“Vì sao môn văn trong nhà trường không hấp dẫn” 25 Chương 2: Thực trang kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Phủ Lỗ A và các yếu tố ảnh hưởng 27 1.. Trong học
Trang 1LờI CảM ơN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Tổ tâm lý – giáo dục cùng các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của tiến sĩ, giảng viên chính Nguyễn Đình Mạnh Nhân đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu học Phủ Lỗ A -Sóc Sơn -
Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành tốt khoá luận này
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên khoá luận khó tránh khỏi những hạn chế, em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinhviên để khoá luận của em có thể tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thuỷ
Trang 2LêI CAM §OAN
Em xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng em C¸c kÕt qu¶ nghiªn cøu, sè liÖu ®îc tr×nh bµy trong kho¸ luËn lµ trung thùc vµ kh«ng trïng víi c¸c kÕt qu¶ cña t¸c gi¶ kh¸c
Hµ Néi, th¸ng 5 n¨m 2010
Sinh viªn
Hoµng ThÞ Thuû
Trang 3Mục lục
Phần 1: Phần mở đầu
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 3
4 Khách thể nghiên cứu đề tài 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 4
Phần 2: Phần nội dung
1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
2 Bài tập và phân loại bài tập 8
3 Khái niệm kỹ năng và phân loại kỹ năng 9
4 Cơ sở khoa học để xác định các kỹ năng làm văn của học sinh 15
5 Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học 17
6 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 4 23
7 “Vì sao học sinh chán học và dốt văn” 24
8 “Vì sao môn văn trong nhà trường không hấp dẫn” 25
Chương 2: Thực trang kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Phủ Lỗ A và các yếu tố ảnh hưởng 27
1 Thực trạng kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 27
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh
3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng viết bài Tập
làm văn của học sinh lớp 4 42
Trang 4Chương 3: Thử nghiệm tác động 47 Phần ba: Kết luận và kiến nghị 51
Trang 5
đầu tiên trẻ được tham gia hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo và chính trong quá trình hoạt động đó sẽ hình thành ở học sinh những kiến thức
và kỹ năng học tập cơ bản gắn với từng môn học làm nền tảng cho bậc học tiếp theo Cùng với các môn học như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo
đức,…chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm hình thành và phát triển
ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Các phân môn trong môn học này đều hướng tới thực hiện nhiệm vụ trên trong đó Tập làm văn có vai trò đặc biệt quan trọng
Tập làm văn là phân môn đòi hỏi ở người học khả năng tổng hợp và sử dụng linh hoạt các kiến thức học được trong nhà trường, trong cuộc sống Vậy nên bài văn có thể được coi là một trong những sản phẩm làm căn cứ đánh giá kết quả học tiếng Việt của học sinh Một bài văn hay sẽ làm thước đo năng lực
về vốn sống, vốn hiểu biết, năng lực tư duy, kỹ năng tạo lập văn bản của học sinh
Trong học tập phân môn Tập làm văn thì viết bài Tập làm văn là một thành tố cốt lõi, các kiến thức và kỹ năng viết bài Tập làm văn ở học sinh được hình thành chủ yếu bằng hoạt động thực hành, luyện tập Nó đòi hỏi học sinh phải vận dụng độc lập, sáng tạo vốn hiểu biết của bản thân vì vậy thời gian
Trang 6chủ yếu để dạy Tập làm văn là thời gian thực hành, luyện tập nhằm hình thành các kỹ năng như xác định yêu cầu, tạo lập văn bản để đạt được yêu cầu đặt ra
Đối với học sinh Tiểu học các em được bắt đầu làm văn ở lớp 2 nhưng
đến lớp 4 các em mới thực sự tập viết một bài văn hoàn chỉnh Vậy hiện nay học sinh lớp 4 đang nắm được kỹ năng viết bài Tập làm văn ở mức độ nào đây
là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
1.2 Về mặt thực tiễn
Kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học hiện nay còn nhiều hạn chế Một bộ phận học sinh còn chưa xác định đúng yêu cầu của đề bài, một số em còn chưa nắm được một bài văn cần có ba phần: mở bài, thân bài, kết bài hay còn lẫn lộn giữa mở bài và thân bài….Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng viết bài Tập làm văn của học sinh như:
- Việc vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên còn nhiều hạn chế, cách thức tổ chức hoạt động tiếp thu tri thức mới, rèn luyện củng cố tri thức đã học còn chưa phát huy được vai trò tự giác, tích cực, tự lực của học sinh
- Thời gian trên lớp để giáo viên tổ chức truyền đạt kiến thức mới,
luyện tập, củng cố tri thức đã học còn hạn chế Hơn nữa, ở học sinh Tiểu học lại không được giao bài tập về nhà cho học sinh chính điều này đã gây hạn chế trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng viết bài Tập làm văn cho học sinh
- Một bộ phận học sinh có ý thức học tập chưa cao, khả năng nhận thức kém Mặt khác, sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường còn hạn chế
- Đặc thù của phân môn Tập làm văn ở lớp 4 là văn miêu tả, trong khi đó thời gian học tập lại ở trong lớp các em không được trực tiếp quan sát chính điều này cũng hạn chế khả năng viết bài Tập làm văn của các em
Hiện nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề viết bài Tập làm
Trang 7văn của học sinh như: Nguyễn Minh Thuyết, Lê Hữu Tính, Trần Mạnh Hưởng,… song việc nghiên cứu về kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ A - Sóc Sơn - Hà Nội” là quan trọng và cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nhằm phát hiện thực trạng và những nguyên nhân ảnh hưởng tới kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ
A - Sóc Sơn - Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ A - Sóc Sơn - Hà Nội nói riêng và các truờng Tiểu học nói chung
3.Giả thuyết khoa học
Kỹ năng viết văn của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Phủ Lỗ A đạt mức độ khá Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng tới thực trạng trên trong đó phương pháp dạy học của giáo viên và ý thức học tập của học sinh là những nguyên nhân quan trọng Nếu cải tiến phương pháp dạy học
và nâng cao ý thức học tập cho học sinh thì kỹ năng viết văn của các em có thể sẽ được nâng lên
4 Khách thể nghiên cứu đề tài
Khách thể nghiên cứu là 70 học sinh lớp 4A4 và 4A3 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ A – Sóc Sơn – Hà Nội
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp
4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Trang 8Tìm hiểu thực trạng kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ A – Sóc Sơn – Hà Nội
Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng tới kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp nghiên cứu
Thử nghiệm tác động nhằm hình thành kỹ năng viết bài Tập làm văn cho học sinh
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hình thành
kỹ năng viết bài Tập làm văn cho học sinh lớp 4-Trường Tiểu học Phủ Lỗ A – Sóc Sơn – Hà Nội nói riêng và học sinh lớp 4 nói chung
7 Giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu kỹ năng viết bài Tập làm văn của
học sinh lớp 4 nhưng chỉ tập trung nghiên cứu dạng văn miêu tả
Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu 70 học sinh lớp 4A4 và 4A3 Trường
Tiểu học Phủ Lỗ A – Sóc Sơn – Hà Nội
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp đọc sách
Nghiên cứu một số tài liệu tham khảo giúp việc hoàn thành cơ sở lí luận
của khoá luận
Nghiên cứu chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4, đặc biệt chú ý tới dạng văn miêu tả
8.2 Phương pháp quan sát
Quan sát mức độ phản ứng của học sinh đối với đề văn đưa ra và khả năng làm việc của học sinh đối với yêu cầu của giáo viên đặt ra
Quan sát cách ghi chép và cách thực hành của học sinh
Quan sát phương pháp giảng dạy của giáo viên, cách thức tổ chức hoạt
động học tập cho học sinh của giáo viên
Trang 9
8.3 Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện với học sinh về hoàn cảnh gia đình, người hướng dẫn học
bài, thời gian tự học của học sinh…
em xếp loại trung bình và 6 em xếp loại yếu Giáo viên chia số học sinh trung bình và số học sinh yếu thành 2 nhóm: một nhóm là nhóm thực nghiệm còn nhóm kia là nhóm đối chứng (các nhóm có số lượng và trình độ tương đương nhau) Sau đó giáo viên đưa ra các biện pháp tác động tích cực đến nhóm thực nghiệm, nhóm đối chứng không tác động Sau một thời gian tiến hành các biện pháp tác động giáo viên đưa ra bài tập tương tự như ban đầu cho hai nhóm thực hiện và so sánh kết quả
8.7 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp này sử dụng để phục vụ cho phần xử lí các kết quả thu
được Dùng toán thống kê để xử lí số liệu, so sánh đối chiếu, rút ra kết luận
Trang 109.Cấu trúc khoá luận
Phần một: Phần mở đầu
Phần hai: Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp
4 - Trường Tiểu học Phủ Lỗ A và các yếu tố ảnh hưởng
Chương 3: Thử nghiệm tác động
Phần ba: Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 11Phần nội dung
CHƯƠNG 1: cơ sở lí luận
1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong Tâm lí học, việc tìm hiểu về kỹ năng không phải là một vấn đề mới Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học như V.S.Kudin, N.D.Lêvitôp, A.V.Pêtrovxki, G.Polia,…
ở nước ta, một số tác giả cũng đã tìm hiểu nghiên cứu về kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng học tập của học sinh Tác giả Lê Văn Hồng trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm cho rằng: “Kỹ năng – khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” Tác giả Bùi Văn Huệ trong Giáo trình tâm lí học Tiểu học đã khẳng
định: “Kỹ năng vẫn còn là hành động ý chí đòi hỏi phải động não, suy xét, tính toán, phải có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được”
Nói chung, các nhà tâm lí học thường nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng học tập một cách khái quát, mang nhiều tính lý thuyết mà ít đề cập đến thực trạng một kỹ năng bộ phận nào đó ở học sinh
Trong góc độ môn học, cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc dạy và học Tiếng Việt, đặc biệt là dạy và học Tập làm văn ở trường Tiểu học Ta có
thể kể đến PGS.TS Nguyễn Trí với Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo
chương trình mới (trong đó có đề cập đến phân môn Tập làm văn).Trong Hỏi -
đáp về dạy học Tiếng Việt, PGS.TS Nguyễn Minh Thuyết cũng đưa ra kiến
thức và kỹ năng làm văn được dạy ở lớp 4
Tuy nhiên, các tác giả trên mới chỉ đề cập đến việc dạy và học Tập làm văn ở Tiểu học nói chung mà chưa xem xét nhiều đến thực trạng kỹ năng học tập môn học này của học sinh
Trang 12Nhiều sinh viên cũng đã lựa chọn tìm hiểu thực trạng kỹ năng học tập phân môn Tập làm văn của học sinh Tiểu học cho khoá luận tốt nghiệp của mình Nhưng họ mới chỉ dừng lại ở tìm hiểu kỹ năng dùng từ , viết câu, viết
đoạn mà chưa tìm hiểu kỹ năng viết bài, hoặc có tìm hiểu thì cũng không phải
là ở chương trình học được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ năm học 2005-2006
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các thành tựu nghiên cứu có liên quan
đề tài đã đi tìm hiểu kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4 ở một trường Tiểu học cụ thể
2 Bài tập và phân loại bài tập
2.1 Khái niệm bài tập
ở bất kì môn học nào chúng ta cũng bắt gặp từ “bài tập” Điều đó chứng tỏ “bài tập” được dùng trong phạm vi rất rộng đối với mọi hoạt động cá nhân Vậy “bài tập” được hiểu như thế nào?
Theo từ điển Tiếng Việt thì bài tập được định nghĩa “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”[7] Trong tâm lí học “Bài tập là một vấn đề mà việc giải quyết nó đòi hỏi phải có một phương pháp nào
đó và đạt tới hiệu quả nhất định Khái niệm bài tập được mô tả theo hướng như
là một tình huống có vấn đề, trong đó chủ thể cần phải hành động” Nhà tâm lí học người Nga A.N.Lêônchiép cho rằng “Bài tập là tình huống đòi hỏi chủ thể phải có hành động nào đó, là mục đích đã cho trong điều kiện nhất định”[1]
Tóm lại, có rất nhiều quan niệm khác nhau về bài tập Khi xem xét khái niệm này, các nhà nghiên cứu nhìn ở các phương diện không giống nhau Tuy vậy, ta có thể rút ra những điểm cơ bản chung nhất về bài tập như sau:
Bài tập trước hết là một tình huống có vấn đề, có tính xác định cao, nó
được hình thành từ tình huống có vấn đề đó trong hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên không phải tình huống có vấn đề nào cũng là bài tập
Trang 132.2 Các mức độ và giai đoạn hình thành kĩ năng giải quyết tình huống có vấn đề
Theo tác giả K.K.Platononv và G.G.Golubev có 5 mức độ hình thành kỹ năng:
- Mức 1: Có kĩ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai (dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm)
- Mức 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
- Mức 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ
- Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành nhận thức đầy đủ, có hệ thống về mục đích, cách thức, kĩ thuật thực hiện hành động Giai đoạn này rất quan trọng vì kiến thức chính là một điều kiện để hình thành kỹ năng
- Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn làm thử, thực hiện hành động dựa trên kiến thức đã đựơc trang bị và kinh nghiệm vốn có
- Giai đoạn 3: Giai đoạn luyện tập để hình thành kỹ năng chuyên biệt tiến tới vận dụng sáng tạo trong những tình huống khác nhau[16]
3 Khái niệm kỹ năng và phân loại kỹ năng
3.1 Khái niệm kỹ năng
Hàng ngày con người sống, phát triển và học tập tất cả đều gắn với việc hình thành và thực hiện kỹ năng Thành công trong việc thực hiện các kỹ năng
Trang 14quyết định thành công trong cuộc sống Chính vì thế kỹ năng nói chung và kỹ năng học tập nói riêng từ lâu đã trở thành đối tượng quan trọng của khoa học tâm lí khi nói về kỹ năng đã có rất nhiều tác giả đưa ra các quan niệm khác nhau như:
Theo Lê Văn Hồng trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm cho rằng: “Kỹ năng – khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp,…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”[4]
Theo Bùi Văn Huệ trong Giáo trình tâm lí học Tiểu học đã khẳng định:
“Kỹ năng vẫn còn là hành động ý chí đòi hỏi phải động não, suy xét, tính toán, phải có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được”[5]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên “ Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức thu được trong lĩnh vực nhất định vào thực tế”[7]
Trong cuốn tâm lí học cá nhân A.G.Côvaliôv quan niệm: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động” Ông không đề cập đến kết quả của hành động Theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm được cách thức hành động thì đem lại hiệu quả tương ứng[14]
Qua các quan niệm trên, có thể khái quát một số đặc điểm chung về kỹ năng như sau:
- Kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động hay một hoạt động nào
đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có
để thực hiện hành động đó phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho Khái niệm kỹ năng có thể hiểu trên cơ sở quan niệm về hành động, hoạt động, thao tác
- Mọi kỹ năng xét về mặt cấu trúc bao gồm các thành phần:
+ Các cá nhân phải hiểu mục đích của hành động
+ Biết cách thức đi đến kết quả
Trang 15+ Hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức
đó
Kỹ năng chính là mặt kĩ thuật của hành động, biểu hiện mức độ đúng
đắn của hành động.Kỹ năng không có đối tượng riêng mà đối tượng của nó chính là đối tượng của hành động, không có kỹ năng chung chung mà kỹ năng bao giờ cũng là kỹ năng của một hoạt động cụ thể
Giữa việc tiếp thu kiến thức và việc hình thành kỹ năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tiếp thu kiến thức sẽ tạo cơ sở, nền tảng cho việc hình thành kỹ năng Cho nên kỹ năng cũng được hiểu là sự thể hiện của kiến thức trong hành động Ngược lai, khi kỹ năng được hình thành và phát triển sẽ làm sâu sắc hơn về kiến thức Đồng thời, để hình thành kỹ năng bao giờ con người cũng cần triển khai hành động ở dạng khái quát nhất, đầy đủ nhất và luyện tập trong những tình huống khác nhau đến mức có thể nắm được qui tắc, quy luật chung của hành động cũng như có thể triển khai nó ở dạng xa hơn dạng ban
đầu Từ đây có thể rút ra những dấu hiệu bản chất của một hành động đạt đến mức kỹ năng gồm:
Cá nhân phải có tri thức về hành động
Thực hiện hành động theo đúng yêu cầu
Đạt được kết quả phù hợp với mục đích, yêu cầu
Có thể thực hiện hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau
Thực tế cho thây ở Tiểu học giáo viên thường cố gắng truyền đạt cho học sinh nhiều tri thức Khi nắm được tri thức là khi học sinh hiểu biết và ghi nhớ được những khái niệm khoa học Sau đó, khi vận dụng tri thức vào thực tiễn là khi các em có kỹ năng Tuy nhiên, kỹ năng vẫn là hành động ý chí đòi hỏi phải động não, xuy xét, tính toán thì mới hoàn thành được Khi kỹ năng
được củng cố vững chắc thì kỹ năng trở thành kỹ xảo
Trang 16
3.2 Phân biệt kỹ năng, kỹ xảo
Kỹ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã
được củng cố
Kỹ xảo được hiểu là loại hành động được tự động hoá do luyện tập
Kỹ năng và kỹ xảo về bản chất đều là thuộc tính kĩ thuật của hành động cá nhân chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã
được lĩnh hội và luyện tập trong thực tiễn
Tuy nhiên giữa kỹ năng và kỹ xảo có những điểm khác nhau về mức độ của sự thuần thục và tự động hóa hành động, khác nhau về cấu trúc
3.3 Phân loại kỹ năng
Mỗi hành động khác nhau đòi hỏi phải có kỹ năng tương ứng khác nhau Căn cứ vào tính chất của mỗi loại hoạt động ta có thể chia thành các kỹ năng :
Trang 173.4 Kỹ năng học tập
Kỹ năng học tập là một thành phần của kỹ năng hoạt động trí tuệ Nó là thành phần không thể thiếu để tạo ra cách học cho học sinh, kỹ năng học tập của học sinh gồm những đặc trưng sau:
+ Kỹ năng học tập thể hiện ở mặt năng lực học tập của học sinh, liên quan chặt chẽ với hiệu quả học tập là yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả học tập
+ Kỹ năng học tâp thể hiện ở mặt kĩ thuật của hành động học tập là
sự tổ hợp các phương thức thực hiện hành động học tập đã được học sinh nắm vững và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đặt ra + Kỹ năng học tập là một hệ thống phức tạp và có tính phát triển bao gồm những kỹ năng chuyên biệt, có những kỹ năng chung cơ bản cần thiết cho môn học, có những kỹ năng của từng môn học
3.5 Sự hình thành kỹ năng của học sinh
Khi nghiên cứu sự hình thành kỹ năng, nhiều nhà tâm lí học đã khẳng
định: thực chất của việc hình thành kỹ năng là làm cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong học tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể
Vậy để hình thành kỹ năng cho học sinh cần phải giúp các em:
- Biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng
- Hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đại lượng cùng loại
- Xác lập được mối quan hệ giữa bài tập, mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng
Một số yêu cầu đối với việc hình thành kỹ năng cho học sinh là:
- Phải làm cho học sinh ham thích luyện tập Giáo viên cần đưa ra
Trang 18tình huống có vấn đề nhằm kích thích suy nghĩ của các em
- Cần làm cho các em hiểu cách thức luyện tập
- Cần phải chỉ dẫn kịp thời những sai sót của các em trong quá trình luyện tập và hướng dẫn học sinh kịp thời sửa chữa những sai sót đó
3.6 Kỹ năng viết- Hình thành kỹ năng viết cho học sinh
a.Kỹ năng viết:
Viết trước hết là viết chữ (đúng mẫu, đúng chính tả và tạo lập văn bản) Khi viết học sinh có thời gian suy nghĩ, tìm cách diễn đạt (dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ…) thuận lợi hơn làm bài văn nói Tuy nhiên học sinh cũng cần đạt được những yêu cầu rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản ở mức độ cao hơn Lời văn viết vừa cần rõ ý vừa cần sinh động, bộc lộ được cảm xúc, bố cục cần chặt chẽ, hợp lí ở từng đoạn, bài để tạo thành một chỉnh thể
- Hình thành kỹ năng viết cho hoc sinh Tiểu học bao gồm các yếu tố:
1 Viết đúng mẫu:
+ Kiến thức trang bị là mẫu chữ, cỡ chữ viết thường và viết hoa
+ Yếu tố này được hoàn thành ở lớp 1,2
2 Viết đúng chính tả:
+ Viết đúng các dấu thanh, các tiếng, viết đúng quy định về chữ hoa
3 Biết cấu tạo câu và sử dụng dấu câu:
+ Biết cấu tạo câu: Viết được các câu, diễn đạt đúng các ý kiến của mình hoặc yêu cầu bất kì theo qui tắc ngữ pháp phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
4 Biết tạo lập đoạn văn và văn bản, hoàn chỉnh đoạn văn đã cho, tạo lập
đoạn văn dựa vào các câu hỏi đã cho, tạo lập đoạn văn theo đề tài nhất định
Như vậy để hình thành được kỹ năng viết cho học sinh ngoài việc thực hiện đúng theo 3 bước của hình thành kỹ năng thì cần phải chú ý tới các nhân
tố hình thành kỹ năng viết cho học sinh
Trang 193.7 Để rèn luyện kỹ năng viết bài Tập làm văn của học sinh lớp 4,5 đạt kết quả tốt giáo viên cần chú ý những điều sau:
Bài Tập làm văn của học sinh lớp 4,5 là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập nói chung Do vậy, bên cạnh việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, vốn sống cho học sinh qua các bài học ở các phân môn Tiếng Việt giáo viên cần phải luôn chú ý rèn kỹ năng viết bài Tập làm văn theo những yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp cụ thể như:
- Rèn kỹ năng viết câu văn sinh động, gợi cảm: Từ một ý cho trước hoặc
từ một câu cho trước có thành phần “nòng cốt” (chủ ngữ-vị ngữ) giáo viên hướng dẫn học sinh mở rộng câu bằng cách thêm vào các thành phần phụ (trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ…) sử dụng các hình ảnh chi tiết, các biện pháp
tu từ…làm cho cách diễn đạt cụ thể, chân thực và sinh động Từ đó giúp học sinh có ý thức viết văn ngày càng giàu cảm xúc, gợi cho học sinh thêm hứng thú học môn Tiếng Việt
- Rèn viết đoạn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý: giáo viên cần cho học sinh luyện viết lại phần mở bài, kết bài hay một đoạn của thân bài để rút ra kinh nghiệm sau khi đã chữa bài tập ở tiết trả bài Tập làm văn Qua luyện tập giáo viên giúp học sinh cảm nhận và bước đầu ý thức được sự “liên kết ý” trong đoạn văn cụ thể: giữa câu văn có sự liền mạch có quan hệ về ý với nhau, không rời rạc, lộn xôn, ý trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh họa, cụ thể hoá ý chính
- Rèn luyện kỹ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại: cho học sinh viết theo dàn bài đã được giáo viên góp ý, hoàn chỉnh để bài làm có bố cục chặt chẽ, hướng dẫn học sinh biết cách liên kết đoạn bằng những từ ngữ như: trong khi đó, tuy vậy, chẳng bao lâu,… nhắc nhở học sinh xuống dòng khi kết thúc đoạn văn, mở đầu đoạn tiếp theo bằng câu nối vào ý khác làm cho bài văn mạch lạc, khúc chiết
Trang 204 Cơ sở khoa học để xác định các kĩ năng làm văn của học sinh
Các nhà Tâm lí học góp phần xây dựng và phát triển Tâm lí học hoạt
động nổi tiếng trên thế giới như L.X Vưgỗtki, A.N Lêônchiép,
P.Ia.Ganpêrin,… cho rằng nhận thức của trẻ em được hình thành và phát triển thông qua hoạt động
Theo A.N Lêônchiép – nhà Tâm lí học người Nga thì: “Hoạt động là bản thể của tâm lí ý thức Tâm lí ý thức được nảy sinh bởi hoạt động Trong Tâm lí học, hoạt động được coi là vận động của chủ thể, của con người, hoạt
động quy định nguồn gốc, nội dung và sự vận hành của tâm lí Với ý nghĩa đó,
ta nói rằng : hoạt động là quy luật chung nhất của cuộc sống con người, của tâm lí người…” [6]
Một trong những cơ sở khoa học của việc dạy Tập làm văn là lí thuyết hoạt động lời nói Lí thuyết này là sự vận dụng thành tựu của Tâm lí học hoạt
động đi sâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của hoạt động lời nói Hoạt đông lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, hiện thực hoá chương trình và kiểm tra Cấu trúc này đã được vận dụng triệt để khi xây dựng hệ thống kĩ năng làm văn, có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ sau:
2 Lập chương trình biểu
3 Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho bài viết)
4 Kĩ năng lập dàn ý(hệ thống hoá, lựa chọn
Trang 216 Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo cac phong cách khác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư )
4 Kiểm tra 7 Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phat hiện và
sửa chữa lỗi)
Mỗi đề bài Tập làm văn xác định một nhiệm vụ giao tiếp Việc định hướng trong một giao tiếp sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài Việc tìm hiểu đề bài phải trả lời được câu hỏi Nói (viết) để làm gì? (xác định mục tiêu nói năng), Nói (viết) về cái gì? (xác định nội dung nói năng), Nói (viết) theo thể loại nào? (hình thức nói năng), Nói(viết) cho ai? (xác định vai nói, thái độ nói),… Các vấn đề Tập làm văn phải giúp học sinh xác định được những nội dung này Để làm được các bài Tập làm văn , học sinh phải xác
định được các nội dung và tương ứng là các kỹ năng sau:
Giai đoạn lập chương trình bao gồm: kĩ năng tìm ý, lập ý, xây dựng dàn
ý Việc làm này sẽ giúp học sinh trình bày bài nói hay bài viết một cách đầy
đủ, mạch lạc và có logic Khi lập dàn ý phải xác định được ý chủ đạo và sắp xếp theo một trình tự nhất định
Giai đoạn hiện thực hoá chương trình bao gồm: kĩ năng nói (viết) thành bài, nó gồm các kĩ năng bộ phận như dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài Giai đoạn kiểm tra kết quả bao gồm: nhóm kĩ năng hoàn thiện bài viết, gồm kĩ năng phát hiện lỗi – lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi dựng
đoạn,… và kĩ năng chữa lỗi [1, trang 153, 154]
Trang 225 Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học
5.1 Khái niệm Tập làm văn
Văn có thể hiểu là những lời nói khi giao tiếp và có thể nói: lời văn ở
đây chính là ngôn bản Tập làm văn là tập sản sinh tạo lập văn bản
Vậy dạy Tập làm văn là dạy cho học sinh biết cách sản sinh và tạo lập ngôn bản
- Bài tập luyện viết gồm:
+ Bài tập viết lời hội thoại: điền lời lựa chọn phù hợp vào chỗ trống (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi…) và viết câu trả lời
+ Bài tập viết thành đoạn bài: viết văn bản nhật dụng (văn bản tự thuật, danh sách học sinh…) và viết văn bản nghệ thuât (kể chuyện, miêu tả)
5.2 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn
a) Vị trí:
Tập làm văn là một môn tổng hợp tận dụng tất cả các kỹ năng, những hiểu biết về Tiếng Việt và đồng thời chính nó góp phần hoàn thiện hiểu biết những tri thức, những khái niệm về Tiếng Việt Dạy Tập làm văn rất khó dạy vì người dạy phải nhìn thấy nội dung của các phân môn khác, phải vận dụng toàn bộ những hiểu biết và kỹ năng của các phân môn khác vì vậy phân môn Tập làm văn bao giờ cũng đặt ở cuối đơn vị bài học để sử dụng lại những tri thức đã học, hoàn thiện tiếp Môn Tập làm văn bao giờ cũng là môn kiểm tra
đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh
Trang 23Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh văn bản vì thế mà nó trở thành một công cụ trong quá trình giao tiếp và tư duy
b) Nhiệm vụ:
Rèn luyện kỹ năng nói và viết các kiểu bài Tập làm văn, nhiệm vụ
chính của phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập ngôn bản ở các thể loại: tả, kể chuyện, viết thư, đơn từ Ngoài ra còn luyện cho học sinh một số kỹ năng chuyên biệt như: kỹ năng quan sát, kỹ năng xây dựng cốt truyện, kỹ năng miêu tả,…
Thêm vào đó, Tập làm văn còn góp phần cùng với các môn học khác rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ, tăng cường vốn sống và hiểu biết đời sống,
+ Quan sát để miêu tả cho sinh động
+ Trình tự miêu tả (đồ vật, cây cối, con vât)
+ Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả (đồ vật, cây cối, con vât)
Trang 24- Các văn bản khác:
+ Viết thư (mục đích viết thư, cấu tạo một lá thư)
+ Trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu hoạt động của địa
phương, điền vào tờ giấy in sẵn
+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho
+ Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
+ Quan sát đối tượng, tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý miêu tả
- Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giap tiếp:
+ Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)
+ Liên kết các đoạn thành bài văn
- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
Những nội dung kiến thức và kỹ năng làm văn dạy ở lớp 4 luôn quán triệt tinh thần tích cực hoá hoạt động học tập Học sinh được tiếp cận kiến thức thông qua yêu cầu thực hành, luyện tập phù hợp với tâm lí lứa tuổi chứ không phải là những bài học lí thuyết nặng nề, khô khan
Trang 25
5.4 Quy trình dạy bài Tập làm văn ở lớp 4
Các bài học Tập làm văn trong chương trình lớp 4 có hai dạng bài cơ bản là dạng bài lí thuyết làm văn và dạng bài thực hành Mỗi dạng bài có một mô hình cấu tạo riêng và tương ứng là các quy trình dạy học khác nhau
a Quy trình dạy bài lí thuyết
A Kiểm tra bài cũ
B Dạy bài mới
1 Giới thiệu bài
2 Hình thành khái niệm
2.1 Phân tích ngữ liệu
a Hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu bài tập
- Một học sinh đọc thành tiếng, các em khác đọc thầm và nhắc lại yêu cầu bài tập
- Giáo viên giải thích rõ thêm nhiệm vụ của bài tập yêu cầu
- Hướng dẫn học sinh giải một phần bài tập mẫu để học sinh nắm vững cách làm
- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả
- Trao đổi, nhân xét, tổng kết rút ra những đặc điểm về thể loại, những kiến thức và kỹ năng cần ghi nhớ
2.2 Hướng dẫn học sinh học thuộc phần Ghi nhớ
- Một học sinh đọc thành tiếng, các em khác đọc thầm và nhắc lại nội dung cơ bản của phần Ghi nhớ
3 Hướng dẫn học sinh luyện tập
- Giáo viên yêu càu học sinh đọc và xác đinh yêu cầu bài tập
- Hướng dẫn học sinh giải một phần bài tập mẫu
- Học sinh làm bài dưới hình thức cá nhân hoặc nhóm
Báo cáo kết quả, trao đổi, nhận xét để đưa ra đáp án đúng
4.Củng cố, dặn dò
Trang 26- Chốt lại những kiến thức và kỹ năng cần nắm vững
- Yêu cầu học sinh làm bài tập ở nhà
b Quy trình dạy bài thực hành
Dạng bài thực hành được biên soạn dưới hình thức hệ thống bài tập
A Kiểm tra bài cũ
B Dạy bài mới
1 Giới thiệu bài
2 Hướng dẫn học sinh làm bài tập
- Học sinh đọc và xác định yêu cầu bài tập
- Giáo viên hướng dẫn học sinh giải một phần bài tập mẫu
- Học sinh làm bài tập dưới hình thức cá nhân hoặc nhóm
- Báo cáo kết quả, trao đổi, nhận xét để đưa ra đáp án đúng
3 Củng cố, dặn dò
- Nhận xét tiết học
- Giáo viên giao nhiệm vụ về nhà
Dạng bài thực hành theo một đề bài cho trước
A Kiểm tra bài cũ
B Dạy bài mới
1 Giới thiệu bài
2 Hướng dẫn học sinh thực hành
2.1 Hướng dẫn học sinh phân tích đề:
- Một học sinh đọc thành tiếng đề bài cho trước, các em khác đọc thầm
- Giáo viên gạch chân dưới những từ quan trọng
2.2 Hướng dẫn học sinh trả lời phần gợi ý
- Hướng dẫn học sinh trả lời phần gợi ý
- Trao đổi, nhận xét
- Học sinh trả lời vào vở
Trang 273 Củng cố, dặn dò
- Chốt lại những kiến thức và kỹ năng cần nắm vững
- Yêu cầu học sinh làm bài tập ở nhà
Mỗi bước trong quy trình trên đều đảm nhận một vai trò riêng ( rèn luyện một kỹ năng nào đó) và có tầm quan trọng như nhau Vì vậy, người giáo viên cần nắm vững yêu cầu nội dung từng bước và mối quan hệ giữa chúng để hướng dẫn học sinh đạt kết quả tốt
6 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh lớp 4
hưng phấn mạnh hơn ức chế dẫn đến học sinh Tiểu học hiếu động, chưa làm chủ được cảm xúc của mình.Những đường liên hệ thần kinh tạm thời trên vỏ não học sinh dễ hình thành nhưng lại không bền vững dẫn đến học sinh dễ nhớ nhưng chóng quên nên để học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng phải cho học sinh ôn tập thường xuyên
7.2 Đặc điểm tâm lý.
ở giai đoạn này tư duy trừu tượng dần được chiếm ưu thế, cấu trúc của các thao tác hình thức bắt đầu được hình thành đó là các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá,
Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định bắt đầu ổn định
và bền vững Khối lượng chú ý tăng lên, học sinh biết hướng chú ý vào nội dung cơ bản của tài liệu học tập và bắt đầu có kỹ năng phân phối chú ý
Trang 28Tri giác phân tích được hình thành và phát triển mạnh tuy nhiên tri giác của học sinh vẫn gắn liền với hoạt động vật chất và gắn liền với cảm xúc
Trí nhớ trực quan phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ trừu tượng, trí nhớ trong thời gian ngắn phát triển tốt hơn trí nhớ trong thời gian dài, trí nhớ không chủ định và có chủ định phát triển mạnh
Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng đang dần chiếm
ưu thế Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành cấu trúc tương đối ổn
định và trọn vẹn Học sinh biết căn cứ vào các dấu hiệu bản chất đối tượng để khái quát thành khái niệm Các em có thể nhìn một sự vật diễn biến theo nhiều hình thức, một hiện tượng có nhiều nguyên nhân Đặc biệt, học sinh có khả năng lập luận cho phán đoán của mình
Tóm lại, trong quá trình dạy học đặc biệt là trong quá trình day học Tập làm văn người giáo viên cần căn cứ vào một số đặc điểm tâm lý để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả nhất
7 “Vì sao học sinh chán học và dốt văn”
1 Học sinh thấy học văn khó, không tiến bộ nhanh như môn Toán nên
ít cố gắng và sinh ra chán học môn văn
2 Học tập không có phương pháp đúng, không thấy được cái hay, cái
đẹp của văn chương, không thấy cái lợi của việc học văn
3 Giáo viên dạy văn chưa tận tâm với nghiệp vụ, chưa gia công học tập, nghiên cứu để dạy văn tốt hơn
4 Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến phương pháp học văn của học sinh, chưa hướng dẫn đầy đủ về cách học môn văn để giúp học sinh học tập có hứng thú và tiến bộ
5 Bộ giáo dục và đào tạo quy định tiêu chuẩn học sinh tiên tiến chỉ cần môn Toán đạt 6,5 điểm trở lên còn môn văn chỉ cần đạt 6 điểm là đủ yêu cầu vì vậy học sinh không cố gắng học tốt môn văn, chỉ cần học theo kiểu “tư bản chủ nghĩa”
Trang 296 Chương trình các bộ môn nói chung, môn văn nói riêng không ổn định
và không hợp lí, nay thay mai đổi chưa làm nổi bật cái chung, cái hay, cái đẹp của văn chương
7 Sách giáo khoa biên soạn không cẩn thận, đầu tư chưa tương xứng với tầm quan trọng của sách giáo khoa Chọn lọc tác phẩm văn chương còn tham lam, chủ quan nên kiến thức còn quá sức với học sinh
8 Những yêu cầu thực hành các kỹ năng ngữ văn còn thiếu hệ thống kết hợp rời rạc phần nhận thức lí tính với cảm thụ văn chương của học sinh
9 Kiến thức Tiếng Việt còn rời rạc, chắp vá, thiếu hệ thống, áp đặt tuỳ tiện do chủ quan của các tác giả sách giáo khoa muốn bác bỏ ngữ pháp truyền thống để áp dụng ngữ pháp cách tân
10 Lí thuyết và thực hành làm văn còn thiếu hệ thống, nội dung chương trình làm văn còn nặng nề không phù hợp với trình độ và năng lực của học sinh
11 Yêu cầu đào tạo toàn diện đối với học sinh chưa được quan tâm đúng mức, không kịp thời ngăn chặn những lệch lạc trong học tập của học sinh nhất
là đối với môn văn
12 ý thức coi nhẹ môn văn được thể hiện ngay trong chủ trương của bộ Giáo dục và Đào tạo ở nhiều khối A,B… trong kì thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng nên học sinh được quyền bỏ rơi môn văn[18]
8 “ Vì sao môn văn trong nhà trường không hấp dẫn”
Tác giả Ngô Tự Lập nêu trên “Tiền Phong” chủ nhật số 38 ra ngày 18/9/2005 đã nêu ra một thực trạng là môn văn trong nhà trường không hấp dẫn mà theo tác giả “nguyên nhân trực tiếp giết chết hứng thú học văn của các
em học sinh chính là phương pháp giáo dục áp đặt mà chúng ta đã và đang sử dụng rộng rãi”
Vậy “Dạy văn như thế nào để học sinh thích học? ”
Trang 30- Dạy văn là dạy những điều cơ bản và thiết yếu nhất có liên quan đến cuộc sống
- Dạy văn là dạy cho học sinh các phương pháp và kỹ năng làm việc chứ không chỉ truyền thụ kiến thức
- Dạy văn phải thường xuyên khuyến khích động viên học sinh sáng tác thơ, văn, báo chí,… và tổ chức nhiều buổi sinh hoạt, nhiều đêm thơ theo chủ đề, chủ điểm hàng tháng
- Dạy văn phải gắn với phương châm “Học mà chơi, chơi mà học”
- Đa dạng hoá cách kiểm tra bài cũ
Như vậy, nội dung chương trình sách giáo khoa là một lẽ nhưng phương pháp giảng dạy của giáo viên là yếu tố rất quan trọng quyết định việc học sinh thích hay không thích học văn[19]
Trang 31Chương 2: thực trạng kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh lớp 4–trường tiểu học phủ lỗ
a và các yếu tố ảnh hưởng
1.Thực trạng kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh lớp 4
ở lớp 4, học sinh được học và làm bài tập về các thể loại văn bản là văn
kể chuyện, văn miêu tả và một số loại văn bản thông thường khác (viết thư, trao đổi ý kiến,…) Trong đó, văn miêu tả là một thể loại có yêu cầu tương đối cao với các em và chiếm thời lượng lớn nhất trong chương trình Tập làm văn lớp 4 (30 tiết) Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu với phạm vi thời gian và thời lượng kiến thức cho phép đề tài chỉ đi sâu vào điều tra thể loại này
1.1 Thực trạng kỹ năng xác định yêu cầu bài viết
Học sinh muốn làm tốt bài văn ở bất kì thể loại văn nào thì khâu đầu tiên là các em phải hiểu đề bài Hiểu đề bài và tìm ý đúng có ý nghĩa quan trọng vì đây là bước định hướng cho quá trình làm bài Định hướng sai hay
đúng sẽ dẫn đến làm bài sai hay đúng
Tìm hiểu thực trạng về kỹ năng tìm hiểu đề và tìm ý của học sinh bằng cách cho học sinh thực hiện yêu cầu sau:
Đề 1
1 Em hãy đọc các đề bài sau:
Đề 1: Tả chiếc cặp sách của em
Đề 2: Tả một cây có bóng mát
2 Trả lời các câu hỏi sau đây bằng cách điền vào chỗ chấm
a Các đề bài trên yêu cầu em viết loại văn nào?
Đề 1: ……… Đề 2: ………
b Các đề bài đó yêu cầu em tả sự vật gì?
Đề 1: ………
Trang 32Đề bài:Tả cây có bóng mát trong sân trường em
Trả lời các câu hỏi sau đây:
1 Vị trí của cây ………
2 Em quan sát theo trình tự………
3 Những điều em quan sát được là………
4 Em thích cây đó vì……… Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của phần cơ sở lí luận để đưa ra những mức độ đánh giá kỹ năng xác định yêu cầu bài viết của học sinh như sau:
- Giỏi (9; 10 điểm): Xác định đúng trọng tâm, yêu cầu của đề, tìm
đúng những ý cần thiết để triển khai bài văn
- Khá (7; 8 điểm): Xác định đúng trọng tâm, yêu cầu của đề, tìm được các ý để triển khai bài văn nhưng chưa đủ
- Ttrung bình (5; 6 điểm): Xác định đúng trọng tâm, yêu cầu của đề nhưng chưa tìm được các ý để triển khai bài văn
- Yếu (dưới 4 điểm): Xác định sai yêu cầu của đề bài
Tổng hợp số liệu thu được thông qua việc dự giờ và các bài kiểm tra đo thực nghiệm thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Thực trạng kỹ năng xác định yêu cầu của bài viết
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Trang 33Qua kết quả trên cho thấy ở bảng 1 học sinh đạt ở mức độ giỏi (xác
đình đúng trọng tâm, yêu cầu của đề và tìm đúng những ý cần thiết chưa cao (34,6%) trong khi đó phần lớn học sinh đạt ở mức độ khá (51,7%) Về thực trạng kỹ năng tìm ý của học sinh khá tốt số lượng học sinh đạt ở mức độ giỏi chiếm tới 50% tuy vẫn còn đến 40% học sinh đạt ở mức khá Đặc biệt còn tồn tại 1 em học sinh xác định sai yêu cầu của bài viết và trên dưới 10% học sinh
là các em phải xác định yêu cầu của bài viết và tìm ý của bài Việc một số em gặp khó khăn ngay từ khâu đầu tiên này cũng là điều dễ hiểu
Thực tế cho thấy phần lớn các em đã hiểu được đề bài Căc em đã xác
định được thể loại văn cho bài viết, đối tượng cần viết, Qua dự giờ một số tiết Tập làm văn cho thấy các cô giáo rất chú ý tới việc hình thành và rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề bài cho học sinh Muốn có kỹ năng này, trước tiên các em cần đọc kĩ đề bài để hiểu được ý nghĩa của từng từ, từng vế câu rồi chỉ ra những từ ngữ quan trọng của đề bài