Việc dạy viết đúng chính tả phải được coi trọng ngay đối với học sinh tiểu học ở các lớp và được hiểu như rèn luyện việc thực hiện chuẩn mực của ngôn ngữ viết, tạo hành trang ngôn ngữ ch
Trang 1Mở đầu
1 - Lý do chọn đề tài
"Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp rất quan trọng của loài người" (Lê
- nin) lời dạy này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là phương tiện giao tiếp đặc trưng của loài người để tồn tại và phát triển Để giao tiếp được thuận tiện thì mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phải có một ngôn ngữ riêng
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không phải lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà còn phải giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết có vai trò quan trọng trong tiếng nói của mỗi dân tộc và quốc gia Yêu cầu đầu tiên
và đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ viết là phải đúng chính tả có nghĩa khi viết cần phải tuân theo hệ thống quy tắc về viết thống nhất cho các từ của ngôn ngữ Hay nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Mục đích của nó là phương tiện cho việc giao tiếp bằng chữ viết Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở
Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành năng lực thói quen viết chính tả, nói rộng hơn là năng lực thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực Vì vậy phân môn Chính tả có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông, nhất
là nhà trường Tiểu học Việc dạy viết đúng chính tả phải được coi trọng ngay
đối với học sinh tiểu học ở các lớp và được hiểu như rèn luyện việc thực hiện chuẩn mực của ngôn ngữ viết, tạo hành trang ngôn ngữ cho cả một đời người trong các em
Trang 2Qua việc học chính tả giúp các em học sinh nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả, từ đó có năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa Kỹ năng viết đúng chính tả tạo cho các em hoàn thiện về nhân cách Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong giao tiếp tri thức trong các môn học ở Tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình giao tiếp và học tập
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học gồm nhiều phân môn Phân môn Chính tả có nhiệm vụ chủ yếu là rèn cho học sinh nắm các quy tắc và thói quen viết đúng chính tả tiếng Việt Cùng với các phân môn khác Chính tả giúp học sinh chiếm lĩnh tiếng Việt văn hóa, chuẩn mực để làm công cụ giao tiếp
và tư duy để học tập trau dồi tri thức và nhân cách làm người Vì thế, ngay từ
đầu Tiểu học trẻ đã cần phải học phân môn Chính tả một cách khoa học để có thể sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như suốt cả cuộc đời Đặc biệt bậc Tiểu học ở Việt Nam môn học này cần phải được coi trọng
Nhưng trên thực tế ở một số vùng miền Việt Nam hiện tượng học sinh viết sai chính tả vẫn là khá phổ biến.Vấn đề này có rất nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất là do học sinh
có thói quen phát âm sai, lẫn lộn giữa các âm dẫn đến hiểu sai và viết sai chính tả Bên cạnh đó thì hệ thống bài tập còn dàn trải đơn điệu Về phương pháp thì giáo viên chưa cải tiến và áp dụng một cách hợp lý với học sinh các vùng phư-
ơng ngữ Trước tình hình đó chúng tôi đã nhìn nhận lại thực trạng việc dạy Chính tả để từ đó tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả cho học sinh vùng phương ngữ được hiệu quả hơn
Xuất phát từ tình hình đó chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài
"Phương pháp rèn luyện kỹ năng chính tả của học sinh Tiểu học" với mong muốn đưa ra một số biện pháp giúp các em viết đúng chính tả và góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt sau này
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề chính tả luôn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng đã
đạt được rất nhiều thành quả Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề chính tả đã ra đời
Năm 1976 Hoàng Phê trong tạp chí Ngôn ngữ số 1 đã bàn về: "Một số
nguyên tắc giải quyết vấn đề chuẩn hóa chính tả" Trong đó đã đề cập đến
những quy định về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách viết các âm, cách phiên âm tiếng nước ngoài
Trong những năm gần đây, vấn đề chính tả được quan tâm nhiều hơn
Năm 1997, Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn giáo trình Tiếng Việt
thực hành A - Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia kế thừa những thành tựu đi
trước tác giả đã nghiên cứu về quy tắc viết hoa và quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài Phân loại lỗi chính tả và đưa ra biện pháp khắc phục chung Tác giả cũng đưa ra những mẹo luật nhằm khắc phục những lỗi đó
Năm 2006, tác giả Hoàng Anh viết cuốn Sổ tay Chính tả - Nhà xuất bản
Đại học Sư Phạm Cuốn sách đã đưa ra những cặp lỗi tiêu biểu và một số mẹo luật chính tả nhằm khắc phục chỳng
Đến năm 2007, Nguyễn Thị Ly Kha viết cuốn "Dùng từ, viết câu và
soạn thảo văn bản" - Nhà xuất bản Giáo dục Trong cuốn sách này tác giả đã
đề cập đến các quy tắc viết chính tả tiếng Việt, cách chữa lỗi thông thường về chính tả và cách quy định tạm thời về cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa
Gần đây nhất, nhà nghiên cứu ngôn ngữ Giáo sư Phan Ngọc đã viết cuốn
"Mẹo chữa lỗi chính tả" - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội và Nhân văn 2009
Trong cuốn sách này tác giả đã nghiên cứu về nguyên tắc dạy mẹo chính tả, tìm hiểu về cấu tạo õm tiết tiếng Việt và cách phân biệt từ Hán - Việt Tác giả cũng cung cấp một số mẹo phân biệt chính tả và một số dạng bài tập chính tả
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 4Với mục đích góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Chính tả nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung cho học sinh Tiểu học Xuất phát từ thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh, chúng tôi xác định những lỗi chính tả
mà học sinh thường mắc phải ở các địa phương Từ đó tìm ra những biện pháp giúp rèn luyện kỹ năng sử dụng đúng chính tả của học sinh Tiểu học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các lỗi chính tả
mà học sinh mắc phải qua các bài viết Chính tả, Tập làm văn của học sinh lớp
Ba, Bốn Tìm ra nguyên nhân và nêu biện pháp giúp rèn luyện kỹ năng viết
đúng chính tả của học sinh Tiểu học
- Trường Tiểu học Văn Tố - huyện Tứ Kỳ- tỉnh Hải Dương
- Trường Tiểu học Lưu Quý An - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu:
- Khái niệm về chính tả, một số đặc điểm chuẩn của chính tả Những căn
cứ của chính tả và phân loại lỗi chính tả
- Tìm hiểu thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh Tiểu học (khối 3
và 4)
- Tìm hiểu nguyờn nhân, cách sửa lỗi và đưa ra biện pháp giúp rèn luyện
kỹ năng chính tả cho học sinh Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp đọc sách và tra cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê toán học, phân tích, phân loại, so sánh qua các bài viết của học sinh và qua phiếu điều tra
- Phương pháp quan sát: thông qua dự giờ, trao đổi, phỏng vấn giáo viên
Phần kết luận
Trang 6Nội dung
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khỏi niệm chớnh tả và một số đặc điểm của chớnh tả
Khái niệm chính tả, Giáo sư Phan Thiều trong cuốn: "Rèn luyện ngôn
ngữ" NXB GD năm 1989 cũng đưa ra khái niệm: Chính tả là những quy định mang tính xã hội cao và được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và tuân thủ
Trong đề tài này chúng tôi lựa chọn cách quan niệm của Phan Thiều:
rèn luyện ngôn ngữ - NXB Giáo dục năm 1998 để tiến hành nghiên cứu
1.1.2 Một số đặc điểm của chính tả
Theo quan điểm của một số tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu
và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn - Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà
xuất bản Giỏo dục năm 1997 thì chính tả tiếng Việt có ba đặc điểm sau:
- Tính chất bắt buộc: Gần như tuyệt đối của chính tả đặc điểm này đòi
hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chớnh tả Chữ viết có thể chưa hợp
lý nhưng được thừa nhận là chớnh tả thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi, trong chớnh tả không có sự phân biệt hợp lý - không hợp lý, hay - dở
Trang 7mà chỉ có sự đúng - sai, có lỗi - khụng cú lỗi
Đối với chớnh tả yờu cầu cao nhất là cỏch viết thống nhất trong văn bản, mọi người và mọi địa phương
- Chuẩn chớnh tả có tính chất cố hữu: Nó tồn tại hàng thế kỷ nay mà
không có sự thay đổi Sự tồn tại hàng thế kỷ tạo cho nó sự "bất di, bất dịch" một tâm lý bảo thủ Mặt khác do đặc tính trường tồn này mà chính tả thường lạc hậu hơn so với ngữ âm Sự mâu thuẫn giữa sự phát triển của ngữ âm "hiện
đại" và chính tả "cố hữu" là nguyên nhân làm cho chính tả trở lên khó thay đổi hơn
- Ngôn ngữ phát triển chính tả không thể giữ được tính chất "cố định"
Điều này có nghĩa là: bên cạnh cái được coi là chuẩn mực thì lại có cách viết
tồn tại song song với nó được gọi là hiện tượng "song tồn" chính tả
chính âm ( ví dụ không thể viết là bo vang hay Ba Vi,… như cách phát âm của
phương ngữ Sơn Tây) Cho nên không thể thực hiện phương châm nghe thế nào - viết thế ấy
Chính tả xây dựng theo nguyên tắc là dạy chớnh tả kết hợp với luyện phát
âm
1.2.2 Căn cứ ngữ nghĩa
Chính tả tiếng Việt là chớnh tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết
đúng chớnh tả thì việc nắm nghĩa của từ có vai trò rất quan trọng Hiểu được
Trang 8nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả
Ví dụ: Trường hợp từ có hình thức ngữ âm là trung hay chung thì phải
phân biệt được của hai từ này Với nghĩa" ở giữa, ở trong" (trung tâm hay tập trung) (trung bình) hết lòng với nước, với người (trung hiếu, trung thành,
trung quân), còn với "chung" nghĩa là "không riêng, chung" (chung sống) hay
"cuối cùng"( chung thủy, chung kết )
Vỡ thế có thể kết luận rằng chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa 1.2.3 Căn cứ quy tắc
Theo quy tắc này, để viết đúng chính tả chúng ta cần vận dụng có ý thức những quy tắc làm căn cứ để có thể viết đúng tất cả các từ (các chữ) nằm trong phạm vi quy tắc không cần nhớ từng chữ một mà vẫn có thể viết đúng
Ví dụ: + Khi viết trước các phiên âm: e, ê, i
vị học chữ viết, để lại trong cơ cấu chữ quốc ngữ nhiều hiện tượng chính tả trái nguyên tắc âm vị và chữ viết
Vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt là một quá trình lâu dài và phức tạp vì
Trang 9những nhận thức Tuy nhiên điều căn bản là phải nắm vững những đặc điểm ngôn ngữ và chữ viết tiếng Việt Trên cơ sở đó cùng những nguyên tắc và xử lý mềm dẻo ta mới tiến hành chuẩn hóa chính tả tiếng Việt
Chúng ta có những quy định chính tả tiếng Việt do Bộ Giáo dục ban hành như sau:
+ Một số quy định chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục Việt Nam nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thứ trưởng Vũ Thuần Nho ký) ban hành ngày 30 tháng 4 năm 1980
+ Quyết định số 240/QĐ - Quy định về chính tả và thuật ngữ tiếng Việt của Bộ Giáo dục (do bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký) ban hành ngày 05 tháng
3 năm 2004
+ Quy định tạm thời về viết hoa, tên riêng, trong sách giáo khoa - Ban hành theo quyết định số 07/2003 QĐ - BGD và ĐT ban hành ngày 13/3/2007 (do thứ trưởng Đặng Huỳnh Mai ký) đây là bản quy định đầy đủ nhất và mới nhất theo:
Nghị định số 86/2002 NQ – CP - 05/11/2002 của Chớnh phủ về chức năng và quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của các cơ quan ngang Bộ
Theo đề nghị của Vụ trưởng vụ Tiểu học và Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục
Trong khổ đề tài này chúng tôi chọn và trích dẫn theo quy định tạm thời
về cách viết trong sách giáo khoa (ban hành theo quyết định số 07/2003/QĐ - BGD và ĐT)
1.3.1 Quy định về viết tên hoa riêng
1.3.1.1 Quy định về viết tên hoa riêng Việt Nam
1) Tên người: Viết hoa chữ cái đầu các âm tiết: Phạm Văn Đồng, Lê
Hồng Phong, Nguyễn Lương Bằng,
* Chú ý: Tên danh nhân và tên và nhân vật lịch sử cấu tạo bằng cách tập hợp bộ phận tên cụ thể cũng được gọi là tên riêng và viết hoa theo quy tắc tên
Trang 10người: Bà Trưng, Bà triệu, Ông Gióng,
2) Tên địa lý: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết: Hải Dương, Hà
Nội , Nha Trang,
* Chú ý: Tên địa lý được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung, danh từ chỉ hướng với bộ phận tên cụ thể cũng được coi là danh từ tên địa lý và viết hoa theo quy tắc địa lý: Tây Bắc, Đông Nam, Trường Sơn Tây,
3) Tên dân tộc: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết: Kinh, Tày,
Sán Dìu, Vân Kiều,
4 ) Tên người, tên địa lý, tên dân tộc Việt Nam thuộc các dân tộc anh
em: có cấu tạo các âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau)
Đối với bộ phận nhân tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết : Ba - na, Ê - đê, Ea- súp, Krông - a na, …
5) Tên các cơ quan tổ chức, đoàn thể: Viết hoa chữ cái của âm tiết đầu
tiên và các âm tiết của các bộ phận cấu thành tên riêng
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Uỷ viên ban thường vụ Quốc hội
Trường Tiểu học Kim Đồng
6) Các từ cụm chỉ sự vật, con vật dùng làm tên riêng của nhân vật: Viết
hoa chữ cái của âm tiết tạo thành tên riêng: (chú) Chuột, (cô) Chào Mào, (bác) Nồi Đồng, (mụ) Gà, (ông ) Mặt Trời,…
1.3.1.2 Cách viết tên của người nước ngoài
Trang 11nối giữa các âm tiết: Phơ-đi-rơ Ăng-ghen, Vơ-la- đi-mia I-lích Lê nin,…
2) Tên các cơ quan, tổ chức nước ngoài
- Theo trường hợp dịch nghĩa: Viết theo quy tắc các cơ quan, tổ chức Việt Nam: Viện khoa học giáo dục Bắc Kinh, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát - xcơ - va,
- Trường hợp viết tắt: Viết nguyên dạng viết tắt, tùy theo từng trường hợp
có thể ghi tên dịch nghĩa hay ghi tên nguyên dạng không viết tắt: WB (Ngân hàng Thế giới) hay WB (Wold Bank),
1.3.1.3 Quy tắc viết hoa còn có
1) Chức danh, chức vụ, danh hiệu, giải thưởng
- Những từ biểu thị chức danh, chức vụ thông thường được viết hoa chữ cái đầu tiên khi từ ngữ chỉ chức danh, chức vụ để tỏ lòng kính trọng: Thủ trưởng, Giáo Sư, Chủ tịch, Hiệu trưởng,
- Những từ biểu thị cho tên danh hiệu, giải thưởng thì viết hoa chữ cái
đầu tiên biểu thị cho tính chất riêng biệt của tên: Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Nhà giáo Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú,
2) Về tên các tác phẩm, sách báo, tuyên truyền, bài thơ, bức tranh, bản
nhạc, hay bài hát: Khi viết tên các tác phẩm hay trích dẫn các câu viết thì viết
hoa chữ cỏi đầu tiên: Cuốn theo chiều gió, Tiến quân ca, Tiếng hát con tàu,…
3) Tên các ngày lễ, các phong trào, ngày lễ kỷ niệm: Viết hoa tất cả chữ
cái đầu biểu thị cho tính chất riêng biệt của ngày lễ: Ngày Quốc khánh, Ngày Thương binh Liệt sĩ, Cách mạng tháng Mười, Xô viết Nghệ Tĩnh,
4) Về viết ngày, tháng, năm trong các văn bản hành chính: viết đầy đủ
ngày 1 đến 9 và tháng 1 tháng 2 thì phải viết thêm số "0" vào trước Các văn bản hành chính ghi ngày, tháng, năm không được viết tắt bằng dấu gạch nối hay dấu gạch xiên, chẳng hạn: Hà Nội ngày 17 tháng 01 năm 2010
Những trường hợp còn lại có thể viết tắt các chữ ngày, tháng, năm bằng dấu gạch nối hay dấu gạch xiên: ngày 22/4/2009 hay 04/8/1987
Trang 125) Các chữ đầu câu, đầu dòng thơ và mở đầu các dòng một phép liệt kờ
phải viết hoa
6) Quy tắc viết tắt: Chữ viết tắt thay thế cho từ ngữ gốc tất cả các chữ
cái đầu của từ ngữ gốc, được viết in hoa và viết thành một khối: Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội viết thành ĐHQGHN, công ty xuất nhập khẩu thành
XNK,
1.3.2 Quy định viết các âm
Các chữ biểu thị các phần của âm tiết (gồm có: õm đầu, âm đệm, âm
chính, âm cuối) và được sắp xếp theo cấu trúc sau:
Âm tiếng Việt viết ở dạng đầy đủ nhất gồm 5 thành tố
Thanh điệu (5)
Trang 13(1)
Âm điệm (2)
Âm chính (3)
Âm cuối (4)
Chữ cái tiếng Việt có đặc điểm là sự tương ứng một đối giữa âm và ký hiệu biểu thị những trường hợp không có sự tương ứng một đối một giữa âm
và ký hiệu có nhiều nguyên do trong đó có cả nguyên do và lịch sử hình thành chữ viết Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ dừng ở phạm vi nêu các
âm và các ký hiệu tương ứng cho từng trường hợp
Trang 14+ Ghi là q khi nó đứng trước nguyên âm đệm u
+ Ghi là c khi sau nó là các âm còn lại như: a, o, u, ơ,…
- Âm / /có hai sự thể hiện trên chữ viết:
+ Ghi là ngh sau khi nó là các nguyên âm: e, ê, i nguyờn õm đụi iờ
+ Ghi là ng khi sau nó là các nguyên âm cũn lại
- Âm / / có hai sự thể hiện trên chữ viết:
+ Ghi là gh khi sau nó là các nguyên âm: e, ê, i và nguyên âm đôi iê
+ Ghi là g khi sau nó là các nguyên âm còn lại
- Âm /Z/ có ba sự thể hiện trên chữ viết nhưng lại được áp dụng trên nguyên tắc ngữ nghĩa, tức là để viết được đúng thì người viết cần nhớ nghĩa và cách tương ứng
Ví dụ: Để phân biệt d và gi có ý kiến cho rằng về mặt kết hợp trong nội
bộ chữ Việt thì gi không đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, uõ, oe, uờ,
uy và ngược lại thì d có thể đi cùng các vần ấy
Hay căn cứ vào âm và nghĩa Hán - Việt thì: viết là d nói về phần bọc ngoài của cơ thể như: da dẻ, da thịt còn gi là nói đến nhà (gia đình, gia tộc,
hay gia tăng, gia hạn, gia vị, )
Trang 151.3.2.2 Quy định về âm đệm
Âm điệm tiếng Việt ký hiệu u được ghi bằng hai chữ cái
- Ghi là u khi nó xuất hiện trước nguyên âm: e, ê, i nguyên âm đôi iê
Ví dụ: tuy, quờ, huyện, huân, huy và khi xuất hiện sau con chữ q: quán, quẻ,
Trang 16Tiếng Việt có 14 nguyên âm và tổ hợp nguyên âm là âm chính trong đó
có âm được ghi bằng một chữ nhưng cũng có âm được ghi bằng hai, ba hay bốn chữ
1) Âm / i/ được ghi bằng hai chữ:
+ Ghi là y khi nó đứng sau âm đệm (huy, tuy, thủy, ) hay khi nó đứng
sau một mình là tiếng Hán - Việt (y học, y khoa, quân y, ý kiến, )
+ Ghi là i khi đứng giữa tiếng mà đằng sau nó không có âm đệm (lim dim, kim kim, bìm bịp,…), khi nó đứng cuối tiếng (trừ: uy, ay, ây) như: li kì,
chí khí, tươi cười,… khi nó đứng một mình và là tiếng thuần Việt: ỡ ạch, í ới,…
2) Âm /iê/ có bốn hình thức thể hiện chữ viết:
+Viết là iờ khi đằng trước nó không có âm đệm, đằng sau nó có âm
cuối: tiên tiến, nhiệt liệt,
+ Viết là yê đằng trước nó có âm đệm và đằng sau nó có âm cuối: yên, yến, truyền thuyết,
+ Viết là ia khi nó đứng một mình và đằng cuối tiếng mà đằng trước nó
không có âm đệm: kia kìa, tia chớp, vỉa hè,
+ Viết là ya đằng trước nó có âm đệm và đằng sau nó có âm cuối:
khuya, phơ tuya,
3) Âm / / có hai hình thức chữ viết:
+ Viết a trong các âm tiết có vần au hay ay: may, cau,
+ Viết ă trong cỏc trường hợp cũn lại: săn, bắt, sắn,…
4) Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+ Viết a trong những vần anh, ách, oanh, oách như: tranh dành, hoành,
mạch,
+ Viết e trong những trường hợp còn lại như: mẹ, bé,
5) Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+ Viết là ưa trong những vần không có âm cuối như: ca, bừa, thưa,
Trang 17+ Viết là ươ trong những có âm cuối: thưởng, nước,
6) Âm /uo/ có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+ Viết là ua khi không có âm cuối như: mua, lúa, của,
+ Viết là uô khi âm cuối: ruối, muộn, thuốc,
7) Âm / / có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+ Viết oo khi có sự đối lập ngắn về phát âm: boong, soóc, xoong, + Viết là o trong các trường hợp còn lại: mòn, bóng,
1) Âm /i/: có hai hình thức thể hiện chữ viết:
+Viết là y khi xuất hiện sau các vần ay, ây: cây, chạy, cầy,
+ Viết là i trong các trường hợp còn lại: ai, mời, tôi,
2) Âm /u/:
Trang 18+ Viết là o khi xuất hiện sau các vần ao, eo: léo, nhéo, lao xao,
+ Viết là u trong những trường hợp còn lại: cừu,sếu, lựu,
3) Âm /k/ có hai hình thức thể hiện:
+ Viết là ch khi xuất hiện sau các nguyên âm e, i, ê, a: lịch kịch, dịch
hạch,
+ Viết là c trong những trường hợp còn lại: bước, tước, cúc,
4) Âm / / cú hai hỡnh thức thể hiện:
+ Viết nh sau các nguyên âm hàng trước như: linh tinh, thêng thang, + Viết ng trong các trường hợp còn lại: mang, hàng, hồng,…
1.3.3.5 Quy định về viết dấu thanh
Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu Âm tiết nào của tiếng Việt
cũng mang thanh điệu Tiếng Việt có sáu thanh ngang (thanh không) huyền,
ngã, sắc, nặng, hỏi,
Trong tiếng Việt có dấu ghi thanh luôn gắn với âm chính
1) Với các âm tiết có âm chính là các nguyên âm đơn thì đặt dấu thanh vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính: tà, nhà,
2) Với các âm tiết có âm đêm có âm chính là nguyên âm đơn thì bỏ dấu thanh vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính: hòe, quỳ, hòa, hoàn,
3) Với âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi
+ Nếu âm tiết có nguyên âm là: iờ, uô, ươ, yê Với các âm tiết có âm chính là các nguyên âm và âm cuối viết bằng: p, t, c, ch, m, nh,… thì bỏ dấu
lên chữ cái thứ hai trong tổ hợp chữ cái biểu diễn cho âm chính: yến, uốn, tiến, chuyển, muộn, thiện,
+ Nếu âm tiết có nguyên âm là ia, ya, ua, thì dấu thanh đặt vào vị trí
chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính: tỉa, tủa, khứa,
1.4.Những loại lỗi chính tả thường gặp
1.4.1 Lỗi về âm
Trang 19Trong phát âm, người Bắc Bộ không phân biệt tr và ch học sinh Hà Nội
phân biệt một cách ngộ nghĩnh tr là "trờ trê" (cá trê) và ch là "chờ chú” (con chú)
Ví dụ: - leo trèo - leo chèo
- chòng chành - tròng trành
- chói chang - chói trang
- Lỗi lẫn lộn S và X
Người bắc bộ nói chung không phân biệt s và x trong phát âm, HS cấp
1ở Hà Nội gọi S là “xờ nặng” và gọi X là “xờ nhẹ”
Ví dụ: - xoay xở - soay sở - săm lốp - xăm lốp
- sương - xương
- Lỗi lẫn lộn R với D và Gi
Người Bắc Bộ nói chung không phân biệt R với D và Gi trong phát nên
âm thường lẫn lộn khi viết chúng
Ví dụ: - giòng - dòng
- hỏt giặm - hỏt dặm
- râm bụt - giâm bụt
- Ngoài ra còn một số trường hợp khỏc
Trang 20Lỗi lẫn lộn âm đầu là lỗi lẫn lộn phổ biến trên 3 miền của đất nước Đây
là lỗi phát âm do không có sự phân biệt rõ ràng đó cũng là nguyên nhân làm cho việc thể hiện trên chữ viết cũng không chính xác
Ví dụ: - quán - quoán - quỏn
- quỳnh - quuỳnh
1.4.1.3 Lỗi lẫn lộn õm chớnh
Đây cũng là lỗi phổ thông phổ biến, nó chỉ xảy ra ở một địa phương ở
đồng bằng Bắc Bộ như: Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc, tiêu biểu là một số lỗi về một số âm như:
- a/â : làu bàu/lầu bầu, tàu/tầu,…
Các lỗi vần thường thấy ở cả ba miền của đất nước nhưng ở mỗi miền
thì lại có phần khác nhau chẳng hạn: người Bắc Bộ lẫn lộn iu với ưu, iêu với
Trang 21ươu, người Nam Bộ thì lẫn lộn iu với iêu, ươu với ưu, ang với an, iết với iếc
Ví dụ: - ưu với iu: lưu lạc - liu lạc, trừu tượng - trìu tượng,…
- iêu với ươu: riệu - rượu, con hiêu - con hươu,
1.4.3 Lỗi về thanh điệu
Đây chủ yếu là lỗi lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã một lỗi rất phổ thông
ở Trung Bộ và Nam Bộ mà cách phát âm không có sự phân biệt hai thanh này với nhau Chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ mới có sự phân biệt rõ ràng hai thanh này trong phát âm Và do đó, trong chữ viết thì người Bắc Bộ ít sai chính tả hơn về thanh điệu hơn so với người Trung và Nam Bộ Tuy nhiên đối với một số từ Hán -Việt thì người miền Bắc cũng có thể lẫn lộn hỏi, ngã
Cụ thể về lẫn lộn về thanh điệu:
+ Hỏi - ngã: gấp rưỡi - gấp rưởi,…
+ Ngã - sắc : ngã - ngá, bão - báo,…
+ Hỏi - nặng: hỏi - họi, bảo - bạo,…
1.5 Phõn môn chớnh tả ở Tiểu học
1.5.1 Mục tiêu của phân môn Chớnh tả
Cụ thể mục tiêu của phân môn Tiếng Việt, phân môn Chính tả nhằm hình thành ở HS kỹ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý kỹ năng viết chính tả cung cấp cho HS những kiến thức chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả Phân môn Chính tả góp phần rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hóa Cung cấp những hiểu biết sơ giản về tự nhiên và xã hội, về con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải, góp phần hình thành lòng yêu mến
1.5.2 Nhiệm vụ của phân môn Chớnh tả
Phân môn Chớnh tả có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Giúp HS nắm vững quy tắc hình thành chớnh tả và hình thành kỹ năng chính tả Nói cách khác, phân môn Chớnh tả có nhiệm vụ giúp các em hình thành
Trang 22năng lực về thói quen viết chính tả: viết đỳng chữ ghi âm đầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí tiến tới viết đẹp, viết nhanh
- Rèn luyện một số phẩm chất như: tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm với công việc, óc thẩm mỹ bồi dưỡng cho các em lòng quý trọng, yêu quý tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt
1.5.3 Nội dung phõn mụn Chớnh tả ở Tiểu học
1.5.3.1 Chương trình Chính tả ở Tiểu học
- Lớp 1: phần học vần không có bài chính tả, ở phần luyện tập tổng hợp, mỗi tuần có một tiết Chính tả
+ Hình thức học chính tả: Tập chép, bước đầu tập đọc để viết chính tả (Tiếng Việt)
+ Kỹ năng cần rèn luyện : Luyện các chữ ghi âm, vần khó: g, gh, ng,
ngh, c, k, q,… tập viết dấu câu (dấu chấm, dấu hỏi…) tập trình bày một bài
- Lớp 3: Mỗi tuần có 2 tiết chính tả
+ Hình thức chính tả: nghe - viết, nhớ lại bài chính tả đã thuộc để viết chính tả (nhớ - viết)
+ Kỹ năng chính tả: cần rèn luyện tập viết hoa tên địa lý, nước ngoài, tập phát hiện, sửa lỗi chính tả phương ngữ
- Lớp 4: Mỗi tuần có 1 tiết chính tả
+ Hình thức chính tả: nghe - viết, nhớ - viết
+ Kiến thức và kỹ năng chính tả: viết chính tả tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định, lập sổ tay chính tả, ôn tập các quy tắc chính tả
Trang 23đã học, tập sửa lỗi chính tả
- Lớp 5: Mỗi tuần có 1 tiết chính tả
+ Hình thức chính tả: nghe - viết, nhớ - viết
+ Kiến thức và kỹ năng chính tả: viết chính tả, viết đúng một bài chính tả chưa được đọc với tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định, lập sổ tay chính tả, ôn tập các quy tắc chính tả, chính tả phương ngữ
1.5.3.2 Cấu trúc bài chính tả
Cấu trúc bài chính tả gồm hai phần :
- Phần 1: Chính tả đoạn/bài: là bài viết chính tả có nội dung theo chủ điểm của học tuần Bài viết có thể là trích đoạn bài tập đã học hay được soạn lại từ một bài tập đọc đã học cho phù hợp với mục tiêu dạy học hoặc cũng có thể một bài viết được chọn ở ngoài SGK Tiếng Việt Yêu cầu về dung lượng bài viết và thời gian dành cho mỗi khối khác nhau
+ Lớp 1: Tập chép hoặc nghe - viết bài chính tả dài khoảng 50 chữ (lớp 2) hoặc 60 chữ (lớp 3) Yêu cầu về tốc độ viết: 3 - 4 chữ/phút
+ Lớp 4-5: Nghe - viết hoặc nhớ -viết bài chính tả độ dài khoảng 80 (lớp 4), 100 chữ (lớp 5) Yêu cầu về tốc độ viết 6 - 7 chữ/phút
- Phần 2: Chính tả âm - vần: Phần này gồm các bài tập luyện kỹ năng chính tả cho học sinh, có hai nhóm bài tập từ âm vần
+ Nhóm bài tập chính tả bắt buộc: dành cho mọi đối tượng HS Đây là bài tập nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng chính tả cho HS các vùng - miền khác nhau
+ Nhóm bài tập lựa chọn (để trong dấu ngặc đơn): Đây là bài tập chính tả phương ngữ Để thực hiện được bài tập này thì HS phải sử dụng thao tác đối chiếu, so sánh, lựa chọn Tùy theo đặc điểm phương ngữ của từng đối tượng,
GV lựa chọn bài tập thích hợp để HS luyện tập GV cũng có thể soạn bài tập lựa chọn cho phù hợp với HS của mình
1.5.3.3 Các dạng bài chính tả đoạn bài
Trang 24Có 3 dạng bài chính tả
1 - Dạng bài tập chép
Tập chép là dạng bài chính tả yêu cầu HS chép lại tất cả các từ, câu, hay
đoạn trong SGK trên bảng lớp Trong kiểu bài tập chép HS dựa vào văn bản mẫu để đọc (đọc thầm) và chép lại đúng hình thức chữ viết của văn bản mẫu
Kiểu bài này có tác dụng là giúp các em nhớ mặt chữ của các từ, câu,
đoạn Qua việc lặp đi lặp lại các hình thức của HS đi vào tiềm thức của các
em
2 - Dạng bài nghe- viết
Đây là kiểu bài thể hiện đặc trưng riêng của phân môn chính tả Hình thức chính tả nghe đọc thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tả tiếng Việt: là chính tả ngữ âm giữa âm và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ mật thiết đọc thế nào - viết thế ấy
Dạng bài chính tả nghe - viết yêu cầu HS nghe từng từ, cụm từ, câu do
GV đọc và viết lại một cách chính xác, đúng chính tả những điều nghe được theo đúng tốc độ quy định Muốn viết các bài chính tả nghe và viết HS phải
có năng lực chuyển ngôn ngữ viết phải nhớ mặt chữ và các quy tắc chính tả tiếng việt Bên cạnh đó vì chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa muốn viết
đúng chính tả HS cũn phải hiểu nội dung của tiếng từ hay câu của bài viết
Để các kỹ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng ở HS, văn bản được chọn làm bài viết chính tả phải chứa nhiều hiện tượng chính tả cần dạy, văn bản phải có nội dung phù hợp vớI từng độ tuổi, có tính thẩm mỹ cao, có độ dài đúng quy định của chương trỡnh
Bài viết chính tả có thể là đoạn trích của bài tập đọc đã học trước hay bài tập được đọc biên soạn lại cho phù hợp yêu cầu của bài chính tả Bài cũng
có thể làm ngoài SGK để gây hứng thú cho các em
3 - Dạng bài viết - nhớ
Đây là dạng bài yêu cầu tái hiện hình thức chữ viết, viết lại văn bản mà
Trang 25các em đã học thuộc Kiểu bài này nhằm kiểm tra năng lực ghi nhớ của HS và
được thực hiện ở giai đoạn mà các em đã quen và nhớ hình thức chữ viết của tiếng Việt
1.5.3.4 Các dạng bài tập chính tả âm - Vần
Hệ thống các bài tập chính tả âm - vần trong phân môn Chính tả có số lượng khá phong phú và được thể hiện bằng các hình thức khá đa dạng Nhờ
có sự đa dạng phong phú đó hệ thống bài tập âm - vần chính tả góp phần rèn luyện cho HS các kỹ năng chính tả, đặc biệt là trường hợp viết đúng chính tả, trong các trường hợp khó và dễ lẫn Sự phong phú về hình thức bài tập giúp các em thực hành một cách thoải mái, không cảm thấy chán nản hay mệt mỏi
Căn cứ vào hình thức, ta có thể chia bài tập chính tả làm nhiều nhóm: 1- Điền âm, vần vào chỗ thống hoặc dấu thanh trong câu, đoạn văn hay bài văn
2 - Điền tiếng vào chỗ trống
3 - Chọn tiếng thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh đoạn văn
4 - Tìm tiếng có nghĩa trong bảng kết hợp phụ âm đầu vần
5 - Giải câu đố để phân biệt các hình thức chính tả và nghĩa đã cho
6 - Tìm từ phù hợp cho hình thức chính tả và nghĩa đã cho
7 - Tìm từ phù hợp với hình thức chính tả và từ loại đã cho
8 - Tìm các tiếng có thể ghép với tiếng sau
9 - Tìm vần của tiếng
…
1.5.4 Quy trình lên lớp chung cho một bài chính tả
1.5.4.1 Kiểm tra và ôn tập bài cũ
Bước này có thể thực hiện bằng hai cách dưới đây:
- Yêu cầu HS làm bài tập chính tả để ôn lại hiện tượng chính tả đã học ở bài trước: HS nghe - viết một số từ đã luyện tập ở bài chính tả trước
- Nhận xét bài viết chính tả của HS mà GV thu về chấm từ buổi trước Nêu
Trang 26một số lỗi tiêu biểu, nhắc nhở HS cách chữa và khắc phục
1.5.4.2 Dạy bài mới
GV nêu yêu cầu của bài viết chính tả và các bài tập chính tả âm vần a- Hướng dẫn học sinh bài viết chính tả:
* Tỡm hiểu bài viết Chớnh tả
- Cho HS đọc bài chính tả sẽ viết (trong SGK) tìm hiểu (hay tái hiện) nội dung chính của bài viết
- Hướng dẫn HS nhận xét các hiện tượng chính tả cần lưu ý trong bài (theo gợi ý của SGK hay do GV căn cứ vào đối tượng HS cụ thể để gợi ý)
- Yêu cầu HS luyện viết những chữ khó hoặc dễ lẫn
* Hướng dẫn HS viết bài tập chép, nhớ - viết, hoặc nghe - viết Khi đọc
bài cho HS viết, cần thực hiện theo các bước sau:
- Đọc bài chính tả cho HS nghe một lần trước khi viết (đọc rõ ràng, tốc độ vừa phải)
- Đọc bài lần thứ hai cho HS nghe - viết từng câu ngắn hay từng cụm từ (mỗi câu ngắn hay từng cụm từ hai đến ba lần, lần thứ nhất đọc chậm, lần thứ hai đọc đúng tốc đọc quy định)
- Đọc lại toàn bài tập lần cuối cho HS soát lại bài chính tả của bài viết
* Chấm và chữa bài chính tả
Mỗi giờ chính tả, GV chọn chấm một số bài viết của HS Đối tượng chấm là:
- Những em đến lượt chấm bài
- Những em hay mắc lỗi, cần rèn luyện thường xuyên GV cần giúp HS kiểm tra bài viết để phát hiện và chữa lỗi bằng một trong hai cách dưới đây: + Cho HS quan sát bài chính tả đã được GV chép sẵn trên bảng phụ, đối chiếu với bài viết của mình để phát hiện và chữa lỗi
+ GV đọc lại bài chính tả đã được viết, chỉ dẫn cách viết từng hiện tượng chính tả khó trong mỗi câu để HS đối chiếu với bài viết của mình phát
Trang 27hiện và chữa lỗi
b- Hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả Âm - vần:
GV hướng dẫn HS làm tất cả bài tập bắt buộc và một số bài tập lựa chọn (tùy theo đặc điểm phương ngữ) theo quy trình sau:
- Đọc yêu cầu của bài tập
- Làm bài tập (cá nhân hay thảo luận theo cặp nhóm)
- Một số HS báo cáo kết quả, HS khác nhận xét
Trang 292.1.1 Địa ®iÓm tiến hành điều tra
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và khảo sát hai loại vở là vở Chính
tả và Tập làm văn của HS ở hai trường TH, một trường là đại diện cho khu vực nông thôn và một trường đại diện cho khu vực thành thị để thấy được thực trạng kỹ năng chính tả của HS
- Trường Tiểu học Văn Tố, huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương - Đại diện cho khu vực nông thôn
- Trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc - Đại diện cho khu vực thành thị
2.1.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã điều tra và nghiên cứu hai loại vở của HS ở hai khối lớp
Ba và Bốn, đây là hai đại diện cho bậc Tiểu học
+ Giai đoạn 1: Lớp 1, 2, 3 + Giai đoạn 2: Lớp 4, 5
2.1.3 Phương pháp tiến hành
Ở đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Chấm bài Chính tả và Tập làm văn của HS
- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh qua bài làm của HS
- Thông qua phỏng vấn trao đổi với GV và HS
2.1.4 Cách thức tiến hành điều tra
Trang 30Bằng cách thu và chấm hai loại vở Chính tả và Tập làm văn của HS để chấm và nghiên cứu khảo sát Chúng tôi đã thống kê và phân loại lỗi chính tả theo các lỗi như sau:
+ Lỗi về thanh điệu + Lỗi về vần
+ Lỗi về âm
2.1.5 Kết quả điều tra
2.1.5.1 Thống kê và phân loại lỗi chính tả
Ở hai trường Tiểu học chúng tôi đã tiến hành thu và chấm hai loại vở của HS lớp Ba và Bốn: vở Chính tả và Vở Tập làm văn Từ đó thống kê và phân loại lỗi mà HS mắc phải ở 200 bài chấm ngẫu nhiên và thu được kết quả như sau:
Bảng 1:
Lỗi
Học sinh Trường
Tiểu học Lưu Quý
An
Trường Tiểu học Văn Tố
Tổng
20 2,0%
không/sắc 5
0,5%
0 0%
5 0,5%
77 7,6%
ươu/iêu 17
1,7%
32 3,2%
49 4,9%
0,6%
2 0,2%
8 0,8%
130 12,9%
3,2%
21 2,1%
53 5,3%
8,5%
89 8,8%
174 17,3%
Trang 31s/x 50
5,0%
52 5,1%
102 10,1%
0,9%
13 1,3%
22 2,2%
0,5%
2 0,2%
7 0,7% viết hoa/
khụng viết hoa
24 2,4%
11 1,1%
35 3,5%
6,6%
27 2,7%
93 9,3%
Âm chớnh
1,1%
50 5,0%
61 6,1%
1,5%
2 0,2%
17 1,7%
Âm cuối
0,2%
18 1,8%
20 2,0%
3,5%
47 4,7%
82 8,2%
2,2%
27 2,7%
49 4,9% Tổng 488
48,6%
516 51,4%
1004 100%
Từ kết quả thống kê và phân loại, chúng tôi xin nêu ra một số ví dụ mà HS
hai trường TH đều mắc phải Đó là những loại lỗi sau:
a) Lỗi về thanh điệu: một số học sinh thường viết lẫn lộn thanh hỏi và ngã,
ngó/sắc: họi (hỏi) , rực rớ (rực rỡ), dũng sứa (dũng sữa),…
b) Lỗi về vần: HS cả hai trường đều mắc phải loại lỗi này, tiêu biểu là lỗi viết sai về ưu/iu; ươu/iêu
- Lỗi sai vần ưu và iu:
+ Viết ưu thành iu như: nghỉ hiu, liu lạc, siu tầm, liu luyến, biu điện,
hiu trí,
+ Viết iu thành ưu: ửu xìu, lứu lưỡi,…
- Lỗi viết sai vần ươu/iêu:
Trang 32+ Viết ươu thành iêu: con hiêu, con khiếu, chai riệu, biếu cổ,…
+Viết iêu thành ươu: hượu trưởng,…
Lỗi viết sai về vần chiếm một tỉ lệ lớn, trong đó phổ biến hơn cả là lỗi
vần ưu/iu với 63 lỗi
c) Lỗi về các âm:
HS hai trường đều mắc phải rất nhiều lỗi về âm, tiêu biểu là lỗi lẫn lộn
về các âm đầu như: tr/ch, l/n, d/gi/r, s/x,… ở đây chúng tôi nêu ra một số ví dụ
+ Viết tr thành ch: ông chăng, lều chại, thuỷ chiều, chung thành, chú
ngụ, chung thực, đọc chuyện,
Có 130 lỗi sai của HS về âm đầu ch/tr chiếm 12,9% tổng số lỗi
- Lỗi phân biệt d/gi/r
Rất nhiều HS không phân biệt ba âm này trong khi viết
+ Viết gi thành d như: dóng giả, dáng sinh, con dán, cướp dật, giục dã,
Đây là lỗi phổ biến nhất mà HS hai trường đều thường xuyên mắc phải
trong bài viết của mình Kết quả thống kê cho thấy có 174 lỗi về l/n chiếm
17,3% tổng số lỗi Có các lỗi tiêu biểu như sau:
+ Viết l thành n: chiếc nược, neo núi, nàng xóm, hiền nành, nơ nửng,
Trang 33núi nửa, gió nộng, công nao,…
+ Viết n thành l: mưa lắng, lo nê, lóng bức, lỗi đau, thuyền lan,…
+ Viết x thành s: sảy ra, sôi nếp, sa sôi, sưng hô, soắn suýt,…
* Về âm đệm: Một số HS mắc phải lỗi về âm đệm như: cong qoeo, qoanh,
luăn xuăn,…
* Về âm chính:
HS hay mắc phải lỗi về âm chính trong những vần sau đây:
+ Viết a thành â: mầu đỏ, cái cầy, giẫy nẩy, lúc nẫy,
+ Viết e thành i: ngõ hịp, nịp chân,…
* Về âm cuối:
HS viết lẫn lộn chữ cái ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+Viết lẫn lộn giữa c và t: co thắc, mặt quần áo, ngắt ngứ,…
+ Viết lẫn lộn giữa i và y: máy bai, mảy miết,…
+ Viết lẫn lộn giữa o và u: khuyên bảu,
2.1.5.2 Nhận xột và đỏnh giỏ thực trạng kỹ năng chớnh tả của học sinh
Chỳng tụi đó phõn loại và thống kờ vở Tập làm văn và Chớnh tả của HS
ở hai trường TH Chỳng tụi nhận thấy ở hai loại vở của cỏc em cũng như trong một số vở khỏc như vở Toỏn,Tiếng Việt nõng cao,…cũng mắc khỏ nhiều lỗi chớnh tả Qua thống kờ chỳng tụi nhận thấy cú ba loại lỗi cơ bản sau:
+ Lỗi về thanh điệu (chiếm 2,5% tổng số lỗi) + Lỗi về vần (chiếm 13,4% tổng số lỗi) +Lỗi về õm (chiếm 84,1% tổng số lỗi)
Trang 34Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát chóng tôi nhận thấy loại lỗi về
âm luôn chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm đến 84,1% tổng số lỗi, trong đó lỗi về âm đầu chiếm một tỉ lệ lớn là 52 %
Lỗi về thanh điệu chiếm số lượng khá ít là 2,5% tổng số lỗi
Lỗi về vần chiếm số lượng đáng kể nhất là lỗi về những vần như ưu/iu với 7,7% hay lỗi về ươu/iêu chiếm tỉ lệ là 4,9% Tìm hiểu và trao đổi với các
GV và HS chúng tôi nguyên nhân cơ bản của hiện tượng lỗi trên là do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương, phát âm sai dẫn đến viết sai, lỗi này cần được GV chú ý để các em nắm vững
So sánh kết quả của hai trường chúng tôi nhận thấy:
- HS trường Tiểu học Văn Tố mắc 516 lỗi (chiếm 51,4%) trong đó lỗi về âm nhiều nhất là 438 lỗi
- Trường Tiểu học Lưu Quý An với 488 lỗi (chiÕm 48,6%), lỗi về âm các em cũng mắc phải nhiều nhất là 407 lỗi
Kết quả thống kê và phân loại phản ánh một cách chân thực năng lực chính tả của HS Điều này phản ánh thực tế trong các nhà trường TH hiện nay
có có hai vấn đề rất đáng quan tâm :
+ Thứ nhất, về chất lượng GV trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và chất lượng giảng dạy môn Chính tả nói riêng: trình độ đào tạo chưa được đồng đều, nhiều khi việc tổ chức dạy và học môn Chính tả còn bị coi nhẹ Nhiều GV khi mới ra trường còn bị lúng túng về nội dung và phương pháp rèn luyện chính tả nên cũng gây khó khăn cho HS, nhất là HS vùng phương ngữ
+ Thứ hai: Về chương trình SGK: SGK TH xác định trọng điểm chính
tả cần dạy cho HS bằng cách xây dựng hệ thống bài tập khá đa dạng và phù hợp vïng, từng khối lớp Tuy nhiên lại cha thống nhất nên cũng gây khó khăn cho việc dạy - học ở TH, đặc biệt là các vùng phương ngữ
Trang 352.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng chính tả của học của học sinh Tiểu học qua phiếu điều tra
2.2.1 Địa điểm và đối tượng điều tra
Ở đề tài này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát HS ở hai tỉnh một là đại diện cho khu vực nông thôn và một là đại diện cho khu vực thành thị Với mục đích đánh giá một cách một cách kh¸ch quan nhất năng lực chính tả của
HS Tiểu học
Chúng tôi đã dùng phiếu tra và tiến hành ở HS của hai khối lớp Ba và Bốn ở hai trường:
+ Trường Tiểu học Văn Tố - huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương
+ Trường Tiểu học Lưu Quý An - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.2 Cách thức điều tra
Để khảo sát tìm hiểu thực trạng kỹ năng chính tả của HSTH, chúng tôi
đã xây dựng một bản an két điều tra (phiếu điều tra) Phiếu điều tra được chúng tôi xây dựng gồm 10 câu hỏi (chứa 18 vấn đề chính tả) cần điều tra và
trình bày dưới dạng Đúng/Sai, HS được hỏi có nhiệm vụ lùa chọn một trong
hai phương án đúng chính tả Nội dung phiếu điều tra được chúng tôi đưa vào phần phụ lục (trang )
2.2.3 Kết quả điều tra
Trong một tháng tiến hành điều tra (từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng
4 n¨m 2010) với kết quả điều tra là 200 bài trắc nghiệm của HS ở hai trường
TH Dựa vào đáp án chúng tôi đã chấm và xác định được kết quả làm bài làm của các em Đúng theo nguyên tắc đề ra thì nhiệm vụ của các em là chọn một trong hai phương án nhưng trong thực tế thì ở bài làm của nhiều em lại không
đưa ra đáp án (bỏ trống), chúng tôi vẫn coi trường hợp này là sai chính tả
Chúng tôi đã tiến hành điều tra các bài trắc nghiệm và thống kê trong một bảng từ đó đưa ra kết quả so sánh giữa hai vùng khác nhau
Trang 36Bảng thống kê ®îc trình bày ở hai cột: Đúng/Sai, trong đó những bài
không đưa ra đáp án (bỏ trống) được chúng tôi tính là phương án sai và đánh
vào dấu ngoặc đơn
Dưới đây là bản thống kê đánh giá thực trạng kỹ năng chính tả của HS
học Lưu Quý
An
Trường Tiểu học Văn Tố
Tổng
27(23) 0,9%
71 2,4%
29(8) 1,0%
71,5 4,8%
28,5 1,9%
2(1) 0,1%
88 2,9%
12 0,4%
93 6,2%
7 0,5%
au càu
nhàu
98 3,3%
2 0,1%
83 2,7%
17 0,5%
90,5 6,0%
9,5 0,6%
ăc đọc
ngắc ngứ
70 2,3%
30 1,0%
74 2,4%
26 0,9%
73,5 4,7%
26,5 1,9%
ưu trừu
tượng
58,8 2,0%
41,5 1,4%
69,5 2,3%
30,5 1,0%
64 4,3%
36 2,4%
nghiên cứu ươu bướu
cổ
75,5 2,5%
24,5(1) 0,8%
68,5 2,3%
31,5 1,0%
72 4,8%
28 1,8%
con hươu
Âm
ch chân
thật
76 2,5%
24 0,8%
77 2,6%
23 0,7%
76,5 5,1%
23,5 1,5%
tr chậm
trễ
71 2,4%
29 1,0%
69 2,3%
31 1,0%
70 4,7%
30 2,0%
s San sẻ 92
3,1%
8 0,3%
77 2,6%
23 0,8%
84,5 5,7%
15,5 1,1%
Trang 37ỏo 2,8% 0,6% 2,8% 0,6% 5,6% 1,2%
d dói dầu 78
2,6%
22 0,7%
85 2,8%
15 0,5%
81,5 5,4%
18,5 1,2%
gi giặt giũ 77
2,6%
23 0,7%
71 2,3%
29 1,0%
74 4,0%
26 1,7%
rượi
96 3,2%
4 0,1%
91 3,0%
9 0,3%
93,5 6,2%
6,5 0,4%
l hạ lệnh 98
3,3%
2 0,1%
79 2,6%
21 0,7%
83,5 5,9%
11,5 0,8%
n hụm nọ 97
3,2%
3 0,1%
79,5 2,7%
20,5 0,7%
82,2 5,9%
11,8 0,8% nộp bài
Tổng 1241
43,4%
259 8,7%
1165,6 38,8%
334,5 11,1%
2406,5 80,2%
593,5 19,8%
* Nhận xột, đỏnh giỏ thực trạng kỹ năng chớnh tả của học sinh Tiểu học:
Từ việc thống kờ cỏc kết quả chỳng tụi đưa ra nhận xột như sau: Với
200 bài trắc nghiệm chỳng tụi đó khảo sỏt cú 80,2% HS viết đỳng chính tả nhưng trong thực tế tỉ lệ HS viết đỳng chớnh tả ở hai trường cú sự chờnh lệch nhau trường TH Lưu Qúy An là 43,4% HS viết đỳng chớnh tả, trường TH Văn
Tố thỡ tỉ lệ này thấp hơn đạt 38,8% tổng số HS
Theo thống kờ của chỳng tụi thỡ cỏc õm đầu như õm r, õm a (ao) và õm cuối u (au) cú tỉ lệ HS viết đỳng chớnh tả cao nhất nhưng bờn cạnh đú thỡ ở cả hai trường vần ưu và ươu lại lệ viết đỳng thấp nhất
Về thanh điệu, số HS viết sai về thanh điệu chủ yếu là do các em khụng
điền dấu ở bài trắc (bỏ trống), chỳng tụi vẫn xếp những trường hợp này vào
trường hợp viết sai chớnh tả vỡ điều này cho thấy cỏc em vẫn chưa thống nhất
và xỏc định được cỏch viết đỳng trong từ này
Ở những õm a (ao), u (au) và õm l và n thỡ tỉ lệ HS nụng thụn viết sai
nhiều hơn thành thị vỡ HS khu vực nụng thụn (khu vực Bắc Bộ) khi viết những õm này chịu ảnh hưởng của phỏt õm địa phương nờn cú tỉ lệ viết sai nhiều hơn Đõy là một vấn đề đỏng quan tõm và cần thiết đưa ra những biện