1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit xeton axit cacboxylic

158 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu làm rõ sự khác biệt về mức độ KT – KN giữa chương trình chuẩn và chương trình NC, giữa chuẩn KT – KN và nội dung SGK ; sự khác biệt về PPDH ở mỗi ban theo định h

Trang 1

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC



ĐINH THỊ TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU SO SÁNH NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC 11 TRƯỜNG THPT PHẦN ANĐEHIT – XETON –

AXIT CACBOXYLIC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học hóa học

Hà Nội – 2011

Trang 2

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 2

LỜI CẢM ƠN

Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Bộ GD –

ĐT, em đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học Hóa học 11 trường THPT phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic”

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Cao Thị Thặng đã tận tâm

giúp đỡ em trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành đề tài

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Hóa học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã hết sức tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình học tập và làm khóa luận

Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô và các em học sinh trường THPT Yên Phong số 1 đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khuyến khích em trong quá trình hoàn thành khóa luận

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Đinh Thị Tuyết Mai

Trang 3

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 3

LỜI CAM ĐOAN

Qua quá trình nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học Hóa học 11 trường THPT phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic” đã giúp em tìm hiểu sâu hơn về bộ môn Phương pháp dạy

học Hóa học Đặc biệt, đó là một trong những bước khởi đầu quan trọng trong

sự nghiệp giảng dạy Qua đó cũng giúp em bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

Em xin cam đoan khóa luận được hoàn thành do sự cố gắng, nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân cùng với sự hướng dẫn của cô Cao Thị Thặng cũng như các thầy, cô trong khoa Hóa học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội

2

Đây là đề tài độc lập, không trùng với đề tài của các tác giả khác

Trang 4

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GD – ĐT : Giáo dục và Đào tạo

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông PTHH : Phương trình hóa học PPDH : Phương pháp dạy học

KT – KN : Kiến thức – kĩ năng

KT – ĐG : Kiểm tra – đánh giá

NC : Nâng cao

Trang 5

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 5

Trang 6

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 6

1.2.2 Thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD – ĐT trong việc tập huấn chỉ đạo

dạy học và KT – ĐG theo chuẩn KT –

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU SO SÁNH CHƯƠNG TRÌNH, SGK,

SGV HÓA HỌC 11 PHẦN ANĐEHIT – XETON – AXIT

CACBOXYLIC…

30

2.1 So sánh nội dung phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa

chương trình chuẩn và chương trình NC Hóa học

2.1.2 So sánh chuẩn KT – KN phần Anđehit – Xeton – Axit

cacboxylic ở chương trình chuẩn với chuẩn KT – KN ở chương trình

NC Hóa học…

40

2.2 So sánh nội dung phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa

Trang 7

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 7

chuẩn KT – KN với nội dung SGK, SGV ở từng nội dung cụ thể của

chương trình chuẩn và theo chương trình

NC………

49

2.3 So sánh về PPDH phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa

chương trình chuẩn và chương trình NC Hóa học

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN PHẦN ANĐEHIT – XETON –

AXIT CACBOXYLIC THEO CHUẨN KT – KN VÀ THEO ĐỊNH

HƯỚNG ĐỔI MỚI PPDH HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ

Trang 8

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 8

3.2.3 BÀI 63: Bài thực hành Tính chất của anđehit và axit

Trang 9

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 9

GD – ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”

Từ năm học 2006 – 2007, Bộ GD – ĐT triển khai chương trình SGK mới thay thế cho chương trình SGK cũ không còn phù hợp nữa Trường THPT có chương trình chuẩn cho tất cả các môn học, chương trình NC cho các môn NC và chương trình tự chọn Với môn hóa học, chương trình hóa học THPT giành cho HS có năng lực và nguyện vọng về các môn khoa học xã hội

và nhân văn, không có năng lực rõ rệt về khoa học tự nhiên, còn chương trình hóa học THPT NC dành cho HS có năng lực và nguyện vọng về các môn khoa học tự nhiên Giữa hai loại chương trình này có sự tương đồng về các đề mục nội dung chính nhưng khác nhau về mức độ và thời lượng cho từng nội dung cụ thể

Khác với trước đây, hiện nay việc thực hiện dạy học theo chuẩn KT –

KN trở thành pháp lệnh Vấn đề này đã và đang được triển khai rộng rãi trên

cả nước Tuy nhiên, việc dạy học, KT – ĐG theo chuẩn KT – KN là một vấn

đề mới mẻ và còn khó khăn đối với GV Đó là vì việc đổi mới chương trình,

Trang 10

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 10

SGK theo nghị quyết 40/2000 QH của Quốc hội đã được triển khai chưa lâu, chuẩn KT – KN còn mới đối với nhiều GV cũng như cán bộ quản lí, chỉ đạo Ngoài ra, lần đầu tiên chương trình hóa học Việt Nam được thiết kế ở mức độ chuẩn và NC, SGK về cơ bản viết theo đúng chuẩn nhưng cũng có một số điểm chưa theo được chuẩn KT – KN Việc dạy học và KT – ĐG theo đúng chuẩn KT – KN góp phần thực hiện đổi mới chương trình và SGK hiện nay cũng chưa triệt để vì phần nhiều GV chỉ dạy theo SGK

Do đó, việc làm rõ mức độ KT – KN trong chương trình và SGK ở mỗi ban và thấy được sự khác biệt giữa chương trình và SGK, áp dụng dạy học ở trường phổ thông là rất cần thiết Chương Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic

là chương cuối cùng trong cả SGK 11 lẫn SGK 11 Hóa học NC, là chương quan trọng cung cấp cho HS mảng kiến thức khá lớn trong chương trình hóa

học nói chung và hóa học hữu cơ nói riêng Đề tài “Nghiên cứu so sánh nội

dung và phương pháp dạy học Hóa học 11 trường Trung học phổ thông phần anđehit – xeton – axit cacboxylic” là thiết thực và góp phần đáp ứng yêu cầu

của Bộ GD – ĐT hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu so sánh chương trình, SGK, SGV, PPDH Hóa học nhằm thiết kế giáo án dạy học theo chuẩn KT – KN Hóa học 11 phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học theo chương trình và SGK mới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu phải thực hiện được những nhiệm vụ sau:

3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài:

a Cơ sở lí luận:

- Chương trình hóa học phổ thông: Chương trình chuẩn và NC

- SGK Hóa học, chú ý SGK Hóa học 11

Trang 11

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 11

- Định hướng đổi mới PPDH hóa học THPT, đi sâu PPDH hóa học 11

b Cơ sở thực tiễn:

- Thực tiễn dạy học và KT – ĐG theo chuẩn KT – KN ở các trường

THPT đặc biệt lớp 11 hiện nay

- Thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD – ĐT trong việc tập huấn chỉ đạo dạy học và KT – ĐG theo chuẩn KT – KN

3.2 Nghiên cứu so sánh chương trình, SGK, SGV Hóa học 11 phần

Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic

* So sánh nội dung phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa chương trình chuẩn và chương trình NC Hóa học 11

- So sánh nội dung phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa SGK Hóa học 11 và SGK Hóa học 11 NC

- So sánh chuẩn KT – KN phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic ở chương trình chuẩn với chuẩn KT – KN ở chương trình NC Hóa học 11

* So sánh nội dung phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa chuẩn

KT – KN với nội dung SGK, SGV ở từng nội dung cụ thể của chương trình chuẩn và theo chương trình NC

* So sánh về PPDH phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic giữa chương trình chuẩn và NC Hóa học 11

3.3 Thiết kế giáo án dạy học phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic theo chuẩn KT – KN và theo định hướng đổi mới PPDH hóa học ở trường phổ thông

- Giáo án theo chương trình chuẩn và sách Hóa học 11

- Giáo án theo chương trình NC và sách Hóa học 11 NC

3.4 Thử nghiệm sư phạm

Trang 12

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 12

4 Đối tượng nghiên cứu

Chương Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic, Hóa học 11 và Hóa học 11

6 Giả thuyết khoa học

Nếu làm rõ sự khác biệt về mức độ KT – KN giữa chương trình chuẩn

và chương trình NC, giữa chuẩn KT – KN và nội dung SGK ; sự khác biệt về PPDH ở mỗi ban theo định hướng dạy học tích cực thì sẽ thiết kế được các giáo án và thực hiện dạy học bám sát chuẩn KT – KN, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông

7 Cái mới của đề tài

- So sánh làm sáng tỏ được:

+ Sự giống nhau và khác nhau về nội dung chương trình, chuẩn

KT – KN, SGK, PPDH giữa chương trình chuẩn và chương trình NC phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic, Hóa học 11

+ Sự phù hợp và khác biệt giữa SGK, SGV với chuẩn KT – KN phần Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic, Hóa học 11

Trang 13

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 13

- Nêu một số nét về thực trạng đánh giá dạy học theo chuẩn KT – KN qua quan sát, trao đổi, phân tích một số đề kiểm tra và sự chỉ đạo dạy học, đánh giá theo chuẩn KT – KN của Bộ GD – ĐT

- Thiết kế được một số giáo án theo chuẩn KT – KN, theo định hướng đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập môn hóa học

- Đã đưa giáo án dạy thử nghiệm ở trường phổ thông và xem xét bước đầu hiệu quả

Trang 14

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 14

- Kiến thức cơ sở hóa học chung

- Hóa học vô cơ

- Hóa học hữu cơ

Trang 15

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 15

- Hứng thú học tập bộ môn hóa học

- Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên

cơ sở phân tích khoa học

- Ý thức trách nhiệm với bản thân, với xã hội và cộng đồng

- Ý thức vận dụng những tri thức hóa học đã học vào cuộc sống và vận động người khác cùng thực hiện

1.1.1.3 Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình

Chương trình môn hóa học ở trường phổ thông được xây dựng và phát triển trên cơ sở các quan điểm sau đây:

a Đảm bảo thực hiện mục tiêu của bộ môn hóa học ở trường phổ thông

b Đảm bảo tính phổ thông cơ bản, hiện đại và thực tiễn trên cơ sở hệ thống tri thức của khoa học hóa học

c Đảm bảo tính đặc thù của bộ môn hóa học

d Đảm bảo định hướng đổi mới PPDH hóa học theo hướng dạy và học tích cực

e Đảm bảo định hướng về đổi mới đánh giá kết quả học tập hóa học của HS

g Đảm bảo thừa kế những thành tựu của chương trình hóa học trong nước và thế giới

h Đảm bảo tính phân hóa trong chương trình hóa học phổ thông

Trang 16

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 16

về KT – KN ở mỗi lớp, mỗi cấp, mỗi chủ đề và từng loại chương trình

Về mức độ kiến thức, chuẩn KT – KN quy định rõ mức độ biết, hiểu về

khái niệm, tính chất của chất, ứng dụng và điều chế các chất

Ở mức độ biết: Yêu cầu HS nhớ được các kiến thức về chất, tái hiện lại

nội dung đã học về chất và sự biến đổi của chúng

Ở mức độ hiểu: Yêu cầu HS không chỉ nhớ được các kiến thức đã học

mà có thể giải thích được, lấy ví dụ minh họa được cho mỗi trường hợp, diễn đạt theo các cách khác nhau, vận dụng trong những trường hợp tương tự có biến đổi, suy luận để tìm câu trả lời…

Về kĩ năng: Kĩ năng học tập hóa học, kĩ năng thực hành hóa học và kĩ

năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề mô phỏng trong các bài tập hóa học theo các mức độ từ thấp đến cao: Học để biết, học để làm, học để sáng tạo

Chuẩn KT – KN giữa hai chương trình chuẩn và NC có hai điểm khác

biệt rõ rệt nhất Thứ nhất, một số kiến thức mà chương trình NC yêu cầu HS

phải đạt được ở mức độ hiểu, biết hay vận dụng thì chương trình chuẩn lại không có Ví dụ, chương trình NC lớp 10 yêu cầu HS biết được obitan nguyên

Trang 17

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 17

tử, hình dạng các obitan nguyên tử s, px, py, pz còn chương trình chuẩn không

có Thứ hai là sự khác biệt về mức độ KT – KN: một số kiến thức chương

trình NC yêu cầu HS đạt được ở mức độ hiểu thì chương trình chuẩn chỉ yêu cầu HS đạt được ở mức độ biết Ví dụ, về đặc điểm cấu tạo phân tử và tính chất hóa học của anken, SGK Hóa học 11, chương trình NC yêu cầu HS phải hiểu được và từ đặc điểm cấu tạo phân tử HS dự đoán chính xác được tính chất hóa học, còn chương trình chuẩn chỉ yêu cầu HS biết nội dung kiến thức này

Chuẩn KT – KN giúp phân biệt mức độ khái niệm hóa học ở cấp THCS

và THPT, ví dụ như khái niệm phản ứng oxi hóa khử ở lớp 8 và lớp 10; giúp thấy rõ mức độ kiến thức giữa chương trình chuẩn và chương trình NC ở các lớp 10, 11, 12 về mức độ sâu, rộng, ví dụ như chỉ chương trình NC mới yêu cầu HS kĩ năng giải bài tập tổng hợp Cũng chính vì thế mà chuẩn KT – KN định hướng về PPDH, định hướng KT – ĐG kết quả học tập và mức độ kiến thức theo hướng sử dụng thiết bị hóa học…

1.1.1.6 Giải thích – hướng dẫn

a Về PPDH

Trong dạy học hóa học cần chú ý:

- Sử dụng thiết bị, thí nghiệm hóa học theo định hướng là nguồn để HS nghiên cứu, khai thác, tìm tòi kiến thức hóa học

- Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học như là nguồn tri thức để HS tích cực, chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng và vận dụng các kiến thức và kĩ năng hóa học đã học

- Nên và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học theo hướng giúp HS chủ động tiếp thu kiến thức

- Sử dụng SGK Hóa học như là nguồn tri thức để HS tự học, tự nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập thông tin và xử lí thông tin có hiệu quả

Trang 18

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 18

- Tổ chức cho HS tự học, kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ trong học tập hóa học

- Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới PPDH hóa học, đặc biệt ở những địa phương có điều kiện thực hiện

Tuy nhiên, hóa học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về sự biến đổi của các chất trên cơ sở lí thuyết hóa học và thực nghiệm hóa học Do vậy, PPDH hóa học cần phải coi trọng thực hành thí nghiệm và phát triển tư duy hóa học Điều đó được tăng cường đối với chương trình NC THPT Ví dụ: Phần tính chất hóa học cơ của amoniac, cả hai chương trình chuẩn và NC đều đưa thí nghiệm để minh họa tính khử, riêng chương trình NC có thêm thí nghiệm thể hiện tính bazơ yếu của amoniac, đó là thí nghiệm phản ứng với axit HCl

b Về đánh giá kết quả học tập của HS

- Đánh giá kết quả học tập của HS cần căn cứ vào mục tiêu môn hóa học trường phổ thông, chuẩn KT – KN cần đạt được ở mỗi cấp, mỗi lớp, mỗi chủ đề và từng loại chương trình cụ thể nhằm đảm bảo khách quan, công bằng, khả thi và hướng quá trình dạy học hóa học ngày càng tích cực hơn

- Kết hợp các hình thức đánh giá:

+ Kết hợp tự luận và trắc nghiệm khách quan

+ Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

- Nội dung đánh giá cần đảm bảo:

+ Đánh giá kiến thức về lí thuyết hóa học

+ Đánh giá kĩ năng cơ bản môn Hóa học

+ Đánh giá mức độ biết, hiểu, vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa học với một tỉ lệ thích hợp theo hướng tăng cường đánh giá khả năng vận dụng kiến thức trong học tập và cuộc sống

Trang 19

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 19

+ Đánh giá khả năng lập kế hoạch, giải quyết vấn đề trong học tập hóa học và thực tiễn đời sống

c Về việc vận dụng chương trình theo vùng miền và các đối tượng

1.1.1.7 Chương trình Hóa học 11

a Một số điểm chung của Hóa học 11 và Hóa học 11 NC

Quan điểm phát triển chương trình, đổi mới SGK, đổi mới PPDH và đổi mới KT – ĐG của Hóa học 11 và Hóa học 11 NC là không khác nhau

Nội dung Hóa học 11 và Hóa học 11 NC đều có 9 chương (Hóa đại cương và vô cơ: 3; Hóa hữu cơ: 6)

b Một số điểm khác nhau

Chương trình Hóa học 11 và Hóa học 11 NC có những khác nhau về thời lượng, mức độ KT – KN Cụ thể là:

* Về thời lượng

Chương trình Hóa học 11: 2 tiết tuần x 35 tuần = 70 tiết

Chương trình Hóa học 11 NC: 2,5 tiết tuần x 35 tuần = 87,5 tiết

Như vậy, Hóa học 11 NC được tăng thêm 17,5 tiết

* Về nội dung

- Hóa học 11 NC có thay đổi tên một số chương: chương 2 là Nhóm nitơ, chương 3 là Nhóm cacbon

- Nội dung SGK Hóa học 11 NC được mở rộng và nghiên cứu sâu hơn

về lí thuyết và thực hành (bài tập, thí nghiệm….)

Trang 20

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 20

Ví dụ: Chương 1, sự điện li được nâng cao ở các nội dung: Cơ chế của quá trình điện li, độ điện li α = n/no (0 < α ≤ 1); Cân bằng điện li; Ảnh hưởng của

sự pha loãng đến độ điện li; Khái niệm axit – bazơ theo Bronsted; Hằng số phân li axit và bazơ; Lực axit, lực bazơ

- Các chất cụ thể được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng lí thuyết cao hơn

Một số các chất vô cơ cụ thể được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng lí thuyết cao hơn về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng, cân bằng hóa học, sự điện li… Ví dụ như nội dung chương 2 và 3, thêm: Khái quát về nhóm nitơ, khái quát về nhóm cacbon; Tính chất hóa học của ammoniac có thêm nội dung khả năng tạo phức của NH3 với bazơ, muối của một số kim loại…

Một số hợp chất hữu cơ cụ thể được nâng cao, mở rộng về cấu trúc không gian, PTHH để minh họa tính chất hóa học cụ thể, phương pháp điều chế và ứng dụng Ví dụ như ở chương 5, Hiđrocacbon no, có thêm một số nội dung: Cấu trúc thêm sự hình thành phân tử ankan, cấu trúc không gian của phân tử; Bảng hằng số vật lí của ankan; Phản ứng thế: cơ chế gốc – dây chuyền; Phản ứng tách C – C và C – H; Phản ứng CH4 + O2  HCHO + H2O; PTHH điều chế CH4 từ Al4C3; Ứng dụng trình bày theo sơ đồ đầy đủ hơn

* Kĩ năng

Ngoài khác nhau về mức độ lí thuyết, mức độ sâu, rộng về kiến thức, mức độ kĩ năng, đặc biệt kĩ năng giải quyết vấn đề thông qua giải các bài tập tổng hợp được chú trọng hơn và được ghi rõ trong chuẩn KT – KN ở chương trình Hóa học 11 NC Trong khi đó ở chương trình chuẩn thường chỉ dừng ở mức độ biết và ít yêu cầu kĩ năng giải bài tập tổng hợp

Như vậy, chương trình Hóa học 11 được xây dựng theo quan điểm phân hóa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng và phát triển năng lực cho HS

Trang 21

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 21

Nhận xét

Cấu trúc chương trình hóa học THPT có tính chặt chẽ, logic và sư phạm Chương trình được cấu tạo chủ yếu theo nguyên tắc đường thẳng, có một số nội dung có cấu trúc đồng tâm với chương trình THCS nhưng có tính chất mở rộng, phát triển khái niệm trên cơ sở các kiến thức lí thuyết chủ đạo của chương trình Trong chương trình có sự sắp xếp xen kẽ nhau giữa kiến thức lí thuyết với kiến thức về các chất cụ thể, có độ phân chia các mức độ khó khăn của các nội dung kiến thức lí thuyết vẫn đảm bảo được vai trò chủ đạo của lí thuyết, logic phát triển của khái niệm và tính vừa sức trong hoạt động nhận thức của HS theo chương trình THPT chuẩn hay NC Các chủ đề gần như có tên giống hoặc tương tự nhau Nội dung đã có ở chương trình chuẩn thì chắc chắn sẽ có ở chương trình NC nhưng thường được trình bày ở mức độ lý thuyết cao hơn hoặc mở rộng hơn Ví dụ: Khái niệm về axit – bazơ

ở lớp 11, cả hai chương trình chuẩn và NC đều đề cập tới khái niệm theo Areniuyt, riêng chương trình NC còn đưa ra khái niệm theo Bronstet và ưu điểm của nó

1.1.2 SGK Hóa học

1.1.2.1 Đánh giá SGK Hóa học phổ thông

SGK là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp giáo dục của từng môn học trong chương trình giáo dục Do đó các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn SGK

a Vai trò của SGK

SGK có những vai trò chủ yếu sau:

Trang 22

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 22

- Cung cấp cho HS hệ thống KT – KN cơ bản, hiện đại, thiết thực theo những qui định của chương trình môn hóa học phổ thông

- Góp phần hình thành cho HS những phương pháp học tập tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu, hình thành và phát triển các kĩ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học

- Tạo điều kiện cho HS có thể tự kiểm tra, tự đánh giá KT – KN, tự khẳng định mình đối với môn hóa học

- Chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên, hoặc vào các trường nghề, hoặc trực tiếp lao động, tham gia các hoạt động của cuộc sống xã hội

b Những đổi mới của SGK Hóa học phổ thông

Sự trình bày của SGK Hóa học phổ thông có sự kết hợp cân đối về tư liệu, thông tin trong mỗi bài học dưới dạng kênh chữ và kênh hình, trong đó kênh hình được coi trọng hơn về số lượng và chất lượng

- Nội dung các kiến thức hóa học trong chương trình được trình bày

trong SGK dưới dạng các loại bài học hóa học như: bài học về các học thuyết, định luật hóa học và hình thành khái niệm; bài học nghiên cứu tính chất các nguyên tố, đơn chất, hợp chất vô cơ và hữu cơ quan trọng; bài học luyện tập, tổng kết kiến thức; bài học thực hành hóa học Nội dung kiến thức cho các bài

được trình bày đầy đủ, cụ thể dưới dạng các thông tin, bảng số liệu, sơ đồ…

- Các bài luyện tập được trình bày gồm hai phần: phần kiến thức cần nhớ được tóm tắt dưới dạng bảng tổng kết hoặc sơ đồ, các nội dung chính nhằm giúp HS củng cố kiến thức Phần bài tập gồm một số dạng bài tập rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức, giải các dạng bài tập Hóa học cơ bản, NC trong giờ luyện tập

- Các bài thực hành giúp HS rèn luyện kĩ năng: tiến hành các thí nghiệm đơn giản, quan sát và mô tả đầy đủ các hiện tượng trong thí nghiệm, vận dụng kiến thức giải thích hiện tượng và rút ra những nhận xét, kết luận và

Trang 23

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 23

từ đó hình thành dần các kỹ năng nghiên cứu khoa học hóa học Nội dung các bài thực hành đều trình bày đầy đủ cách tiến hành các thí nghiệm trong bài và yêu cầu quan sát, mô tả, giải thích, viết báo cáo thí nghiệm cho mỗi bài thực hành

- Bài tập hóa học được trình bày trong mỗi bài học có số lượng vừa phải, đa dạng và có sự phân hóa về mức độ nhận thức, cụ thể gồm:

+ Bài tập trắc nghiệm khách quan định tính và định lượng

+ Bài tập tự luận định tính và định lượng

+ Bài tập thực nghiệm, có nội dung thực hành, thí nghiệm hóa học

+ Một số bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, mô hình…

+ Một số bài tập có nội dung gắn với thực tiễn, đời sống

Các dạng bài tập này đều được chọn lọc đảm bảo tính khoa học, cơ bản, thực tiễn và có các bài tập dành cho HS trung bình, bài tập NC dành cho HS khá, giỏi

Nhận xét

SGK Hóa học phổ thông đã có những đổi mới đáng kể về cách trình bày, hình thức và nội dung để đáp ứng được yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông từ mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học hóa học Về cơ bản, SGK đã thể hiện được chuẩn KT – KN, nhưng vẫn có một số điểm chưa đạt Ví dụ như phần tính chất hóa học của Oxi, chương trình chuẩn yêu cầu kĩ năng quan sát thí nghiệm rút ra nhận xét về tính chất, trong khi đó SGK 10 đưa ra kết luận về tính chất hóa học của oxi trước, sau

đó đưa ra các hình ảnh thí nghiệm để minh họa Như vậy, SGK giữ vai trò là tài liệu chủ yếu để dạy – học ở các cấp học phổ thông, là tài liệu tham khảo tốt nhất nhưng chưa phải là chuẩn

1.1.2.2 Một số điểm mới trong chương trình và SGK Hóa học 11

* Cấu trúc nội dung gồm 9 chương thuộc các lĩnh vực:

Trang 24

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 24

- Kiến thức cơ sở hóa học chung: Gồm 1 chương: Sự điện li

- Hóa học vô cơ: Gồm 2 chương: Nhóm nitơ, Nhóm cacbon

- Hóa học hữu cơ: Gồm 6 chương: Đại cương hóa học hữu cơ; Hiđrocacbon no; Hiđrocacbon không no; Hiđrocacbon thơm; Dẫn xuất halogen – Phenol – Ancol; Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic

* Có sự phân hóa trong chương trình Hóa học:

Tương ứng với chương trình Hóa học và NC môn Hóa học 11, có SGK THPT Hóa học 11 và SGK 11 NC Giữa 2 chương trình và sách Hóa học 11, Hóa học 11 NC đều có 9 chủ đề nhưng khác nhau về thời lượng và mức độ nội dung

Hóa học 11 NC: - Mức độ lí thuyết: áp dụng các lí thuyết chủ đạo, định lượng hơn, bản chất hơn

- Mở rộng tính chất vật lí, hóa học và ứng dụng

- Tăng thực hành, luyện tập

* Đảm bảo một cách cơ bản tính đặc thù của bộ môn Hóa học

- Nội dung thực hành và thí nghiệm hóa học được coi trọng, là cơ sở để xây dựng kiến thức và rèn kĩ năng hóa học Cụ thể thời lượng như sau:

Lớp 11 trước đổi mới Lớp 11 phổ thông Lớp 11 THPT NC

- Tính chất hóa học của các chất được chú ý xây dựng trên cơ sở các lí thuyết chủ đạo của hóa học và được kiểm nghiệm dựa trên cơ sở thực nghiệm Hóa học Việc nghiên cứu các nhóm nguyên tố, hợp chất cụ thể được thực hiện theo qui trình:

+ Dựa trên các lí thuyết đã học về cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, liên kết hóa học, dự đoán tính chất hóa học

+ Kiểm tra dự đoán bằng thí nghiệm hoặc các thông tin đã biết

Trang 25

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 25

+ Kết luận về tính chất của chất

Đảm bảo mối liên hệ giữa cấu tạo và tính chất

1.1.3 Định hướng đổi mới PPDH hóa học THPT

1.1.3.1 Định hướng đổi mới PPDH hóa học THPT

Định hướng đổi mới PPDH hóa học trường THPT theo tinh thần dạy học tích cực

a Dạy – học tích cực trong bộ môn hóa học

Dạy – học tích cực bộ môn hóa học dựa trên cơ sở quan niệm về tích cực hóa hoạt động của HS và lấy HS làm trung tâm của quá trình dạy – học Dạy học tích cực bộ môn hóa học có những đặc điểm chung và có nét đặc thù của môn hóa học:

- Tổ chức các hoạt động nhận thức giúp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập hóa học

- Chú ý tới phương pháp nhận thức tích cực của HS, hình thành kĩ năng học tập tích cực, bồi dưỡng kĩ năng tự học để các học sinh đều được tham gia hoạt động tìm tòi phát hiện kiến thức

- Tạo điều kiện để mọi HS đều được vận dạng kiến thức để giải quyết một số vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học thông qua giải các dạng bài tập đã được qui định trong chuẩn KT – KN

- Tổ chức và tạo điều kiện để HS phát triển kĩ năng học tập hợp tác kết hợp học tập cá nhân một cách linh hoạt và có hiệu quả

- Thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập hóa học theo chuẩn KT –

KN Tạo điều kiện để HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, đánh giá quá trình và đánh giá định kì một cách linh hoạt

b Các hình thức tổ chức dạy học tích cực

Học tập trên lớp dưới sự hướng dẫn của GV theo các hình thức:

Trang 26

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 26

- Học tập cá nhân

- Học tập theo cặp

- Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ

Tự học tập ở nhà, trong thư viện, trên mạng internet

Học tập ở ngoài trường: tham quan học tập ở ngoài trời, cơ sở sản xuất,

cơ sở thực tiễn, xã hội

c Đổi mới PPDH hóa học theo hướng sử dụng một cách tổng hợp và linh hoạt các phương pháp, phương tiện dạy học cơ bản và hiện đại, đặc thù của bộ môn hóa học với các kĩ thuật thiết kế, tổ chức hoạt động dạy học hóa học giúp dạy học hóa học tích cực và có hiệu quả

Một số định hướng PPDH hóa học THPT theo hướng tích cực được chú

ý, như:

- Sử dụng thiết bị, thí nghiệm hóa học theo định hướng chủ yếu là nguồn để HS nghiên cứu, khai thác tìm tòi kiến thức hóa học Hạn chế sử dụng chúng để minh họa hình ảnh, kết quả thí nghiệm mà không có tác dụng khắc sâu kiến thức

- Sử dụng câu hỏi và bài tập hóa học không chỉ để củng cố KT – KN

mà còn là nguồn tri thức để HS tích cực, chủ động nhận thức kiến thức, hình thành kĩ năng, vận dụng các kiến thức và kĩ năng đã học

- Nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học theo hướng giúp HS không tiếp thu kiến thức một chiều Thông qua các tình huống có vấn đề trong học tập hoặc vấn đề thực tiễn giúp HS phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề

- Sử dụng SGK Hóa học như là tài liệu nguồn để HS tự đọc, tự nghiên cứu, tích cực nhận thức, thu thập và xử lí thông tin có hiệu quả

- Tổ chức cho HS tự học kết hợp với hợp tác theo nhóm nhỏ trong học tập hóa học theo hướng giúp HS có khả năng tự học, khả năng hợp tác cùng

Trang 27

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 27

học, cùng nghiên cứu để giải quyết một số vấn đề trong học tập hóa học và một số vấn đề thực tiễn đơn giản có liên quan đến hóa học

- Chú ý ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới PPDH, đặc biệt ở những địa phương có điều kiện thực hiện Thí dụ:

+ Sử dụng đĩa CD – ROM có các hình ảnh mô phỏng về một số khái niệm trừu tượng, một số thí nghiệm độc hại, khó thành công hoặc cần nhiều thời gian

+ Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng đơn giản để thiết kế bài học điện tử, hệ thống câu hỏi và bài tập… hoặc sử dụng một số phần mềm có sẵn

+ Khuyến khích HS khai thác các thông tin theo một số chủ đề có liên quan tới thực tiễn như vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, bài tập trắc nghiệm khách quan… trên mạng internet

- Chú ý áp dụng đổi mới đánh giá kết quả học tập hóa học theo hướng

sử dụng bài tập đa dạng: Bài tập lí thuyết và bài tập thực nghiệm, trắc nghiệm khách quan và tự luận, bài tập hóa học có nội dung thực tiễn

d Thiết kế kế hoạch bài học môn hóa học theo định hướng đổi mới PPDH hóa học

Bài soạn cho một tiết dạy học theo hướng dạy học tích cực được chuẩn

bị theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định mục tiêu của bài

Bước 2: Xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu

Bước 3: Chuẩn bị thiết bị dạy học

Bước 4: Thiết kế các hoạt động của GV và HS theo hướng tích cực ở

trên lớp

Bước 5: HS tự đánh giá, củng cố và vận dụng

Bước 6: Dặn dò và ra bài tập về nhà, yêu cầu HS chuẩn bị tiết học sau

nếu có

Trang 28

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 28

1.1.3.2 PPDH Hóa học 11

Hóa học 11 có đầy đủ các dạng bài của Hóa học THPT nói chung, các dạng bài có đặc điểm riêng về phương pháp và tổ chức hoạt động nhận thức của HS:

STT Loại bài Hóa học lớp 11 Định hướng phương pháp, kĩ thuật dạy học

chủ yếu

1 Bài nghiên cứu khái

niệm, định luật hóa học

cơ bản hóa đại cương,

vô cơ và hữu cơ như Sự

điện li, Axit – bazơ –

muối hay Hóa học hữu

cơ và hợp chất hữu

cơ…

- GV nêu nội dung cần tìm hiểu

- HS tìm hiểu nội dung bằng cách:

+ Nghiên cứu thí nghiệm do HS tự làm, GV biểu diễn hoặc quan sát hình ảnh thí nghiệm, thí nghiệm ảo trên đĩa hình…

- HS rút ra nhận xét

- GV bổ sung, hoàn thiện, kết luận vấn đề

2 Bài nghiên cứu tính

Trang 29

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 29

- HS kiểm tra dự đoán bằng cách:

+ Nghiên cứu thí nghiệm

cơ như Ankan, Anken,

Ankin, Anđehit –Xeton,

Axit cacboxylic…

GV nêu nội dung cần tìm hiểu và hướng dẫn

HS

HS nghiên cứu theo cá nhân, cặp, nhóm:

- Từ những thí dụ rút ra các khái niệm Phân tích các thí dụ để hiểu được các khái niệm

- Từ cấu trúc, cấu tạo phân tử, đặc điểm liên kết trong phân tử, nhóm định chức, các kiến thức đã biết suy đoán tính chất hóa học cơ bản, kiểm tra dự đoán và kết luận

- Tìm hiểu nội dung SGK để tìm các thí dụ minh họa cho tính chất Hóa học của chất

4 Bài có nội dung điều

Trang 30

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 30

- Tóm tắt thông tin về: nguyên liệu, nguyên tắc, các giai đoạn chủ yếu, biện pháp kĩ thuật

- Giải thích làm rõ mối liên hệ giữa tính chất, ứng dụng và phương pháp điều chế

- Thảo luận nhóm để hoàn thiện kết luận, viết các PTHH minh họa cho phương pháp điều chế và ứng dụng (nếu có)

5 Bài thực hành hóa học -HS tự đọc nội dung, xem lại một số thí

nghiệm đã được GV thực hiện trên lớp trong bài lí thuyết hoặc nội dung của bài lí thuyết SGK HS thảo luận theo cặp, nhóm và trình bày:

+ Mục đích, cách tiến hành, kĩ thuật thực hiện của các thí nghiệm và những điểm cần lưu ý

- GV chốt lại những điểm cần lưu ý khi tiến hành thí nghiệm và cách lắp dụng cụ, tiến hành thí nghiệm trên bảng

- Nhóm HS tiến hành thí nghiệm, quan sát, ghi hiện tượng, nhận xét

- HS báo cáo kết quả của nhóm

- HS tự đánh giá và đánh giá kết quả lẫn nhau về cách tiến hành, hiện tượng, giải thích và viết các PTHH

Ngoài nội dung thí nghiệm thực hành, có thể

Trang 31

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 31

giải một bài tập thực nghiệm để vận dụng kiến thức, kĩ năng thực hành của bài

6 Bài luyện tập cuối

chương, cuối kì, cuối

năm

GV yêu cầu HS tóm tắt nội dung kiến thức, mối liên hệ giữa các kiến thức đã học, giải bài tập vận dụng

HS tiến hành các hoạt động cá nhân, cặp, nhóm:

- Trả lời câu hỏi, giải bài tập…để rút ra kiến thức cần nhớ

- Tự làm, chữa tại lớp một số bài tập điển hình, khó ở phần bài tập

- Tiến hành giải một số bài tập thực nghiệm nếu phù hợp nội dung

GV hoàn thiện, bổ sung hoặc có những hướng dẫn, gợi ý cần thiết

GV giao phần bài tập còn lại để HS thực hiện ở nhà

Nhận xét:

Như vậy, dù là chương trình chuẩn hay NC thì định hướng đổi mới PPDH vẫn phải theo hướng dạy học tích cực và đặc thù của bộ môn hóa học, phải căn cứ vào chuẩn KT – KN của từng loại chương trình để sáng tạo PPDH cho phù hợp Với chương trình NC, nội dung được cấu trúc, sắp xếp sao cho

GV thấy thuận tiện trong việc thiết kế, tổ chức các hoạt động học tập để HS tự giác, tích cực, tự lực trong hoạt động học tập để xây dựng kiến thức, hình

Trang 32

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 32

thành kĩ năng mới và vận dụng để giải quyết một số vấn đề thực tiễn đã được

mô phỏng trong các bài tập hóa học Ngoài ra, sử dụng thí nghiệm hóa học làm nguồn kiến để nêu và giải quyết một số vấn đề đơn giản, kiểm tra các dự đoán khoa học và rút ra kết luận một cách tương đối chính xác hơn chương trình chuẩn Ví dụ: Nội dung tính chất hóa học của lưu huỳnh, SGK 10 NC đưa ra thí nghiệm S tác dụng với Al và H2 còn SGK 10 thì không Khi dạy phần này cho HS học chương trình NC, GV có thể yêu cầu HS dự đoán tính chất Hóa học của lưu huỳnh, còn HS sẽ kiểm tra dự đoán bằng cách tiến hành các thí nghiệm

- Trao đổi với 6 GV hóa học của trường THPT Yên Phong I về việc thực hiện chuẩn KT – KN trong dạy học và KT – ĐG môn hóa học

Đặt câu hỏi: Thầy, cô đã dạy học theo hướng tích cực và bám sát chuẩn

KT – KN chưa? Đã KT – ĐG theo chuẩn KT – KN chưa?

- Tìm hiểu 2 đề kiểm tra 15 phút và 2 đề kiểm tra 45 phút của 2 lớp 11A7 và 11C2

- Quan sát giáo án của GV

- Dự 45 giờ dạy của 6 GV hóa học, trong đó có 10 giờ thi GV dạy giỏi

Có 35 giờ dạy được xếp loại giỏi, 10 giờ dạy xếp loại khá

Trang 33

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 33

- So sánh giáo án và giờ dạy thực của GV

1.2.1.2 Kết quả

- Cả 6 GV được hỏi trả lời là họ đã có dạy học tích cực và KT – ĐG bám sát chuẩn KT – KN, tuy nhiên nhiều bài dạy họ cũng muốn làm thí nghiệm hóa học hay dạy máy chiếu nhưng điều kiện không cho phép (điều kiện vật chất, thời gian)

- 4 đề kiểm tra của hai lớp 11A7 và 11C2 đều là các câu hỏi trắc nghiệm, không có câu hỏi tự luận Trong đó, hầu như không có câu hỏi ở mức

độ biết, quá nhiều câu hỏi có nội dung tính toán và đề kiểm tra 15 phút của lớp 11A7 không có câu hỏi nội dung thực hành

- Giáo án của các GV soạn ngắn gọn, súc tích, cũng đã thể hiện các bước lên lớp, có các hoạt động theo hướng dạy học tích cực, bám sát chuẩn

KT - KN nhưng vẫn chưa đầy đủ Ví dụ: có nội dung chuẩn KT – KN yêu cầu giải bài tập tổng hợp nhưng giáo án lại chưa soạn đề bài dạng này

- Giờ dạy thực phần lớn theo đúng tiến trình bài học đã soạn trong giáo

án, tuy nhiên có một số bài soạn Hóa học có thí nghiệm nhưng khi dạy GV lại không làm thí nghiệm

1.2.1.3 Nhận xét chung về thực trạng dạy học và KT – ĐG môn Hóa học theo chuẩn KT – KN hiện nay

Thông qua các hoạt động giáo dục như dự giờ, quan sát việc dạy – học

ở trường phổ thông, em nhận thấy GV hóa học đã có ý thức dạy học tích cực,

KT – ĐG theo chuẩn KT – KN nhưng không nhiều và không thường xuyên, chủ yếu các giờ dạy tích cực, bám sát chuẩn KT – KN là các giờ tham gia thi

GV dạy giỏi

Hiện nay, nhiều GV chưa biết chuẩn KT – KN, dạy học chủ yếu dựa vào SGK, tài liệu tham khảo mà không nghiên cứu hoặc nghiên cứu qua loa,

Trang 34

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 34

dạy học theo kinh nghiệm và đáp ứng nhu cầu thi cử Phần lớn GV Hhóa học

“dạy chay” không làm thí nghiệm nếu đó không phải là giờ thi GV dạy giỏi, chưa dạy đầy đủ các bài thực hành mà thay vào đó là tiết luyện tập; Dạy máy chiếu nhưng không kết hợp nhịp nhàng với phấn, bảng hay cho HS hoạt động nhóm không hợp lí nên không đem lại hiệu quả như mong muốn….Ví dụ như

có giờ dạy GV cho HS hoạt động nhóm quá lâu, lại là phần không cần thiết dẫn đến “cháy” giáo án

Nhiều GV dạy học chưa theo đúng chuẩn KT – KN Ví dụ: Khi dạy bài Ankin, SGK Hóa học 11, mặc dù chuẩn KT – KN yêu cầu HS phải đạt kĩ năng dự đoán, kiểm tra và kết luận về tính chất hóa học của ankin; kĩ năng quan sát được thí nghiệm rút ra nhận xét về tính chất nhưng GV chưa giúp HS đạt được các kĩ năng như yêu cầu vì GV không cho HS dự đoán tính chất, không cho HS quan sát thí nghiệm, hình ảnh…theo hướng nghiên cứu, chỉ chủ yếu dạy theo SGK mà không theo chuẩn KT – KN

GV ra đề kiểm tra chỉ chú trọng lí thuyết, ít có nội dung thực hành thí nghiệm, ít nội dung thực tiễn Nội dung bài tập chủ yếu theo SGK, sách tham khảo nên đôi khi chưa theo đúng chuẩn KT – KN

1.2.2 Thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD – ĐT trong việc tập huấn chỉ đạo dạy học và KT – ĐG theo chuẩn KT – KN

Việc tìm hiểu thực tế dạy học ở trường phổ thông cho thấy còn nhiều

GV và tất nhiên sinh viên các trường sư phạm còn chưa hiểu về chuẩn KT –

KN Bộ GD – ĐT đã thấy rõ khó khăn của GV trong việc dạy học, KT – ĐG bám sát chuẩn KT – KN và đã có đợt tập huấn hướng dẫn thực hiện chuẩn KT – KN cho GV cốt cán toàn quốc Bộ GD – ĐT chỉ đạo: “Chuẩn KT – KN của chương trình giáo dục phổ thông vừa là căn cứ, vừa là mục tiêu của giảng dạy, học tập và KT – ĐG”

1.2.2.1 Chuẩn KT – KN là căn cứ

Trang 35

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 35

- Biên soạn SGK và các tài liệu hướng dẫn dạy học, KT – ĐG, đổi mới PPDH, đổi mới KT – ĐG

- Chỉ đạo, quản lí, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dạy học, KT – ĐG, sinh hoạt chuyên môn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí và GV

- Xác định mục tiêu của mỗi giờ học, mục tiêu của quá trình dạy học, đảm bảo chất lượng giáo dục

- Xác định mục tiêu KT – ĐG đối với từng bài kiểm tra, bài thi; đánh giá kết quả giáo dục từng môn học, lớp học, cấp học

1.2.2.2 Tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT – KN được biên soạn theo

hướng chi tiết các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về KT – KN của chuẩn KT – KN bằng các nội dung chọn lọc trong SGK Tài liệu giúp các cán bộ quản lí giáo dục, các cán bộ chuyên môn, GV, HS nắm vững và thực hiện đúng theo chuẩn

KT – KN

1.2.2.3 Yêu cầu dạy học bám sát chuẩn KT – KN

- Căn cứ chuẩn KT – KN để xác định mục tiêu bài học

- Sáng tạo về PPDH phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của HS

- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và HS, giữa HS và

HS

- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống

- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học được trang bị hoặc do GV và HS tự làm; quan tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Trang 36

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 36

- Dạy học chú trọng đến việc động viên, khuyến khích kịp thời sự tiến

bộ của HS trong quá trình học tập; đa dạng nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá

1.2.2.4 Yêu cầu KT – ĐG bám sát chuẩn KT – KN

* Hai chức năng cơ bản của KT – ĐG

- Chức năng xác định: Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện

mục tiêu dạy học, xác định mức độ thực hiện chuẩn KT – KN của chương trình giáo dục mà HS đạt được khi kết thúc một giai đoạn học tập Xác định đòi hỏi tính chính xác, khách quan, công bằng

- Chức năng điều khiển: phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó

khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông qua việc đổi mới, tối ưu hóa PPDH của GV và hướng dẫn HS biết tự đánh giá để tối ưu hóa phương pháp học tập

* Yêu cầu KT – ĐG

- KT – ĐG phải căn cứ vào Chuẩn KT – KN của từng môn học ở từng

lớp; các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về KT – KN của HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học

- Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của nhà trường; tăng cường đổi mới khâu KT – ĐG thường xuyên,

Trang 37

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 37

định kì; đảm bảo chất lượng KT – ĐG chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhưng cũng không gây áp lực nặng nề

- Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương của các đề kiểm tra, thi Kết hợp thật hợp lí các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt; phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức

- Đánh giá chính xác, đúng thực trạng; không đánh giá cao hơn thực tế nhưng cũng không đánh giá khắt khe

- Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của

HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót

- Khi đánh giá kết quả học tập, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà cần chú ý cả quá trình học tập

- Chú trọng phương pháp, kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ HS để đánh giá quá trình dạy học

- Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và đánh giá định lượng

- Kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài

- Phải là động lực thúc đẩy đổi mới PPDH

* Các tiêu chí của KT – ĐG

- Đảm bảo tính toàn diện: Đánh giá được các mặt kiến thức, kĩ năng,

năng lực, ý thức, thái độ, hành vi của HS

- Đảm bảo độ tin cậy: Tính chính xác, trung thực, khách quan, công

bằng trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của HS, của các cơ sở giáo dục

- Đảm bảo tính khả thi: Nội dung, hình thức, cách thức, phương tiện tổ

chức KT – ĐG phải phù hợp với điều kiện HS, cơ sở giáo dục, đặc biệt là phù hợp với mục tiêu môn học

Trang 38

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 38

- Đảm bảo yêu cầu phân hóa: Phân loại được chính xác trình độ, mức

độ, năng lực nhận thức của HS, cơ sở giáo dục; cần đảm bảo dải phân hóa rộng đủ cho phân loại đối tượng

- Đảm bảo hiệu quả: Đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá

HS, cơ sở giáo dục; thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tạo động lực đổi mới PPDH, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Như vậy, đổi mới PPDH và đổi mới KT – ĐG bám sát chuẩn KT – KN

là hai mặt thống nhất hữu cơ của quá trình dạy học, là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học

1.3 Kết luận chương 1

Như vậy, chương 1 đã nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Về cơ sở lí luận, đã tìm hiểu những điểm mới trong chương trình hóa học phổ thông, một số điểm khác biệt giữa chương trình chuẩn và chương trình NC nói chung và chương trình hóa học 11 nói riêng; Vai trò, những đổi mới của SGK Hóa học hiện hành; Định hướng đổi mới PPDH hóa học ở trường THPT, đi sâu vào PPDH hóa học 11 Về cơ sở thực tiễn, đã tìm hiểu thực tiễn dạy học, KT – ĐG môn hóa học theo chuẩn KT – KN ở các trường THPT hiện nay và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD – ĐT trong việc tập huấn chỉ đạo dạy học, KT – ĐG theo chuẩn KT – KN

Trang 39

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 39

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU SO SÁNH CHƯƠNG TRÌNH, SGK, SGV HÓA HỌC 11 PHẦN ANĐEHIT – XETON –

8 tiết (tăng 1 tiết lí thuyết)

- Anđehit và xeton nghiên cứu song song

- Nghiên cứu trong 1 bài

2 tiết

- Nghiên cứu trong 2 bài: 1 bài 1 tiết, 1 bài 2 tiết

- Chung cả 3 hợp chất trong 1 bài, theo các nội dung: định nghĩa, tính chất, điều chế

- Riêng:

+Anđehit và xeton 1 bài (1 tiết): dạng bảng so sánh anđehit với xeton

về cấu trúc, liên kết

Trang 40

Đinh Thị Tuyết Mai – Lớp K33D – Khoa Hóa học 40

+ Axit cacboxylic 1 bài (1 tiết): Kiến thức cần nắm vững đƣợc thiết

kế dạng sơ đồ

- Phản ứng axit cacboxylic với quỳ tím, natri cacbonat

- Phản ứng đặc trƣng của anđehit và axit cacboxylic: nhận biết chất

2 Định nghĩa:

- Anđehit là những hợp

chất hữu cơ mà phân tử

có nhóm chức –CHO

liên kết trực tiếp với

nguyên tử cacbon hoặc

Ngày đăng: 28/11/2015, 17:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thành  kĩ  năng, - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
nh thành kĩ năng, (Trang 64)
Hình  dung  đặc  điểm  cấu  tạo của nhóm – CHO. - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
nh dung đặc điểm cấu tạo của nhóm – CHO (Trang 70)
Bảng 1: Kết quả kiểm tra chương trình NC. - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
Bảng 1 Kết quả kiểm tra chương trình NC (Trang 112)
Bảng 2: Kết quả kiểm tra chương trình chuẩn: - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
Bảng 2 Kết quả kiểm tra chương trình chuẩn: (Trang 114)
Bảng 3: Phiếu quan sát HS ở lớp thử nghiệm và lớp đối chứng - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
Bảng 3 Phiếu quan sát HS ở lớp thử nghiệm và lớp đối chứng (Trang 117)
Bảng 2: Kết quả kiểm tra chương trình chuẩn - Nghiên cứu so sánh nội dung và phương pháp dạy học hóa học 11 trường THPT phần anđehit   xeton   axit cacboxylic
Bảng 2 Kết quả kiểm tra chương trình chuẩn (Trang 152)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w