Trong số các vật liệu sử dụng để để loại bỏ chất màu như: than hoạt tính, đất sét, tro bay, polysacarit… thì chitin/chitosan và dẫn xuất của nó được cho là vật liệu có khả năng hấp phụ t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Trần Thị Ý
Nhi – Viện Hóa Học – Viện Khoa Học và công nghệ Việt Nam đã tận tình
hướng dẫn và truyền đạt cho tôi các phương pháp nghiên cứu khoa học và
những kinh nghiệm học thuật quý báu trong quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời tôi xin cảm ơn thầy giáo Lê Cao Khải, cùng toàn thể các
thầy cô giáo trong khoa Hóa Học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, đã tạo
điều kiện cho tôi được tiếp thu những kiến thức chuyên môn về hóa học hữu
cơ và công nghệ môi trường để tôi có thể hoàn thành bài luận văn
Sinh viên
Lê Thị Minh Phượng
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 10
1.1 Giới thiệu chung 10
1.1.1 Cấu trúc tinh thể 11
1.1.2 Tính tan 11
1.1.3 Khối lượng phân tử 12
1.1.4 Phương pháp điều chế chitin/chitosan 14
1.1.5 Tính chất hoá học 18
1.1.6 Một số sản phẩm biến tính chitin/chitosan 21
1.2 Ứng dụng của chitin/chitosan và dẫn xuất 29
1.2.1 Ứng dụng trong y dược 29
1.2.2 Ứng dụng trong nông nghiệp 29
1.2.3 Ứng dụng trong xử lí môi trường 30
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 40
2.1 Nguyên liệu, hóa chất, dụng cụ và thiết bị nghiên cứu 40
2.1.1 Nguyên liệu, hóa chất 40
2.1.2 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 40
2.2 Thực nghiệm 41
2.2.1 Điều chế chitin/chitosan 41
2.2.2 Điều chế dẫn xuất N-(4-metoxybenzyliđen) chitosan 44
Trang 32.2.3 Khả năng hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính của chitosan và dẫn xuất
45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Điều chế chitin/chitosan 47
3.1.1 Điều chế chitin 47
3.1.2 Điều chế chitosan từ chitin theo phương pháp kiềm đặc kết hợp nhiệt độ cao 48
3.1.3 Điều chế chitosan có DA thấp 52
3.2 Tổng hợp dẫn xuất N-(4-metoxy benzyliđen) chitosan 56
3.2.1 Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-(4-metoxy benzyliđen) chitosan 56 3.2.2 Khảo sát phản ứng bằng phổ hồng ngoại (FT- TR) 58
3.2.3 Khảo sát bằng phổ X-Ray 59
3.2.4 Khảo sát sản phẩm phản ứng bằng TGA 60
3.2.5 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các dẫn xuất 61
3.2.5.2 Ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan đến hiệu suất phản ứng 61
3.2.5.3 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất phản ứng 62
3.2.5.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu suất phản ứng 63
3.3 Khảo sát khả năng hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính của chitosan và dẫn xuất 64
3.3.1 Ảnh hưởng của pH 64
3.3.2 Ảnh hưởng của nồng độ RB19 64
3.3.3 Ảnh hưởng của thời gian 65
KẾT LUẬN CHUNG 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Phổ hồng ngoại của β-chitin 47
Hình 3.2: Phổ hồng ngoại của –chitosan 49
Hình 3.3: Phổ 1 -NMR của β-chitosan 50
Hình 3.4: Giản đồ nhiễu xạ tia X của chitosan 50
Hình 3.5: Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa /C và nồng độ chitosan 51
Hình 3.6: Phổ FT-IR của -chitosan theo phương pháp phá kết tinh 52
Hình 3.7: Phổ 1H-NMR của –chitosan deaxetyl hoá hoàn toàn 53
Hình 3.8: Phổ 13C-NMR của –chitosan deaxetyl hoá hoàn toàn 54
Hình 3.9: Giản đồ nhiễu xạ tia X của chitosan điều chế theo
phương pháp phá kết tinh 55
Hình 3.10: Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa /C và C 56
Hình 3.11: Phổ hồng ngoại của N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan 58
Hình 3.12: Giản đồ nhiễu xạ tia X của chitosan và dẫn xuất N(4-metoxybenzyliđen)chitosan 59
Hình 3.13: Giản đồ phân tích nhiệt của chitosan (mẫu 1) và 4MBCh (mẫu 2). 60
Hình 3.14 : Ảnh hưởng của tỷ lệ nhóm alđehyt/amin đến hiệu suất phản ứng tổng hợp 4MBCh 61
Hình 3.15: Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất phản ứng tổng hợp các dẫn xuất của chitosan 62
Hình 3.16: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu suất phản ứng tổng hợp hợp dẫn xuất N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan 63
Hình 3.17: Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính RB19 adsorption 64
Hình 3.18: Ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm 65
Hình 3.19: Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính RB19 65
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần chính của một số nguyên liệu chứa chitin 42
Bảng 3.1 : Hàm lượng β-chitin trong mai mực ống 47
Bảng 3.2: Độ chuyển dịch hoá học của proton (1H) của chitosan 49
Bảng 3.3: Kết quả đo áp suất thẩm thấu của chitosan tại các nồng độ khác nhau 51
Bảng 3.4: Độ chuyển dịch hóa học của proton (1H) của chitosan 53
Bảng 3.5: Độ dịch chuyển hóa học cacbon (13C) của Chitosan 54
Bảng 3.6: Kết quả đo áp suất thẩm thấu của chitosan DA 0 55
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan đến hiệu suất tổng hợp dẫn xuất N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan 62
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Cấu tạo của Xenlulozo, Chitin, Chitosan 10
Sơ đồ 1.2: Điều chế chitosan 16
Sơ đồ 1.3: Quá trình sản xuất chitin / chitosan truyền thống 17
Sơ đồ 1.4: Công thức cấu tạo của chitin/chitosan 19
Sơ đồ 1.5: Phản ứng deaxetyl hóa chitin 20
Sơ đồ 1.6: Quá trình thuỷ phân chitosan bằng HCl 21
Sơ đồ 1.7: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-ankyl chitosan 22
Sơ đồ 1.8: Phản ứng ankyl hóa-khử của chitosan 22
Sơ đồ 1.9: Phản ứng ankyl hóa-khử của chitosan 23
Sơ đồ 1.10: Phản ứng điều chế chitosan liên kết ngang với glutaranđehyt 23
Sơ đồ 1.11: Phản ứng tổng hợp N,N,N-trimetyl chitosan 24
Sơ đồ 1.12: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan 24
Sơ đồ 1.13: Quá trình tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan 24
Sơ đồ 1.14: Cacboxy hóa chitosan trong môi trường axit levulinic 25
Sơ đồ1.15: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan đi từ chitosan có độ đeaxetyl hoá cao với axit monocloankanoic 26
Sơ đồ 1.16: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan đi từ chitosan và hợp chất có gốc hiđrocacbon không no chứa liên kết đôi trong môi trường axit 26
Sơ đồ 1.17: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất O- axyl chitosan 27
Sơ đồ 1.18: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất O-cacboxyankyl chitosan 28
Sơ đồ 1.19: Phản ứng deaxetyl hoá glycol-chitin 28
Sơ đồ 3.1: Phản ứng đeaxetyl hóa chitin 48
Trang 7BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Độ đề axetyh hóa
Độ axetyl hóa N,N’-đimetyl axetamit
Độ polymer hóa trung bình D-glucosamin
N-axetyl-D-glucosamin Hồng ngoại
Lactic axit bacterial Khối lượng phân tử trung bình
CH3 Nuclear Magnetic Resonance - Cộng hưởng từ hạt nhân N-metyl-2-pyroliđon
Trang 8
MỞ ĐẦU
Chitin [poly-β-(1→4)-2-axetamiđo-2-đeoxy-D-glucopyranozơ], một
polysacarit với hàm lượng đứng hàng thứ hai trong tự nhiên sau xenlulozo, là
thành phần chính của vỏ các loài động vật giáp xác như: vỏ tôm, mai cua, mai
mực Chitosan là dẫn xuất của chitin thu được trong quá trình deaxetyl hóa
Chitin/chitosan có các tính chất đặc biệt như: kháng khuẩn, kháng nấm, chống
viêm, kháng virut, không độc, có tính hòa hợp sinh học và phân hủy sinh học
nên chúng được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực như: y học, dược phẩm, nông
nghiệp, mỹ phẩm, công nghệ môi trường [1,2]
Dệt nhuộm nước ta là ngành công nghiệp có mạng lưới sản xuất rộng lớn
với nhiều mặt hàng, nhiều chủng loại và có những bước phát triển mạnh mẽ
trong những năm gần đây Tuy nhiên, hàng năm ngành dệt nhuộm sử dụng
hàng triệu tấn thuốc nhuộm để nhuộm vải và tạo ra lượng lớn nước thải chứa
nhiều chất độc hại, màu của thuốc nhuộm còn làm mất vẻ mỹ quan của môi
trường nước Hơn thế nữa, trong môi trường kỵ khí, một số loại thuốc nhuộm
sẽ bị khử tạo thành những vòng amin thơm, đây là những loại chất độc gây ra
ung thư và biến dị cho người và động vật Các phương pháp xử lý nước thải dệt
nhuộm được áp dụng phổ biến là phương pháp hóa học (trung hòa, oxy hóa
khử bằng clo hoặc ozon), phương pháp sinh học, phương pháp hóa lý, công
nghệ màng điện hóa, hấp phụ Trong số các vật liệu sử dụng để để loại bỏ chất
màu như: than hoạt tính, đất sét, tro bay, polysacarit… thì chitin/chitosan và
dẫn xuất của nó được cho là vật liệu có khả năng hấp phụ thuốc nhuộm tốt và
có thể tái sử dụng Vì vậy, trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành dệt nhuộm
và yêu cầu khắt khe về xử lý nước thải tránh gây ô nhiễm môi trường trong
Trang 9những năm gần đây, việc tìm ra công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm đạt hiệu
quả cao, giá thành rẻ, ít sử dụng hóa chất, có tính sinh thái, thân thiện với môi
trường đã trở thành vấn đề cấp thiết
Nước ta có bờ biển dài hơn 3000km, với nguồn nguyên liệu thủy, hải sản
dồi dào, việc phát triển nghiên cứu về chitin/chitosan cũng như dẫn xuất của nó
nhằm mở rộng hơn nữa khả năng ứng dụng của loại vật liệu sinh học này đang
là mối quan tâm của khoa học Việt Nam Để góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn phế thải thủy, hải sản ở trong nước và góp phần vào công cuộc bảo
vệ môi trường, mục tiêu của luận văn đặt ra là:
Tách chitin từ mai mực ống vùng biển Hải Phòng và điều chế
-chitosan
- Tổng hợp dẫn xuất N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan Khảo sát các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tổng hợp các dẫn xuất
N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan: tỷ lệ mol alđehyt/amin, nhiệt độ, thời gian phản
ứng, khối lượng phân tử của -chitosan
- Nghiên cứu khả năng hấp thụ thuốc nhuộm hoạt tính màu xanh RB19
của dẫn xuất N-(4-metoxybenzyliđen)chitosan
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu chung [1,3,24,34]
Trong số các polysaccarit thì xenlulozo và chitin là nguồn tài nguyên
sinh học tự nhiên phong phú nhất Xenlulozo được tổng hợp từ thực vật còn
chitin được tổng hợp chủ yếu từ động vật bậc thấp Chitin có cấu trúc tương tự
như xenlulozo, tên gọi "chitin" xuất phát từ tiếng Hilap "chiton" nghĩa là vỏ của
các loài giáp xác như tôm, cua, mai mực
Chitin được đánh giá là loại vật liệu có tiềm năng lớn nhưng cho đến nay
việc ứng dụng chitin vẫn chưa rộng rãi như xenlulozo Chitin là một polyme
sinh học với nhiều tính chất quý báu như khả năng phân huỷ sinh học và đặc
biệt là có hoạt tính sinh học nên nó không chỉ là nguồn tài nguyên sẵn có mà nó
còn là một loại vật liệu chức năng mới
Trang 11Trong thực tế chitin và chitosan cùng tồn tại trong một phân tử polyme
vì vậy khái niệm chitin, chitosan chỉ là tương đối Khi polyme có tỷ lệ mắt xích
β(1→4)-D-glucozamin lớn hơn 50% (DDA>50% ) thì được gọi là chitosan và
ngược lại là chitin
1.1.1 Cấu trúc tinh thể [1,3,71]
Chitin là một loại polisaccarit mạch thẳng với khối lượng phân tử lớn
được tạo thành bởi mắt xích N-axetyl-D-glucozamin theo liên kết (1 4)
glucozit như kiểu liên kết các mắt xích D-glucozo ở xenlulozo Bằng phương
pháp nhiễu xạ tia X đã phát hiện chitin có 3 kiểu đa hình là: , , -chitin được
mô tả theo hình sau:
Chitin Chitin Chitin
- -chitin: có cấu trúc tinh thể mạng ghép đôi song song (một mạng
lên một mạng xuống liền nhau), -chitin thường được tách từ vỏ cua
- -chitin: các mạch ghép trong tinh thể theo cách ghép song song cùng
chiều, -chitin chủ yếu có trong mai mực nang sừng
- -chitin: có mạch ghép trong tinh thể theo 2 cách cứ 2 mạch song
song lại có 1 mạch đối song, -chitin được tách từ sợi kén của bọ cánh cứng,
dạ dày của mực ống, là loại có trữ lượng ít nhất
1.1.2 Tính tan [34,62]
Vì có liên kết hiđro chặt chẽ giữa các phân tử nên chitin thể hiện ái lực
hạn chế với phần lớn các dung môi Chitin thường ( -chitin) không tan và hầu
như không trương trong dung môi thông dụng mà chỉ tan trong một số dung
môi đặc biệt, ví dụ: N,N-đimêtylaxetamit (DMAC) có chứa 5-10% LiCl
Chitosan là một polyamin không tan trong nước cũng như dung môi hữu cơ
Trang 12nhưng tan trong môi trường axit loãng Độ tan của chitosan phụ thuộc vào loại
axit và nồng độ axit trong dung dịch Khi xử lý chitin/chitosan trong môi
trường axit mạnh với nồng độ lớn thường xảy ra phản ứng depolyme hoá (cắt
mạch) làm giảm khối lượng phân tử polyme
1.1.3 Khối lượng phân tử [34]
Khối lượng phân tử của chitin/chitosan là thông số quan trọng nhưng
khó có thể xác định được chính xác do tính tan kém của chúng và sự đa dạng
về kiểu phân bố các nhóm axetyl cũng như mức độ axetyl hoá
Khối lượng phân tử của chitin tự nhiên, càng khó xác định vì nó tồn tại ở
dạng liên kết chặt chẽ với protein, muối khoáng cũng như hầu hết các chất
màu Hơn nữa độ dài mạch chính của chitin/chitosan có thể giảm trong quá
trình xử lý với axit và kiềm Khối lượng phân tử chitin sau khi tách khỏi
protein cũng như các chất khác được tính toán theo các phương pháp đo độ
nhớt, tán xạ ánh sáng, sắc ký thẩm thấu gel (GPC- gel Permeation
Chomatography) hoặc sắc ký loại trừ theo độ lớn phân tử (SEC- Site Exlusion
Chomatography) trong dung môi DMAc/LiCl Tán xạ ánh sáng là phương pháp
xác định trực tiếp khối lượng phân tử Kết hợp các phương pháp SEC, tán xạ
ánh sáng và đo độ nhớt thì có thể xác định được chính xác khối lượng phân tử
trung bình và độ phân bố của khối lượng phân tử Từ các số liệu thu được từ
phương pháp PC đã khẳng định các mẫu chitin tách từ mai cua, vỏ tôm và mai
mực ống có độ polyme hoá (degree of polymeizaion-DP) nằm trong khoảng
2000-4000 Chitosan tan được trong dung dịch axit loãng và khối lượng phân
tử có thể xác định theo phương pháp sắc ký lỏng cao áp ghép nối với cột loại
trừ theo độ lớn phân tử (SE - HPLC - size exlusion high performance
liquidchromatography) GPC - HPLC, GPC, phương pháp đo độ nhớt cũng
có thể chuyển hoá chitosan thành chitin qua phản ứng N-axetyl hoá và khối
lượng phân tử được tính theo phương pháp GPC trong hệ dung môi
DMAc/LiCl.Trong đó phương pháp đơn giản nhất để xác định khối lượng phân
Trang 13tử polime là xác định theo phương pháp gián tiếp qua phép đo độ nhớt Phép đo
độ nhớt không phải là phương pháp tuyệt đối để xác định khối lượng phân tử
mà chỉ là phương pháp tương đối dựa trên cơ sở độ nhớt của dung dịch polyme
tăng tỉ lệ với số lượng các phân tử thêm vào
Phương pháp đo áp suất thẩm thấu là phương pháp dựa trên định luật
Vant-Hoff Theo định luật này, sự phụ thuộc giữa áp suất thẩm thấu P, thể tích
V và nhiệt độ tuyệt đối T và số gam phân tử của vật chất trong dung dịch pha
loãng được biểu diễn bằng phương trình trùng với dạng phương trình của dạng
khí lí tưởng:
PV= nRT = (g/M)RT
P = (g/V)(RT)/M
M = (RTC)/P Trong đó: g: Khối lượng của chất hòa tan (g)
M: Khối lượng phân tử của chất (g/mol) C: Nồng độ của dung dịch
R: Hằng số T: Nhiệt độ tuyệt đối Khối lượng phân tử trung bình của chitosan được xác định như sau: Pha
dung dịch chitosan có các nồng độ lần lượt 0,025; 0,05; 0,1; 0,2; 0,4 (g/100 ml)
trong dung môi axetic axit 1% ở nhiệt độ 35oC Lập bảng giá trị sự phụ thuộc
của áp suất thẩm thấu ( ) vào nồng độ (C), xây dựng đường biểu diễn sự phụ
thuộc của /C vào C để tìm giá trị ngoại suy của /C khi C 0 Thay vào
phương trình {2.5} để tính toán được khối lượng phân tử trung bình số
848 x (T + 273)
( /C) x Tỷ trọng của dung môi
C 0
Trang 14/C (C 0) : giá trị ngoại suy của /C khi C 0
1.1.4 Phương pháp điều chế chitin/chitosan [10,30]
Chitin có ở nhiều loài khác nhau, từ các loài nấm đến các động vật bậc
thấp Vỏ của các loài động vật chân đốt là nguồn nguyên liệu chính để điều chế
chitin, trong thành phần của vỏ các loài động vật này có chứa 20 - 50 % chitin
tính theo khối lượng khô Vỏ tôm, mai cua là nguồn nguyên liệu phế thải từ
công nghiệp chế biến thuỷ sản, hải sản được sử dụng để sản xuất chitin thương
mại Các nguồn nguyên liệu khác để sản xuất chitin là: mai mực, sâu bọ, tảo,
nấm Thành tế bào một số loại nấm chứa cả chitin cũng như chitosan và được
coi là nguồn chitosan tự nhiên Chitosan được điều chế bằng cách thực hiện
phản ứng deaxetyl hoá chitin trong môi trường kiềm
1.1.4.1 Tách chitin từ vỏ phế thải thuỷ hải sản [1,30,31]
Nguyên tắc chung để điều chế chitin là loại bỏ muối khoáng (chủ yếu là
canxicacbonat), protein và các chất màu ra khỏi phế liệu thuỷ, hải sản Hai
phương pháp chủ yếu được áp dụng để tách chitin/chitosan là phương pháp hoá
học và phương pháp lên men vi sinh vật
Theo phương pháp hoá học: Quá trình điều chế chitin được thực hiện
theo các bước: tách khoáng, tách protein và khử màu Muối khoáng thường
được tách ra bằng cách xử lý nguyên liệu với dung dịch axit HCl, protein bị
thuỷ phân trong môi trường kiềm, chất màu được loại bỏ bằng dung môi hoặc
Trang 15tác nhân oxi hoá Trong quá trình xử lý, một số nhóm axetamit trong các mạch
đại phân tử chitin bị thay thế bởi nhóm amino do phản ứng deaxetyl hoá, vì vậy
chitin sau khi xử lý có độ deaxetyl hoá trung bình ~ 0,1
Điều chế chitin theo phương pháp hoá học có một số mặt hạn chế như
phải sử dụng một lượng lớn kiềm, axit, nước rửa do đó chi phí lớn và gây ô
nhiễm môi trường Việc sử dụng axit và kiềm nóng dẫn đến việc cắt giảm mạch
chitin tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau
Theo phương pháp xử lý vi sinh vật: Protein được tách khỏi vỏ các loài
giáp xác bằng cách xử lý với ezim hay vi sinh vật theo nguyên tắc: vi khuẩn
sinh ra axit lactic (LAB: lactic acid bacterial) tự có trong phủ tạng của vỏ phế
thải (vỏ tôm, cua, mai mực ) với một lượng rất nhỏ cùng với nguồn LAB
thuần chủng được bổ sung có tác dụng bảo quản và thuỷ phân phế thải Hỗn
hợp lên men bao gồm: vỏ phế thải, LAB, dung dịch glucozo Trong quá trình
lên men, LAB sản sinh ra axit lactic làm giảm pH của môi trường, tạo điều kiện
cho quá trình thuỷ phân protein, thuỷ phân khoáng tạo thành các lactat canxi,
magiê là các muối tan được trong nước Bằng phương pháp ly tâm, phần
dung dịch lỏng chứa protein và các muối khoáng hoà tan được loại bỏ thu được
phần chitin không hoà tan Để có chitin sạch, có thể xử lý tiếp bằng dung dịch
axit và kiềm loãng
Phương pháp điều chế chitin bằng phương pháp lên men vi sinh vật có
một số ưu điểm như chi phí thấp, cấu trúc sản phẩm không bị thay đổi nhiều và
đặc biệt là ít gây ô nhiễm môi trường
β-chitin được sản xuất chủ yếu từ mai mực ống theo cách đơn giản hơn
vì thành phần của mai mực ống chủ yếu là chitin, hàm lượng protein và muối
khoáng thường rất thấp Hơn nữa, do sự sắp xếp các mạch đại phân tử trong
`β- chitin khác hẳn với -chitin nên -chitin có các liên kết hyđro chặt chẽ hơn,
vì vậy khi xử lý mai mực ống với axit và kiềm thường ở điều kiện êm dịu hơn
Trang 16nhiều so với xử lý vỏ tôm để thu được β- chitin
1.1.4.2 Điều chế chitosan [31]
Chitosan là sản phẩm deaxetyl hoá của chitin Chitosan thương mại có
nhiều loại với độ deaxetyl hoá khác nhau nhưng thường được điều chế bằng
cách deaxetyl hoá chitin trong môi trường kiềm nồng độ 40-50 % ở 100-1300
C trong 24 giờ Phản ứng deaxetyl hoá xảy ra như sau:
O
NH2
OH O
Sơ đồ 1.2: Điều chế chitosan
Chitosan thu được theo phương pháp này có DDA lên tới 90% Để thu
được chitosan có độ deaxetyl hoá cao hơn phải tiến hành phản ứng lặp đi lặp lại
nhiều lần Phản ứng deaxetyl hoá βchitin diễn ra dễ dàng hơn nhiều so với
-chitin: Từ các mẫu -chitin, β-chitin có DDA tương đương nhau tiến hành
phản ứng deaxetyl hoá trong NaOH 30% ở 1000C với thời gian như nhau (2
giờ) thu được β-chitosan với DDA 70% trong khi đó đối với α-chitin giá trị đó
là 20% Tuy nhiên khi sử dụng dung dịch kiềm đặc thì bên cạnh phản ứng
deaxetyl hoá còn xảy ra phản ứng thuỷ phân mạch chitin/chitosan làm giảm
đáng kể khối lượng phân tử của chitin/chitosan
Ta có thể mô tả quá trình điều chế chitosan từ vỏ mai mực ống qua sơ đồ 1.3:
Trang 17Sơ đồ 1.3: Quá trình sản xuất chitin / chitosan truyền thống
1.1.4.3 Độ axetyl hóa- Xác định độ axetyl/ deaxxetyl hóa [7,9,13,20,24,28,
40,50,58,68,76]
Độ axetyl hoá là hàm lượng nhóm (-NHCOCH3) còn độ deaxetyl hoá là
hàm lượng nhóm (-NH2) trong chitin và chitosan Mắt xích cơ sở của chitin là
N-axetyl-D-glucosamin (GlcNAc) Mặc dù hầu hết các nhóm amino gắn với C2
đã bị axetyl hoá, nhưng trong tự nhiên chitin vẫn tồn tại một số nhóm amino tự
do Hơn nữa, phản ứng deaxetyl hoá chitin còn xảy ra trong quá trình tách loại
protein bằng kiềm Vì vậy, các mẫu chitin trên thực tế có DDA khác nhau
(khoảng 5-15 %) phụ thuộc vào nguồn gốc và cách điều chế chúng Để thu
được chitin có cấu trúc thuần nhất ( chỉ gồm các mắt xích GlcNAc) thì phải tiến
hành N- axetyl hoá chọn lọc các nhóm amino tự do Khi chitin bị deaxetyl hoá
đáng kể thì trở nên tan trong dung dịch axit axetic loãng và được gọi là
Trang 18chitosan
O O HO
NHCOCH3
OH
DA
O O HO
NH2OH
DDA
Trong đó, DDA = 100 - DA Đối với chitin thì DA > DDA, đối với chitosan thì
DA < DDA Khi DA = DDA thì có chitin tan trong nước
Tính chất của chitin cũng như chitosan phụ thuộc rất nhiều vào độ
deaxetyl hoá (DDA)- một thông số quan trọng nhất để chỉ ra là chitin hay
chitosan Vì vậy, việc tìm ra phương pháp xác định DDA (hay DA) một cách
chính xác và đơn giản là vấn đề rất quan trọng và cần thiết Có rất nhiều
phương pháp đã được áp dụng để xác định DDA của chitin/chitosan như: phân
tích nguyên tố, các phương pháp phổ như phổ hồng ngoại (IR), phổ tử ngoại
(UV), phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NRM):1 -NRM,13C-NRM, và 15 -NRM
ở trạng thái rắn, phép đo lưỡng sắc cầu, phổ khối, chuẩn độ điện thế, chuẩn độ
nitrat (phương pháp chuẩn độ sử dụng bạc nitrat), chuẩn độ với axit picric,
chuẩn độ độ dẫn, sắc ký lỏng cao áp, sắc ký khí-lỏng, sắc ký thẩm thấu gel,
nhiệt phân-sắc ký khí, sắc ký khí
Trong các phương pháp xác định DA đã được áp dụng thì phổ IR là
phương pháp thuận tiện đặc biệt trong trường hợp mẫu ở trạng thái rắn, không
hoà tan trong các dung môi Đối với chitosan (tan trong môi trường axit loãng)
thì phổ 1 -NRM là phương pháp nhanh, chính xác và có độ nhạy cao, đo trong
dung môi D2O, CD3COOD/D2O hoặc DCl /D2O
1.1.5 Tính chất hoá học [1,6]
Công thức tổng quát của chitin là: C8 13 5 n
Trang 19Sơ đồ 1.4: Công thức cấu tạo của chitin/chitosan
Ta thấy trong mỗi mắt xích của chitin/chitosan vừa có nhóm chức (-OH)
vừa có nhóm chức amin (-NHCOCH3/NH2) nên có ba trung tâm phản ứng
chính, vì vậy nó vừa có tính chất của ancol lại vừa có tính chất của amin
1.1.5.1 Phản ứng ở nhóm - OH
Cũng giống như ancol đa chức tính axit của nhóm hyđroxyl khá mạnh
Chitin phản ứng với Na, NaOH tạo thành hợp chất có cấu trúc ancolat được gọi
là chitin kiềm
[C6H7O3NHCOCH2(OH)2]n+2nNaOH [C6H7O3NHCOCH2(ONa)2]n+2n H2O
Chitin kiềm là sản phẩm trung gian khi sản xuất ete như ankyl chitin
[C6H7O3NHCOCH2(ONa)2]n kí hiệu là [Chit(ONa)2]n
[Chit(ONa)2]n + 2n RX [Chit(OR)2]n + 2 NaX
Sợi ankyl chitin được tạo ra bằng cách xử lý ankyl chitin trong dung dịch axit
formic và axit axetic rồi cho kéo sợi qua một ống có đường kính nhỏ cỡ mm
+ Phản ứng với axit, anhiđric axetic hay HCl thu được sản phẩm ở dạng este
[Chit(OH)2]n + 2n HCl [Chit(OCl)2]n + 2n H2O + Phản ứng với ankyl sunfat trong ankyl halogenua thu được các este
+ Phản ứng với các hợp chất vinyl tạo este
Trong mỗi mắt xích của chitin có 2 nhóm - OH ở C3 và C6, đều có khả năng
tham gia phản ứng Do cấu trúc phân tử, nhóm -OH bậc 2 ở C3 bị án ngữ không
gian nên phản ứng kém hơn nhóm -OH bậc 1 ở C6
1.1.5.2 Phản ứng ở nhóm axetamit
Chitin có khả năng tham gia phản ứng thể hiện tính chất của amin bậc 2
Trang 20như phản ứng đeaxetyl hoá tạo thành chitosan
O O HO
NHCOCH3OH
n
O O HO
NH2OH
Sơ đồ 1.5: Phản ứng deaxetyl hóa chitin
Phản ứng trên thường được thực hiện với NaOH 40% ở 120o
C trong 1 3h Hiệu suất deaxetyl hoá chỉ đạt 70% Điều này có nghĩa là sản phẩm phản
ứng là chuỗi polime vẫn có cả mắt xích N-axetyl-D-glucoamin đan xen với β(1
→4)glucozamin
Muốn thu được chitosan deaxetyl hoá hoàn toàn DDA≈0, phải rửa sạch
mẫu rồi xử lý kiềm lặp lại nhiều lần Có thể sử dụng phương pháp phá kết tinh
với dung dịch NaOH 5% Phản ứng thực hiện trong 3h đạt hiệu suất 100%
Phương pháp này có nhiều ưu điểm tạo ra chitosan có DA thấp 1%, hiệu suất
cao, giảm tiêu tốn hoá chất, giảm ô nhiễm môi trường
1.1.5.3 Phản ứng ở nhóm -NH 2
Phản ứng xảy ra ở nhóm amin -NH2 và nhóm amit -NHCOCH3 hai
nhóm này gắn ở vị trí C2 (hay ở vị trí N) Tại đây nhóm -NH2 của
chitin/chitosan có đôi điện tử không phân chia do đó về mặt hoá học, chúng có
khả năng phản ứng cao với các tác nhân ái electron để tạo ra các dẫn xuất
tương ứng
Phản ứng gắn với các nhóm -OH tại C3 (hoặc C6) hay gắn polietylen
glycol vào nhóm -NH2 thu được các dẫn xuất có cấu trúc hoá học cồng kềnh
nhằm cản trở không gian, làm giảm các liên kết cầu hiđro giữa các mạch và
Trang 21trong mạch phân tử của chitin/chitosan như lúc ban đầu, để tạo ra các dẫn xuất
tan trong nước
1.1.5.4 Phản ứng giảm mạch chitosan
Do quá trình chuyển hoá trong động thực vật chủ yếu xảy ra trong môi
trường nước nên chitosan với khả năng tan kém trong nước đã làm hạn chế
phần nào hiệu quả và phạm vi ứng dụng Vì vậy, để tăng khả năng ứng dụng
của chitosan chúng ta phải cải thiện khả năng tan trong nước của chitosan
Quá trình depolyme hoá là quá trình phá huỷ các liên kết glycozit trong
mạch đại phân tử dưới các tác nhân cắt mạch như: enzim, hoá chất chiếu
xạ Các tác nhân cắt mạch phá huỷ liên kết glycozit, chuyển hoá chitosan
thành oligome có khả năng tan trong nước cao hơn so với chitosan đại phân tử
Có nhiều phương pháp cắt mạch chitosan như: cắt mạch bằng enzim, cắt
mạch bằng chiếu xạ, cắt mạch bằng phản ứng hoá học Trong đó cắt mạch
bằng phản ứng hoá học là phương pháp đơn giản và được sử dụng rộng rãi
nhất
Cắt mạch bằng phản ứng hoá học: Liên kết glycozit của chitosan tương
đối bền trong môi trường kiềm nhưng lại dễ dàng bị phá huỷ trong môi trưòng
axit Các loại axit vô cơ đã được sử dụng như: axit clohidric (HCl), axit
sunfuric (H2SO4), axit photphoric (H3PO4), axit nitric (HNO3) trong đó axit
clohidric (HCl) được sử dụng nhiều hơn cả do giá thành rẻ, khi trung hoà bằng
NaOH sản phẩm phụ là NaCl không độc, dễ tách
Sơ đồ 1.6: Quá trình thuỷ phân chitosan bằng HCl
1.1.6 Một số sản phẩm biến tính chitin/chitosan
1.1.6.1 Sản phẩm biến tính tại nhóm -NH 2
Trang 221.1.6.1.1 Dẫn xuất N- ankyl chitosan [12,34]
Các dẫn xuất N-ankyl chitosan được tổng hợp từ phản ứng ankyl hoá
khử chitosan với tác nhân phản ứng có nhóm -CHO theo hai giai đoạn: giai
đoạn hình thành bazơ Schiff (chứa các liên kết imin và ketimin) và giai đoạn
khử liên kết imin, ketimin thành liên kết đơn
x
O O HO
NH2OH
x
O O HO
N=CHR OH
x
O O HO
NHCH2R
OH
Sơ đồ 1.7: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-ankyl chitosan
Phản ứng loại này được tiến hành trong hỗn hợp dung dịch nước của axit
axetic với metanol và dễ dàng đạt đến DS = 1
Tiến hành phản ứng ankyl hoá - khử chitosan với salixylandehit hoặc
phtalandehit nhận được các dẫn xuất có khả năng tạo phức với ion kim loại tốt
hơn chitosan Một số dẫn xuất khác như: piriđinmetyl)-,
N-(2-thienylmetyl)- và N-[3-(metylthio)propyl]- chitosan được điều chế theo phương
pháp ankyl hoá - khử cũng có khả năng hấp phụ chọn lọc các ion kim loại quý
như: vàng, paladi và platin Một số phản ứng ankyl hoá - khử chitosan xảy ra
như sau:
O N
OH
OH n
Sơ đồ 1.8: Phản ứng ankyl hóa-khử của chitosan
Trang 23NHCH2R =
Sơ đồ 1.9: Phản ứng ankyl hóa-khử của chitosan
Glutaranđehit là một đianđehit thường được dùng để tạo liên kết ngang
giữa các mạch phân tử chitosan dùng cho mục đích cố định enzim Phản ứng
điều chế chitosan liên kết ngang với glutaranđehit xảy ra như sau:
dung dÞch NaOH
OHC - (CH2)3- CHO
CH3COOH O
OH
CH (CH2)3 CH
Sơ đồ 1.10: Phản ứng điều chế chitosan liên kết ngang với glutaranđehyt
Liên kết ngang với glutaranđehit làm tăng đáng kể khả năng hấp phụ ion
kim loại nặng của sản phẩm chitosan biến tính Ngoài ra, chitosan liên kết
ngang với glutaranđehit được sử dụng làm màng bán thấm Ngoài ra, có thể
tổng hợp dẫn xuất N-ankyl chitosan bằng phản ứng giữa chitosan và halogenua
axit hoặc các dẫn xuất halogen
Trang 24Dẫn xuất tan trong nước N,N,N -trimetyl chitosan đã được tổng hợp từ
phản ứng của chitosan với CH3I với sự có mặt của NaI và
N-metyl-2-pyrolido/NaOH Phản ứng xảy ra như sau:
O O HO
NH2OH
n
O O HO
N(CH3)3OH
n
CH3I
Sơ đồ 1.11: Phản ứng tổng hợp N,N,N-trimetyl chitosan
1.1.6.1.2 Dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan [23,34,45,47,54,72]
Các dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan được điều chế bằng phản ứng
ankyl hoá- khử là dẫn xuất có cấu trúc đã được định vị rõ vì đây là phản ứng
chọn lọc vào nhóm amino Phản ứng tổng hợp xảy ra như sau:
m
O O HO
NH2
OH
O HO
NHCHR(CH2)nCOOH OH
m NaCNBH3
Sơ đồ 1.12: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan
Theo phương pháp trên một số dẫn xuất đã được tổng hợp như: Dẫn xuất
N-cacboxymetyl chitosan, N-cacboxybutyl chitosan
Trong quá trình tổng hợp dẫn xuất N-cacboxymetyl chitosan, ban đầu
chitosan phản ứng với axit glyoxylic trong môi trường axit tạo thành dạng bazơ
-Schiff, sau đó dưới tác dụng của tác nhân khử NaCNBH3 sẽ chuyển thành dẫn
xuất N- cacboxymetyl chitosan
n O=C-COOH
H
O NH
OH
CH2COOH
NaCNBH3n
Trang 25Ở điều kiện thích hợp, ngoài dẫn xuất thế một lần tạo dẫn xuất N-
cacboxymetyl chitosan, phản ứng trên còn tạo thành dẫn xuất
N,dicacboxymetyl chitosan- một dẫn xuất tan trong nước Dẫn xuất
N-cacboxymetyl chitosan là một loại vật liệu sinh học đầy tiềm năng, được ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực như: y dược, mỹ phẩm, hấp phụ kim loại nặng ứng
dụng trong xử lý môi trường
Theo cách tương tự, các dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan khác cũng
được điều chế từ các axit cacboxylic có nhóm anđehit hoặc xeton như: pyruvic,
axit-β-hyđroxypyruvic, xetoglutaric, axit đehyđroascorbic và
axit-2-oxopropionic Điều chế các dẫn xuất N-cacboxybutyl chitosan với sự tham gia
của axit levulinic, trong những điều kiện thích hợp ngoài phản ứng tạo ra dẫn
xuất N-cacboxybutyl chitosan còn có thể tạo ra dẫn xuất 5- methylpyrolidion
chitosan Phản ứng xảy ra như sau:
N-carboxybutyl chitosan
5-metylpyroli®inon chitosan
N
O HO
OH O
O NH
OH
CH-CH2CH2COOH
CH3O
NH2
OH
Sơ đồ 1.14: Cacboxy hóa chitosan trong môi trường axit levulinic
Các dẫn xuất N-cacboxybutyl chitosan và 5-methylpyrolidion chitosan
đều tan tốt trong nước và là những vật liệu có hoạt tính sinh học cao
Các dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan cũng có thể được tổng hợp từ
phản ứng của chitosan có độ đeaxetyl hoá cao với axit monocloankanoic Phản
ứng được thực hiện trong môi trường ethanol/ kiềm:
Trang 26O O HO
NH2
OH
ClCH2(CH2)nCOOH O
O HO
NHCH2(CH2)nCOOH OH
m
Sơ đồ1.15: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan đi từ
chitosan có độ đeaxetyl hoá cao với axit monocloankanoic
Theo phương pháp này có thể tổng hợp N- cacboxypropyl chitosan và
N-cacboxybutyl chitosan Các nghiên cứu cho thấy, cả hai dẫn xuât này đều có
khả năng tan tốt trong nhiều hệ dung môi và có khả năng kháng khuẩn E coli
và S aureus tốt hơn so với chitosan
Ngoài ra, dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan có thể được tổng hợp theo
phản ứng Michael giữa chitosan và hợp chất có gốc hiđrocacbon không no
chứa liên kết đôi như: CH2=CHCOOH, trong môi trường axit (pH= 5,5 - 6)
n
O
O HO
NH2
OH
O
O HO
NHCH2CH2COOH OH
n
CH2=CHCOOH
Sơ đồ 1.16: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất N-cacboxyankyl chitosan đi từ
chitosan và hợp chất có gốc hiđrocacbon không no chứa liên kết đôi trong môi
trường axit
Khác với các dẫn xuất của chitin/chitosan dẫn xuất N-cacboxyetyl
chitosan là một polysaccarit không độc, tính hoà hợp sinh học cao nên được
ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, y học, mỹ phẩm, công
nghiệp Ngoài ra, N-CEC còn có khả năng chống lại quá trình oxi hoá và quá
trình gây đột biến trong cơ thể sống
1.1.6.1.3 Dẫn xuất N-axyl chitosan [17,31,34,35]
Chitin không tan trong các dung môi thích hợp cho phản ứng axetyl hoá
nên phản ứng này thường được thực hiện trong điều kiện dị thể Phản ứng
Trang 27axetyl hoá hoàn toàn chitin bằng anhyđric axetic (Ac2O) có thể thực hiện được
trong môi trường axit metansunfonic (CH3SO2OH) Hỗn hợp axit
tricloaxetic-1,2-đicloetan cũng là một dung môi tốt cho chitin khi tiến hành phản ứng
axetyl hoá, nhưng môi trường axit mạnh sẽ làm phân huỷ mạch chitin β- chitin
cũng không tan trong các dung môi thông thường nhưng có khả năng trương
trong nhiều dung môi hữu cơ như metanol Do đó, nhóm amino tự do có trong
β- chitin có thể được axetyl hoá trực tiếp trong metanol bởi Ac2O để tạo thành
chitin thuần nhất - poly(N-axetyl-D-glucosamin) Đối với - chitin trong cùng
điều kiện này thì phản ứng axetyl hoá không diễn ra
1.1.6.2 Sản phẩm biến tính tại nhóm - OH
1.1.6.2.1 Dẫn xuất O- axyl chitosan [34,35,36]
Các dẫn xuất O- axyl chitosan có thể được tổng hợp từ phản ứng của
chitosan với các anhidric axit, halogen axit:
O O HO
NH2OH
x
O O HO
NHAc OH
y
O O HO
NHOR OR
n
ROX Piridin (X=R, hal)
Sơ đồ 1.17: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất O- axyl chitosan
Có thể thực hiện phản ứng axetyl hoá theo phương pháp trên Kết quả
nghiên cứu cho thấy, phản ứng axetyl hoá có thể xảy ra hoàn toàn mà không có
phản ứng phụ khi xử lý β-chitin ở dạng huyền phù với Ac2O trong môi trường
piriđin dưới tác dụng của xúc tác 4- đimetyl amino piriđin (DMAP)
Phản ứng axetyl hoá chitin bởi Ac2O trong môi trường piriđin chịu ảnh
hưởng lớn của nhiệt độ, thời gian, xúc tác và đặc biệt là nguồn nguyên liệu điều
chế chitin Nhiều công trình nghiên cứu biến tính chitin cho thấy β-chitin là loại
vật liệu đầy tiềm năng để tiến hành các phản ứng hơn hẳn α-chitin
Axetyl hoá dần dần chitosan ở dung dịch đồng thể trong axit
axetic/metanol hoặc axit axetic nhận được sản phẩm tan đựơc trong nước với
Trang 28tính tan lớn nhất ở DA 0,5 Tuy nhiên, ngoài dẫn xuất thế vào nhóm - OH còn
kèm theo sự thế vào nhóm -NH2
1.1.6.2.2 Dẫn xuất O-cacboxyankyl chitin-chitosan [33,43,59,64]
Các dẫn xuất O-cacboxyankyl chitosan thường được tổng hợp từ phản
ứng của chitin-chitosan với axit monohalogenankanoic trong môi trường kiềm
đặc, phản ứng xảy ra như sau:
n
O O HO
NHCOCH3
OH
O O HO
NHCOCH3O(CH2)nCOOH
n Cl(CH2)nCOOH
Chitin O-carboxyankyl chitin
Sơ đồ 1.18: Phản ứng tổng hợp dẫn xuất O-cacboxyankyl chitosan
Phản ứng tổng hợp O-CM-chitin xảy ra ở điều kiện dị thể, với sự có mặt
của NaOH O-CM-chitin đã được nghiên cứu rất kỹ về phương pháp tổng hợp,
khảo sát tính chất hoá lý, nghiên cứu miễn dịch học, nghiên cứu khả năng bị
thuỷ phân bằng lysozym và CM-chitin đã được Bộ Y tế Nhật bản cho phép sử
dụng trong lĩnh vực chăm sóc da
1.1.6.2.3 Dẫn xuất O-ankyl chitosan [34,73]
2-Hydroxyetyl-chitin (glycol-chitin) là một trong các dẫn xuất O-ankyl
chitosan tan trong nước trung tính đã được thương mại hoá Glycol-chitin được
điều chế bằng cách xử lý chitin kiềm với etylen oxit Do phản ứng được thực
hiện trong môi trường kiềm đặc nên phản ứng deaxetyl hoá cũng diễn ra đồng
O(CH2)2OH
O NHAc
Trang 29Deaxetyl hoá glycol-chitin bằng kiềm mạnh thu được glycol-chitosan
Đihyđroxypropyl-chitin (một dẫn xuất tan trong nước khác của chitin) đã được
điều chế bằng phản ứng giữa chitin kiềm và 3clopropan1,2điol (glyxerol
-monoclohyđrin) trong isopropanol
1.2 Ứng dụng của chitin/chitosan và dẫn xuất [22,57]
Chitin/chitosan là loại polysacarit có nhiều nhóm chức ( hyđroxyl, amino
và axetamit) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sinh thái và môi trường
sống, đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực như dược phẩm, mỹ phẩm,
công nghiệp thực phẩm, xử lý môi trường, nông nghiệp
1.2.1 Ứng dụng trong y dược [21,67]
Trong lĩnh vực y dược, chitin/chitosan được sử dụng làm màng chữa vết
bỏng, chất giúp tái tạo mô xương Vật liệu nano trên cơ sở chitin/chitosan
cũng đã được nghiên cứu ứng dụng trong y học do có tính ổn định tương đối
cao và vẫn duy trì được một số tính chất của chitin/chitosan ban đầu, đặc biệt
do có kích thước nhỏ, bề mặt riêng lớn mang nên có khả năng hấp thụ cao Dựa
vào tính chất này, nano chitin/chitosan được sử dụng làm chất hấp thụ để hấp
thụ các chất khác nhau đặc biệt là các loại thuốc dùng trong y học
1.2.2 Ứng dụng trong nông nghiệp
1.2.2.1 Chất kích thích sinh trưởng [18,69]
Các nghiên cứu thử nghiệm về khả năng kích thích sinh trưởng của các
loại vật liệu trên cơ sở chitosan đã được tiến hành và bước đầu thu được các kết
quả khả quan
Khả năng kích thích nảy mầm của hạt khi sử dụng chitin/chitosan có
khối lượng phân tử thấp: Đối với chitooligosacarit có khối lượng phân tử
19.000 Da, nồng độ 3,75 ppm thì làm tăng tốc độ nảy mầm của hạt lúa mạch
loại nảy mầm chậm và trung bình Chitooligosacarit (Mv =13.000 Da) với nồng
độ 3,75 ppm cho tốc độ tăng trưởng cao nhất hạt yến mạch Trung Quốc
Trang 30Ở Thái Lan chitin/chitosan được dùng để cải tạo đất và nước, mục đích
giữ cân bằng sinh thái canh tác Chitin/chitosan đóng vai trò như là thành phần
kích thích hoạt tính sinh học, làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng và vật
nuôi Kết quả cho thấy, năng suất cây lúa tăng lên, lượng phân bón giảm đi
Chitin/chitosan tác dụng hiệu quả hơn các sản phẩm hoá học khác đến hệ thống
tự bảo vệ, chống lại nấm vàng là mầm bệnh ở ngô Hơn nữa chitosan oligome
khi phun lên cây làm xanh lá và làm tăng chiều cao của cây lúa
1.2.2.2 Chất bảo quản nông sản [25,52,77,81]
Chitin/chitosan có hoạt tính kháng khuẩn cao, an toàn với cơ thể người
Hoạt tính kháng khuẩn phụ thuộc vào nồng độ của chitin/chitosan và phụ thuộc
vào khối lượng phân tử Chính vì có hoạt tính kháng khuẩn cao nên trong
những năm gần đây, chitin/chitosan và các sản phẩm biến tính được quan tâm
ứng dụng nhiều trong việc bảo quản các sản phẩm nông sản sau khi thu hoạch
như cam, chanh, cà chua, chuối, dâu tây, vải, táo… và một vài sản phẩm khác
và đã thu được kết quả khả quan
1.2.3 Ứng dụng trong xử lí môi trường
Chitosan và dẫn xuất được coi là nguồn nguyên liệu tự nhiên, rẻ, hiệu
quả trong việc hấp phụ ion kim loại nặng, kim loại quý hiếm, thuốc nhuộm
1.2.3.1 Hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính [19,32,78,5]
1.2.3.1.1 Khái quát thuốc nhuộm
Thuốc nhuộm là những chất hữu cơ có màu, hấp thụ mạnh một phần
nhất định của quang phổ ánh sáng nhìn thấy và có khả năng gắn kết vào vật
liệu dệt trong những điều kiện nhất định (tính gắn màu)
Thuốc nhuộm có thể có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp Hiện
nay, con người hầu như chỉ sử dụng thuốc nhuộm tổng hợp Đặc điểm nổi bật
của các loại thuốc nhuộm là độ bền màu- tính chất không bị phân hủy bởi
những điều kiện, tác động khác nhau của môi trường, đây vừa là yêu cầu với
Trang 31thuốc nhuộm lại vừa là vấn đề với xử lý nước thải dệt nhuộm Màu sắc của
thuốc nhuộm có được là do cấu trúc hóa học của nó: một cách chung nhất, cấu
trúc thuốc nhuộm bao gồm nhóm mang màu và nhóm trợ màu Nhóm mang
màu là những nhóm chứa các nối đôi liên hợp với hệ điện tử π linh động như
>C=C<, >C=N-, >C=O, -N=N- Nhóm trợ màu là những nhóm thế cho hoặc
nhận điện tử, như -SOH, -COOH, -OH, NH2 , đóng vai trò tăng cường màu
của nhóm mang màu bằng cách dịch chuyển năng lượng của hệ điện tử
Có hai cách phân loại thuốc nhuộm phổ biến nhất: Phân loại theo cấu
trúc hóa học, phân loại theo đặc tính áp dụng
Phân loại theo cấu trúc hóa học
Đây là cách phân loại dựa trên cấu tạo của nhóm mang màu, theo đó
thuốc nhuộm được phân thành 20-30 họ thuốc nhuộm khác nhau Các họ
chính là:
Thuốc nhuộm azo: nhóm mang màu là nhóm azo (-N=N-), phân tử
thuốc nhuộm có một (monoazo) hay nhiều nhóm azo (diazo, triazo, polyazo)
Đây là họ thuốc nhuộm quan trọng nhất và có số lượng lớn nhất, chiếm
khoảng 60-70% số lượng các thuốc nhuộm tổng hợp, chiếm 2/3 các màu hữu
cơ trong Color Index
Thuốc nhuộm antraquinon: trong phân tử thuốc nhuộm chứa một hay
nhiều nhóm antraquinon hoặc các dẫn xuất của nó:
Họ thuốc nhuộm này chiếm đến 15% số lượng thuốc nhuộm tổng hợp
Trang 32Thuốc nhuộm triaryl metan: triaryl metan là dẫn xuất của metan mà
trong đó nguyên tử C trung tâm sẽ tham gia liên kết vào mạch liên kết của hệ
Thuốc nhuộm phtaloxianin: hệ mang màu trong phân tử của chúng là hệ
liên hợp khép kín Đặc điểm chung của họ thuốc nhuộm này là những nguyên
tử H trong nhóm imin dễ dàng bị thay thế bởi ion kim loại còn các nguyên tử
N khác thì tham gia tạo phức với kim loại làm màu sắc của thuốc nhuộm thay
đổi Họ thuốc nhuộm này có độ bền màu với ánh sáng rất cao, chiếm khoảng
2% tổng số lượng thuốc nhuộm
Ngoài ra, còn các họ thuốc nhuộm khác ít phổ biến, ít có quan trọng
hơn như: thuốc nhuộm nitrozo, nitro, polymetyl, arylamin, azometyn, thuốc
nhuộm lưu huỳnh…
Phân loại theo đặc tính áp dụng
Theo đặc tính áp dụng, người ta quan tâm nhiều nhất đến thuốc nhuộm
sử dụng cho xơ sợi xenlullo (bông, visco ), đó là các thuốc nhuộm hoàn
nguyên, lưu hóa, hoạt tính và trực tiếp Sau đó là các thuốc nhuộm cho xơ sợi
tổng hợp, len, tơ tằm như: thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm bazơ (cation),
thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính
Trang 33Thuốc nhuộm hoạt tính: là thuốc nhuộm anion tan, có khả năng phản
ứng với xơ sợi trong những điều kiện áp dụng tạo thành liên kết cộng hóa trị
với xơ sợi Trong cấu tạo của thuốc nhuộm hoạt tính có một hay nhiều nhóm
hoạt tính khác nhau, quan trọng nhất là các nhóm: vinylsunfon, halotriazin và
halopirimidin
Dạng tổng quát của thuốc nhuộm hoạt tính: S – R – T – Y, trong đó:
- S: nhóm cho thuốc nhuộm độ hòa tan cần thiết (-SO3Na, -COONa,
-SO2CH3)
- R: nhóm mang màu của thuốc nhuộm
- Y: nhóm nguyên tử phản ứng, trong điều kiện nhuộm nó tách khỏi
phân tử thuốc nhuộm, tạo khả năng cho thuốc nhuộm phản ứng với xơ (-Cl,
-SO2, -SO3H, -CH=CH2, )
- T: nhóm mang nguyên tử hay nhóm nguyên tử phản ứng, thực hiện
liên kết giữa thuốc nhuộm và xơ
Là loại thuốc nhuộm duy nhất có liên kết cộng hóa trị với xơ sợi tạo độ
bền màu giặt và độ bền màu ướt rất cao nên thuốc nhuộm hoạt tính là một
trong những thuốc nhuộm được phát triển mạnh mẽ nhất trong thời gian qua
đồng thời là lớp thuốc nhuộm quan trọng nhất để nhuộm vải sợi bông và
thành phần bông trong vải sợi pha Tuy nhiên, thuốc nhuộm hoạt tính có
nhược điểm là: trong điều kiện nhuộm, khi tiếp xúc với vật liệu nhuộm (xơ
sợi), thuốc nhuộm hoạt tính không chỉ tham gia vào phản ứng với vật liệu mà
còn bị thủy phân
Ví dụ:
Thuốc nhuộm sunfatoetylsunfon Thuốc nhuộm Vinylsunfon
(dạng hoạt hóa của thuốc nhuộm gốc)
Trang 34
Thuốc nhuộm Vinylsunfon Xơ được nhuộm (X là O-Xenlullo)
Do tham gia vào phản ứng thủy phân nên phản ứng giữa thuốc nhuộm
và xơ sợi không đạt hiệu suất 100% Để đạt độ bền màu giặt và độ bền màu
tối ưu, hàng nhuộm được giặt hoàn toàn để loại bỏ phần thuốc nhuộm dư và
phần thuốc nhuộm thủy phân Vì thế, mức độ tổn thất đối với thuốc nhuộm
hoạt tính cỡ 10÷50%, lớn nhất trong các loại thuốc nhuộm Hơn nữa, màu
thuốc nhuộm thủy phân giống màu thuốc nhuộm gốc nên nó gây ra vấn đề
màu nước thải và ô nhiễm nước thải
1.2.3.1.2 Tác hại của việc ô nhiễm thuốc nhuộm
Các thuốc nhuộm hữu cơ nói chung được xếp loại từ ít độc đến không
độc đối với con người ( được đặc trưng bằng chỉ số LD50) Các kiểm tra về
tính kích thích da, mắt cho thấy đa số thuốc nhuộm không gây kích thích với
vật thử nghiệm ( thỏ) ngoại trừ một số cho kích thích nhẹ
Tác hại gây ung thư và nghi ngờ gây ung thư: không có loại thuốc
nhuộm nào nằm trong nhóm gây ung thư cho người Các thuốc nhuộm azo
được sử dụng nhiều nhất trong ngành dệt, tuy nhiên chỉ có một số màu azo,
chủ yếu là thuốc nhuộm benzidin, có tác hại gây ung thư Các nhà sản xuất
châu Âu đã ngừng sản xuất loại này, nhưng trên thực tế chúng vẫn được tìm
thấy trên thị trường do giá thành rẻ và hiệu quả nhuộm màu cao
Khi đi vào nguồn nước nhận như sông, hồ,… với một nồng độ rất nhỏ
thuốc nhuộm đã cho cảm nhận về màu sắc Thuốc nhuộm hoạt tính sử dụng
càng nhiều thì màu nước thải càng đậm Màu đậm của nước thải cản trở sự
Trang 35hấp thụ oxy và ánh sáng mặt trời, gây bất lợi cho sự hô hấp, sinh trưởng của
các loài thủy sinh vật Nó tác động xấu đến khả năng phân giải của vi sinh đối
với các chất hữu cơ trong nước thải, qua số liệu điều tra tại các công ty dệt
may lớn đều cho thấy màu nước thải dệt nhuộm chủ yếu do thuốc nhuộm hoạt
- Phương pháp điện hóa
- Phương pháp hóa học: khử hóa học, oxy hóa hóa học, oxy hóa pha
loãng
Trong các phương pháp đó thì phương pháp hấp phụ được coi là hiệu
quả để loại bỏ thuốc nhuộm khỏi nước thải Hấp phụ là sự tích lũy chất trên
bề mặt phân cách pha Chất có bề mặt trên đó xảy ra sự hấp phụ được gọi là
chất hấp phụ, chất được tích lũy trên bề mặt là chất bị hấp phụ
Dựa trên bản chất lực hấp phụ có thể phân loại hấp phụ vật lý và hấp
phụ hóa học, trong đó, hấp phụ vật lý gây ra bởi lực Van der Waals còn hấp
phụ hóa học gây ra bởi liên kết hóa học Do bản chất lực hấp phụ nên hấp phụ
hóa học không vượt qua đơn lớp phân tử còn hấp phụ vật lý có thể có hiện
tượng đa lớp (pha rắn - khí) Hai loại hấp phụ này khác nhau về nhiệt hấp
Trang 36diện tích bề mặt riêng càng lớn thì khả năng hấp phụ càng cao Tuy nhiên,
diện tích bề mặt riêng mới nói lên tiềm năng hấp phụ, nó là điều kiện cần
nhưng chưa đủ Để sự hấp phụ xảy ra tốt, nhất là hấp phụ hóa học, thì còn
phải xét đến yếu tố tương thích về kích cỡ chất bị hấp phụ và kích thước mao
quản chất hấp phụ (với vật liệu xốp), tương tác, liên kết giữa chất hấp phụ và
chất bị hấp phụ Ví dụ như các chất hấp phụ có độ xốp lớn, kích cỡ mao quản
nhỏ, diện tích bề mặt riêng lớn vẫn hấp phụ không hiệu quả đối với các chất
màu hữu cơ cồng kềnh Chất phân cực dễ hấp phụ lên bề mặt phân cực, chất
không phân cực ưu tiên hấp phụ lên bề mặt không phân cực
Hấp phụ có thể biểu diễn dưới dạng một cân bằng:
Chất bị hấp phụ + bề mặt ↔ chất bị hấp phụ liên kết với bề mặt
Để biểu diễn lượng chất bị hấp phụ trên một đơn vị chất hấp phụ ( khối
lượng, bề mặt) người ta dùng đại lượng hấp phụ ký hiệu là a ( Г hoặc α) Đại
lượng hấp phụ là một hàm của nhiệt độ, nồng độ hoặc áp suất: a = a (T,C)
hoặc a = a (T, P), khi cố định nhiệt độ trong phương trình trên ta được đường
hấp phụ đẳng nhiệt
Để mô tả sự hấp phụ ở trạng thái cân bằng người ta thường dùng các
phương trình đẳng nhiệt hấp phụ, khi đó, đại lượng hấp phụ cân bằng phụ
thuộc vào nồng độ chất bị hấp phụ (pha lỏng) hay áp suất riêng phần của chất
bị hấp phụ (pha khí) khi cân bằng Có nhiều phương trình đẳng nhiệt hấp phụ
được thiết lập cho hấp phụ trong những trường hợp khác nhau (đơn lớp, đa
lớp, hấp phụ vật lý, hóa học, hấp phụ trên bề mặt phân cách pha rắn- lỏng,
lỏng- khí…), nhưng đối với hấp phụ trên bề mặt phân cách pha rắn- lỏng thì
quan trọng nhất là phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir và phương
trình hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich:
Phương trình Langmuir:
Trang 37Phương trình Freundlich:
a = kC1/n ,(n>1) Trong đó:
a: đại lượng hấp phụ cân bằng (g chất bị hấp phụ/g chất hấp phụ)
amax: đại lượng hấp phụ cực đại (g chất bị hấp phụ khi nó che phủ toàn bộ bề mặt chất hấp phụ)
C: nồng độ chất bị hấp phụ trong dung dịch (g/L, mol/L)
k: hằng số cân bằng: hấp phụ ↔ giải hấp
Các chất hấp phụ sử dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm:
- Cacbon hoạt tính: để hấp phụ thuốc nhuộm ở giai đoạn xử lý triệt để
sau keo tụ Nó không được dùng đơn lẻ do giá thành cao và hiệu suất thấp
trong loại bỏ các phân tử màu lớn và đòi hỏi thời gian tiếp xúc
- Các chất hấp phụ vô cơ khác: đất sét, than bùn, silic oxit, một số
khoáng… cũng được dùng làm chất hấp phụ thuốc nhuộm khá hiệu quả với
giá thành rẻ hơn than hoạt tính
- Các chất hấp phụ do một số công ty và tổ chức chế tạo có khả năng
hấp phụ tốt các thuốc nhuộm tan, kể cả thuốc nhuộm hoạt tính Điển hình như
chất hấp phụ Acrasorb D, Macrosorb, Cucurbiturial
- Sinh khối: được sử dụng để khử màu nước thải dệt nhuộm bằng cơ
chế hấp phụ và trao đổi ion Chitin (polisacarit cấu tạo giống xenllulo) và
chitosan ( chitin đã loại axetyl) được biết đến nhiều nhất về khả năng hấp phụ
nhiều loại thuốc nhuộm như: thuốc nhuộm phân tán, trực tiếp, axit, hoàn
nguyên, lưu hóa và cả thuốc nhuộm hoạt tính Ngoài ra người ta còn dùng
xenlulo biến tính và lignoxenlulo để hấp phụ thuốc nhuộm axit và thuốc
nhuộm cation
Trang 381.2.3.1.4 Cơ chế hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính của chitosan và dẫn xuất của
nó [19,32,78]
Trên thực tế, không có phương pháp loại bỏ chất màu nào là tối ưu cho
mọi nguồn nước thải Do đặc điểm của cấu trúc phân tử, chitosan có ái lực
mạnh đối với nhiều loại thuốc nhuộm thuộc các loại: axit, naphtol v.v Tốc độ
khuếch tán thuốc nhuộm vào chitosan tương tự như xenlulozơ
Quá trình hấp phụ thuốc nhuộm lên chitosan là quá trình toả nhiệt và sự
gia tăng nhiệt độ làm tăng tốc độ hấp phụ nhưng lại làm giảm khả năng hấp
phụ Tuy nhiên, những hiệu ứng trên làm biến đổi nhiệt độ nước thải nhỏ nên
không ảnh hưởng lớn đến quá trình hấp phụ chất màu Ngoài ra, độ pH của
nước thải lại là yếu tố quan trọng (đặc biệt đối với một số chất màu) cho quá
trình hấp phụ chất màu lên chitosan vì ở pH thấp, chitosan có nhóm amino bị
proton hoá nên có ái lực mạnh đối với thuốc nhuộm có tính axit Dễ dàng nhận
thấy, thời gian hấp phụ cũng như tốc độ dòng chảy cũng là những nhân tố ảnh
hưởng tới quá trình hấp phụ thuốc nhuộm
RB19 là chất mầu antraquinon được sử dụng rộng rãi để nhuộm sợi tổng
hợp, len, sợi bông Sau đây là khả năng hấp phụ thuốc nhuộm hoạt tính màu
xanh RB19 của chitosan và các sản phẩm biến tính
Quá trình hấp phụ RB19- chất màu axit lên chitosan và dẫn xuất của nó
(những chất dễ bị oxi hóa trong môi trường axit) có khả năng xảy ra theo cơ
chế tương tác ion Trong dung dịch RB19 bị hòa tan và phân ly: