Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển khả năng cảm nhận và sử dụng màu sắc vào vẽ tranh cho học sinh lớp 2A7 của trường Tiểu học Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh P
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo: Vũ Long Giang – giảng
viên môn Mĩ thuật trường ĐHSP Hà Nội 2 – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo giúp tôi thực hiện tốt đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH trường, các thầy cô giáo của trường Tiểu
học Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc
chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được
sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự có
chất lượng và hữu ích
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Dương Thị Thu Hồng
Trang 2Lời cam đoan
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo Vũ Long Giang
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu
không trùng với kết quả nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Dương Thị Thu Hồng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Giả thuyết khoa học 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài 11
7 Cấu trúc khóa luận 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Khái niệm màu sắc 12
1.1.1 Ánh sáng và màu sắc 13
1.2 Màu sắc trong cuộc sống 14
1.3 Phân loại màu sắc trong hội hoạ 15
1.3.1 Màu gốc – màu bổ túc 15
1.3.2 Màu tương phản, màu nóng, màu lạnh 17
1.4 Độ đậm nhạt của màu sắc 18
1.4.1 Đậm nhạt cùng màu 19
1.4.2 Đậm nhạt sắc độ 20
1.4.3 Đậm nhạt khác màu 20
1.5 Chương trình Mĩ thuật Tiểu học hiện nay 22
1.5.1 Khái lược về Mĩ thuật 22
1.5.2 Màu sắc trong môn Mĩ thuật trường Tiểu học 24
CHƯƠNG 2: SỰ ĐA DẠNG TRONG SỬ DỤNG MÀU SẮC CỦA HỌC SINH LỚP 2A7 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỐNG ĐA,THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 29
2.1 Tác động tâm lý của màu sắc trong độ tuổi học sinh tiểu học 29
Trang 42.2 Phân tích màu sắc của học sinh lớp 2A7 ở trường Tiểu học Đống Đa qua các
bài Mĩ thuật 35
2.2.1 Màu sắc bài vẽ tranh theo đề tài 35
2.2.2 Màu sắc bài vẽ trang trí cơ bản 41
2.2.3 Màu sắc bài vẽ theo mẫu 43
2.3 Kết quả nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP CÁC EMSỬ DỤNG MÀU SẮC CÓ HIỆU QUẢ 48
3.1 Hướng dẫn học sinh cách dùng màu 48
3.1.1 Phân loại màu 48
3.1.2 Hướng dẫn học sinh phân biệt màu đậm và màu nhạt 49
3.1.3 Cách dùng màu vẽ tranh phong cảnh và vẽ trang trí 50
3.2 Hướng dẫn các em tìm hiểu màu sắc qua hoạt động ngoài giờ lên lớp 53
3.3 Thử nghiệm khả năng sử dụng màu sắc cho học sinh thông qua tiết dạy trên lớp 55
3.3.1 Mục đích thử nghiệm 55
3.3.2 Nội dung cơ bản của thử nghiệm 55
3.3.3 Kết quả của dạy thử nghiệm 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Màu sắc luôn gắn liền với cuộc sống của con người Dù mầu da, quốc tịch
khác nhau thì từ khi sinh ra đến lúc lớn lên ít nhiều mỗi chúng ta đều hiểu theo
cách riêng về màu sắc Quan niệm của người phương Đông và phương Tây về
màu sắc tuy rất khác nhau nhưng họ đều đồng ý rằng màu sắc có vai trò rất quan
trọng Ngày nay, màu sắc được biết đến không chỉ trong ngành hội họa mà còn
ứng dụng trong nhiều ngành khác như: quảng cáo, thời trang, kiến trúc…Bởi
ngành quảng cáo nhờ vận dụng những quy luật của màu sắc mà tạo ra những bao
bì đẹp, bắt mắt dễ lấy lòng người tiêu dùng Hay ngành thời trang, nó góp phần
tạo ra những xu hướng thịnh hành, đặc biệt hơn là thổi hồn cho những bộ trang
phục mang đầy sức sống…
Thử tưởng tượng xem, nếu thế giới này không có màu sắc, mọi thứ đều
một sắc độ như nhau thì sẽ thế nào? Con người sẽ không còn hứng thú làm việc
nữa Đơn giản hơn, nếu bạn xem một bức tranh chỉ có một màu với sắc độ là như
nhau với xem bức tranh có nhiều sắc độ hài hòa thì bạn thích bức tranh nào hơn?
Nói như vậy để chúng ta thấy rằng màu sắc là vô cùng quan trọng, nó rất
cần thiết với cuộc sống của con người Đặc biệt là trong ngành hội họa, Tiến sĩ
Mĩ học Đỗ Văn Khang đã cho rằng: “Hội hoạ là bà chúa của màu sắc” và khi nói
hẹp hơn trong môn Mĩ thuật Bởi mĩ thuật là môn nghệ thuật thị giác và màu sắc
như là cái hồn không thể tách rời được của mĩ thuật Giáo dục Tiểu học là bậc
học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học
được xác định: “Giáo dục tiểu học nhằm gúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” Như vậy,
Trang 6môn Mĩ thuật đóng góp một vai trò đáng kể trong bậc học tiểu học nó góp phần
giúp các em tiếp thu cái đẹp, yêu thích cái đẹp và vận dụng cái đẹp vào trong
cuộc sống
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá về môn Mĩ thuật ở phổ thông
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về mảng màu sắc trong môn mĩ
thuật ở bậc học tiểu học Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu
cảm nhận màu sắc qua bài vẽ của học sinh lớp 2A7 trong môn học Mĩ thuật
của trường Tiểu học Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm phát hiện khả năng vận dụng màu sắc vào trong
tranh vẽ của học sinh lớp 2 Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát
triển khả năng cảm nhận và sử dụng màu sắc vào vẽ tranh cho học sinh lớp 2A7
của trường Tiểu học Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: học sinh khối 2 trường Tiểu học Đống Đa, thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu khả năng sử dụng màu sắc của
học sinh lớp 2A7
4 Giả thuyết khoa học
Học sinh đã được làm quen với vẽ tranh và sử dụng màu sắc ngay từ bậc
học mầm non Tuy nhiên việc sử dụng màu sắc còn chưa phong phú Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, do đó nguyên nhân quan trọng là do giáo
viên chưa tạo được niềm đam mê cho các em và gò bó các em trong giờ học mĩ
thuật Vì vậy, nếu có cách dạy phù hợp và tạo cảm hứng được cho các em trong
giờ mĩ thuật thì việc vận dụng màu sắc vào trong tranh vẽ sẽ sáng tạo và phong
phú hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 75.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu khái niệm màu sắc trong hội hoạ
5.2 Phương pháp quan sát
Quan sát giờ học, các bài vẽ của học sinh nhằm tìm hiểu thái độ, tính tích
cực tham gia trong giờ học của các em
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm phát hiện: Thiết kế các phiếu điều tra về màu sắc để đo khả
năng sử dụng màu sắc của học sinh lớp 2A7 trường Tiểu học Đống Đa, thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thực nghiệm hình thành: hoàn thiện giáo án và dạy một số tiết môn Mĩ
thuật để phát triển khả năng cảm nhận và sử dụng màu sắc cho học sinh
5.4 Phương pháp tra cứu tài liệu
Tra cứu các tài liệu có liên quan để tìm hiểu các vấn đề về màu sắc
6 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần tìm hiểu khả năng vận dụng màu sắc của học sinh lớp 2
trường Tiểu học Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và đưa ra một số
biện pháp giúp học sinh yêu thích, vận dụng màu sắc vào trong vẽ tranh tốt hơn,
giúp các em cảm thụ cái đẹp, yêu cái đẹp thông qua màu sắc
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Nội dung khóa luận được chia thành
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Sự đa dạng trong sử dụng màu sắc của học sinh lớp 2A7
trường Tiểu học Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số biện pháp giúp các em sử dụng màu sắc có hiệu quả
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm màu sắc
Màu sắc không phải là tính chất tự có của vật chất, màu sắc là yếu tố phụ
thuộc vào ánh sáng Ở đâu không có ánh sáng thì không có màu, trong bóng tối
vật thể nào cũng có màu đen Ánh sáng mặt trời là một chùm bức xạ sóng điện từ
có bước sóng khác nhau.
Khi cho tia sáng trắng qua lăng kính sẽ nhận được một dải màu có màu đỏ,
cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Khi chiếu ánh sáng lên một vật thể thì bề mặt vật
thể sẽ hấp thụ một số bức xạ có bước sóng này và phản chiếu một số bức xạ có
bước sóng kia Nếu nó hấp thụ các bức xạ mỗi thứ một ít thì sẽ thấy vật thể ấy
màu trắng Nếu nó hấp thụ toàn bộ bức xạ thì sẽ thấy vật thể màu đen Nếu hấp
thụ ở mức trung bình thì vật thể có màu xám
Như vậy, màu của vật thể là sự tổng hợp tất cả các bức xạ có bước sóng
khác nhau mà bề mặt của nó phản chiếu
Mắt con người nhìn thấy được bức xạ điện từ có bước sóng từ khoảng 390 – 750
nm Về mặt tần số, điều này ứng với một giải tần số trong khoảng 400-790 THz
Tương ứng với các màu mà con người thấy được là: đỏ, da cam, vàng, lục, lam,
chàm, tím
Trang 9
Theo “Từ điển thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông” của Đặng Thị Bích Ngân
(chủ biên) thì:
- Màu: là những màu nguyên chất, chưa có sự biến đổi do pha trộn hay do
ánh sáng làm khác đi: Đỏ - vàng - lam
- Sắc: là những màu đã biến đổi do ánh sáng hoặc do pha trộn thành những
sắc thái khác nhau: lục, cam, chàm, tím,…
1.1.1 Ánh sáng và màu sắc
Nhờ có ánh sáng mà mắt chúng ta tiếp nhận được hình dạng và màu sắc
của thế giới tự nhiên Ánh sáng là các quang tử (photon) lan truyền trong không
gian theo dạng sóng, với những bước sóng khác nhau Ánh sáng tác động đến vật
thể, vật thể hấp thụ hoặc phản xạ lại, rồi kích thích vào cơ quan thị giác trở thành
những tín hiệu truyền về bộ não Tại trung tâm thị giác của não, những tín hiệu
được tổng hợp lại cho ta cảm giác về màu
Con người nhìn được các đồ vật có màu sắc khác nhau là do chúng có sự
hấp thụ và phản xạ khác nhau đối với sóng ánh sáng Một vật có màu đen hay
trắng là do nó hấp thụ hoặc phản xạ lại toàn bộ các tia sáng Một vật có màu đỏ
là do nó hút hết các loại tia sáng khác và chỉ hắt trả lại tia sáng có bước sóng
tương ứng với màu đỏ
Năm 1672, Niu-tơn (Isaac Newton) đã làm thí nghiệm phân giải các ánh
sáng mặt trời qua lăng kính và thấy được một dải quang phổ gồm đỏ, da cam,
vàng, lục, lam, chàm, tím
Ta có thể thấy rõ, ánh sáng mặt trời là một chùm bức xạ sóng điện từ có
bước sóng khác nhau Khi cho ánh sáng trắng qua một lăng kính ta sẽ nhận được
một dải đen Hiện tượng này trong tự nhiên cũng dễ thấy khi ánh sáng mặt trời đi
qua không khí có nhiều hơi nước và tạo thành cầu vồng
Trang 10Đầu thế kỷ 20, Anh-xtanh (Éintein) tổng hợp lí thuyết về ánh sáng của
nhiều nhà khoa học và rút ra kết luận Bước sóng của các quang phổ chế định
màu sắc của ánh sáng mà mắt thường nhìn thấy được Bước sóng ngắn tương ứng
với màu tím, lam Thực tế, ánh sáng mặt trời còn bao gồm nhiều loại sóng điện từ
khác (các tia hồng ngoại và tia cực tím…), nhưng do các tế bào thị giác trong
mắt ta chỉ có khả năng cảm ứng với những màu trong quang phổ, do đó chỉ nhận
biết được bẩy màu ánh sáng mà thôi
1.2 Màu sắc trong cuộc sống
Màu sắc luôn hiện hữu quanh ta, chúng mang lại cho cuộc sống sự vui tươi
và đa dạng Mỗi màu sắc mang những hàm ý khác nhau thể hiện một phần của
cuộc sống qua những cảm nhận riêng biệt của mỗi người Có thể kể đến trong tự
nhiên, màu sắc tạo ra vẻ đẹp cho vạn vật, phân biệt các loài vật, màu sắc còn là
tín hiệu không lời để gọi mời hay cảnh báo sự nguy hiểm (nấm độc, rắn
độc,…thường có màu rất sặc sỡ) Về bản sắc văn hoá, ở mỗi quốc gia, mỗi vùng
miền thì màu sắc thể hiện một bản sắc văn hóa riêng (với người phương Tây màu
trắng thể hiện sự trong trắng tinh khiết, còn ở phương Đông màu trắng lại tượng
trưng cho sự tang tóc,…) Có thể nói, con người là một trong những sinh vật may
mắn được nhìn và cảm nhận màu sắc Cuộc sống của chúng ta tốt đẹp biết bao
nhiêu khi thế giới muôn hình muôn vẻ, khi con người sống trong không gian toàn
màu sắc tính cách cũng ôn hoà và cảm thấy yêu đời, nhiệt huyết hơn với cuộc
sống Nhiếp ảnh, thiết kế nội thất, thời trang, thiết kế đồ hoạ,… đều là những
ngành áp dụng quy luật của màu sắc và đặc biệt là trong nghệ thuật tạo hình thì
màu sắc là ngôn ngữ chính
Nói chung, màu sắc tạo ra vẻ đẹp cho thế giới, cho cuộc sống Là một phần
quan trọng không thể thiếu của con người Cũng bởi sự quan trọng của nó mà
Trang 11việc học và cảm nhận về cái đẹp, về màu sắc được bắt đầu từ bậc học mầm non
qua bậc tiểu học rồi lên các cấp học khác Trong bậc học tiểu học bước đầu
hướng dẫn các em cảm nhận và sử dụng màu sắc Trong mĩ thuật nói riêng và
trong hội họa nói chung học về màu thì trước tiên phải học về phân loại màu sắc,
từ những lí thuyết cơ bản đó thì học sinh mới có kiến thức về cái đẹp, từ đó vận
dụng và phát triển khả năng của mình trong học tập cũng như trong cuộc sống
hàng ngày
1.3 Phân loại màu sắc trong hội hoạ
Có nhiều cách phân loại màu sắc khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, phạm
vi sử dụng Ta thấy rằng trong những chuyên ngành khác nhau thì màu sắc cũng
được phân loại khác nhau Trong chuyên ngành thiết kế nội thất chẳng hạn màu
khi được sử dụng được phân thành ba nhóm như sau: Màu chính, màu nhấn và
màu điểm xuyết Trong hội hoạ, màu sắc được phân loại màu gốc, màu bổ
túc, màu tương phản, màu nóng, màu lạnh
1.3.1 Màu gốc – màu bổ túc
1.3.1.1 Màu gốc
Như ở trên đã nói khoảng giữa thế kỷ 17, New – tơn (Newton) làm thí
nghiệm: Lấy một chùm ánh sáng mặt trời (ánh sắng trắng) cho chiếu qua một
lăng kính sẽ thấy hiện rõ ba màu chính: đỏ - vàng - lam Đó là ba màu gốc
1.3.1.2 Màu bổ túc
Những cặp màu bổ túc là những cặp màu có tính tương phản mạnh, các
màu bổ sung cho nhau theo từng cặp: vàng với tím, xanh lá cây với đỏ, da cam và
xanh lam ( hình 2)
Trang 12H.2 Hay dễ phân biệt hơn thì trong vòng tròn mầu cơ bản, các màu bổ túc nằm
ở vị trí đối nhau 180° Cũng bởi khám phá ra những cặp màu bổ túc này mà các
hoạ sĩ theo trường phái Ấn tượng, trường phái Dã thú đã triệt để khai thác để diễn
đạt trong các tác phẩm của mình nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về màu đối với
người xem
Trong thực tế, do đặc tính của màu bổ túc là giúp cho mỗi cặp màu trở nên
sáng đẹp và hấp dẫn hơn nên người ta ứng dụng nhiều không chỉ trong hội hoạ
mà còn trong một số ngành Ví dụ như: quần áo của những người công nhân
ngành dầu khí là mầu da cam nổi bật trên nền nước xanh thẫm của biển
H.3
Trang 131.3.2 Màu tương phản, màu nóng, màu lạnh
1.3.2.1 Màu tương phản
Khi hai màu đặt cạnh nhau thì bản thân mỗi màu có sự biến đổi bởi màu
này tác động đến màu kia Hiện tượng đối kháng là hiện tượng phát sinh các màu
có độ chênh lệch về sắc độ, sắc điệu và độ rực rỡ
Những màu đối kháng mạnh đặt cạnh nhau tạo nên hiệu ứng về ánh sáng
và độ rực rỡ gọi là màu tương phản Do vậy, màu tương phản thường được sử
dụng khi vẽ tranh cổ động, tranh quảng cáo, tranh tường, tranh có nội dung mạnh
mẽ nhằm thu hút sự chú ý của người xem Nếu được đặt đúng chỗ, thì màu tương
phản sẽ có tác dụng kích thích thị giác và tình cảm con người một cách mạnh mẽ
Xem các tranh trên ta nhận thấy các hoạ sĩ đã sử dụng màu tương phản trong các
tác phẩm của mình để thể hiện không gian vui tươi, sôi động
Màu rực rỡ thu hút sự chú ý mang lại hiệu quả đẹp, sông động, nhiều khi
gây được ấn tượng về một sự hoàn hảo Nhưng nếu có quá nhiều màu rực rỡ thì
sẽ mất đi vẻ đẹp của bức tranh hay nói cách khác là sự rực rỡ sẽ làm mất đi sự
rực rỡ Vấn đề mà người vẽ phải điều tiết là tương hợp các sắc độ đã pha (xám +
gơ - ri) với các màu nguyên chất để toạ nên sự hài hoà trong tranh, bởi sắc độ đã
pha (xám + gơ - ri) đã đóng vai trò trung gian làm cho nhiều màu rực rỡ không
những không bị chói chang, gay gắt mà còn được lung linh, tươi sáng hơn
1.3.2.2 Màu nóng và màu lạnh
Theo thói quen tâm lý, ta gọi các màu theo hệ đỏ - vàng - da cam là màu
nóng vì nó gây cảm giác nóng, ấm Ngược lại những màu xanh cây, xanh tím gây
cảm giác lạnh Màu nóng và lạnh đặt cạnh nhau làm tăng cường độ cho ánh sáng
Màu nóng hay lạnh còn phụ thuộc vào vị trí và tương quan với màu đứng bên
cạnh nó Muốn biết màu lạnh hay nóng phải có từ hai màu trở nên để so sánh
Trang 14Trong những màu nóng cũng có màu nóng hơn hay lạnh hơn Màu nào có nhiều
sắc đỏ thì càng nóng Khi ánh sáng chiếu vào, độ nóng lạnh của màu sắc cũng
theo cường độ của ánh sáng
Theo sơ đồ bản vẽ cứ hai màu liền nhau tạo nên màu thứ ba Vì vậy, với
bảy màu cơ bản, chúng ta có thể phân ra vô số màu khác nhau, phụ thuộc vào
nhận thức và cảm giác về màu của mỗi người khi vẽ Màu gây cảm giác nóng
hoặc lạnh: Người ta chia thành hai cung màu nóng va lạnh (hình 4)
H.4
Màu đen, trắng, gơ - ri là màu trung gian hoặc trung tính vì nó có khả năng
hoà giải các màu tươi, rực, đối kháng Khi có nhiều màu đối trọi gây cảm giác
nhức mắt, ta đặt một số màu trung gian bên cạnh chúng sẽ trở nên ăn ý với nhau
tạo cho màu đẹp lên và sang trọng hơn Vậy, màu là sự hoà hợp của hai sắc độ:
sắc độ nóng và sắc độ lạnh mà mọi lý thuyết đều nằm trong sự đối kháng của
chúng Sự đối kháng đó lại tạo ra sự cân đối và hoàn chỉnh
1.4 Độ đậm nhạt của màu sắc
Mỗi màu có thể pha trộn ra nhiều độ đậm nhạt khác nhau từ đậm nhất đến
nhạt nhất tùy theo cách sử dụng Màu còn do ánh sáng chiếu vào nhiều hay ít
Trang 15khiến ta cảm thấy màu rực rỡ lên hay êm dịu Cùng một đồ vật, khi để trong bóng
tối ta thấy mờ ảo, sắc màu êm, chu vi cũng nhoà vào nền khiến chúng trở nên
mềm mại Nhưng khi đưa ra ánh sáng, ta nhìn rõ toàn bộ chu vi hình, mọi vật trở
nên rõ nét, màu sắc rõ ràng, sáng tối bộc lộ hình khối của đồ vật Muốn diễn tả
được vật đó dù trong bóng tối hay ngoài sáng phải sử dụng độ đậm nhạt để biểu
đạt
1.4.1 Đậm nhạt cùng màu
Khi nói độ “đậm nhạt cùng màu” tức là khi đó người vẽ sử dụng một màu
để diễn tả Ví dụ: khi vẽ một bài vẽ theo mẫu bằng bút chì, ta phải sử dụng triệt
để các độ đậm nhạt khác nhau của bút chì để diễn tả vật mẫu đó Chỉ bằng một
màu phải diễn tả các chất khác nhau: Da người, quần áo, tóc, không gian xung
quanh người mẫu nhưng vẫn tạo ra được các chất mang đặc tính riêng một cách
tế nhị nhất Chẳng hạn diễn tả làn da nhưng những chỗ như khuỷu tay khớp
xương khác với phần cơ Da trên mặt màu đậm hơn ở cổ và ngực Phần tay, chân
sẫm màu và cũng đậm hơn những nơi khác, v.v…Màu sắc còn có khả năng tạo
được sự hoàn thiện về hình khối Nó mang lại cho hình khối sự đa dạng về chất,
làm phong phú bề mặt của hình khối
Hình 5: Tranh tĩnh vật đậm nhạt bằng chì
Trang 16
Hình 6: Đậm nhạt của màu sắc (gam màu nóng và gam màu lạnh)
1.4.2 Đậm nhạt sắc độ
Trong các độ đậm nhạt của màu còn có thể pha trộn thêm các màu khác
làm cho sắc thái của chúng biến chuyển theo các cung bậc khác nhau của màu
Ví dụ: Hồng + 1 ít vàng = hồng ngả sang vàng
Đỏ + 1 ít xanh = đỏ ngả sang xanh
Ở đây, hồng và đỏ chính là sắc độ của màu nhưng chúng có thể ngả sang
màu này hoặc màu khác tuỳ theo cảm nhận của người vẽ Khi cần thiết, ta có thể
sử dụng nhiều quan hệ của màu trên một bề mặt làm tăng hoặc giảm nhẹ sự chú ý
của thị giác
1.4.3 Đậm nhạt khác màu
Sử dụng các màu để biểu đạt ý tưởng cũng như mọi cách sử dụng màu
khác là cách dùng nhiều độ đậm nhạt màu khác nhau để diễn tả
Van Gốc (V Van Gohd) nói: “Màu sắc tự nó biểu thị một cái gì đó mà
người ta không hề bỏ qua và phải lợi dụng nó, cái gì đẹp, thật sự đẹp, thì cũng
thật”
Trang 17Đậm nhạt của màu phải tạo được sự hài hòa Sự hài hòa là sự xắp xếp
những cảm giác, những ý tưởng về hình và màu để tạo nên một tổng thể đẹp mắt
hợp lý và hoàn thiện
Tuy vậy, trong một bức vẽ không thể chỉ sử dụng màu cùng sắc độ hay
nhiều sắc loại Một tương quan màu phải có sáng, có tối, có nóng, có lạnh, mảng
lớn, mảng nhỏ, cao thấp v.v… Cũng như nếu có đường thẳng thì phải có đường
cong, nghĩa là phải có sự hòa hợp giữa các màu để tạo sự hòa hợp, ăn ý, đẹp mắt,
gây được cảm giác trực tiếp cho người xem Màu gồm vô số sắc độ mà sự hài
hòa của chúng tạo nên sự thống nhất
Trong hội họa, người ta sử dụng nhiều chất liệu để tạo màu Những chất
liệu thông thường mà toàn thế giới cùng sử dụng đó là sơn dầu, sơn nước, thuốc
nước, chì… Hai loại sơn dầu , sơn nước có sức bền cao hơn và được sử dụng một
cách rộng rãi, nhất là ở châu Âu, nơi phát sinh cách vẽ sơn trên vải, nên có nhiều
kinh nghiệm về điều chế màu cũng như chất liệu sử dụng Cụ thể ngày nay, trong
kho tàng mĩ thuật thế giới, thể loại tranh vẽ bằng sơn chủ yếu ở châu Âu, Bắc Mỹ
và Mỹ La Tinh, vẽ bằng màu dầu tự tạo hoặc bằng các khoáng chất có thể sử
dụng và vẽ lên tường, lên các hang, vách Châu Á chủ yếu vẽ trên giấy và lụa
bằng màu tự chế trong thiên nhiên và màu nước
Trước kia, màu sắc thường được tự chế bằng cách nghiền các loại đá màu,
các khoáng chất có màu hòa với lòng trắng trứng để vẽ trên gỗ, trên vải, trên
tường… Sau này trên cơ sở đó người ta đã điều chế dần biến dãy hệ thống màu
ngày càng thêm phong phú Khi khoa học phát triển, bằng phương pháp hóa học
người ta đã điều chế ra rất nhiều loại màu phong phú về sắc độ, sắc loại, chất
lượng, khối lượng…
Trang 18Tất cả ngày một tinh xảo và hấp dẫn để phụ vụ người vẽ Ngay thể loại bột
màu ngày nay được điều chế rất phong phú về chủng loại, như màu đỏ có rất
nhiều sắc đỏ khác nhau, xanh có rất nhiều sắc xanh biến đổi khác nhau Từ bột
màu, người ta chế ra các loại sơn dầu, màu nước, sơn nước, sáp, phấn màu và để
sử dụng trong các ngành công nghiệp, ngành quảng cáo, sách, báo, v.v…
Màu mà chúng ta sử dụng để vẽ hiện nay rất phong phú do nền công nghiệp
hóa học ngày càng phát triển Tuy nhiên, tất cả các màu đó đều được lấy từ thiên
nhiên mà tự bản thân nó đã chứa sẵn những tố chất về màu
1.5 Chương trình Mĩ thuật Tiểu học hiện nay
1.5.1 Khái lược về Mĩ thuật
Mĩ thuật là môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, muốn học hay hiểu đúng về
môn này cần phải hiểu ngôn ngữ của nó
Mĩ thuật hiểu đơn giản là "Nghệ thuật của cái đẹp" ("mĩ" dịch theo tiếng
Hán-Việt, nghĩa là "đẹp")
Theo cách nhìn khác, từ "mĩ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con
người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được Vì lý do này người
ta còn dùng từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mĩ thuật Ví dụ: vẻ đẹp của một
bức tranh, giá trị mĩ thuật của một công trình kiến trúc
Theo từ điển từ vựng mỹ học của Étienne Souriau - 1990, tiêu chuẩn mĩ
thuật mang tính kinh viện gồm có: nhạy cảm, mang tới cho người thưởng thức
nhiều cảm xúc; diễn đạt tốt không gian trong tranh, thời gian; mức độ diễn tả đạt
tới một trong các loại hình mỹ học
Theo nghĩa rộng: Từ "mĩ thuật" còn được dùng khi phân biệt những ngành
lớn của hội hoạ: mỹ thuật ứng dụng, mĩ thuật công nghiệp, mĩ thuật trang trí ;
mỗi ngành có một đặc thù riêng về kỹ thuật thể hiện và giá trị sử dụng
Trang 19Mĩ thuật bao gồm một số lĩnh vực nghệ thuật thị giác như: hội hoạ, đồ hoạ
và điêu khắc
Có thể nói mĩ thuật là một loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm đầu tiên trên
thế giới Nó gắn liền với giai đoạn và sự phát triển của lịch sử Bởi mĩ thuật là
môn nghệ thuật thị giác cho nên với mỗi giai đoạn khác nhau thì mĩ thuật cũng
phải phát triển theo để bắt nhịp với cuộc sống, thị hiếu thẩm mĩ của con người
Trên thế giới, mĩ thuật phát triển cùng với các giai đoạn lịch sử như mĩ thuật thời
Nguyên Thuỷ, mĩ thuật Ai Cập Cổ Đại, mĩ thuật Hi Lạp Cổ Đại, La Mã Cổ Đại,
Trung Đại, Phục Hưng, Cận Đại và mĩ thuật Hiện Đại ngày nay Không chỉ trên
thế giới mà với mỗi nước mĩ thuật còn tồn tại độc lập, mang bản sắc riêng trôi
theo dòng chảy của lịch sử nước mình Ở nước ta mĩ thuật sớm phát triển từ thời
kì cổ đại; khi mà con người còn ăn hang ở lỗ, họ ngoài việc chế tác các công cụ
với mục đích để lao động thì còn mục đích nữa là thẩm mĩ (các di vật: công cụ
lao động bằng đá, đồ gốm, đồ trang sức…được khắc hình mặt người, muông thú,
lá cây,…tại các di tích như Núi Đọi, hang Đồng Nội, Bắc Sơn, Quỳnh Văn,…)
trong thời kì này thì giai đoạn Đông Sơn là thời kì phát triển rực rỡ nhất với trống
đồng Đông Sơn đạt tới đỉnh cao về chế tác, cách tạo dáng và nghệ thuật trang trí
chạm khắc…Trong thời kì này, mĩ thuật nước ta đã tạo được nền móng vững
chắc để tồn tại ngầm qua sự xâm lược và đồng hoá dân tộc của thực dân Phương
Bắc, và từ đó khôi phục, phát triển đến đỉnh cao qua các công trình kiến trúc,
điêu khắc, đồ gốm, hội hoạ trong thời kì xây dựng - bảo vệ quốc gia phong kiến
độc lập (từ đầu thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XX) có thể kể tên một số công trình tiêu
biểu về kiến trúc như: thành Thăng Long thời Lý( thế kỉ XI – XII), Kinh đô Huế
(thế kỉ XIX), chùa Một Cột (thế kỉ XI – XII), đình Đình Bảng (thế kỉ
XVIII),…Về điêu khắc có: tượng phật A- di-đà (thế kỉ XVII), Thiếu nữ múa
Trang 20(chùa Hang, Yên Bái),…Hội hoạ có: Gà mái (tranh dân gian Đông Hồ), Chân
dung Nguyễn Trãi (chùa Bộc, Hà Nội),…
Nói như vậy để thấy rằng, mĩ thuật có từ rất sớm và nó gắn liền với đời
sống tinh thần của con người Ngày nay khi xã hội càng phát triển, vật chất được
nâng cao thì nhu cầu về cái đẹp hay nói rộng hơn là nhu cầu về thẩm mĩ khiến
con người ta quan tâm, chú trọng nhiều hơn Trong hệ thống giáo dục quốc dân,
môn Mĩ thuật được đưa vào chương trình học từ bậc mầm non với tên gọi là , ở
bậc Tiểu học từ lớp 1, 2, 3, 4, 5 môn Mĩ thuật học sinh có vở tập vẽ, lớp 4, 5 học
sinh có thêm sách giáo khoa Mĩ thuật, học sinh còn tiếp tục học ở bậc phổ thông
trung học cơ sở Và điều này góp phần hoàn thiện nhân cách con người, đạt mục
tiêu giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện về mọi mặt “đức – trí - thể
- mĩ”
1.5.2 Màu sắc trong môn Mĩ thuật trường Tiểu học
1.5.2.1 Mục tiêu môn Mĩ thuật trường Tiểu học
- Giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen, cảm
nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống và của các sản phẩm mĩ thuật
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn Mĩ thuật, hình
thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong
chương trình
- Bồi dưỡng năng lực quan sát, năng lực phân tích, phát triển trí tuệ, phát
huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động
mới
- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mĩ thuật cho học sinh
- Giáo dục thẩm mĩ của các em một phần qua cảm nhận màu sắc, giúp học
sinh nhận biết đa dạng màu trong nội dung bài học và rộng hơn là trong cuộc
Trang 21sống Cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, những màu sắc đặc trưng, truyền
thống của vùng miền và văn hoá của mỗi dân tộc
1.5.2.2 Chương trình Mĩ thuật ở Tiểu học
Chương trình có các phân môn:
Dạy học Mĩ thuật ở Tiểu học, cần phải chú trọng đến giáo dục thẩm mỹ,
giáo dục cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp Qua môn Mĩ thuật học sinh yêu thích
cái đẹp, tạo ra cái đẹp theo ý mình và áp dụng cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hàng
ngày Cái đẹp rất cần cho cuộc sống con người, nhưng để hiểu biết cái đẹp phải
được giáo dục từ tuổi còn thơ Dạy mĩ thuật là góp phần tạo dựng môi trường
thẩm mỹ cho xã hội
Theo đăc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học, mà chương trình môn Mĩ
thuật cũng chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Ở lớp 1, 2, 3 Mỹ thuật cùng Âm nhạc, Thủ công gọi là Nghệ
thuật
Thời lượng cho mĩ thuật: 35 tiết/năm (1 tuần học 1 tiết: mỗi tiết từ 35 đến
40 phút)
Học sinh có vở thực hành, không có sách giáo khoa
Giáo viên có sách hướng dẫn
- Giai đoạn 2: Ở lớp 4, 5 Mĩ thuật là môn học độc lập
Thời lượng: 35 tiết/năm (1 tuần học 1 tiết; mỗi tiết từ 35 đến 40 phút)
Trang 22Học sinh có sách giáo khoa và vở thực hành
Giáo viên có sách hướng dẫn dạy học
1.5.2.3 Nội dung cơ bản của môn Mĩ thuật trường Tiểu học
Nội dung môn Mĩ thuật từ lớp 1 đến lớp 5 được trình bày cụ thể trong
chương trình từng khối lớp, nhìn chung có những nội dung chính sau:
- Vẽ theo mẫu: hướng dẫn học sinh vẽ từ những nét đơn giản như thẳng,
cong,… đến những mẫu có cấu trúc phức tạp, vẽ mẫu có hai đồ vật
- Vẽ trang trí: hướng dẫn học sinh vẽ từ bài tập đơn giản như vẽ tiếp hình có
sẵn đến những bài tập sáng tạo về bố cục và hoạ tiết một cách đơn giản,
- Vẽ tranh: hướng dẫn học sinh thể hiện cảm nhận của mình qua bài vẽ về
những đề tài: sinh hoạt, lễ hội, phong cảnh hoặc vẽ chân dung, tĩnh vật và vẽ tự
do,…
- Tập nặn tạo dáng: hướng dẫn học sinh rèn luyện khả năng tạo hình khối
đơn giản của trái cây, con vật và người,…theo ý thích
- Thưởng thức mĩ thuật: hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cảm nhận một số
tác phẩm nghệ thuật và một số tranh thiếu nhi trong nước và thế giới
Chương trình môn Mĩ thuật ở Tiểu học theo hướng đồng tâm, đặc biệt là đề
cao vai trò cảm nhận màu sắc cho học sinh thể hiện qua các loại bài có ở từng lớp
như: trong trang trí (vẽ đậm, vẽ nhạt,màu sắc và cách vẽ màu vào hình có sẵn,
màu sắc trong trang trí…), màu vẽ qua tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh, tranh
dân gian,…
1.5.2.4 Nội dung môn Mĩ thuật lớp 2
Vẽ theo mẫu
- Vẽ mô phỏng lại mẫu thật theo cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm thụ của học
sinh (không dùng thước, com-pa để vẽ nét thẳng hoặc nét cong)
Trang 23- Mẫu vẽ là những hình, khối đơn giản hoặc các đồ vật, con vật quen thuộc
- Vẽ được hình bằng nét; phân biệt được hình dáng, đặc điểm của mẫu
Vẽ trang trí
- Tập vẽ các hoạ tiết trang trí; biết sắp xếp hoạ tiết trang trí; làm quên với ba
độ đậm nhạt chính: đậm, đậm vừa, nhạt
- Vẽ màu vào các hình có sẵn
- Trang trí được đường diềm, hình vuông đơm giản và vẽ màu theo ý
thíchéôc thể dùng thước, com-pa để vẽ nét thẳng hoặc nét cong)
Vẽ tranh
- Bước đầu biết nhận xét và chọn nội dung đề tài
- Vẽ tranh về đề tài quen thuộc (sinh hoạt, học tập,…); vẽ hình, vẽ màu theo
ý thích
Tập nặn và tạo dáng tự do
- Nhận xét về hình dáng, đặc điểm đối tượng sẽ nặn
- Tập nặn và tạo dáng tự do theo yêu cầu của bài
Thưởng thức mĩ thuật
- Xem tranh, tượng
- Tập nhận xét theo gợi ý của giáo viên
Thời lượng
- Mỗi tuần một tiết Năm học có 35 tiết (trong đó có một tiết tổng kết)
- Phân phối các loại bài học:
+ Vẽ theo mẫu : 8 tiết + Vẽ trang trí : 9 tiết + Vẽ tranh : 9 tiết + Tập nặn tạo dáng tự do : 4 tiết
Trang 24+ Thưởng thức mĩ thuật : 4 tiết + Tổng kết năm học : 1 tiết Tổng cộng : 35 tiết/năm
Nhìn chung môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học mang tính sơ khai, bước đầu
giúp các em có những kiến thức cơ bản về thẩm mỹ, qua môn Mĩ thuật học sinh
hiểu được cái đẹp, biết yêu cái đẹp và vận dụng cái đẹp vào trong cuộc sống hàng
ngày Từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu chung của giáo dục Tiểu học
Trang 25CHƯƠNG 2: SỰ ĐA DẠNG TRONG SỬ DỤNG MÀU SẮC CỦA
HỌC SINH LỚP 2A7 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỐNG ĐA,
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Tác động tâm lý của màu sắc trong độ tuổi học sinh tiểu học
Mỗi màu sắc đều mang trong mình những ý nghĩa riêng biệt, cũng bởi vậy
mà con người vận dụng điều này trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Như thiết
kế thời trang, ngành thiết kế nội thất, ngành tâm lý dùng màu sắc để chữa
bệnh,…không phải có sự trùng hợp mà các trường học đều được sơn màu vàng
hay các ngành quảng cáo thường sử dụng những màu sắc bắt mắt, nổi bật Ngoài
ra màu sắc còn có tác động lớn đối với tâm lý con người
Có ba màu cơ bản là đỏ, vàng và lam (xanh dương) Những màu sẫm hoặc
cường độ màu cao được coi là màu tự do từ màu trắng hoặc màu đen và giúp
chúng ta tạo ra mười hai hệ màu Pha trộn bất kỳ hai màu cơ bản: Đỏ, vàng và
lam tạo ra một màu thứ cấp Màu sắc thứ cấp là Xanh lá, Cam và Tím Sự cân
bằng màu sắc của hệ 12 màu: gọi là các màu trung gian - được thực hiện bằng
cách phối màu cơ bản và màu thứ cấp lại với nhau
Thông thường màu đỏ, vàng da cam, vàng… đưa lại cho con người cảm
giác ấm áp, nên được gọi là những gam màu nóng Còn các màu xanh, xanh lục,
tím… đưa đến cảm giác lạnh lẽo và được xếp vào nhóm màu lạnh Các màu nóng
và lạnh mang lại cho con người những hiệu ứng tâm lý khác nhau: màu nóng dễ
làm con người phấn chấn, hoạt bát, năng nổ, còn màu lạnh dễ giúp người ta bình
tĩnh, hiền hoà, lắng dịu
Trang 26H.7 Theo Việt/Báo.vn (ra ngày 12/4/2007) trong bài viết “Màu sắc và tâm lí
con người” có viết, kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý Nga cho thấy hiệu
ứng cảm xúc đối với màu sắc như sau:
- Màu đỏ: kích thích cảm xúc, tính tích cực, khơi gợi những mối liên tưởng
của con người
- Màu vàng: ấm áp và dễ chịu, làm cho con người sẵn sàng hành động tận
tâm tận lực
- Màu vàng da cam: giúp con người vui vẻ, phấn khởi
- Màu lục: mang đến sự bình tĩnh, yên vui, dễ tạo nên những mối liên
tưởng đa dạng
- Màu đen: tạo cảm giác mệt mỏi, nặng nề, đau khổ
- Màu trắng: khiến con người thấy yếu đuối… đó chính là nguyên nhân vì
sao mọi người không thích ở những căn phòng đen trắng
Những thực nghiệm của các nhà tâm lý người Áo cũng chứng minh rằng
nếu ta dùng phấn màu xanh lá cây viết lên bảng màu vàng nhạt sẽ giúp học sinh
tập trung suy nghĩ hơn, tăng cường trí nhớ, giữ gìn thị lực ở mức độ nhất định
Trang 27Thêm nữa, những công trình nghiên cứu của các chuyên gia Đức cho thấy, màu
vàng chanh là một “thứ thuốc an thần dễ chịu”
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng:
- Màu hồng: các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng, đây là màu sắc nữ tính,
nó có tác dụng làm dịu tâm thần của con người Cuối những năm 70, Tiến sĩ
Alexander Schauss, giám đốc của Viện Nghiên cứu xã hội sinh học và y tế ở
Washington Hoa Kỳ, là người đầu tiên khám phá ra màu hồng có tác dụng làm
giảm sự giận dữ và lo lắng
Tiến sĩ Schauss giải thích: "Khi ở một không gian xung quanh là màu
hồng, một người dù muốn giận dữ hay hiếu chiến cũng khó làm được Vì không
gian này không có tác động làm cho tim đập nhanh nên con người không thể cáu
kỉnh một cách dễ dàng" Chính vì vậy, màu hồng được coi là màu làm cho bạn
mất năng lượng Điều này cũng chứng tỏ, vì sao những phụ nữ yếu đuối lại thích
màu hồng Nhưng màu hồng lại gây kích thích, tạo hưng phấn của con người
- Màu đỏ: Ngoài việc là gam màu kích thích vị giác, màu đỏ còn mang lại
cảm giác tràn trề sinh lực
Ví dụ: nếu bạn chán ăn, có thể thêm một vài thực phẩm màu đỏ vào thực
đơn của mình
Theo các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Rochester, New York, đàn
ông thường bị thu hút bởi phụ nữ mặc đồ màu đỏ Đàn ông mặc đồ màu đỏ cũng
được phụ nữ chú ý hơn Giải thích cho điều này, các nhà khoa học tin rằng, màu
đỏ có tác động lớn tới tâm trí con người, nó kích thích não bộ của con người sản
sinh ra nhiều ham muốn, chủ yếu là ham muốn quyền lực
- Màu vàng: Các nghiên cứu cho thấy rằng màu vàng có tác dụng cải thiện
tập trung, bởi vì nó có nghĩa trong việc "đánh thức" não và hệ thống thần kinh
Trang 28Khi nhìn thấy màu vàng, não được kích thích để sản sinh ra serotonin - một chất
có tác dụng giúp não tập trung vào công việc hoặc việc bạn đang làm
- Màu xanh lá cây: đây là màu có tác dụng làm dịu mắt cũng như tâm trạng
của bạn Đó là lý do tại sao các phòng studio thường có màu xanh để giúp khách
hàng bình tĩnh khi xuất hiện
Ngoài ra, xanh lá cây có tác dụng giảm huyết áp và tẩy sạch máu, lập lại sự
cân bằng cho các rối loạn tình cảm, làm giảm giận dữ
Và trong nhiều nghiên cứu, những nhân viên văn phòng có thể nhìn thấy ra
màu xanh lá cây qua cửa sổ sẽ cảm thấy thích công việc của họ và làm việc tốt
hơn Những người thường xuyên tiếp xúc với màu xanh lá cây (ví dụ như đi thể
dục ở công viên) sẽ hạnh phúc và khỏe mạnh
Khi cảm thụ màu sắc, chúng ta còn đồng thời chịu tác động về mặt tâm lý
của nó Các tác động tâm lý của màu sắc lên con người cho đến nay còn chưa
được cắt nghĩa thật rõ ràng tuy đã có nhiều cố gắng giải thích về mặt vật lý, theo
y học và sinh học
Nhiều ý kiến cho rằng tác động cuả màu sắc lên tâm lý con người chủ yếu
là do sự liên tưởng của họ Ví dụ: màu da cam làm ta liên tưởng đến ngọn lửa do
đó gây ra cảm giác nóng Cạnh nó các màu đỏ, vàng, vàng lục cũng thuộc lọai
nóng.Màu xanh trới nhắc ta nhớ đến bầu trời, biển khơi băng giá, kim lọai và bất
giác cho ta cảm giác lạnh Các lân cận như lục, lam, tím cũng thuộc lọai màu
lạnh
Một số tác giả cho rằng tác động kích thích hoặc tạo yên tĩnh của màu sắc
có liên quan đến bước sóng và tần số của nó Các màu trong đoạn phổ sóng ngắn
như tím, lam, gây tác động yên tỉnh, các màu trong đoạn sóng dài có tác dụng
kích thích (như màu đỏ, cam, vàng), do đó nhanh chóng gây cho ta mệt mỏi
Trang 29Đoạn các màu sóng trung (lục,vàng lục, xanh trời) được coi là màu “cân bằng
tâm sinh lý”, có tác động tốt đến tâm trạng con người nâng cao khả năng lao
động Lại có giải thích khác, cho rằng đó là do sự thích ứng của mắt người trong
quá trình tiến hóa, hàng triệu năm trong ánh sáng mặt trời là ánh sáng giàu các
bước sóng trong đoạn sóng trung này
- Chúng ta cũng để ý rằng, các màu càng đậm (độ bão hòa càng lớn) tác
động lên con người càng mạnh, sự tác động này không phải tất yếu lúc nào cũng
là sự tác động tích cực hay ngược lại.Quan trọng là ta áp dụng trong trường hợp
cần thiết nào khi vận dụng màu
- Một số nhà y học cho tìm nguyên nhân của các tác động tâm lý cuả màu
sắc qua các biến chuyển sinh lý trong các cơ quan cuả cơ thể : Màu đỏ gây ra sự
nâng cao áp suất máu và làm tăng nhịp thở, có lẽ vì thế mà nó có tác động kích
thích, gây các phản ứng mạnh, căng thẳng cơ bắp, kích động thần kinh, làm cho
con người vội vã? Màu cam tạo cảm giác nóng, cảm giác vui tươi, hưng phấn
nhưng chóng mệt mỏi Trong khung cảnh màu cam nhịp tim tăng lên. Màu cam
còn được coi là màu có ảnh hưởng tốt đến hệ thống tiêu hóa
Màu vàng cũng giống màu đỏ và cam, có tác động kích thích Một số nhà
y học cho rằng màu vàng kích thích khả năng làm việc trí óc
Trong các tín hiệu tác động đến con người thì màu sắc ánh sáng là tín hiệu
tác động nhanh nhất, rút ngắn những giải thích dài dòng bằng lời, chỉ phương
hướng, báo trước nguy hiểm
Tác động của màu sắc lên con người rất phức tạp và không phải ở mọi
người, mọi lứa tuổi đều như nhau Thậm chí, ngay cả với một người tùy theo
trạng thái tâm sinh lý thay đổi, các tác động của màu sắc cũng thay đổi và không
ổn định
Trang 30Ta có thể xem bảng dưới đây:
Như các nghiên cứu ở phần trên, chúng ta biết được màu sắc ít nhiều tác
động tới tâm lý của con người Và đặc biệt ở lứa tuổi Tiểu học thì màu sắc còn
tác động nhiều hơn tới tâm lý của các em, bởi trong nhận thức lý tính thì tư duy
mang đậm màu sắc xúc cảm và tưởng tượng thì phát triển phong phú (chi phối
mạnh mẽ xúc cảm, tình cảm, hình ảnh, hiện tượng gắn liền với tình cảm của các
NÓNG LẠNH NHẸ NẶNG LÕM LỒI KÍCH
ĐỘNG
ÁP CHẾ
YÊN TỈNH
Trang 31em) Cho nên, màu sắc mà các em sử dụng trong vẽ tranh chủ yếu là màu trong
sáng, các em thiên về dùng những gam màu sáng và những màu sắc tương phản
2.2 Phân tích màu sắc của học sinh lớp 2A7 ở trường Tiểu học Đống
Đa qua các bài Mĩ thuật
Hoạt động vẽ là một trong những nội dung giáo dục thẩm mỹ nhằm phát
triển toàn diện cho học sinh Tiểu học, thông qua đó phát triển cảm giác, tri giác,
phát triển khả năng cảm thụ và khả năng sáng tạo, đồng thời vẽ còn là sự biểu lộ
thái độ, tình cảm yêu ghét của học sinh đối với thế giới xung quanh
Đối với các em học sinh, đặc biệt là giai đoạn đầu cấp Tiểu học thì thế giới
xung quanh thật mới mẻ và lý thú, các em luôn muốn thông qua mọi phương tiện
để biểu đạt những cảm xúc của mình Trong điều kiện khả năng ngôn ngữ đang
trên đà phát triển thì hội họa cũng là một phương tiện để biểu đạt hiệu quả nhất,
lý thú nhất Hơn thế nữa, tranh vẽ cũng là một phương pháp truyền đạt thông tin
khá hiệu quả của các em
Trong cuộc sống hàng ngày, các em đã tiếp thu một lượng tri thức đáng kể
về thế giới xung quanh do trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy qua các câu chuyện,
phim ảnh, do học từ bạn bè Từ đó, thế giới của trẻ cũng phong phú dần lên và
làm nảy sinh tính ham hiểu biết, hứng thú nhận thức, muốn khám phá những điều
mới lạ Xuất phát từ đó, các em thể hiện một phần suy nghĩ của mình qua tranh
vẽ Những nét vẽ hồn nhiên, hết sức bình dị nhưng rất cần thiết trong quá trình
hình thành khả năng cảm thụ cái đẹp và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh
Từ những nét vẽ, màu sắc trong bức tranh đó chính là cảm xúc, tình cảm là ước
mơ đã thể hiện trên trang giấy
2.2.1 Màu sắc bài vẽ tranh theo đề tài
Vẽ tranh theo đề tài thường chia làm các mảng đề tài khác nhau như đề tài
sinh hoạt, đề tài phong cảnh, đề tài chân dung, đề tài tĩnh vật Trong chương trình
lớp 2 thì mảng vẽ tranh theo đề tài không có phần vẽ tranh tĩnh vật
Trang 32Để khảo sát và đánh giá khả năng sử dụng màu sắc của học sinh lớp 2A7
Chúng tôi căn cứ vào những giờ học trên lớp và những bài vẽ của học sinh
Cách tiến hành cụ thể như sau:
2.2.1.1 Đề tài sinh hoạt
Đề tài sinh hoạt ở lớp 2 trong sách nghệ thuật có các bài: đề tài em đi học,
sân trường em giờ ra chơi, vệ sinh môi trường
Đề tài sinh hoạt là đề tài khá gần gũi của các em bởi nó gắn liền với cuộc sống
hàng ngày Do vậy mà qua quá trình điều tra chúng tôi thu được kết quả rất khả
quan từ việc thể hiện ý tưởng tới việc sử dụng màu sắc của các em
Với đề tài em đi học qua tiến hành khảo sát, nghiên cứu bài vẽ của các em
về phần sử dụng các gam màu chủ đạo trong tranh Cách thức làm là đưa ra các
gam màu chủ đạo sau và tiến hành xếp bài vẽ của các em vào các nhóm
- Gam màu nóng: các màu hồng, đỏ, vàng, da cam chiếm chủ đạo trong
tranh vẽ
- Gam màu lạnh: các màu xanh da trời, xanh lá cây chiếm chủ đạo trong
tranh vẽ
- Gam màu trung tính: các màu dịu, nhẹ nhàng chiếm chủ đạo trong tranh
Và có bảng kêt quả dưới đây:
Bảng 1: Màu sắc chính được dùng trong đề tài sinh hoạt Màu chủ đạo trong
tranh
Qua bảng điều tra chúng tôi thấy rằng các em sử dụng ở hầu hết các gam
màu, có màu nóng, màu lạnh, màu trung tính Nhận xét toàn lớp thì việc sử dụng
Trang 33màu của các em không bị bó hẹp trong một mảng màu nào Chứng tỏ rằng trong
mảng đề tài sinh hoạt việc cảm thụ và sử dụng màu của các em là khá tốt
2.2.1.2 Đề tài phong cảnh
Đề tài phong cảnh có đề tài vườn cây, vườn hoa hoặc công viên và có một
tiết về đề tài phong cảnh ở kì hai của lớp 2 để các em lựa chọn vẽ theo sở thích
của mình
Chúng tôi đã tiến hành dự tiết dạy vẽ tranh phong cảnh ở lớp 2A7 trường
Tiểu học Đống Đa-Vĩnh Yên-Vĩnh Phúc Sau tiết dự giờ tôi có đưa ra hai phiếu
chọn màu như sau và hướng dẫn học sinh:
Cô có bảng màu sắc trong phiếu sau, hãy đánh dấu v vào những màu các
con thấy phù hợp khi tô màu trời và màu đất
Màu vàng
Màu xanh
lá cây
Màu xanh
da trời
Màu tím
Màu đen
Màu trắng
Màu nâu
Trang 34Căn cứ vào bảng 2 chúng tôi thu thập được số liệu từ học sinh như sau:
Bảng 3: Bảng tổng hợp lựa chọn màu sắc của học sinh tiểu học
Màu xanh lá cây
Màu xanh
da trời
Màu tím
Màu đen
Màu trắng
Màu nâu Chọn
16% (8 HS)
4%
(2 HS)
30%
(15 HS)
Căn cứ vào kết quả điều tra của bảng số liệu trên ta thấy màu sắc học sinh
chọn màu trời và màu đất để tô trong tranh là rất đa dạng, các màu học sinh chọn
dải từ màu đỏ đến màu nâu như trong bảng
Trong cột chọn màu làm nền trời: Dựa vào bảng số liệu ta thấy tỉ lệ học
sinh chọn màu xanh da trời là 30% chiếm nhiều nhất trong việc lựa chọn màu
khi tô màu trời Song không phải không có những học sinh lựa chon những màu
sắc khác, ta có thể thấy được rằng cảm nhận màu sắc của các em là khác nhau,
mỗi em đã có sự nhìn nhận và đánh giá theo con mắt riêng của mình
Trong cột lựa chon màu đất: tỉ lệ học sinh lựa chọn màu đất không tập
trung quá nhiều vào việc chỉ chọn màu nâu mà việc lựa chọn hầu như phân đều
qua các màu khác nữa Như số học sinh lựa chọn màu cam là 16%, màu vàng là
18%, hay màu trắng là 14%
Kết hợp việc khảo sát bài vẽ tranh phong cảnh của học sinh chúng tôi thấy
rằng 100% học sinh đều tô màu đất là màu nâu và 100% học sinh đều tô màu trời
Trang 35là màu xanh Tại sao lại có sự chênh lệch màu sắc khi sử dụng và màu sắc các em
lựa chọn đến vậy? Nguyên nhân của thực trạng này là do đâu? Chúng tôi có tham
dự tiết dạy học mĩ thuật của trường tiểu học Đống Đa Trong giờ học mĩ thật khi
dạy các loại bài học mĩ thuật thì giáo viên lên lớp rất đúng quy trình và thời gian
giảng dạy nhưng có một điều mà chính điều này đã khiến cho tiết học mĩ thuật
nhạt nhẽo và mất tính sáng tạo của học sinh đó là: trong tiết dạy về vẽ tranh
phong cảnh giáo viên đưa ra bài vẽ mẫu của mình rồi sau đó cho học sinh thực
hành Trong lúc các em thực hành giáo viên có hạn chế việc học sinh sử dụng
quá nhiều màu sau đó chỉ hướng dẫn học sinh cách tô màu trời là xanh da trời,
màu đất là màu nâu Ở đây giáo viên đã thiếu sự so sánh liên hệ với thực tế,
không biết mở rộng, khơi dậy khả năng cảm nhận màu sắc của học sinh (Ví dụ:
khi hướng dẫn xong bài vẽ tranh phong cảnh như vậy thì giáo viên không nên gò
bó các em về màu sắc, có thể cho học sinh xem nhiều tranh vẽ về cùng đề tài,
hướng dẫn các em đưa ra nhiều màu sắc khi vẽ Ngoài màu xanh của trời khi trời
nắng các con còn thấy trới lúc mưa có màu gì? trời lúc về chiều có màu gi? Hay
mặt đất khi có nhiều cỏ bao phủ có phải chỉ có màu nâu không? mặt sân khi lát
đá như ở sân trường ta thì có màu gì nao? ) Như vậy là giáo viên chưa biết cách
gợi mở giúp các em cảm nhận được màu sắc và đưa cảm nhận của mình vào
trong bài vẽ tốt hơn Từ đó những học sinh có năng khiếu nghệ thuật sẽ không
thể hiện được mình mà các em còn mất dần khả năng cảm thụ màu sắc, mất dần
sự tinh tế và yêu thích môn vẽ
So sánh bảng số liệu và việc khảo sát các bài vẽ của học sinh ta thấy có sự
khác biệt trong việc sử dụng màu sắc trong tranh và sở thích sử dụng màu của
các em Nguyên nhân chủ yếu là do sự hướng dẫn của giáo viên khiến việc sử
dụng màu trong tranh vẽ theo đề tài phong cảnh của các em bị hạn chế
Trang 362.2.1.3 Đề tài chân dung
Đề tài tranh chân dung ở lớp 2 chỉ có một bài trong tổng số 9 bài của vẽ
tranh trong chương trình Mĩ thuật lớp 2 Đề tài vẽ tranh chân dung ở lớp 2 bước
đầu hướng cho học sinh làm quen với cách vẽ chân dung và vẽ được một bức
chân dung theo ý thích của mình
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các bài vẽ của các em, cách tiến hành như
sau:
Xem những bài vẽ chân dung của học sinh rồi xếp những bức tranh tương đồng
vào các nhóm sau:
Nhóm 1: gồm những tranh vẽ chân dung sử dụng toàn màu tối (quần áo,
tóc, khuôn mặt, màu nền đều sử dụng màu tối như đen, nâu, xám)
Nhóm 2: Gồm những tranh vẽ sử dụng toàn màu tươi sáng (xanh, trắng,
đỏ, vàng, cam những màu có sắc độ tươi)
Sau khi xếp vào 2 nhóm như trên cho ta kết quả như sau: 90% (45 HS) các
em sử dụng màu tươi sáng, 8% (4 HS) không tô màu và 2% (1 HS) sử dụng màu
tối trong bức tranh Như vậy là trong tranh vẽ chân dung hầu như các em đều sử
dụng màu tươi sáng Màu sắc tươi vui, nhí nhảnh Chỉ có một phần trăm nhỏ các
em chưa sử dụng được màu và dùng màu không tốt Dưới đây là một bức tranh:
vẽ tranh chân dung “bạn gái em” của học sinh