thu hút và cung cấp thông tin hữu ích Nếu nó không đủ tiêu chuẩn như đã đề cập thì các độc giả sẽ dễ rời bỏ