luận muốn góp thêm những kết luận chính xác về con người cá nhân trong thơ chữ Hán của ông cũng như những đóng góp của tác giả này về nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong văn học
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô
giáo Nguyễn Thị Tính - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi
hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, đặc biệt là thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam và các bạn sinh viên đã
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
-Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi
-Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực
-Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu nào từng công bố
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Người thực hiện
Lưu Thị Vân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 7
1 Lí do chọn đề tài……… 7
2 Lịch sử vấn đề……… 8
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… 12
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 12
5 Phương pháp nghiên cứu……… 13
6 Đóng góp của khóa luận……… 13
7 Bố cục của khóa luận……… 13
NỘI DUNG……… 14
CHƯƠNG 1: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT……… 14
1.1 Về khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật……… 14
1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát……… 15
1.2.1 Những đại từ chỉ ngôi thể hiện con người cá nhân……… 15
1.2.2 Những đại từ chỉ số ít khi nói về bản thân……… 24
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT……… 31
2.1 Về khái niệm hình tượng nghệ thuật……… 31
2.2 Những hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát……… 32
2.2.1 Những hình tượng tự họa ngoại hình, tuổi tác……… 32
2.2.1.1 Những hình tượng tự họa ngoại hình……… 32
2.2.1.2 Những hình tượng tự họa tuổi tác và từng quãng đời cá nhân……… 44
2.2.2 Những hình tượng tự họa tính cách cá nhân……… 48
Trang 42.2.2.1 Những hình tượng tự họa phẩm chất, bản lĩnh cá nhân……… 48
2.2.2.2 Những hình tượng tự họa khát vọng cá nhân……… 56
2.2.2.3 Những hình tượng tự họa tình yêu cá nhân……… 65
2.2.3 Những hình tượng tự họa bi kịch cá nhân……… 73
2.2.3.1 Hình tượng con đường……… 73
2.2.3.2 Hình tượng đêm khuya……… 78
KẾT LUẬN……… 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 89
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn, có phong cách độc đáo trong nền văn
học dân tộc giai đoạn nửa sau thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX Ông để lại
thơ văn vào loại nhiều nhất so với tất cả các tác gia dưới thời trung đại Trong
đó, thơ chữ Hán Cao Bá Quát là mảng sáng tác có vị trí quan trọng, chứa
đựng những vấn đề lí thú, phức tạp Một trong những vấn đề không thể bỏ
qua khi nghiên cứu thơ chữ Hán của ông là vấn đề con người cá nhân
Văn học là nhân học, một khoa học về con người Bất cứ một nền văn
học nào cũng lấy con người làm đối tượng phản ánh chủ yếu Mặt khác, một
tác phẩm dù ở thời đại nào, dù đã tự giác hay chưa tự giác nhận thức cái tôi cá
nhân thì tác phẩm vẫn là con đẻ của người nghệ sĩ, là kết quả của sự tự ý thức,
tự đánh giá, tự miêu tả Nó gắn liền với cá tính sáng tạo và tài năng của mỗi
nhà văn Vì vậy, nghiên cứu con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát sẽ giúp
chúng ta hiểu sâu sắc hơn về bản thân tác giả, thấy được đóng góp của nhà
thơ trong lịch sử dân tộc
Xưa nay, vấn đề con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát chưa
được xem xét như một đề tài riêng biệt Giới nghiên cứu mới chỉ dừng lại vấn
đề này ở phương diện quan niệm về con người cá nhân của Cao Bá Quát Còn
Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân chưa có một công trình nào tập
trung bàn đến một cách toàn diện, hệ thống Điều này tạo ra một sự thiếu toàn
diện trong nghiên cứu con người cá nhân trong thơ chữ Hán của ông Bởi lẽ
nội dung và hình thức trong văn học gắn bó hữu cơ với nhau, tạo thành một
chỉnh thể nghệ thuật Quan niệm về con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao
Bá Quát sẽ có nghệ thuật thể hiện tương ứng Chọn đề tài này, tác giả khóa
Trang 6luận muốn góp thêm những kết luận chính xác về con người cá nhân trong thơ
chữ Hán của ông cũng như những đóng góp của tác giả này về nghệ thuật thể
hiện con người cá nhân trong văn học trung đại Từ đó khẳng định vị trí, tài
năng, phong cách nghệ thuật của Cao Bá Quát
Mặt khác, Cao Bá Quát là tác gia khá phức tạp, có khối lượng sáng tác
chủ yếu bằng chữ Hán Trong trường phổ thông cũng như cao đẳng, đại học,
thơ văn của ông chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Thực hiện đề tài này
giúp tác giả khóa luận tập dượt nghiên cứu khoa học và kết quả nghiên cứu
thu được sẽ phục vụ tốt cho việc giảng dạy ở trường phổ thông sau này
2 Lịch sử vấn đề
Cao Bá Quát là một nhà thơ mà phong cách không lẫn lộn với ai Do
hành động chống lại chế độ phong kiến nhà Nguyễn vào năm 1854, dưới triều
Tự Đức, ông bị khép vào tội phản nghịch Thơ văn của ông bị liệt vào loại
quốc cấm, không được lưu truyền Tuy nhiên, do thi tài tuyệt diệu, thơ văn
ông vẫn được người đương thời sao chép, truyền tụng Di sản thơ vô giá ông
để lại là đối tượng rất hấp dẫn cho giới nghiên cứu, phê bình văn học Một
khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu ra đời, các cuộc hội thảo cấp quốc
gia được tổ chức đã làm sáng tỏ nhiều giá trị vĩ đại trong sáng tác của một
nghệ sĩ lớn Vấn đề con người cá nhân trong thơ ông cũng đã có nhiều nhận
định đáng chú ý Trước tiên xin kể đến ý kiến của Trần Đình Sử: “Nhìn
chung thơ Cao Bá Quát thể hiện con người của ông, một cá nhân mạnh mẽ,
ngang tàng, sống ngoài thói tục Ông tài cao nhưng chí không ở công danh,
dám làm điều cấm kỵ” [12, tr 183] Tiếp theo ý kiến của Trần Đình Sử,
Nguyễn Lộc cũng dành những lời nhận xét về con người cá nhân trong thơ
Cao Bá Quát Ông đánh giá: “Thơ Cao Bá Quát viết về hiện thực khách quan
nhiều khi cũng là viết về con người cá nhân của mình Trong một số bài thơ
của ông, hiện thực chỉ là phương tiện để nhà thơ tự thể hiện” [18, tr 582]
Trang 7“Dường như viết về bất cứ đề tài gì, Cao Bá Quát đều thể hiện rõ nét con
người cá nhân của mình” [18, tr 558]
Có thể nói qua các công trình nghiên cứu, quan niệm về con người cá
nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát đã được khẳng định, lí giải, phân tích
khá sâu sắc Riêng Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân ông trong thơ thì
dường như còn là vấn đề mới mẻ Nó đã được đề cập trong lịch sử nghiên cứu
tác giả này nhưng khá ít và chưa sâu sắc, chưa trở thành một chuyên luận
riêng mà mới dừng ở mức miêu tả chung chung cùng với những vấn đề khác
về cuộc đời và thơ ca của ông Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua một số bài
nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật trong thơ chữ Hán
Cao Bá Quát
2.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân Cao Bá Quát có rất ít
tác giả tập trung nghiên cứu Bài viết đáng chú ý nhất trong xu hướng nghiên
cứu này là của Nguyễn Tài Thư Ông nhận xét: “Một phương diện khác cho
thấy đặc trưng của thơ ca Cao Bá Quát, đó là ngôn ngữ trong thơ của ông
Ngôn ngữ đó là ngôn ngữ hình tượng Nó là phương tiện để thể hiện tư tưởng
và tình cảm của tác giả Nó đã đạt tới mức độ thể hiện rõ cá tính con người
Cao Bá Quát” Sau nhận định này, Nguyễn Tài Thư đi sâu phân tích ngôn
ngữ trong thơ Cao Bá Quát về các phương diện: văn tự, tính nhạc, tính hình
ảnh, sự phong phú của vốn từ… Nhìn chung, tác giả bài viết đã có những
nhận xét, phân tích tinh tế, sâu sắc về ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Cao Bá
Quát Song đó mới là những nhận xét bước đầu Tác giả chưa đi sâu phân tích
những sắc thái biểu cảm, chất lượng nghệ thuật của các từ ngữ trong từng
trường hợp cụ thể Thêm vào đó, mục đích chính của bài viết chưa hướng đến
việc làm sáng tỏ con người cá nhân mà chỉ dừng ở ngôn ngữ thơ Cao Bá Quát
nói chung
Trang 82.2 Nghiên cứu hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
Ở xu hướng này, Đinh Thị Thái Hà nhận thấy: “Cao Bá Quát ca ngợi
sen, lan là để ca ngợi tính cách sống cao thượng, đồng thời cũng để động viên
mình giữ lấy tính cách đẹp đẽ, cao cả” [8, tr 213] Về câu thơ “Trường
Giang như kiếm lập thanh thiên” (Hiểu quá Hương giang), tác giả trên khẳng
định: “Phải là người có khát vọng lớn, có cái nhìn hơn người, đầy dũng mãnh
mới thấy được hình ảnh ấy” [8, tr 204]
Tiếp theo ý kiến của Đinh Thị Thái Hà, Vũ Dương Quỹ cũng dành
những trang viết về các hình tượng nghệ thuật trong thơ Cao Bá Quát Ông
nhận định: “Trong thơ ông, thiên nhiên thường được nhân cách hóa để tạo
những hình ảnh bay bổng, những tứ thơ phóng khoáng độc đáo như để khẳng
định tư thế hiên ngang, tầm mắt mở rộng, tâm hồn khoáng hoạt của bản
thân” [14, tr 101] Vũ Dương Quỹ còn nhận thấy: “Ông chọn hoa sen làm
biểu tượng cho nhân cách của mình” [14, tr 109]
Nói về hình tượng hoa sen, Xuân Diệu cũng có những nhận xét xác
đáng: “Cầm hoa sen là để tượng trưng cho phẩm chất của mình chẳng nhuốm
bùn” [15, tr 403]
Trần Đình Sử khi phân tích bài Dương phụ hành của Cao Bá Quát chỉ
ra sự gửi gắm tình yêu cá nhân, khát vọng cá nhân của Chu Thần qua hình
tượng người thiếu phụ Tây Dương: “Ông khát khao sum họp gia đình và có lẽ
ông cũng khát khao được bộc lộ tình cảm vợ chồng, được có những cử chỉ
thân mật, được giải phóng tình cảm” [10, tr 272]
Khi bàn đến các hình tượng nghệ thuật trên, các tác giả đều nhận thấy sự
thể hiện kín đáo của con người cá nhân Cao Bá Quát Tuy nhiên mới dừng lại ở
những nhận định chung chung, nếu có phân tích thì sự phân tích chưa cụ thể
Tiến sĩ Nguyễn Kim Châu có những phát hiện tinh tế về hình tượng con
đường trong thơ Cao Bá Quát Đây là một bài viết công phu hơn cả trong việc
Trang 9tìm hiểu hình thức nghệ thuật có đề cập đến con người cá nhân trong thơ ông
Tác giả bài viết nhận thấy: “Hình tượng không gian có tính ám ảnh này in
đậm dấu ấn nhận thức ngày càng sâu sắc về bi kịch phi lí của một tài năng
lớn lao nhưng không được biết đến, không có cơ hội để tung hoành, một con
người ra sức đi mãi mà chẳng tiến được thêm bước nào” [8, tr 172] từ các số
liệu thống kê cụ thể Khảo sát 160 bài thơ tác giả nhận thấy: có 11 lần Cao Bá
Quát sử dụng các từ “vạn lý”, “thiên lý” để chỉ đường dài, 31 lần nhà thơ
trực tiếp nói đến hình ảnh con đường, trong đó các từ được dùng nhiều nhất là
“trường đồ” (2 lần), “úy lộ” (2 lần), “danh lộ”, “hoạn đồ” (3 lần), “cùng
đồ”, “lộ tận” (5 lần), “trần đồ”, “trần lộ”, “thế lộ” (4 lần), “hành lộ nan”
(2 lần), “tiền trình”, “tiền lộ” (3 lần)… Những số liệu thống kê trên đây
chứng tỏ sự công phu của tác giả
Ngoài ra, Nguyễn Kim Châu còn thấy: “Con đường với mục tiêu mờ mịt
ấy bao giờ cũng xuất hiện cùng lúc với hình ảnh những bước chân một tiến -
một lùi” [8, tr 171] Qua việc chỉ ra hình tượng ám ảnh độc giả này trong
những câu thơ cụ thể, tác giả phát hiện thêm một nét đáng chú ý về con
người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát: “Ở chỗ cùng đường, ông không khóc
như Nguyễn Tịch, không đau đớn nhìn trời với mái tóc bạc trắng như Nguyễn
Du… mà cất lên bài ca đầy cảm khái” [8, tr 174]
Còn một số tác giả khác như: Nguyễn Lộc, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài
Thư, Hồng Diệu, Ngô Văn Phú… cũng có nhiều ý kiến về nghệ thuật thơ
văn Cao Bá Quát, giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong việc thực hiện đề tài
khóa luận này
Nói chung, Nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán
Cao Bá Quát mới chỉ có các ý kiến ít ỏi, nằm rải rác trong các công trình
nghiên cứu về thơ văn của ông Tuy vậy, việc các tác giả chỉ ra một số đặc
Trang 10điểm cơ bản của con người cá nhân Cao Bá Quát trong thơ đã góp phần gợi ý,
định hướng cho tác giả khóa luận thực hiện đề tài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
Nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể hơn vấn đề nghệ thuật thể
hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát Từ đó thấy được
thành công về mặt nghệ thuật thể hiện con người cá nhân và sự kế thừa, phát
triển của Cao Bá Quát ở phương diện này trong thơ chữ Hán của ông đối với
quá trình phát triển của văn học Việt Nam
Góp phần phục vụ cho việc giảng dạy về tác gia và tác phẩm Cao Bá
Quát ở trường phổ thông sau này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu, phân tích nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ
chữ Hán Cao Bá Quát về các mặt: ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ
thuật
- Tìm ra nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân của
Cao Bá Quát trong thơ chữ Hán của ông bằng cách đối sánh với các tác gia
trung đại khác
- Rút ra kết luận về con người cá nhân và nghệ thuật thể hiện con người
cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát
Những bài thơ, những câu thơ trực tiếp thể hiện ngôn ngữ, hình tượng
nghệ thuật bộc lộ con người cá nhân trong Cao Bá Quát toàn tập, (tập 1)
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu Nghệ thuật thÓ hiện con người cá nhân trong thơ
chữ Hán Cao Bá Quát Mặc dù nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ
ông rất phong phú, đa dạng nhưng trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, tác giả
khóa luận chỉ xem xét ở các phương diện sau:
Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
Hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau:
Phương pháp hệ thống
Phương pháp lịch sử
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích logic
Thao tác: phân tích, bình giảng…
6 Đóng góp của khóa luận
`Thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận muốn góp thêm cái nhìn mới mẻ từ
góc độ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân ở những sáng tác thơ chữ Hán Cao
Bá Quát; thấy được đóng góp của Cao Bá Quát về phương diện nghệ thuật thể
hiện con người cá nhân; khẳng định vị trí, tài năng, phong cách nghệ thuật của
Cao Bá Quát
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung được
chúng tôi triển khai thành hai chương:
Chương 1: Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ
Hán Cao Bá Quát
Chương 2: Hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ
Hán Cao Bá Quát
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
1.1 Về khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là nghệ thuật tự biểu hiện bằng ngôn ngữ
Có thể khẳng định ngôn ngữ chiếm vị trí vô cùng quan trọng đối với một tác
phẩm văn học Nó là chất liệu của tác phẩm, hơn nữa là một dạng chất liệu
đặc biệt có khả năng diễn tả một cách chính xác, sinh động, tinh tế những
cung bậc tình cảm, những tình huống đời sống và có sức truyền cảm mãnh liệt
tới con người
Theo Từ điển tiếng Việt: ngôn ngữ nghệ thuật là “Hệ thống kí hiệu dùng
làm phương tiện để diễn đạt, thông báo” [13, tr 885]
Theo Từ điển văn học: “Ngôn từ nghệ thuật là khái niệm để chỉ loại hình
ngôn ngữ dùng để biểu đạt nội dung hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật
ngôn từ” [11, tr 1090]
K Marx cho rằng: “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy” [16, tr
92], còn M Go-rơ-ki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”
[2, tr 215]
Các định nghĩa trên cho thấy: ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống các kí
hiệu được sử dụng làm phương tiện nghệ thuật để thể hiện đời sống, tư tưởng,
tình cảm con người Trong tác phẩm, ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những
yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của người
nghệ sĩ
Trang 131.2 Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ chữ Hán
Cao Bá Quát
Hệ thống ngôn ngữ trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát bộc lộ rất rõ con
người cá nhân của tác giả
1.2.1 Những đại từ chỉ ngôi thể hiện con người cá nhân
Một đặc điểm đáng chú ý của thơ Đường - nền thơ ảnh hưởng sâu sắc tới
thơ ca trung đại Việt Nam - là sự thiếu vắng đại từ nhân xưng Do lối sống
“khiêm cung” và “khát vọng hòa nhập làm một với vũ trụ”, chủ thể trung đại
thường ẩn đi bằng biện pháp tỉnh lược (chủ thể) “Ý muốn tránh càng nhiều
càng tốt ba ngôi trong ngữ pháp chứng tỏ sự chọn lọc có ý thức, nó làm nảy
sinh một lối nói đặt chủ ngữ nhân xưng trong một mối quan hệ đặc biệt với
các sự vật Bằng cách xóa, nói đúng hơn, là bằng cách khiến người ta “ngầm
hiểu” sự tồn tại của nó, chủ ngữ đã hòa tan vào các yếu tố bên ngoài” [12, tr
112], “Thơ không viết ra theo ngôi thứ nhất Nó vô nhân xưng, vô quan hệ vì
rằng các âm thanh thoát ra từ lòng nhà thơ chính là hồi âm của một cái
chung nội tại, là cái không cần phải mang một dấu hiệu hạn chế nào cả” [12,
tr 209] Các tác giả ít quan tâm tới những yếu tố cá tính trong văn học, “Ý
hướng muốn nhìn đằng sau tác phẩm văn học không phải một cá tính sáng
tạo cụ thể, lại càng không phải cá tính với tư cách là sự thể hiện của tổng thể
các quan hệ xã hội mà là một sự biểu thị nào đó cho các lực lượng vũ trụ, một
sự phát lộ của thực thể tinh thần khí, là cái để lại những chữ tượng hình trên
từng bó thẻ tre dùng để viết hoặc trên lụa để ghi những tác phẩm văn học” [6,
tr 230 - 231]
Nếu chủ thể có xuất hiện trực tiếp trong sáng tác trung đại thì thường thu
nhỏ mình lại một cách khiêm tốn, dùng những cách xưng hô rất công thức: kẻ
hèn, kẻ mọn, hủ nho, ngựa già… Đó là kết quả của cái nhìn phi cá thể
Trang 14Trong khi các tác giả trung đại cố gắng tránh càng nhiều càng tốt việc
dùng các đại từ nhân xưng, ẩn chủ thể của mình vào các yếu tố bên ngoài, thể
hiện sự thống nhất với vũ trụ, thể hiện tiếng nói “hòa âm” với “nhịp điệu của
vũ trụ” [1, tr 41] thì trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát, tác giả sử dụng rất
nhiều lần đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Sự xuất hiện đậm đặc của các đại từ
nhân xưng đó chứng tỏ Cao Bá Quát đã nhiều lần vượt ra ngoài “khuôn
phép”, quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Thơ Cao
Bá Quát không còn là “sự biểu thị nào đó cho các lực lượng vũ trụ” mà trở
thành tiếng nói đầy tính chủ quan, độc lập của cá nhân tác giả Qua việc sử
dụng các đại từ nhân xưng trong hầu hết các bài thơ chữ Hán, con người cá
nhân trong thơ họ Cao đã thoát ra khỏi mối quan hệ chung với tạo vật, với
“đại vũ trụ” để thể hiện tư tưởng, tình cảm riêng của mình, bộc lộ cá tính của
bản thân Nhà thơ xuất hiện không phải với tư cách một con người “siêu cá
thể” mà là một cái tôi cá nhân Con người cá nhân trong thơ chữ Hán Cao Bá
Quát có khi đứng ở vị trí chủ thể của hành động để bộc lộ khát vọng, ưu tư,
tâm sự của bản thân:
Ngã dục đăng cao sầm
(Quá Dục Thúy sơn) (Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất kia) Ngã dục huề Ma Cật
(Đề Đức Khê Tử u cư, thứ Nguyễn Tuần Phủ tiến sĩ vận)
(Tôi muốn mang tranh Ma Cật đến) Ngã diệc sổ tương qua
(Đề Trần Thận Tư học quán, thứ Phương Đình vận)
Trang 15(Ta cũng mấy lần đã trải qua) Ngô diệc ức ngô nhi
(Hữu sở tư) (Ta cũng nhớ đến con ta) Túy lai ngô tự vịnh ngô thi
(Đề Trấn Vũ quán thạch bi) (Khi say ta cứ ngâm câu thơ ấy của ta)
Bạch phát, thanh bào, ngô lão hỹ !
(Đề sát viện Bùi công Yên Đài anh ngữ khúc hậu)
(Bạc đầu với chiếc áo xanh Ta già mất rồi !) Ngã do di hận mãn đinh châu
(Họa Thận Tư xuân nhật đồng chư hữu đăng Trấn Vũ quán lâu vọng hồ kiến ký thứ vận) (Ta còn nhiều mối hận chất đầy nơi cồn bãi)
Có khi con người trong thơ Cao Bá Quát trở thành khách thể chịu sự tác
động của ngoại cảnh Khi ấy, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất đóng vai trò làm
bổ ngữ trong cấu trúc ngữ pháp của câu Ngoại cảnh tác động đến con người,
có lúc đem lại niềm vui, có lúc đem lại bi kịch cho con người:
Khởi dư giả thùy ? Bùi sứ quân !
(Đề sát viện Bùi công Yên Đài anh ngữ khúc hậu)
(Người làm cho ta phấn khởi như thế là ai ?
Là ông sứ họ Bùi !)
Trang 16Lộ phùng Ngô tiên nhân,
Ấp ngã quế thụ biên
(Lục nguyệt thập ngũ dạ nguyệt hạ tác phụng ký chư cố nhân)
(Trên đường gặp ông tiên họ Ngô, Kéo ta đến bên cây quế)
Cựu du đa khổ nhan Dục thuyết bất nhẫn tận
Tử ngã tồi tâm can
(Trấn An lệnh Lê tử chi nhiệm, đặc lai tương phỏng, kỳ hữu sở tặng, thư dĩ dữ
chi)
(Các bạn cũ có nhiều người đang nhăn nhó
Muốn nói mà không nỡ nói hết, Làm cho ta gan ruột rối bời)
Có lúc Cao Bá Quát dùng đại từ nhân xưng trong vai trò sở hữu: “dư
sinh”, “ngô sinh” (đời ta), “ngô thân” (thân ta), “ngô tâm” (lòng ta)… để
bày tỏ gan ruột của mình, nhớ lại quãng đời đầy đau khổ, nhọc nhằn của mình
mà xót xa cho thân phận Qua những tâm sự trực tiếp của “ta”, người đọc
nhận ra những nỗi u uất, những tâm sự thầm kín của tác giả, những bi kịch cá
nhân: bi kịch công danh, sự nghiệp, bi kịch tự do…
Dư sinh phù danh ngộ
(Đắc gia thư, thị nhật tác) (Đời ta trót lầm lỡ vì cái danh hờ)
Dư sinh cơ bạn chỉ vi danh
(Ký hận Kỳ nhị)
Trang 17(Đời ta bị ràng buộc chỉ vì chút danh nhỏ) Ngô thân chung vũ hóa
(Đông Pha Xích Bích du) (Thân ta cuối cùng hóa kiếp thành loài lông vũ) Ngô sinh biều qua nhĩ
(Mộ phạn bất cấp hí bút ký sự) (Đời tôi chỉ là quả bầu treo không mà thôi)
Chỉ ưng canh tá cam lâm trích, Hạc triệt ba thần khấp kỷ lao
(Phạm Kinh Doãn nhục quỹ hải vật, bệnh
vị đáp bái, hốt trị phong vũ, cảm sự thư hoài nhân giản Phạm Công kiêm trí
bỉ ý) (Chỉ nên mượn sương móc nhỏ từng giọt,
Làm cho kẻ bề tôi trong sóng cả phải khóc
về nỗi nhọc nhằn của mình) Thủ bả trường giang cánh khấu tâm, Ngô sinh vị để mạn tương tầm ?
(Trường giang thiên Kỳ nhị) (Tay mang chiếc gông dài lòng tự hỏi lòng:
Đời ta vì sao lại phải gặp nó ?)
Tuy vậy, nếu chỉ dừng lại ở số lượng các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
thì không đủ để khẳng định ý thức cá nhân của Cao Bá Quát được thể hiện
trong sáng tác bởi Cao Bá Quát không phải là người đầu tiên và duy nhất đưa
đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vào thơ ca Thế kỉ XV, Nguyễn Trãi viết:
Ta quản tiêu dao qua mỗ thế
(Thuật hứng, bài 14)
Trang 18Ta còn lãng đãng làm chi nữa
(Trần tình, bài 9) Thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng xưng “ta” trong thơ:
Tư giao quái ngã sầu đa mộng
(Ngẫu đề) (Ta một mình đau ốm nằm ở phía đông đế thành) Phong vận kì oan ngã tự cư
(Độc Tiểu Thanh ký) (Ta tự coi mình như người cùng hội cùng thuyền với những kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã) Ngã tư cố nhân thương ngã tình
(Đồng Tước đài) (Ta nghĩ đến người xưa mà buồn nỗi mình
Nguyễn Khuyến, Tú Xương - hai đại diện lớn nhất và cuối cùng của văn
học trung đại Việt Nam, cũng tự xưng mình trong thơ Nguyễn Khuyến:
Trang 19Nhi tào hoặc khả thừa ngô chí, Bút nghiễn vô hoang đạo, thúc, sơ
(Xuân nhật thị chư nhi (I)) (Các con nếu có thể theo chí của ta,
Thì chăm bút nghiên nhưng đừng bỏ lúa, đậu và rau) Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta ………
(Khóc Dương Khuê) Năm nay tớ đã bảy mươi tư
Và còn rất nhiều các tác giả, nhiều câu thơ có đại từ nhân xưng nữa
Nhưng trong cách sử dụng đại từ nhân xưng, Cao Bá Quát có sự độc đáo, đặc
sắc riêng, tạo nên nét khác biệt không dễ gì lẫn lộn với các nghệ sĩ khác Cao
Bá Quát sử dụng gần hết các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất trong hệ thống
từ vựng: “ngã”, “ngô”, “dư”, “tự”, “kỷ”… Những đại từ nhân xưng này
“có khả năng đặc biệt lớn nhằm thể hiện thái độ, tình cảm của người phát
ngôn dành cho đối tượng” [12, tr 86] Chúng không chỉ giới thiệu đích danh
cá nhân tác giả mà còn thể hiện cá tính, tình cảm của người tự xưng một cách
rõ nét Trong số các đại từ nhân xưng đó, đại từ “ngã” được sử dụng nhiều
hơn cả và thường giữ vị trí chủ thể của hành động, tình cảm, trạng thái:
Trang 20Phong cảnh dĩ kỳ tuyệt, Nhi ngã diệc lai thử
Ngã dục đăng cao sầm, Hạo ca ký vân thủy
(Quá Dục Thúy Sơn) (Phong cảnh đã kì tuyệt,
Mà lại thêm có ta đến đây
Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia, Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước)
Thật hiếm thấy tác giả nào trong nền văn học trung đại nước ta khẳng
định mạnh mẽ cái bản ngã của mình, sự tồn tại quan trọng của mình như Cao
Bá Quát: “Nhi ngã diệc lai thử” “Ngã dục” - “Ta muốn”, cái “ta” ở đây
không phải là chúng ta mà là tiếng nói của một cá nhân đầy tự tin, kiêu hãnh
Cách xưng hô như thế đã toát lên tâm thế hào sảng của tác giả trước thiên
nhiên, cái ước muốn được hát to lên ước vọng của bản thân Một con người
muốn từ đỉnh cao chất ngất của núi sông cất tiếng “hát vang lên để gửi tấm
lòng vào mây nước” Lòng yêu đời, ước mơ, hoài bão lúc trẻ khi chuẩn bị
bước vào đời của chàng họ Cao thật lớn lao, đẹp đẽ như muốn cất cánh bay
bao trùm cả núi sông Nhãn tự của bài thơ chính là ở chữ “ngã”
Một lần khác, Cao Bá Quát lại “hát vang” ước muốn bay cao của mình
Sự khẳng định ý muốn cá nhân được gửi trọn ở đại từ “ngã”:
Ngã dục sáp song xí,
Phi lộ lăng tử yên
(Lục nguyệt thập ngũ dạ nguyệt hạ tác phụng ký chư cố nhân)
(Ta muốn chắp thêm đôi cánh, Bay lên tận tầng mây tía)
Trang 21Tính chủ thể trực tiếp của đại từ nhân xưng “ngã” tạo thành sức mạnh
đối thoại đi sâu vào tâm tư, tình cảm con người
Nếu như “ngã” là tiếng nói đối thoại của Cao Bá Quát với mọi người thì
đến chữ “tự”, con người cá nhân tác giả hướng vào nội tâm của mình, “độc
thoại” với chính mình Chữ “tự” trong thơ ông đi liền với những từ khác thể
hiện suy nghĩ, tình cảm, hành động của cá nhân: “tự tiếu” (tự cười mình), “tự
thán” (ngậm ngùi cho mình), “tự mạ” (tự chửi), “tự liên” (tự thương mình),
“tự tri” ( mình tự biết mình)… Nó có khi là đại từ nhân xưng, có khi là động
từ biểu hiện hành động, suy nghĩ của cá nhân Xưng mình bằng “tự”, con
người cá nhân Cao Bá Quát bộc lộ một tâm trạng đầy xót xa, thương cảm cho
thân phận mình Cao Bá Quát đã nối tiếp thành công cảm hứng “thương
thân” trong văn học xuất hiện đậm nét từ thế kỷ XVIII Tuy nhiên cảm
hứng “thương thân” trong những tác phẩm trước đó, chẳng hạn Truyện
Kiều - Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm ? (diễn Nôm) chủ
yếu do tác giả bộc lộ “giúp” nhân vật Nàng Kiều thương xót cho kiếp
hồng nhan của mình:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa
Còn người chinh phụ hàng đêm đối bóng với ngọn đèn, xót thương cho
bản thân phải sống trong nỗi cô đơn, sầu muộn triền miên:
Hoa đèn kia với bóng người khá thương Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc khi xót thương cho số phận
bạc bẽo của mình thường gửi gắm vào những lời than não ruột:
Nghĩ mình lại ngán cho mình, Cái hoa đã trót gieo cành làm sao !
Còn đối với Cao Bá Quát, tình thương không chỉ hướng về phía nhân lao
động, về phía gia đình, bạn bè… mà còn hướng vào bản thân, tự xót thương
Trang 22cho cuộc đời đầy bi kịch của mình mà chỉ “Một mình mình biết một mình
mình mình hay” (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, đặc biệt là đại từ “ngã” đã xác lập
con người cá nhân tác giả trong thơ chữ Hán Đó là con người không hòa tan
vào các yếu tố khác mà trực tiếp thể hiện ý thức cá nhân của mình Đại từ
nhân ngôi thứ nhất đồng thời bộc lộ một con người sinh động với nhiều vị trí
khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều tâm trạng khác nhau trong cuộc
đời Cao Bá Quát Cách xưng hô trực tiếp dưới dạng thức “ta”, “tôi”… xuất
hiện dày đặc cũng có tác dụng kéo thơ chữ Hán của ông đến gần với thơ hiện
đại Cái tôi của nhà thơ có gì đó giống với cái tôi cô đơn trong thơ lãng mạn
Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX , trong Thơ mới Việt Nam 1930 -1945
N I Niculin đánh giá Cao Bá Quát là “người khởi xướng phong trào cải
lương vào nửa sau thế kỷ XIX” [15, tr 418]
1.2.2 Những đại từ chỉ số ít khi nói về bản thân
Hàng loạt các từ chỉ số ít khi nói về bản thân trong thơ chữ Hán Cao Bá
Quát : “nhất”, “cô”, “độc” bộc lộ một cách đậm nét con người cá nhân tự
khẳng định, không tan biến vào cái “ta” chung
“Nghiêm khắc mà xét thì nhất, độc là những từ có tính chất lưỡng khả
Nếu kết hợp với động từ “độc” là phó từ (…), nếu kết hợp với danh từ thì
“nhất” là số từ (…) Còn “cô” nếu đi với danh từ là tính từ Nói tóm lại là
những thực từ Nhưng trong thế đối lập với hệ “tương, dữ, cộng” thì những từ
“nhất, độc, cô” thể hiện ý nghĩa quan hệ: một cùng với tất cả, thống nhất
tương giao” [1, tr 256]
Trước hết là đại từ “nhất” Trong thơ Cao Bá Quát, hai lần từ “nhất” được
sử dụng là số từ để khu biệt mình với mọi người Ông khẳng định hoàn cảnh
đáng thương của mình, khu biệt cảnh ngộ của mình với những người khác:
Trang 23
Vị tử tàn hình nhất hủ nho
(Bệnh trung) (Là một anh đồ hủ thân tàn mà chưa chết) Hạo hạo càn khôn nhất bố y
(Nhật mộ) (Giữa khoảng trời đất bao la, một chàng áo vải)
Suốt một thời trai trẻ mải mê với sự nghiệp, với hai chữ công danh, rút
cục Cao Bá Quát lại trở về với địa vị “một anh đồ hủ” Trong lúc ốm, ông đã
xót xa nhận ra điều ấy Danh từ “hủ nho” đứng cuối câu thơ như đọng lại một
sự thật, một sự khẳng định đầy chua xót ! Thêm số từ “nhất” ý nghĩa riêng
biệt, cá thể càng được nhấn mạnh Về cơ bản nó dùng để chỉ riêng cá nhân
nhà thơ
Ở bài Nhật mộ Cao Bá Quát cũng khẳng định bản thân bằng số từ chỉ
lượng “nhất”: “nhất bố y” Một chàng áo vải đứng sừng sững giữa mênh
mang thiên địa, tưởng như làm chủ cả không gian bao la vô tận ấy nhưng kỳ
thực tâm hồn đang bị nỗi cô đơn xâm chiếm “Áo vải” là cách nói ẩn dụ cho
sự nghèo khó, cho những người bình thường chưa lập được công danh gì Số
từ “nhất” với nghĩa là một mình đã nhấn mạnh một cách rõ ràng, dứt khoát
nhà thơ - một con người đứng trong vũ trụ rộng lớn, lòng đầy dằn vặt, trăn trở
về hoàn cảnh khốn cùng của bản thân, về bi kịch công danh cá nhân
Để khẳng định mình Cao Bá Quát còn dùng từ “cô” Rất nhiều lần nhà
thơ nhắc đến chữ “cô”với ý nghĩa cô đơn, lẻ loi Có khi “cô”gắn trực tiếp với
chủ thể con người, có khi gắn với một hình ảnh thiên nhiên, sự vật nào đó ẩn
dụ cho con người Trong mắt ông mọi sự vật đều có sự liên hệ đến sự lẻ loi,
cô đơn: “cô phàm” (buồm lẻ loi), “cô mộng” (mộng mơ cô đơn), “cô khách”
(khách cô đơn), “cô vân” (chòm mây lẻ loi), “cô thần” (bề tôi lẻ loi), “cô
hạc” (con hạc lẻ), “cô chu” (con thuyền lẻ), “cô đăng” (ngọn đèn côi)
Trang 24Trong cuộc đời thực Cao Bá Quát cũng là một hành nhân cô độc Cá tính lúc
nào cũng muốn “vọt” ra khỏi tầm kiểm soát, những hành động bất chấp luật
lệ của ông nhiều khi đã làm lụy đến bạn bè Ngay với Phương Đình Văn
Siêu, người thân thiết vô cùng với ông cũng không thể chia sẻ cùng ông
những nỗi niềm tâm sự trong lòng Nhiều lần ông trực tiếp thể hiện nỗi cô
đơn của bản thân:
Chỉ ưng hàm tiếu cô ngâm khách
( Tạp hứng) (Chỉ hàm tiếu trước khách thơ đơn độc) Cấp lôi bôn điện nhất thân cô
ông tự nhận mình là một “khách thơ đơn độc” Cũng có thể hiểu “cô ngâm
khách” là chỉ một mình Cao Bá Quát là khách thơ còn những người khác
không phải “khách thơ”
Chữ “cô” trong “cô ngâm khách” không chỉ thể hiện nỗi cô đơn của
Cao Bá Quát mà có thể hàm ý như trên đã nêu Còn chữ “cô” đứng cuối câu
thơ “Cấp lôi bôn điện nhất thân cô” gây ấn tượng về cái trơ trọi Tấm thân cô
lẻ chẳng người trút bầu tâm sự trong cái đêm sấm gầm, chớp giật, cái đêm bão
táp cuộc đời ông, cái đêm với những trận đòn roi rách thịt nát da (Đây là bài
thơ thứ hai trong bốn bài viết ngay sau khi bị bộ lễ tra tấn, ngày 17 tháng 10)
Chữ “cô” đã tô đậm cái đối lập giữa sự dữ dội của sấm chớp với cái nhỏ bé,
đơn lẻ của con người, bộc lộ hoàn cảnh riêng của cá nhân Cao Bá Quát Thêm
số từ “nhất” đứng trước cụm danh từ “thân cô” nhấn mạnh nỗi cô đơn Nỗi
Trang 25đau thể xác cũng không thể nào sánh được với nỗi đau đớn về tinh thần - nỗi
cô đơn không có ai chia sẻ trong lúc gặp hoạn nạn Với chữ “cô”, nhà thơ đã
khu biệt cảnh ngộ của mình với nhân gian
Chữ “độc” cũng được nhắc đến nhiều lần nhằm khẳng định cái “tôi” cá
nhân của một nhà Nho đầy tâm sự, u uất trong lòng:
Nhật mộ độc trầm ngâm
(Đắc gia thư, thị nhật tác) (Trời đã tối một mình trầm ngâm)
Sử dụng chữ “độc” đem lại cho câu thơ hiệu quả thẩm mĩ rất lớn “Độc”
và “nhất” đều có nghĩa là “một” nhưng nếu “nhất” là số từ chỉ lượng thì
“độc” xuất hiện với chức năng trạng từ chỉ tâm thế nhà thơ, làm nổi bật mối
quan hệ khác biệt hoặc đối lập giữa các sự vật
Trang 26Có bao nhiêu lần chữ “độc” xuất hiện là có bấy nhiêu lần không gian
đêm khuya hiện ra “Trạng thái trầm tư suy tưởng đòi hỏi một sự biệt lập, xa
cách không khí ồn ào náo động của cuộc sống xã hội Do vậy mà cái Tôi
thường gặp hơn cả trong thơ nhà nho là hình tượng một con người đang cô
đơn, đang suy tư mông lung trong đêm khuya tịch mịch, nơi u cư hay nơi đất
khách quê người Khi mọi người đã say giấc ngủ, khi đêm dần đi vào chiều
sâu, mọi tiếng ồn ào huyên náo đã lắng xuống, bắt đầu thời điểm thích hợp
cho những suy nghĩ,băn khoăn day dứt của con người trỗi dậy” [12, tr 116]
Chữ “độc” được sử dụng rất nhiều trong văn học trung đại nhằm gợi một
nỗi cô đơn đến tột độ Nguyệt hạ độc chước của Lý Bạch Tầm châu của
Nguyễn Trãi:
Lão ngã thế đồ nan hiểm thục Trung tiêu bất mỵ độc thương tình
(Ta đã già trên đường đời nỗi gian hiểm đều thuộc cả
Giữa đêm không ngủ một mình xót thương)
Thu dạ của Nguyễn Du:
Tiển đăng độc chiếu sơ trường dạ
(Một mình khêu ngọn đèn trong đêm bắt đầu dài)
Cảm hứng của Nguyễn Khuyến:
Đời loạn đi về như hạc độc
Tuổi già hình bóng tựa mây côi
Đưa chữ “độc” vào trong thơ, Cao Bá Quát thể hiện rất rõ cái “tôi” nhà
Nho của mình Quan niệm con người cá nhân của phương Đông đặc biệt
nhấn mạnh đời sống tâm linh của chủ thể Con người cá nhân nhà Nho trong
thơ thường là cá nhân suy nghĩ hơn là cá nhân hoạt động Chữ “độc” bộc lộ
cái tôi trầm ngâm suy tư sau khi đã “loại bỏ khỏi môi trường của cái tôi”
cuộc sống ồn ào, náo động “Song điều đáng phải nói rõ là trong khi loại bỏ
Trang 27cuộc sống ồn ào, lại cứ nhất thiết đặt cái Tôi của mình vào một bối cảnh tự
nhiên nào đó Hình như cô đơn trong ngôi nhà vắng vẻ, đối diện với ngọn đèn
xanh chưa đủ để thúc đẩy ý tưởng mông lung bộc lộ thành thơ Ngoài căn nhà
và ngọn đèn vô tri vô giác cũng cô đơn như nhà thơ, còn có cả một thiên
nhiên bao la xung quanh: một vầng trăng lẻ loi như chính thân thế nhà thơ,
vài vì sao nhấp nháy phía trời xa, một làn gió thoảng không rõ từ đâu tới làm
lá cây xào xạc, một tiếng chim giữa đêm khuya, một tiếng chuông chùa vọng
lại trong đêm lạnh” [12, tr 116] Tất cả những yếu tố ngoại cảnh ấy làm tăng
cảm giác lẻ loi, lạnh lẽo Nó như minh chứng cho kết luận của thi hào Nguyễn
Du “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều) “Cái Tôi cô đơn,
cái tôi tách ra khỏi cuộc sống xã hội, cái tôi hướng đến đất trời, vũ trụ để suy
nghĩ, băn khoăn hoặc cái tôi đứng yên bên ngoài, bên trên cuộc sống của
nhân dân, đó là vị trí của Cái tôi nhà Nho trong mối quan hệ với môi trường
xung quanh” [12, tr 12]
Thể hiện cái Tôi suy nghĩ, vị trí của nhà Nho trong các mối quan hệ, chữ
“độc” còn cho thấy dù ở những thời đại khác nhau nhưng các thi nhân trên đã
gặp gỡ nhau ở những nỗi niềm không thể cùng ai chia sẻ Nguyễn Trãi trăn
trở, suy ngẫm về cuộc đời ngắn ngủi như chiếc lá, về thế thái nhân tình đen
bạc, về nỗi xót thương thân phận Còn Tam Nguyên Yên Đổ, ông suy nghĩ về
điều gì? Ba lần lều chõng đi thi đều đỗ đầu, công danh trọn vẹn hẳn là niềm
mơ ước của bao kẻ sĩ, vậy mà “đi về” vẫn thấy mình như “hạc độc” cô lẻ, bơ
vơ vì “thời loạn” Với Cao Bá Quát, có cả ngàn lí do để suy tư, dằn vặt: ngẫm
nghĩ về con đường công danh không thành; về ước mơ hoài bão cao xa, tài
năng vượt trội của bản thân đối lập với thực tế bi thảm của xã hội; về những
cảnh đời, số phận bất hạnh… Chỉ một chữ “độc” mà gợi được tư thế của một
con người đối diện với chính mình để cảm nhận nỗi cô đơn của bản thân trước
cuộc đời Con người cá nhân Cao Bá Quát trong thơ lúc này cô đơn, lẻ loi đến
Trang 28ứa nước mắt, hướng vào nội tâm của mình để sống với những nỗi niềm riêng,
cuộc sống riêng
Với việc sử dụng các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: “ngã”, “ngô”,
“dư”…, các từ chỉ số ít khi nói về bản thân: “nhất”, “cô”, “độc”, Cao Bá
Quát không chỉ khẳng định cái bản ngã ngang tàng, phóng khoáng của mình
mà còn kí thác tâm sự cá nhân một cách kín đáo và tự nhiên
Trang 29
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
2.1 Về khái niệm hình tượng nghệ thuật
Vai trò chính của nghệ thuật là phản ánh đời sống Để thực hiện vai trò
ấy, nghệ thuật sử dụng phương tiện thể hiện đặc biệt là hình tượng nghệ thuật
“Nhà triết học nói về đời sống bằng thuyết tam đoạn luận, còn nhà thơ dùng
hình ảnh và những bức tranh để nói chuyện” (Bêlinxki) Dùng hình tượng
nghệ thuật, các tác giả đã dựng nên những bức tranh đời sống, số phận con
người với những cảnh đời riêng biệt Tất cả nhằm khơi dậy trong lòng người
đọc, người xem những ý nghĩa đối với đời sống bằng một tác động tổng hợp
cả lí trí lẫn tình cảm
Theo Từ điển tiếng Việt: Hình tượng là “sự phản ánh hiện thực một cách
khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động,
điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính” [13, tr 571]
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Hình tượng nghệ thuật chính là
khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong
những tác phẩm nghệ thuật” [2, tr 147]
Như vậy có thể hiểu, hình tượng văn học có khi để chỉ một chi tiết, một
hình ảnh, một nhân vật, một sự kiện hoặc một phong cảnh…và có thể chỉ toàn
bộ thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Qua hình tượng nghệ thuật, người đọc
không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực mà còn thưởng thức cả nét vẽ,
sắc màu, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy
Trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, hình tượng nghệ thuật thể hiện rõ
con người cá nhân ông Đó là hình tượng tự họa về bản thân nhà thơ ở các
Trang 30bình diện: ngoại hình, tuổi tác; tính cách (phẩm chất, bản lĩnh; khát vọng; tình
yêu cá nhân); bi kịch cá nhân
2.2 Những hình tượng nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong thơ
chữ Hán Cao Bá Quát
2.2.1 Những hình tượng tự họa ngoại hình, tuổi tác
2.2.1.1 Những hình tượng tự họa ngoại hình
Ngoại hình là những yếu tố thuộc về hình thức bên ngoài của con người
Đó là dáng vẻ, đầu tóc, nét mặt, trang phục, khóc cười…
Chân dung con người cá nhân Cao Bá Quát được khắc họa khác xa so
với nghệ thuật khắc họa chân dung hiện đại Không được miêu tả tỉ mỉ về
khuôn mặt, đôi mắt, dáng người… vì thế chúng ta khó hình dung ra một cách
rõ nét Nhưng không phải vì thế mà chân dung Cao Bá Quát bị nhạt nhòa
Qua những hình tượng nghệ thuật, con người Cao Bá Quát sống dậy trước
mắt người đọc bởi những hình tượng về diện mạo Trong đó, gây ấn tượng
mạnh mẽ là hình tượng đôi mắt đẫm lệ Văn học trung đại thường lấy cái cụ
thể để biểu đạt cái trừu tượng, Cao Bá Quát cũng qua miêu tả đôi mắt để mở
ra cửa sổ tâm hồn mình Trong thơ ông, ta thường bắt gặp đôi mắt đẫm lệ,
chứng tỏ đã không ít lần nhà thơ phải khóc Khóc là trạng thái bất bình
thường của con người do vui đỉnh điểm hay buồn tột độ Ở đây đôi mắt đẫm
lệ bộc lộ tâm trạng buồn Nếu như chỉ nhìn Cao Bá Quát ở phương diện một
bản lĩnh cứng cỏi, một khí phách ngang tàng thì chưa đủ Cao Bá Quát còn là
con người rất giàu tình cảm với gia đình, với bạn bè, đồng loại Khi nhận
được thư vợ, ông đọc thư dưới ngọn đèn khuya mà muôn dòng lệ rỏ:
Trang 31Độc dạ tài thư lệ
(Mộ đắc xá huynh quán dạ giam thư kiến ký)
(Một mình trong đêm, viết bức thư đẫm lệ)
Có lúc tiễn bạn đi xa mà đôi mắt thi nhân nhạt nhòa dòng lệ:
Dục biệt hàm tình lệ như thủy
(Phù Liệt Lữ Đình tống Đỗ Miễn Chi Ngự sử)
(Muốn biệt li ngậm ngùi lệ như nước) Cái lụy gia đình đã khiến cho một con người cứng cỏi, bản lĩnh như Cao
Bá Quát bao lần phải khóc Nhận được thư của nhà, ông bồi hồi xúc động:
Phủ ngưỡng lệ triêm ức
(Đắc gia thư, thị nhật tác) (Nhìn xuống trông lên nước mắt tràn thấm ngực)
Nhận được tin chị gái mất, Cao Bá Quát vội vàng tay mở phong thư,
tinh thần bàng hoàng rối loạn, dòng lệ lại tuôn trào Ông nhớ lại gia cảnh,
trách móc bản tính khó sửa của mình và bày tỏ sự xót thương đối với người
đã khuất:
Trường đoạn nam phong khốc tỷ bi, Thiên địa vô tình lệ ám thùy
(Khốc vong tỷ) (Ruột nát (gởi theo) gió nam buồn khóc chị, Trời đất vô tình( để ta) lệ tuôn trào)
Nằm mộng thấy con gái đã mất, hai cha con gặp nhau trong cảnh âm
dương cách trở, cha thì đang ốm, còn con nhếch nhác đến tội nghiệp, người
cha không khỏi xót xa rơi lệ:
Trang 32Sậu kiến lệ như thôi
(Mộng vong nữ) (Nhác trông thấy con mà nước mắt giàn giụa)
Lữ khách tha hương nhớ lại ngày trước, ngoảnh lại những mất mát tinh
thần trong quãng đời vừa qua không gì có thể bù đắp được Tất cả nỗi lòng tê
tái, xót xa ấy đọng lại thành giọt nước mắt:
Cố hương hồi thủ viễn, Cảm thán dục triêm cân
(Tạc ức) (Quay đầu trông lại quê nhà xa xôi, Cảm thán lệ muốn thấm khăn)
Có khi tác giả khóc vì xót thương cho bản thân phải chịu cảnh ngục tù, bị
tra tấn dã man, “một con chim có sức bay cao mà bị nhốt trong lồng”:
Lệ sái hành dương huyết bính không
(Tức sự) (Nhìn cái gông cái cùm, khóc đến cạn dòng lệ máu) Như vậy, hình tượng đôi mắt đẫm lệ đã cho thấy chân dung một con
người hay khóc Nhưng quan trọng hơn, sự lặp đi lặp lại của hình tượng ấy là
minh chứng hùng hồn cho một con người có đời sống tình cảm phong phú:
nồng hậu, đa sầu đa cảm, một con người dễ đau, dễ buồn, dễ xúc động trước
những đổi thay của cuộc đời
Ngoại hình của Cao Bá Quát còn được khắc họa qua hình tượng một con
người độc tọa (ngồi một mình) Tư thế ấy có khi hiện lên ở ngay nhan đề: Độc
dạ, Thu dạ độc tọa tức sự… nhưng được thể hiện cụ thể, sinh động qua hình
tượng nghệ thuật Cao Bá Quát thường ngồi một mình trầm ngâm, có lúc vì
nhận được tin xấu từ gia đình:
Trang 33Nhật mộ độc trầm ngâm, Tam vãng vọng thành bắc
(Đắc gia thư, thị nhật tác) (Trời đã tối, một mình trầm ngâm,
Mãi đến sáng vẫn còn tựa ghế)
Có đêm, thi nhân ngồi đối diện với vầng trăng tri kỉ, dốc cạn bầu rượu để
an ủi tâm hồn bị trói buộc của mình:
U nhân ái dạ tọa
(Thu dạ độc tọa tức sự) (Người buồn vẫn thích ngồi khuya)
Có lúc vì lỗi hẹn với bạn tri âm (Phương Đình Nguyễn Văn Siêu) mà ông
độc tọa:
Tiểu các mai hàn dạ độc ngâm
(Phục giản Phương Đình) (Trên gác nhỏ, bên cây mai lạnh lùng,
ban đêm ngồi ngâm một mình)
Tư thế độc tọa được miêu tả ở những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc
đời Cao Bá Quát: có lúc vì nhận được tin chị mất, có lúc vì phải ly biệt
một người bạn, có lúc vì lo cho dân phải hứng chịu cảnh thiên tai địch
họa Cũng có khi ông cảm thấy sống giữa triều đình mà không được tung
Trang 34hoành ngang dọc, vẫn như một kẻ lưu đày nên xót thân, thương phận mà
ngồi một mình trầm ngâm… Bằng những nét vẽ tinh tế về tư thế độc tọa,
chân dung con người cô đơn Cao Bá Quát hiện lên rõ nét, biểu hiện những
nỗi niềm u uất, sâu kín trong tâm hồn Cùng với hình ảnh những con
người hay khóc, con người độc tọa của Cao Bá Quát cũng trở thành ám
ảnh nghệ thuật đối với độc giả
Nhà thơ họ Cao không chỉ khắc họa chân dung của mình qua dáng vẻ
độc tọa, qua hình tượng con người hay khóc mà còn chú ý đến hình tượng mái
tóc Tác giả quan tâm đặc biệt đến hình ảnh con người có mái tóc bạc và con
người đứng xõa tóc
Thơ ca trung đại Việt Nam không hiếm những vần thơ nói về mái tóc
bạc Nguyễn Trãi cảm nhận sự trôi chảy của thời gian qua màu tóc:
Rịp huyện hoa còn quyến khách Rày biên tuyết đã nên ông
(Thuật hứng, bài 17)
Ông còn mượn hình ảnh mái tóc bạc để biểu thị lòng trung quân ái quốc:
Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái
(Tự thuật, bài 1)
Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, hình ảnh của tác giả trong thơ là hình
ảnh một con người tuổi trẻ mà đầu đã bạc Ông Đào Duy Anh thống kê trong
65 bài ở Thanh Hiên thi tập có 17 bài nói đến “bạch phát” hay “bạch đầu”
Trong Bắc hành tạp lục, nhiều bài viết về đề tài lịch sử cũng có đến 13 chỗ
Lúc thì nhà thơ nói:
Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên
(Tạp thi) (Người tráng sĩ đầu bạc rồi, buồn trông trời)
lúc thì nói:
Trang 35Bạch đầu sở kiến duy y thực
(Dạ tọa) (Đầu bạc chỉ mải lo chuyện cơm áo) Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí
(Tặng Thực Đình) (Tóc bạc làm tiêu ma chí khí kẻ sĩ nghèo) Tiêu tiêu bạch phát mộ nhân suy
(Tự thán) (Tóc bạc bơ phờ bay trước gió chiều)
Đi sau các bậc tiền bối, Cao Bá Quát cũng điểm vào bức chân dung tự
họa diện mạo của mình hình tượng ấy Trong thơ chữ Hán của ông, ta bắt
gặp rất nhiều lần hình tượng mái tóc bạc Nếu như mái tóc xanh là một ẩn
dụ cho tuổi trẻ, sức sống, hạnh phúc… thì mái tóc bạc là biểu tượng cho
con người ở tuổi đã xế chiều Nhưng hình tượng mái tóc bạc trong thơ
Cao Bá Quát không đơn thuần miêu tả diện mạo bên ngoài mà nó còn
được gửi gắm thâm ý của tác giả
Tóc bạc là chứng tích về năm tháng thời gian trong cuộc đời mỗi con
người Hình như với Cao Bá Quát, đầu bạc là hình ảnh tượng trưng cho một
con người nhiều tâm sự, nhiều suy nghĩ
Sau bao ngày tha hương nơi đất khách quê người, được trở về quê cũ,
được gặp lại những cảnh vật thân quen nơi quê hương thì mái tóc thi nhân đã
bạc Thế mới thấm thía sự trôi chảy của thời gian, sự biến cải lớn lao của
cuộc đời Thời gian và những nỗi truân chuyên trên đường đời đã khiến mái
đầu xanh ngả màu:
Song mấn tiêu tiêu bất tự tri, Hương thôn chỉ điểm thị quy kỳ
(Để gia)
Trang 36(Mái tóc đã bơ phờ rồi mà mình vẫn không biết, Nay là lúc được về trông thấy làng xóm)
Cao Bá Quát cảm nhận được sự trôi chảy quá nhanh của thời gian Điều
đó được hằn in dấu vết trên mái tóc của tác giả Chỉ qua một đêm mà dường
như tóc bạc thêm mấy phần:
Chẩm biên hương mộng tan canh viễn, Cân lý sương mao nhất dạ tăng
(Đắc Hà Thành cố nhân thư thoại cập gia tình kiêm vấn cận tác)
(Ba canh bên gối, giấc mộng quê hương càng thấy xa, Một đêm những sợi tóc bạc trong khăn thêm lên nhiều)
Nhưng thời gian có lẽ cũng là phương thuốc hiệu nghiệm nhất để từng
bước thức tỉnh chàng thanh niên họ Cao đầy ảo tưởng Trước khi ra làm quan,
Cao Bá Quát vẫn còn hào hứng với công danh, một cái danh gắn liền với tài
năng văn chương chữ nghĩa Nhưng trải theo thời gian, có biết bao biến cố,
thăng trầm diễn ra trong cuộc đời, Cao Bá Quát mới thấm thía cái danh đó là
hão huyền, không có thực Nó ràng buộc nhà thơ vào vòng luẩn quẩn không
Trang 37(Đắc Hà Thành cố nhân thư thoại cập gia tình kiêm vấn cận tác) (Vẫn biết rằng buộc mình vào việc đời không phải là kế lâu dài, Vậy khi đầu bạc cũng sẽ trở về đấy đóng cửa lại)
Quy luật thời gian và tuổi tác đang vùn vụt qua đi mà tác giả không hay
(Vời vợi trên con đường dài để xem ai mạnh khỏe, Không nhìn thấy mái tóc lốm đốm điểm sương lan dần) Suy bạch thiên tầm ngã
(Tức sự) (Sức hèn tóc bạc, cứ tìm đến với ta)
Mái tóc bạc trong thơ Cao Bá Quát gợi liên tưởng đến tuổi già nhưng
không đem lại cho ông sự an nhàn, thảnh thơi mà ngược lại, nó gây ra bao
phiền muộn, bao điều phải lo lắng, dằn vặt
Tuy nhiên cũng có lúc Cao Bá Quát hừng hực chí khí, rạo rực sôi nổi,
đầu bạc mà vẫn “ham chơi”, chống gậy trèo lên đỉnh núi:
Đầu bạch tham du hứng vị dung, Sàn nhan viễn sách nhất chi cùng
(Vãn du Sài Sơn vũ hậu đăng sơn đầu đề bích Kỳ tứ)
Trang 38(Đầu bạc ham chơi, hứng thú chưa nhụt,
Từ xa, chống chiếc gậy trúc trèo lên đỉnh núi cao)
Có thể nói hình tượng mái tóc bạc trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát mang
tính đa nghĩa Qua hình tượng ấy, người ta không chỉ thấy dấu ấn về tuổi tác
mà còn thấy những nỗi gian truân, những tâm sự, nỗi niềm cá nhân của một
con người Mỗi sợi tóc bạc vì một nguyên cớ khác nhau: thời gian, nỗi nhớ
nhung khi xa xứ, theo đuổi mộng công danh… Dưới mái tóc bạc chất chứa
bao suy ngẫm về cuộc đời của bản thân Nhưng không phải lúc nào nó cũng
gắn với nỗi đau buồn Mái tóc bạc trong một trường hợp (đã nêu ở trên) bộc
lộ chí khí, nét đẹp tâm hồn của tác giả: tuổi cao chí càng cao
Qua hình tượng mái tóc bạc, chúng ta thấy được một nội tâm đầy sục sôi,
một cuộc đời đầy sóng gió của thi sĩ họ Cao trong thơ
Cùng với hình tượng mái tóc bạc, Cao Bá Quát còn nhiều lần nói đến tư
thế xõa tóc Đây là tư thế đặc biệt, hiếm thấy trong thơ Thi nhân miêu tả dáng
vẻ đứng xõa tóc của mình qua nhiều hình ảnh khác nhau Có khi “xõa tóc
bước lên cửa chùa” giống như một ông tiên đi ngao du sơn thủy:
Phiên nhiên phi phát đăng sơn quynh
(Dữ thi hữu Phan Long Trân
du Côn Sơn, nhân tác Côn Sơn hành vân) (Thoắt lại xõa tóc bước lên cửa chùa trên núi)
Thanh thần sơ đầu tọa tán phát, Hoán chỉ tài thi tống quân biệt
(Tặng Thổ Khối Đỗ vệ úy xuất Thanh Hóa) (Sáng sớm chải đầu rồi ngồi xõa tóc,
Gọi lấy giấy để viết thơ tiễn bác)
Có lúc “Tóc xõa trong gió xuân thật đáng thương”:
Tán phát xuân phong kịch khả liên,
Trang 39Nhược vi duệ lý vãng tiền hiên
(Viên cư trị vũ) (Tóc xõa trong gió xuân thật đáng thương,
Lê bước dạo về phía hiên trước)
Và có những buổi chiều tối gió lạnh, ông còn xõa tóc đứng mãi trên cầu
Trấn Vũ, nghĩ lại thuở còn trẻ, mắt đã thấy bao cảnh thương xuân mà nhìn
vào cuộc đời vẫn thấy bế tắc trước một tấm bia không chữ:
Vãn phong tà chiếu bất quy khứ, Tán phát nguy kiều tiếu tự tri
(Đề Trấn Vũ quán thạch bi) (Gió chiều, bóng xế, vẫn không trở về,
Xõa tóc đứng trên cầu cao, mỉm cười chỉ tự mình biết vậy)
Hẳn là có gì ẩn khúc trong tình cảm con người này ở cái cách đứng xõa
tóc trên cầu mà ngẫm nghĩ về việc nên về hay chưa nên về ?
Không phải ngẫu nhiên mà ta thường xuyên bắt gặp trong thơ Cao Bá
Quát hình ảnh một con người đứng xõa tóc nghĩ suy bất chấp xung quanh là
mùa hạ hay mùa xuân, sáng sớm hay chiều tối như thế Những hình ảnh ấy
gợi chân dung một con người vừa cô đơn nhưng cũng vừa ngạo nghễ, “Một
con người đứng vượt lên trên tất cả, thi gan với cuộc đời, như hình ảnh người
đàn bà vọng phu “đứng một mình ở ngọn cao nhất trên đỉnh núi” Một con
người vô cùng đơn độc nhưng lại đối lập với cả xã hội, cái xã hội đã hư
đốn và thối nát trông thấy Con người sống “vò võ một mình” trong cuộc
đời mà vẫn tích cực như vậy, đáng thương và cũng đáng quý biết chừng
nào !” [15, tr 109]
Trong bức chân dung tự họa diện mạo, nhà thơ còn kể và tả rất đậm nét
về thể trạng hay ốm đau, bệnh tật của mình Có lúc ốm đau mà vẫn phải bươn
bả giữa cuộc đời:
Trang 40Đa bệnh cánh trì khu
(Đáp Trần Ngộ Hiên) (Thân hay ốm vẫn cứ ngược xuôi)
Cảnh ngộ này rất giống với cảnh ngộ của thi hào Nguyễn Du hơn nửa thế
kỉ trước: “Tấm thân đau yếu phải xông pha đường sá” (Thủy liên đạo trung
tảo hành)
Bệnh tật nhiều nhưng Cao Bá Quát vẫn ôm áp tráng chí, vẫn lạc quan:
Đa tình đa bệnh bất tri lao
(Thù hữu nhân úy vấn) (Tình nhiều, bệnh nhiều mà vẫn không nhụt chí)
Bệnh tật đau ốm không người chăm sóc, ông phải tự xoay xở lấy:
Đa bệnh độc bàn hoàn
(Độc dạ) (Thân lắm bệnh mỗi mình xoay xở lo toan)
Có những khi chia tay cố nhân trong lúc đang ốm:
Bệnh trung vô tửu tống quân hành
Vọng đoạn giang đình thụ sắc mộ,
(Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Hy Vĩnh lão khế) (Tôi đang ốm, không có rượu tiễn bạn lên đường,
Trông nơi giang đình xa tít sắc cây sẫm tối)
Nhiều lúc bệnh tật, thể trạng ốm yếu khiến Cao Bá Quát nảy sinh tâm
trạng chán nản, cảm thấy sự bất lực của bản thân:
Thiện bệnh ta cân lực,
Vô tài quý điển phần
(Tân mông hồi bộ, túy trung hữu tác)