Trong những năm gần ñây trung tâm nghiên cứu và phát triển chè ñã nghiên cứu và chọn tạo ra một số giống chè có thể ñáp ứng ñược yêu cầu chế biến ra các sản phẩm chè chất lượng cao Chè l
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HOÀI ðỨC
ðÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH CỦA CÁC DÒNG, GIỐNG CHÈ MỚI TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài ðức
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành luận văn này, tôi ựã nhận ựược sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, ựược sự giúp ựỡ của cơ quan, các ựồng ghiệp và gia ựình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kắnh trọng ựến:
TS Nguyễn đình Vinh Ờ Học viện nông nghiệp Việt Nam
TS đặng Văn Thư Ờ Giám ựốc trung tâm nghiên cứu phát triển chè Ờ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phắa Bắc
Ban giám hiệu, Ban đào tạo, tập thể giáo viên của học viện nông nghiệp Việt Nam
Tập thể lãnh ựạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phắa Bắc Gia ựình, bạn bè và các bạn ựồng nghiệp ựã ựộng viên giúp ựỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện ựề tài
Phú Thọ, ngày Ầ.tháng Ầ năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoài đức
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ðẦU 1
1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
2 Mục ñích của ñề tài 3
3 Yêu cầu của ñề tài 3
4 Ý nghĩa của ñề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cở sở khoa học của ñề tài 4
1.1.1 Cơ sở di truyền 4
1.1.2 Cơ sở của nhân giống vô tính cây chè 5
1.2 Các kết quả nghiên cứu về phương pháp nhân giống chè trong và ngoài nước 8
1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam 12
1.3 Các kết quả nghiên cứu nhân giống phương pháp giâm cành 16
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trên cây trồng nói chung 16
1.3.2 Kết quả nghiên cứu trên thế giới 18
1.3.3 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 20
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 ðối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1 ðối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 26
3.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2.1 Thời gian nghiên cứu 26
Trang 53.2.2 địa ựiểm nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp bố trắ thắ nghiệm 27
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất hom của các dòng, giống 33
3.1.1 đánh giá khả năng sản xuất hom 33
3.1.2 Tỷ lệ chất lượng các loại hom 34
3.1.3 Ảnh hưởng của mật ựộ cành nuôi hom ựến chất lượng hom giống 36
3.1.4 Ảnh hưởng thời gian nuôi hom ựến số lượng hom giống 39
3.1.5 Ảnh hưởng thời gian nuôi hom ựến chất lượng hom giống 40
3.2 Kết quả nghiên cứu về khả năng giâm cành của các dòng, giống chè 41
3.2.1 Tỷ lệ ra mô sẹo của cành giâm các dòng, giống chè 41
3.2.2 Tỷ lệ ra rễ của cành giâm các dòng, giống chè 43
3.2.3 Tỷ lệ nảy mầm của cành giâm các dòng, giống chè 45
3.2.4 Tỷ lệ sống của cành giâm các dòng, giống chè 47
3.2.5 Khả năng sinh trưởng của cành chè giâm 50
3.2.6 Khả năng tắch lũy chất khô của cành giâm các dòng, giống chè 55
3.2.7 đường kắnh gốc và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm các dòng, giống chè 57
3.2.8 đánh giá tình hình sâu, bệnh hại trong vườn ươm 58
3.3 Hiệu quả kinh tế sản xuất 1000 bầu chè giống 60
KẾT LUẬN VÀ đỀ NGHỊ 63
Kết luận 63
đề nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 72
KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU 72
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Khả năng sản xuất hom của các dòng, giống 33
Bảng 3.2 Tỷ lệ các loại hom của các dòng, giống 35
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật ñộ cành ñến chất lượng hom giống (%) 37
Bảng 3.4 Ảnh hưởng thời gian nuôi hom ñến số lượng hom 39
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời gian nuôi hom ñến chất lượng hom giống 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ ra mô sẹo của cành giâm các dòng, giống chè 42
Bảng 3.7 Tỷ lệ ra rễ của cành giâm các dòng, giống chè 44
Bảng 3.8 Tỷ lệ nảy mầm của cành giâm các dòng, giống chè 46
Bảng 3.9 Tỷ lệ sống của cành giâm các dòng, giống chè 48
Bảng 3.10 Chiều cao cành giâm của các dòng, giống chè 52
Bảng 3.11 ðộng thái tăng số lá của cành giâm các dòng, giống chè 54
Bảng 3.12 Khối lượng tươi và khối lượng khô của cành giâm trước khi xuất vườn 56
Bảng 3.13 ðường kính gốc và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm các dòng, giống chè 58
Bảng 3.14 Tình hình bệnh hại trong vườm chè ươm 59
Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế sản xuất bầu chè giống của các dòng, giống chè 61
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ ra mô sẹo của cành giâm qua các giai ñoạn 43
Hình 3.2 Tỷ lệ nảy mầm của cành giâm qua các giai ñoạn 47
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của hom giâm qua các giai ñoạn 49
Hình 3.4 Chiều cao của cành giâm các dòng, giống chè qua các giai ñoạn 53
Trang 8MỞ đẦU
1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm, có
nguồn gốc ở vùng nhiệt ựới nóng ẩm Ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển, cây chè ựã ựược trồng cả ở những nơi khác xa so với vùng nguyên thuỷ của nó Chè
là cây mang lại hiệu quả kinh tế cho vùng trung du, miền núi, vùng ựất dốc, sản phẩm chè là loại hàng hóa xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, có thị trường Quốc tế ổn ựịnh: xuất khẩu 1 tấn chè, ta có thể ựổi lấy 11 tấn ựường, 12 tấn bột mì hoặc 20 tấn dầu, xăng
Hiện nay, trên thế giới có 63 nước trồng chè, nhưng diện tắch tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi Các sản phẩm từ cây chè ựang ựược sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn
là ựồ uống Uống chè không chỉ ựể thưởng thức hương vị thơm ngon, ựộc ựáo của
nó mà uống chè còn rất có lợi cho sức khỏe con người Các nhà khoa học Nhật Bản khi nghiên cứu các loại thực phẩm chức năng ựược chế biến từ chè ựã khẳng ựịnh uống chè có tác dụng bổ dưỡng cho cơ thể, chống phóng xạ và ngăn ngừa và ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, viêm nhiễm Ầ Do chè có những tác dụng tốt lại là ựồ uống phổ biến, ựơn giản và phù hợp với mọi ựối tượng nên số người uống chè trên thế giới ngày càng tăng
Việt Nam là một nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn trên thế giới Tắnh ựến hết năm 2012, diện tắch chè của Việt Nam ựạt 131.500 ha chè, tập trung chủ yếu ở vùng Trung du miền núi phắa Bắc và Cao nguyên Lâm đồng, lượng chè xuất khẩu ựạt 146,7 nghìn tấn, trị giá 224 triệu USD Kế hoạch ựến năm 2015, phấn ựấu sản lượng chè búp tươi ựạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô ựạt 260 nghìn tấn, trong
ựó xuất khẩu 200 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD Hiện nay nước ta
là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới (sau Kenya, Ấn độ, Trung Quốc và Sri Lanca), ựứng thứ hai về sản xuất chè xanh (sau Trung Quốc) Thị trường xuất khẩu chủ yếu của chè Việt là Pakistan, đài Loan, Indonesia, Nga,
Trang 9Trung Quốc, Hoa Kỳ nhưng giá trị xuất khẩu chè của nước ta vẫn còn khá thấp so với giá bình quân của thế giới
Có nhiều nguyên nhân dẫn ñến tình hình trên, trong ñó nguyên nhân cơ bản
là chúng ta chưa có ñủ giống tốt, ñặc biệt là giống có chất lượng cao ñể cung cấp cho sản xuất, ngoài ra còn do chậm áp dụng các tiến bộ kĩ thuật và các thiết bị tiên tiến vào sản xuất ñể tạo ra nguyên liệu ñáp ứng việc sản suất các mặt hàng chất lượng cao ðể khắc phục tình hình trên trước hết cần có những giống chè có chất lượng cao, có khả năng chế biến nhiều loại sản phẩm ñáp ứng nhu cầu ña dạng hóa của thị trường, ñồng thời xây dựng vùng nguyên liệu gắn liền với nhà máy chế biến cùng dây truyền thiết bị và công nghệ chế biến phù hợp ñể tạo ra sản phẩm mới thỏa mãn yêu cầu người tiêu dùng
Việc tìm ra bộ giống chè thích hợp cho từng vùng trồng ñể phát huy hết những lợi thế vùng, giúp cho người trồng chè có thu nhập cao và ổn ñịnh dần dần làm tăng giá trị sản phẩm chè Việt Nam ñang là vấn ñề ñặt ra cho các nhà khoa học Trong những năm gần ñây trung tâm nghiên cứu và phát triển chè ñã nghiên cứu và chọn tạo ra một số giống chè có thể ñáp ứng ñược yêu cầu chế biến ra các sản phẩm chè chất lượng cao
Chè là cây giao phấn theo các kết quả nghiên cứu cho thấy nếu ñể tự nhiên tỷ
lệ tạp giao có thể lên ñến 40% vì vậy nếu nhân giống bằng hạt nương chè sẽ bị phân
ly dẫn ñến cây chè sinh trưởng không ñồng ñều, năng suất thấp, chất lượng không
ổn ñịnh và khác xa so với cây bố mẹ Phương pháp nhân giống vô tính là phương pháp với ưu ñiểm quan trọng là có thể giữ nguyên ñược tính trạng của cây mẹ ban ñầu và hiện nay với cây chè phương pháp nhân giống ñược coi là phương pháp tối
ưu Chính vì vậy, các giống chè tốt, ngoài việc ñáp ứng tiêu chí về năng suất, chất lượng phải có khả năng nhân giống vô tính cao ñể giảm giá thành cây giống từ ñó giảm chi phí ñầu tư khi trồng mới
Hiện nay, trong sản xuất chè phương pháp nhân giống vô tính là phổ biến nhất trong ñó nhân giống vô tính bằng giâm cành là phương pháp khả thi nhất ðây là phương pháp nhân giống dễ làm, chi phí không quá lớn, hệ số nhân giống cao Chính vì vậy trước khi một giống chè mới ñưa ra sản xuất, người ta cần
Trang 10ựánh giá khả năng nhân giống vô tắnh bằng giâm cành của chúng ựể chủ ựộng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong nhân giống nhằm có lượng giống ựủ lớn cung cấp cho sản xuất
Xuất phát từ thực tế như vậy, chúng tôi ựã tiến hành thực hiện ựề tài Ộđánh giá khả năng nhân giống bằng phương pháp giâm cành của các dòng, giống chè mới tại Phú Hộ - Phú ThọỢ
2 Mục ựắch của ựề tài
đánh giá khả năng sản xuất hom và khả năng nhân giống vô tắnh bằng phương pháp giâm cành của các dòng, giống chè LDP1, Shan Lũng Phìn, PH9, PH10, PH12, PH14 tại Phú Hộ, Phú Thọ Trên cơ sở ựó ựề xuất những vấn ựề cần nghiên cứu và hoàn thiện khi nhân giống vô tắnh bằng giâm cành ựối với giống chè này khi ựưa ra sản xuất
3 Yêu cầu của ựề tài
- đánh giá khả năng sản xuất hom giống của các dòng, giống chè LDP1, Shan Lũng Phìn, PH9, PH10, PH12, PH14
- đánh giá khả năng nhân giống vô tắnh bằng phương pháp giâm cành của các dòng, giống chè: LDP1, Shan Lũng Phìn, PH9, PH10, PH12, PH14
4 Ý nghĩa của ựề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của ựề tài
Các dòng, giống chè Shan Lũng Phìn, PH9, PH10, PH12, PH14 ựều là các dòng, giống mới có triển vọng, vì vậy việc nghiên cứu và ựưa ra các số liệu ựể ựánh giả khả năng nhân giống bằng giâm cành và các vấn ựề cần khắc phục sẽ góp phần vào việc hoàn thiện quá trình nghiên cứu và chọn tạo những giống chè mới
Bổ xung các kết quả nghiên cứu về các dòng chè mới góp phần vào việc hoàn thiện ựể công nhận giống chè mới
Kết quả của ựề tài sẽ là tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
Kết quả của ựề tài sẽ ựưa ra những vấn ựề cần chú ý ựể hoàn thiện trước khi ựưa những giống chè này ra sản xuất
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN đỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cở sở khoa học của ựề tài
1.1.1 Cơ sở di truyền
Cây chè thuộc ngành hạt kắn (Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotydonae),
bộ chè (Theales), họ chè (Theacea), chi chè (Camellia), loài (Sinensis), tên khoa học là Camellia sinensis (L) O.Kuntze, ựược phân làm bốn thứ chè khác nhau (theo Cohen Stuart - 1919) đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var Macrophylla), thứ chè Ấn
độ (Camellia sinensis var Assamica ) và giống chè Shan (Camellia sinensis var
Shan) Chè là cây lâu năm, chu kì ra hoa hàng năm Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm
ựã có khả năng ra hoa Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỉ lệ ựậu quả thấp Hoa chè là hoa lưỡng tắnh, mỗi quả có từ 1 - 4 hạt Mặc dù là hoa lưỡng tắnh Nhưng cây chè ựược xếp vào loại cây giao phấn nhờ côn trùng và gió cho nên hạt chè khi gieo trồng không giữ nguyên ựược các tắnh trạng di truyền tốt từ cây mẹ Vì vậy cây con trồng từ hạt sẽ phân ly tắnh trạng mạnh,dẫn ựếnnương chè không ựồng ựều về kiểu gen cũng như kiểu hình làm cho năng suất giảm nhanh do bị thoái hóa, không ổn ựịnh về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với các ựiều kiện ngoại cảnh để có ựược những nương chè sinh trưởng ựồng ựều, cho năng suất cao, chất lượng tốt, giữ ựược những tắnh trạng từ cây mẹ thì biện pháp nhân giống vô tắnh là giải phát bắt buộc
Cũng như các loại cây trồng khác, các phương pháp nhân giống vô tắnh ựược
áp dụng như: Giâm hom, chiết, ghép và nuôi cấy mô Trong các phương pháp nhân giống vô tắnh, nhân giống vô tắnh bằng giâm cành là phương pháp khả thi nhất vì có ưu ựiểm; hệ số nhân giống cao (1 ha nuôi hom giống ựể giâm hom có thể ựem giâm ựược số lượng cây con ựủ trồng ựược 80 ha) Cây chè giữa ựược các tắnh
Trang 12trạng của cây mẹ vì vậy nương chè có ñộ ñồng ñều cao cả về hình thái và chất lượng Tuy nhiên phương pháp này ñòi hỏi phải có những kỹ thuật nhất ñịnh và chi phí về lao ñộng, vật tư cao làm cho giá thành sản xuất cây giống cao ñặc biệt là ñối với những giống chè khó nhân giống
1.1.2 Cơ sở của nhân giống vô tính cây chè
Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai phương pháp: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phương pháp ñều có những ưu ñiểm và nhược ñiểm nhất ñịnh
Nhân giống hữu tính (gieo hạt) có những ưu ñiểm như: kỹ thuật gieo trồng ñơn giản, các thao tác kỹ thuật dễ thực hiện và ñặc biệt chi phí về lao ñộng, vật tư ít Tính thích ứng của cây chè sau trồng với ñiều kiện ngoại cảnh tốt Tuy nhiên, phương pháp nhân giống này còn có những nhược ñiểm như: quần thể nương chè không ñồng ñều do tính phân ly, nương chè không ñồng ñều dẫn ñến năng suất thấp, chất lượng búp kém, nhiệm kỳ kinh tế không dài và ñặc biệt hệ số nhân giống thấp (1 ha chè chuyên ñể lấy quả giống chỉ trồng mới ñược 4 ha)
Ngày nay cùng với sự phát triển của các ngành khoa học người ta có thể nhân giống vô tính ñối với nhiều loại cây trồng trong ñó có cây chè Các phương pháp nhân giống vô tính ñược áp dụng như: giâm cành, chiết, ghép và nuôi cấy mô Nhân giống vô tính sẽ tạo ra sự ñồng ñều về hình thái, giữ ñược ñặc trưng ñặc tính của cây mẹ (giống cây mẹ cả về hình thái và nội chất) vì vậy sẽ tạo ra nương chè ñồng ñều, năng suất và chất lượng cao Trồng chè bằng hình thức nhân giống vô tính sẽ rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản của nương chè (cho thu hoạch sớm) do ñó nhiệm kỳ kinh tế dài hơn Nhân giống vô tính hệ số nhân giống cao (1 ha ñể hom giống giâm cành có thể nhân và trồng ñược 80 ha) Tuy nhiên, ở phương pháp này ñòi hỏi phải có những kỹ thuật nhất ñịnh và chi phí về lao ñộng, vật tư lớn, giá thành sản xuất cây giống cao ñặc biệt với những giống hè khó nhân giống
Các loại cây trồng ñể duy trì nòi giống, chúng ñều phải thông qua cơ quan sinh sản, hoặc chúng có khả năng tái sinh từ các bộ phận của các cơ quan sinh dưỡng như lá, chồi, thân, rễ Nếu ñưa các bộ phận sinh dưỡng của chúng vào môi
Trang 13trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây con Phương pháp giâm cành chè là dùng một ñoạn cành dài 4 - 5 cm, có 1 lá nguyên sạch sâu bệnh Cành có màu xanh hoặc từ xanh chuyển sang nâu (bánh tẻ) Mỗi hom có một mầm nách dài không quá 1 cm Sau ñó ñem giâm trên nền vật liệu nhất ñịnh (ñất, cát …) ñể tạo thành cây con mới
Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị thương thì vách tế bào sẽ hóa bần làm cho tế bào sống tách rời nhau Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần song song với mặt cắt ñể hàn kín vết thương Loại mô ñó gọi là mô sẹo (callus) Haber Landt (1921) cho rằng, khi tế bào nhu mô hình thành mô sẹo thì các tế bào bị thương hình thành một loại vật chất xâm nhập vào các tế bào mô vĩnh cửu chưa bị thương ở xung quanh, gây sự kích thích phân sinh, chất ñó gọi là thương kích tố (Wuond - hormones) Thương kích tố nếu phát sinh ở miệng vết thương có libe thì có một chất gọi là thương kích tố libe (Leptohormone) Nói một cách khác, những tế bào ở bề mặt vết cắt vốn ñã ngừng phân chia, nhưng do bị tổn thương gây kích thích nên bắt ñầu phân chia trở lại, cùng với sự biến ñổi của các tế bào tượng tầng và các tế bào nhu mô ở cạnh, mô sẹo ñược hình thành Sự hình thành mô sẹo ở cành non thường mạnh hơn cành già Mô sẹo lúc ñầu là một tế bào nhu mô (vách mỏng) sau ñó phân hóa thành
mô dẫn, tượng tầng và hình thành ñiểm sinh trưởng phát sinh rễ bất ñịnh
Mô sẹo là nơi hình thành rễ, do vậy ñại ña số rễ mọc ra từ gốc cành giâm, còn mầm cành mới lại mọc ra ở phía ngọn cành Từ mô sẹo của thân cành rất khó mọc mầm (ngoại trừ nuôi cấy mô), vì vậy muốn giâm cành thành công thì trên cành giâm nhất thiết phải có một mầm
Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm ñoạn cành bánh tẻ,
lá (cơ quan dinh dưỡng) ñể tái sinh ra cây chè mới Lá của hom chè lúc mới giâm là
cơ quan ñể quang hợp tạo ra những chất dinh dưỡng nuôi hom và tái sinh cây, lá có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè Vì vậy lá của hom giâm có vai trò rất quan trọng trong giâm cành
Sự hình thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trưởng tốt trong vườn ươm, ñủ tiêu chuẩn, ñưa ra trồng trên nương nó phụ thuộc nhiều vào chất lượng hom giống, môi
Trang 14trường giâm, chế ñộ chiếu sáng, chế ñộ chăm sóc và phân bón cho vườn ươm Môi trường giâm hom chè thường dùng là loại ñất không lẫn tạp chất có thành phần cơ giới trung bình và ñộ chua thích hợp PHKCL từ 4,5 - 5,5 Từ vết cắt hom chè sau khi giâm cành xuống ñất phần phía dưới hom sẽ hình thành màng mộc thiêm ñể chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật, dần dần tạo thành mô sẹo và từ ñó mọc ra rễ ñầu tiên, mầm nách của hom chè cũng ñược phát triển từng bước cùng với sự phát triển của bộ rễ, ñầu tiên là lá vảy ốc mở, sau ñó ñến lá cá và lá thật hình thành ñể tạo thành cây chè hoàn chỉnh Trong giâm cành chè nếu ñể mầm phát triển sớm hơn rễ cây chè giâm sinh trưởng không tốt, vì vậy trong giâm cành cần có những biện pháp
ñể cho hom chè ra rễ trước và mầm ra sau
Mỗi giống chè có những ñặc ñiểm khác nhau vì vậy khi giâm cành tỷ lệ ra rễ và nảy mầm khác nhau Trong thực tế có những giống khi giâm cành tỷ lệ xuất vườn rất cao nhưng cũng có những giống tỷ lệ xuất vườn rất thấp vì vậy giá thành cây giống rất cao
ðể giâm cành chè có hiệu quả cần phải khắc phục những nhược ñiểm của các giống tạo ñiều kiện thuận lợi cho cành giâm phát triển
ðặc ñiểm của cây mẹ, tuổi hom, kích thước hom, thời vụ giâm khác nhau dẫn ñến hàm lượng và tỉ lệ các chất thuộc nhóm kích thích sinh trưởng khác nhau
do ñó sự hình thành rễ và chồi cũng vì thế mà khác nhau Nếu một hom chè ở một thời vụ nhất ñịnh có tỷ lệ các chất thuộc nhóm Auxin và Xytokinin thích hợp cho việc hình thành rễ và chồi thì ñó là thời vụ giâm có hiệu quả nhất ñối với giống chè
ñó Với tuổi hom khác nhau các chất kích thích trong ñó cũng khác nhau, vì vậy mà kết quả giâm cành cũng khác nhau
Tuổi cành, ñường kính cành sẽ quyết ñịnh tỷ lệ và hàm lượng các chất Phytohoocmon trong cành, vì vậy khi dùng cành này ñể cắt hom giâm tỷ lệ và hàm lượng các chất trong hom khác nhau thông qua ñó mà phần nào ảnh hưởng ñến quá trình hình thành rễ và nảy mầm của hom giâm
Ngoài ra, ở các thời vụ khác nhau hàm lượng các chất Phytohoocmon và sự tổng hợp các chất trong hom khác nhau nên kết quả giâm những hom lấy từ cành ñó
Trang 15cũng khác nhau vì vậy việc nghiên cứu về thời vụ giâm hom cũng ựã ựược nghiên cứu Tuy nhiên ở cùng thời vụ như nhau, các ựiều kiện là giống nhau thì kết quả giâm cành chỉ phụ thuộc vào ựặc ựiểm và khả năng của mỗi giống
Cơ sở khoa học và những vấn ựề nêu trên nên của ựề tài nhằm ựánh giá khả năng nhân giống và những vấn ựề cần khắc phục ựể hoàn thiện quá trình nghiên cứu, phục vụ cho việc mở rộng diện tắch giống chè này và một số giống chè có ựặc ựiểm tương tự ra sản xuất nhằm tăng nhanh diện tắch các giống chè chất lượng cao thay thế các giống chè năng suất và chất lượng kém giúp cho ngành chè Việt Nam sản xuất có hiệu quả hơn
1.2 Các kết quả nghiên cứu về phương pháp nhân giống chè trong và ngoài nước.
1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Nhân giống bằng phương pháp hữu tắnh
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp nhân giống hữu tắnh ựã ựược con người
sử dụng từ thời xa xưa đã có những nghiên cứu cơ bản về nhân giống hữu tắnh ựối với cây trồng nói chung, cây chè nói riêng Nhâ giống hữu tắnh có ưu ựiểm là ựơn giản, dễ làm, không tốn nhiều công cũng như vật tư, thiết bị, xuất ựầu tư cho trồng mới thấp, cây chè có khả năng thắch ứng tốt với ựiều kiện sinh thái Tuy nhiên phương pháp này có nhược ựiểm là: Nương chè sinh trưởng không ựồng ựều, chất lượng không ổn ựịnh, việc chăm sóc, thu hái, chế biến gặp nhiều khó khăn
Liên Xô (cũ) trước ựây là một trong những nước trồng chè lớn của thế giới với nguồn giống chủ yếu nhập hạt chè từ Trung Quốc, Ấn độ sau ựó ựem gieo trồng và trong quá trình nghiên cứu, lai tạo và chọn lọc và ựã tạo ra ựược các giống chè mới Năm 1927 Ờ 1928 ựã chọn lọc ựược giống Gruzia1 và Gruzia2, ựây là những giống cho năng suất cao hơn đại Bạch Trà 25-40%
Năm 1824, Srilanca nhập hạt chè từ Trung Quốc, năm 1839 nhập hạt chè từ
Ấn độ ựem gieo trồng tại vườn Bách thảo Hoàng gia Peradeniya, sau ựó ựã tiến hành chọn lọc và nhân giống ựược một số giống chè cho năng suất cao, chất lượng tốt đến năm 1967 ựã trồng ựược 24 vạn ha chè
Trang 161.2.1.2 Nhân giống bằng phương pháp vô tính
Cũng như nghiên cứu về nhân giống vô tính cây trồng nói chung, nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tính ñối với cây chè ñã ñược rất nhiều tác giả quan tâm, các biện pháp nhân giống ñã ñược nghiên cứu như: nuôi cấy mô, chiết, ghép và giâm cành
* Nhân giống chè bằng phương pháp ghép cành
Ghép chè là phương pháp ñược thực hiện bằng cách lấy mắt ghép của cây chè khác và thường là những giống chè tốt ghép lên gốc ghép của một cây chè khác, thường gốc ghép thường ñược sử dụng là cây gieo hạt từ các giống ñịa phương sinh trưởng mạnh và chống chịu tốt
Kết quả nghiên cứu phương pháp ghép của Kvarakhelia TK (1959), dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002), cho biết: tỷ lệ sống của mắt ghép ñạt từ 53 - 76% tùy thuộc vào phương pháp ghép Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc ghép cho kết quả tốt hơn và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao ñạt tới 80% Trong khi ñó kết quả nghiên cứu của Aono, Saba, Tanaka, Sugimoto (1985), giống chè Yabukita dùng làm gốc ghép là tốt hơn so với giống Fujimidori và Yutakamidori Trong hai phương pháp ghép thì ghép nêm cho kết quả tốt hơn phương pháp ghép áp
Theo Kayange C.W (1978) ñem mắt ghép của cây chè dòng vô tính, chất lượng tốt nhưng sản lượng thấp, hoặc có tính chống chịu kém ghép lên một cành của cây gốc ghép có sản lượng cao, tính chống chịu khá nhưng chất lượng kém ñể bồi dục thành một cây phức hợp và như vậy có thể tăng sản lượng 60-100% Với phương pháp này hiện nay ở Malavi ñã tiến hành bồi dục thành công một số dòng chè vô tính, thích nghi với việc chuyên làm gốc ghép và mắt ghép (Trịnh Khởi Khôn , Trang Tuyết Phong1997)
Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây chè ghép Nyirenda.H.E cho rằng các dòng chè ñược ghép trên các gốc ghép khỏe mạnh sẽ có khả năng sinh trưởng búp tốt hơn nhờ có bộ rễ ăn sâu, lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong rễ cao, số rễ hút cung cấp dinh dưỡng nhiều
Trang 17* Nhân giống chè bằng phương pháp chiết cành
Nhân giống chè bằng chiết cành phương pháp ñược tiến hành từ một cây mẹ, hàng năm không thu hái ñể nuôi cành sau ñó uốn cành sát ñất, dùng ñất lấp vùi một phần cành, phần bị lấp ñất mọc ra rễ mới, hoặc ñắp ñất vào toàn bộ gốc cao ñến tận các cành ñể cho các cành bị lấp ñất mọc ra các rễ mới Khi các cành chè ñã có bộ rễ phát triển tốt tiến hành chặt ñứt phần tiếp xúc với cây mẹ rồi bứng cành ñưa ñi trồng Phương pháp nhân giống chè bằng cành chiết có nhược ñiểm hệ số nhân giống thấp, chi phí nhiều nhân công nên không ñược phổ biến rộng rãi
Theo ðỗ Ngọc Quỹ (1980) phương pháp chiết cành ñược nông dân Trung Quốc áp dụng từ lâu ñể nhân các giống tốt như giống Phúc ðỉnh, Bạch Hảo, Thuỷ Tiên, Thiết Quan Âm nhưng phương pháp này không ñược áp dụng rộng rãi vì hệ
số nhân giống thấp
Như vây, chiết cành là phương pháp nhân giống tuy ñơn giả nhưng hiệu quả thấp vì tối ña mỗi cây chè chỉ có 6 - 8 cành có thể chiết ñược, hơn nữa phải chăm sóc 2 năm mới trồng ñược Tuy nhiên nếu dùng phương pháp này sẽ có ưu ñiểm cây chè trồng nhanh chóng ñưa vào sản xuất kinh doanh vì cây sinh trưởng nhanh
* Nhân giống chè bằng phương pháp nuôi cấy mô
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật ñược phát triển mạnh và hoàn thiện
từ những năm 60 của thế kỷ XX Ngày nay với sự phát triển của khoa học mà hàng loạt những thành tựu ñược áp dụng vào việc nhân giống chè Theo Narender Kiain (1996) hiện nay trong lĩnh vực công nghệ chè ñang tập trung vào hệ thống nhân giống nhanh, kỹ năng tái tổ hợp cây trồng từ những cơ quan hoặc mô Theo tác giả
áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô có hiệu quả ñối với việc sản xuất các dòng chè ñơn bội Nếu dùng phương pháp nuôi cấy mô thì các nhà chọn giống có thể rút ngắn thời gian khoảng 20 năm so với dùng phương pháp thông thường
Theo Shizuoka (2002) khi nghiên cứu chồi nách, bộ phận lấy mẫu chủ yếu trên những cây chè 3-4 tuổi ở các giống Konkhitña, các dòng 3, 15 và 16 tác giả cho rằng công ñoạn chủ yếu và quan trọng nhất là rửa sạch vật liệu vì những cây thân gỗ như chè rất dễ bị tổn thương bề mặt bởi các hệ vi sinh vật khác xâm nhập vào bên trong Những chồi ñược vặt sạch lá, rửa 1-2 giờ bằng vòi nước và ñược rửa sạch
Trang 18trong dung dịch peroxit hydro 2% và cồn Etylic 50% (tỷ lệ 1;1) trong vòng 10-15 giây sau ñó rửa bằng dung dịch Dioxin 0,2% trong thời gian 5 phút và cuối cùng rửa sạch 4-5 lần bằng nước cất 2 lần Bằng phương pháp làm sạch như trên cho phép thành công trong nuôi cấy mô ñến 90% ở công ñoạn ñầu trong khi ñó ở các phương pháp khác chỉ ñạt không quá 45-50%
Theo Daraselia các nhà khoa học Nhật Bản là N.Nacomura và Oici ñã tạo ra các cây chè con từ phương pháp nuôi cấy mô tế bào Nhờ phương pháp này mà nguồn gen tốt ñược tạo ra phục vụ cho công tác nghiên cứu giống Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất chè ñại trà vì giá thành sản xuất cây giống cao
* Nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành chè
Trong các phương pháp nhân giống vô tính ñối với cây chè giâm cành ñược xem là một tiến bộ khoa học, là phương pháp có nhiều ưu thế nhất bởi tính khả thi cao Ưu ñiểm của phương pháp là cây con giữ ñược các ñặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè ñồng ñều, rất thuận lợi cho chăm sóc, thu hái và chế biến, hệ số nhân giống cao (1ha vườn giống cung cấp ñủ giống ñể trồng 80-100 ha)
Theo Võ Ngọc Hoài (1998), Trung Quốc bắt ñầu nghiên cứu giâm cành chè
từ năm 1900, sau ñó là Ấn ðộ (1914), Grudia (1928), Nhật Bản (1936) và SrilanKa (1938) ðể nghiên cứu giâm cành người ta ñã dùng một số hạt chè ủ mọc mầm rồi cắt theo cách mỗi một lá mầm còn dính lại một nửa cây, giữ cho cây chè không bị khô héo, vết thương sẽ ñóng sẹo và như vậy một hạt chè ban ñầu người ta ñã thu ñược hai cây chè Phương pháp giâm cành hiện ñại bằng các hom chè trên cành non bắt ñầu ñược nghiên cứu từ những năm 1936
Từ năm 1914, ở Ấn ðộ người ta ñã tiến hành giâm hom chè thí nghiệm song kết quả không ñạt Tuy nhiên hiện nay Ấn ðộ ñã có 102 dòng vô tính ñược tạo ra bằng phương pháp giâm cành Cũng tại Ấn ðộ các nhà nghiên cứu cho biết: Những hom có nụ hoa, sự ra rễ không bị ảnh hưởng nhưng nếu nụ hoa tiếp tục phát triển thì sinh trưởng của hom sẽ kém
Trang 19Tại Gruzia, việc nghiên cứu giâm cành chè ñược thực hiện từ cuối năm 1965 khi tại ñây người ta trồng giống Konkhitda và ñến nay phương pháp này cũng ñược
áp dụng rộng rãi
Ở Nhật Bản giống Yabukita trồng bằng cành giâm chiếm 55,4% diện tích, Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonexia bắt ñầu phổ biến từ năm 1988
1.2.2 Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1 Nhân giống bằng phương pháp hữu tính
Nhân giống hữu tính là phương pháp nhân giống cổ truyền ñược con người sử dụng từ khi biết trồng trọt ðây là quá trình tạo cây con từ hạt, hạt ñược hình thành
là do kết quả thụ tinh của tế bào hạt phấn với tế bào noãn Từ hạt sẽ mọc ra cây mới mang ñặc tính di truyền của cả cây bố và cây mẹ hoặc nghiêng hẳn về phía cây bố hoặc cây mẹ Trong tự nhiên rất phổ biến phương pháp nhân giống này
Từ những năm 80 về trước, trồng chè bằng hạt rất phổ biến ở nước ta Người Pháp sau khi vào nước ta ñã rất quan tâm tới việc phát triển cây chè, họ ñã triển khai nghiên cứu so sánh kỹ thuật gieo hạt chè Kết quả ñã ñược Cresvot và Lemarier ñánh giá tốt Theo tác giả ðỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997), thời kỳ 1920 –
1923 Du Pasquier ñã nghiên cứu nhân giống hữu tính và vô tính ñã chọn gieo hạt là phương pháp chính Năm 1928 ông ñã biên soạn và phổ biến quy trình trồng vườn sản xuất hạt giống chè chọn lọc và ông ñã xác ñịnh với vùng chè Trung du miền Bắc (1921 – 1940) có hai cách trồng chè bằng hạt ñược áp dụng gieo thẳng ra ruộng sản suất và gieo qua vườn ươm rồi bứng bầu ra trồng ngoài ruộng sản xuất
Theo tác giả ðỗ Ngọc Quỹ (1980), quy trình trồng chè hạt của Bộ Nông nghiệp quy ñịnh khoảng cách trồng chè 1,50 x 0,40m mỗi hốc gieo 5 - 6 hạt, lấp ñất
ở ñộ sâu 3 - 5 cm, gieo dự trữ 5 - 10%
Tiêu chuẩn hạt chè tốt là hạt chín, tươi, chắc, nặng, to ñồng ñều, só lượng hạt trong 1kg hạt ñối với giống Trung Du là 500 hạt, giống Shan là 400 hạt Hàm lượng nước trong hạt 25 - 30%, sức nảy mầm trên 75%
Năm 1980, Viện nghiên cứu chè ñã tiến hành lai 7 tổ hợp mà bố mẹ ñã ñược
Trang 20xác ñịnh Sau khi gieo hạt và tuyển chọn bước ñầu ñã xác ñịnh ñược 35 cá thể có nhiều triển vọng ðến năm 1988 ñã chọn ñược 4 cá thể nổi bật tù các cá thể là LDP1, LDP2, CDP và CLT Sau 10 năm giám ñịnh, so sánh giống ñã thu ñược kết quả tốt Hai dòng LDP1, LDP2 là 2 dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt ñược Bộ NN & PTNT công nhận giống tạm thời năm 1994 cho phép mở rộng ra sản xuất và giống LDP1 ñược công nhận là giống quốc gia năm 2003 Hiện nay Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè ñã tiến hành lai tạo và chọn lọc ra các dòng chè số 10, 12, 13, 14, 15, 17, 19, 20, 25 có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao chất lượng tốt thích hợp với chế biến chè xanh, ñặc biệt là 2 dòng số 10 và dòng số 14
có khả năng chế biến chè xanh chất lượng cao và chè Olong
Như vậy với phương pháp nhân giống hữu tính ñối với cây chè có những ưu ñiểm: Kỹ thuật gieo tương ñối ñơn giản, dễ làm, chi phí lao ñộng và vật tư thấp ðặc biệt vườn chè trồng hạt cây con có tính thích ứng rộng với ñiều kiện ngoại cảnh, khả năng chống chịu tốt
Nhược ñiểm: Các cây con trong vườn chè trồng bằng hạt có hình thái không ñồng ñều, sinh trưởng mạnh yếu khác nhau, búp chè mọc không ñồng ñều ñẫn ñến vườn chè có năng suất thấp, chất lượng không cao, hệ số nhân giống bằng hạt rất thấp Vì vậy ngày nay do yêu cầu của thực tế sản xuất cần có những nương chè ñồng ñều về ngoại hình, ổn ñịnh về chất lượng nên hình thức nhân giống này ít ñược áp dụng
1.2.2.2 Nhân giống bằng phương pháp vô tính
Ở Việt Nam nhân giống vô tính ñối với cây chè từ lâu ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu Theo ðỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Niệm (1979), chè có thể nhân giống theo ba hình thức khác nhau: chiết, ghép, giâm cành và nuôi cấy mô
* Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Nhân giống chè bằng phương pháp chiết cành: Theo ðỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997), nghiên cứu về chiết cành chè lần ñầu tiên ñược Dupasquier nghiên cứu ở Việt Nam vào năm 1921-1923 và Guiraid vào năm 1952 Cũng như kết quả nghiên cứu trên thế giới, các tác giả ñều cho rằng chiết cành chè là phương pháp nhân giống ñơn giản nhất so với giâm cành và ghép, cây con mau cho thu
Trang 21hoạch búp, rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, cành chiết ñem trồng có tỷ lệ sống cao Tuy nhiên phương pháp chiết cành có hệ số nhân giống thấp một cây chè mẹ chỉ ñược 10-15 cây con, tốn nhiều nhân công nên không ñược phổ biến rộng rãi trong sản xuất
* Nhân giống bằng phương pháp ghép cành
Ở Việt Nam, theo ðỗ Văn Ngọc (2006), ñối với cây chè có thể áp dụng phương pháp nhân giống bằng phương pháp ghép và áp dụng kỹ thuật ghép nêm khi cây gốc ghép ñạt 3 - 3,5 tháng tuổi
Khi nghiên cứu về ghép chè, Nguyễn Xuân An (2006) kết luận: Cả 2 phương pháp: Ghép áp và ghép nêm ñều có kết quả nhất ñịnh, tuy nhiên ghép áp ñoạn cành cho kết quả tốt hơn, khả năng phát triển của cành ghép mạnh hơn, tỷ lệ nảy mầm ñạt 90,19%, tỉ lệ ghép sống ñạt 87,04% Thời gian nảy mầm ngắn 25 ñến 39 ngày Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc, Lâm ðồng ñã nghiên cứu thành công kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và Lð19 vào năm 1999 ðề tài ñược hội ñồng khoa học tỉnh Lâm ðồng công nhận vào tháng 12/2000
Nhân giống bằng phương pháp ghép chè có ưu ñiểm là cây con ñồng ñều, cây chè ghép có khả năng chống chịu tốt, tuổi thọ cao, dễ chăm sóc Sản lượng và chất lượng chè cao hơn cây chè hạt Tuy nhiên phương pháp này ñòi hỏi kỹ thuật trong quá trình tạo cây gốc ghép, kỹ thuật ghép, thao tác ghép và chi tương ñối cao
* Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật (invitro) ñược phát triển mạnh và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, sau khi ñã nghiên cứu và tạo ñược môi trường nuôi cấy chuẩn, ñặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vào môi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần ñể nuôi cấy huyền phù…
Nghiên cứu khả năng nuôi cấy mô của một số giống chè, Nguyễn Văn Thiệp - Inoue Kazumi (2006) kết luận: Khả năng nẩy chồi của một số giống chè khi nuôi cấy bằng phôi hạt là như nhau trong khi ñó nếu nuôi cấy bằng búp của các giống chè Shan và giống LDP1 có tỷ lệ nẩy chồi thấp hơn Các giống Shan và giống LDP1,
Trang 22Shan Chất Tiền, Gruzia 3 có khả năng tạo thành phôi vô tắnh, khả năng tạo chồi và
rễ mạnh hơn các giống khác
Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô có ưu ựiểm là tạo ra cây con sạch bệnh, ựồng nhất và giống cây mẹ trong thời gian ngắn, hệ số nhân giống cao Vì vậy rất có ý nghĩa khi nhân nhanh những giống mới ựược chọn tạo và cần có lượng giống lớn ựưa ra sản xuất Nhược ựiểm của phương pháp này là ựòi hỏi kỹ thuật, có các thiết bị chuyên dụng, chi phắ sản xuất cây giống cao
* Nhân giống bằng phương pháp giâm cành
Ở Việt Nam nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành lần ựầu tiên ựược tiến hành nghiên cứu tại Trạm thắ nghiệm chè Phú Hộ (nay là Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Chè) từ năm 1953, ựến năm 1963 các tác giả đỗ Ngọc Qũy, Nguyễn Văn Niệm ựưa ra quy trình kỹ thuật giâm cành Kỹ thuật giâm cành chè ựược phép áp dụng rộng rãi vào năm 1972 Cũng theo các tác giả này ựiều kiện phát triển của cây mẹ ảnh hưởng rất lớn ựến khả năng tái sinh của hom giâm, cần tạo ựiều kiện thuận lợi ựể cây mẹ phát triển khỏe mạnh bằng việc bón cân ựối N, P, K Năm 2004, Nguyễn Văn Tạo và cộng sự thực hiện dự án hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống vô tắnh giống chè LDP1, LDP2 bằng giâm hom Kết quả ựã hoàn thiện một số khâu trong quy trình giâm cành chè và ựã ựạt kết quả trong việc nhân giống hai giống chè này đã chuyển giao cho sản xuất ựể nhân giống, góp phần vào việc ựẩy nhanh tốc ựộ mở rộng diện tắch các giống chè mới, kết quả ựến hết năm 2004 ựã trồng ựược 14.000 ha hai giống chè LDP1, LDP2, chiếm khoảng 12% diện tắch chè của cả nước
Nhìn chung các phương pháp nhân giống trên ựều có những ưu ựiểm nhưng còn có những nhược ựiểm nhất ựịnh như: kỹ thuật phức tạp, không thuận tiện, hệ số nhân giống thấp, hoặc giá thành cây giống cao Nhân giống vô tắnh ựối với cây chè bằng phương pháp giâm hom có tắnh khả thi hơn vì hệ số nhân giống cao, dễ thực hiện, thời gian cây giống ựạt tiêu chuẩn xuất vườn nhanh, giá thành hạ, việc vận
Trang 23chuyển dễ dàng một lượng cây lớn ñến nơi trồng Tuy nhiên phương pháp này cũng
có nhược ñiểm là cây con trong những năm ñầu cây sinh trưởng yếu, tỷ lệ chết cao
1.3 Các kết quả nghiên cứu nhân giống phương pháp giâm cành
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trên cây trồng nói chung
Trong giâm cành ñiều quan trọng là các bộ phận giâm phải hình thành ñược rễ
và phát triển chồi mới Như vậy từ một phần của cơ thể mẹ ñã tái sinh và tạo ra ñược những cây con hoàn chỉnh và ñộc lập Quá trình tái sinh này một mặt phụ thuộc ñặc tính di truyền của giống và loại cây trồng, mặt khác nó phụ thuộc chặt chẽ vào ñiều kiện của môi trường bên ngoài
Theo Hartmen và Kester (1988) có 3 nhân tố chính ảnh hưởng tới kết quả giâm cành:
- Vật liệu dùng ñể giâm
- Biện pháp kỹ thuật xử lý cành giâm
- ðiều kiện môi trường giâm
Khi quan sát trên cây Táo Mackenzie (1957) nhận xét: Giâm cành tốt nhất vào mùa thu vì lúc này lượng Cácbon tích luỹ ñược trong cây là nhiều nhất nên kết quả giâm là tốt nhất Ngược lại nếu giâm vào vụ hè do lượng Cácbon tích luỹ trong cây rất thấp do ñó kết quả giâm sẽ kém hơn
Theo Samish và Spieqel (1957) cho thấy với cây Nho và cây Mận nếu bón kẽm cho cây mẹ thì khi giâm sẽ làm tăng tỷ lệ ra rễ một cách ñáng kể so với việc bón thêm Tryptophan Trong thực tế nếu bón Tryptophan tổng hợp cho cây mẹ sẽ làm cho cành giâm ra rễ nhanh và nhiều hơn
Theo Thiman và Delisle (1939) ñối với những loại cây có thời kỳ rụng lá, những loại cây họ Tùng, Bách tuổi cây mẹ là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng ñến
sự hình thành rễ của cành giâm ðối với những loại cây không có sự phân biệt rõ ràng về ñặc trưng hình thái, khi giâm không nên chọn những cành ñã hoá gỗ
Trong quá trình giâm kiểu giâm cũng ảnh hưởng rất lớn ñến kết quả giâm Hiện nay, người ta áp dụng rất nhiều kiểu giâm khác nhau: Giâm thân mềm mọng nước, giâm thân gỗ cứng, một ñiều chắc chắn là không có một kiểu giâm nào tốt
Trang 24cho tất cả các loại cây trồng Một kiểu giâm nào ñó có thể rất tốt với loại cây này nhưng khi áp dụng cho loại cây khác thì kết quả lại rất kém
ðối với cây Mận khi giâm các loại cành khác nhau người ta thấy: Nếu giâm bằng cành vượt tỷ lệ ra rễ chỉ ñạt 10%, trong khi ñó nếu giâm bằng cành bên tỷ lệ ra
rễ ñạt 19% và giâm những cành ñã ngừng sinh trưởng tỷ lệ ra rễ có thể ñạt 35% Khi quan sát trên cây Thông trắng và cây Vân San, Deuber (1940) cũng thu ñược những kết quả tương tự như vậy
Theo Hudson (1955) thời vụ giâm ñóng vai trò quan trọng ñối với sự hình thành rễ của nhiều loại cây trồng Tuy nhiên cũng có loại cây có thể giâm vào mọi thời ñiểm trong năm Ví dụ như với cây Mâm Sôi tỷ lệ ra rễ có thể ñạt 100% trong khoảng thời gian từ mùa thu ñến mùa xuân nhưng vào những tháng hè tỷ lệ cành giâm còn sống không ñáng kể Trong khi ñó với cây Cải Ngựa có thể tiến hành giâm quanh năm và tỷ lệ ra rễ rất cao
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường ñến kết quả giâm các tác giả Harmann và Kester (1988) cho rằng vào ñầu mùa xuân sau khi kết thúc thời kỳ ngủ nghỉ các lá non hình thành và phát triển mạnh làm cho cành giâm mất nước nhiều,
vì vậy hạn chế sự mất nước của cành giâm là biện pháp kỹ thuật mang tính quyết ñịnh ñến kết quả giâm
Theo Davies (1980) một số hợp chất thuộc nhóm Cytôkinin như Kenitin, BA
có tác dụng kích thích cành giâm nảy mầm sớm Tuy nhiên ñể sử dụng có hiệu quả còn phụ thuộc rất nhiều vào nồng ñộ, loại cây trồng; vì vậy cần phải tiến hành các thí nghiệm cụ thể ñể xác ñịnh
Theo Vũ Văn Vụ (1993) khi ñề cập ñến phương pháp xử lý tác giả cho rằng hiện nay có hai phương pháp chính ñể xử lý auxin cho cành giâm, cành chiết: Phương pháp xử lý nồng ñộ cao hay còn gọi là phương pháp xử lý nhanh Nồng ñộ auxin từ 1.000 -1.200 ppm nhúng cành giâm vào dung dịch trong 3-5 giây rồi cắm vào giá thể Phương pháp nồng ñộ loãng hay còn gọi phương pháp xử lý chậm Nồng ñộ auxin sử dụng từ 20–200 ppm tuỳ thuộc vào giống và mức ñộ khó ra rễ của cành giâm Ngâm cành giâm vào dung dịch trong 10 -24 giờ sau ñó giâm vào giá thể
Trang 25Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự (2000) ñiều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn ñến sự tái sinh của rễ bất ñịnh của cành giâm ðộ ẩm bão hoà, ánh sáng tán
xạ, nhiệt ñộ ôn hoà sẽ làm cho rễ ra nhanh hơn
1.3.2 Kết quả nghiên cứu trên thế giới
Tại Srilanca các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình ra rễ của cành giâm không ảnh hưởng bởi tuổi của cây mẹ Tuy nhiên trong sản xuất thực tế những cây chè vào tuổi 4 khi cây bắt ñầu ổn ñịnh về sinh trưởng và năng suất thì cho hom giâm tốt hơn Ở Nga người ta thường lấy hom trên cây mẹ ở tuổi 5 ñể làm hom giâm Các tác giả Trung Quốc cho rằng vị trí hom lấy ở giữa cành có tỉ lệ sống, tỉ lệ nảy mầm và tỉ
lệ ra rễ cao nhất so với các vị trí lấy hom khác
ðể giâm hom chè ñạt kết quả tốt cần thực hiện ñầy ñủ các yếu tố kỹ thuật Theo Hartmen và Kester (1988) cho biết, có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới kết quả giâm hom: giống, kỹ thuật xử lý hom và môi trường giâm Nghiên cứu ở Kenya cho biết ñể có hom giống tốt cần phải chăm sóc vườn cây mẹ chu ñáo như chế ñộ bón phân ñặc biệt, ñốn nhiều lần trong năm Hom giống tốt có chiều dài 3 – 4 cm, nếu ngắn hơn 3 cm phải bỏ bớt 1 lá ñể ñảm bảo ñộ dài của hom
Nghiên cứu về Hoocmon, các chất sinh trưởng ñối với sự ra rễ của hom chè giâm các nhà khoa học cho rằng: các Hoocmon và các chất kích thích sinh trưởng chỉ có hiệu quả cao trong phạm vi hẹp ñối với những giống chè quý hiếm và khó ra
rễ Ở Zaia người ta ñã dùng cách ngâm hom chè vào dung dịch nước vôi trong, thuốc tím và 2,4D trước khi giâm Ở Liên Xô cũ ñã sử dụng các chất như: 2,4D, α NAA, IAA với thời gian ngâm hom 24 giờ
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng tia X quang ñến tỷ lệ ra rễ, sinh trưởng phát triển của cành giâm người ta cho rằng: Cành giâm sẽ ra rễ nhanh hơn, tỷ lệ sống so với ñối chứng tuy tăng không ñáng kể nhưng cành giâm sẽ nảy mầm tốt hơn Khi xử lý cành giâm bằng những tia γ có thể tạo ra những cây chè có chất lượng rất khác nhau
Theo nghiên cứu môi trường pH giâm hom giống chè Ấn ðộ của Chakravartee và cộng sự (1996), cho biết ñộ pH dưới 5 thì hom ra rễ tốt nhất, tác
Trang 26giả cũng kết luận túi bầu có kích thước ñường kính 8 cm và chiều cao 28 cm, luống không rộng hơn 1,5 m cho kết quả tốt
Nghiên cứu kỹ thuật cắm hom khi giâm cành chè các tác giả thuộc Liên Xô cũ,
Ấn ðộ, Srilanka ñều khẳng ñịnh giâm hom chè vào túi Polyetylen không những không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè mà còn tạo ñiều kiện tốt cho quá trình vận chuyển cây con ra nương và do ñó góp phần tăng tỷ lệ sống khi trồng mới Việc bón phân cho cành giâm theo các tác giả chỉ nên bắt ñầu khi các hom giâm ñã có rễ và kết thúc khi bắt ñầu giai ñoạn luyện cây trước khi mang trồng Có thể dùng phân Sulphat, phân Urê, phân tổng hợp với lượng 2 - 30g/m2 tuỳ từng giai ñoạn Một số tác giả khác ñều cho rằng phân N, P, K theo tỷ lệ 15:10 :10 bón với lượng 1,5g hỗn hợp này cho một bầu sẽ cho kết quả tốt Tại Srilanka sau khi hom chè ñã nảy mầm và ra rễ bón 15g hỗn hợp T55 (35 phần ñạm sunphat +10 phần Kali + 10 phần muối Magiê) cho 100 bầu, bón 28g T55 cho 100 bầu chè trước khi trồng hai tháng sẽ cho kết quả tốt Theo Wuxu, khi nghiên cứu vai trò của các nguyên tố trong quá trình phát triển của cành chè giâm ñã khẳng ñịnh: Kali và Mg
có vai trò rất lớn ñối với sự phát triển của bộ rễ chè
Theo Anon (1986), nghiên cứu ở Kenya cho biết ñể có hom giống tốt cần phải chăm sóc vườn cây mẹ chu ñáo như chế ñộ bón phân ñặc biệt, ñốn nhiều lần trong năm Hom giống tốt có chiều dài 3 – 4 cm, nếu ngắn hơn 3 cm phải bỏ bớt 1
lá ñể ñảm bảo ñộ dài của hom
Nghiên cứu lựa chọn kích thước túi bầu, tác giả Denis Bonheure (1990) kết luận kích thước túi bầu có ñường kính 8 – 10 cm và chiều cao túi 25 – 28 cm, túi dày 60 – 100 micron cho kết quả tốt, ñặc biệt túi có ñường kính 12 – 15 cm cho phép cây sinh trưởng tốt hơn nhưng chi phí ñắt hơn Với túi có ñường kính 8 cm cho số lượng tương ñương 100 bầu/m2 (khoảng 600.000 bầu/ha), mặt luống cao 10 – 20 cm, rãnh luống rộng 40 – 60 cm cho kết quả tốt nhất
Tác giả Patarava (1987), nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến vườn chè giâm hom cho thấy: nhiệt ñộ dưới 50C hoặc trên 450C thì hom chè bị chết; nhiệt ñộ
Trang 27dưới 150C và trên 350C thì hom chè sinh trưởng chậm; nhiệt ựộ thắch hợp cho hom chè sinh trưởng và phát triển tốt là từ 25 Ờ 300C
1.3.3 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 1994, Nguyễn Văn Niệm và cộng sự khi nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A cho kết luận:Khi bón phân ựầy ựủ thì cây con khoẻ, tỷ lệ xuất vườn cao Giâm cành vào vụ thu tỷ lệ cây con sống cao hơn vụ xuân
Khi nghiên cứu thời vụ giâm cành ựối với giống chè PH1 các tác giả đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Niệm ựã xác ựịnh có hai thời vụ chắnh: Vụ đông xuân từ tháng 12 ựến tháng 2 và vụ Hè thu từ tháng 6 ựến 15 tháng 7 nhưng thời vụ giâm cành tốt nhất với giống chè PH1 là vụ đông xuân Nghiên cứu về kắch thước hom các tác giả cho rằng hom chè có kắch thước từ 4-5cm, có một lá nguyên Vết cắt phắa trên cành giâm cách nách lá mẹ 0,5cm, nếu khoảng cách này dài quá hay ngắn quá ựều không tốt
Năm 2009, đỗ Văn Ngọc và cộng sự ựã thực hiện dự án Ộ phát triển giống chè mới giai ựoạn 2006 - 2010Ợ ựã thu ựược kết quả như sau: về thời vụ cắm hom ở miền bắc có 2 thời vụ cắm hom tốt ựó là vụ thu cắm hom vào tháng 8 và vụ ựông xuân cắm hom vào tháng 11-12, có thể dựa vào thời vụ cắm hom ựể xác ựịnh thời
vụ nuôi hom thắch hợp trên vườn giống Tiêu chuẩn hom giống khác nhau trên từng giống: ựối với giống Shan Chất Tiền hom loại 1 chiều dài hom 3,5- 4,5cm, ựường kắnh hom 3 - 4mm, hom loại 2 chiều dài hom 3,5- 4,5cm, ựường kắnh hom 2,5-3,0mm đối với giống chè chất lượng cao hom loại 1 chiều dài hom 3- 4cm, ựường kắnh hom 2,5-3mm, hom loại 2 chiều dài hom 3- 4cm, ựường kắnh hom 2-2,5mm Nguyễn Văn Thiệp và Nguyễn Văn Tạo (2008) khi nghiên cứu hệ số nhân giống của giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tắch ựã chỉ rõ: Cành giống tốt là những cành có số lá thật ựồng ựều, lá dầy, màu xanh, ựộ dài lóng ựạt mức ựộ trung bình, mầm nách phát triển không dài quá 3cm tốt nhất mầm nách chỉ hình thành ở nách lá thứ 1-3 với ựộ dài mầm ≤ 1cm
Nghiên cứu tuổi hom, thời vụ giâm cành giống chè 1A, tác giả đặng Văn Thư ựã kết luận hom xanh có tỷ lệ ra rễ tốt hơn hom bánh tẻ và hom 2 lá Về thời
vụ tác giả kết luận thời vụ giâm hom vào vụ hè thu tỷ lệ ra rễ tốt hơn vụ xuân
Trang 28Khi nghiên cứu tiêu chuẩn cây chè giống LDP1 LDP2 và 1A đặng Văn Thư
và nguyễn Văn Toàn kết luận; để ựảm bảo hiệu quả khinh tế và chất lượng nương chè tiêu chuẩn cây giống như sau: Kắch thước túi bậu chu vi 20cm, cao 18cm, túi hàn ựáy ựục 6 lỗ, chiều cao cây từ 22-25cm, có 6-8 lá thật , sạch sâu bệnh, ựường khắnh thaanlowns hơ hoặc bằng 0,3cm độ hóa nâu trên 50%
Nghiên cứu biện pháp giâm cành chè trên nền ựất đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2006) kết luận: Giâm cành trên nền ựất, cây chè phát triển thân lá tốt hơn giâm trong bầu, tuy nhiên khối lượng rễ trên cây con khi ựem trồng ắt hơn so với cây trong bầu Kết quả theo dõi sau trồng tác giả cũng khẳng ựịnh không có sự sai khác giữa cây giâm trong bầu hay giâm rễ trần
Năm 1994, Nguyễn Văn Toàn và cộng sự khi nghiên cứu ảnh hưởng của kắch thước lá ựến khả năng giâm cành của các giống ựã kết luận: Diện tắch lá chè ảnh hưởng ựến khả năng giâm cành, những giống có lá quá lớn ảnh hưởng xấu ựến tỷ lệ sống, hình thành mô sẹo, ra rễ và nảy mầm của hom giâm để giảm bớt sự thoát hơi nước có thể cắt 1/3 lá ựối với những giống có diện tắch lá lớn Tác giả cũng ựã ựưa
ra nhận xét: Giống 1A có ựiểm khác biệt so với những giống chè khác như bản lá to,
lá mỏng và tầng dầy biểu bì trên 1,7ộ, mức ựộ hoá nâu chậm vì thế ựây là giống chè khi giâm cành sẽ có tỷ lệ sống thấp nhất
Theo Nguyễn Văn Niệm và cộng sự bón ựầy ựủ N, P, K và phân hữu cơ cho cây mẹ giống chè 1A, kết quả giâm cành ựạt tỷ lệ xuất vườn cao hơn và cây chè sinh trưởng khoẻ hơn
Lê Tất Khương cho rằng giống chè 1A là một giống khó giâm cành, ra mô sẹo,
ra rễ muộn, tỷ lệ sống thấp và ựặc biệt bộ rễ phát triển kém Cũng theo tác giả khi phun Komix, Agriconik và hỗn hợp axit Boric + Urê cho chè giâm cành làm tăng tỷ
lệ nảy mầm, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ ựó làm giảm giá thành cây xuất vườn từ 3,2 Ờ 8,1%
Theo tác giả đỗ Văn Ngọc, đàm Lý Hoa, đặng Văn Thư khi nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền ựất ựã ựưa ra kết luận: Giâm cành chè rễ trần ở mật ựộ
Trang 29250 – 300 hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương ñương với giâm trong bầu ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng phân khoáng bón thúc ñến ñộng thái cây chè con LDP1 trong vườn ươm, Nguyễn Văn Tạo cho rằng bón ñạm Sunphat cho cây chè con sẽ ñạt sinh khối cao nhất, bộ rễ phát triển khoẻ tỷ lệ xuất vườn cao Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón cho vườn ươm ñến sinh trưởng của cây chè giống ðặng Văn Thư (2010) kết luận rằng với lượng phân bón là 250 g/m2chia 7 lần (100 g ure + 60 g supe lân + 90 g K 2SO4 ) tính cho 1m2 vườn ươm thời gian bón bắt ñầu từ khi hom giâm 2 tháng kết thúc sau giâm 8 tháng là tốt nhất
Tác giả Vũ Văn Vụ và các cộng sự khi ñề cập ñến phương pháp xử lý tác giả cho rằng hiện nay có hai phương pháp chính ñể xử lý Auxin cho cành giâm, cành chiết: Phương pháp xử lý nồng ñộ cao hay còn gọi là phương pháp xử lý nhanh Nồng ñộ Auxin từ 1.000 - 1.200 ppm nhúng cành giâm vào dung dịch 3 - 5 giây rồi cắm vào giá thể Phương pháp nồng ñộ loãng hay còn gọi phương pháp xử lý chậm Nồng ñộ Auxin sử dụng từ 20 - 200ppm tuỳ thuộc vào giống và mức ñộ khó ra rễ của cành giâm Ngâm cành giâm vào dung dịch 10 - 24 giờ sau ñó cắm vào giá thể Phương pháp dùng nồng ñộ cao thời gian xử lý nhanh dễ thực hiện hơn
Các tác giả Trần Văn Phẩm, ðỗ Văn Ngọc và các cộng tác viên (1987) khi sử dụng các chất như: IAA, IBA, NAA, ñất ñèn ở nồng ñộ 50ppm, 80ppm, 100ppm, 120ppm kết quả cho thấy dùng IBA ở nồng ñộ từ 100-120ppm xử lý hom chè giống
PH1khi giâm có hiệu quả nhất Với 2,4D nếu ở nồng ñộ cao hơn 50ppm và ngâm hom trong 8 giờ sẽ làm tăng tỷ lệ chết của cành giâm, ở nồng ñộ 20ppm ngâm trong
8 giờ thì cành giâm ra rễ tốt hơn
Nghiên cứu tiêu chuẩn cây giống tác giả Nguyễn Ngọc Kính ñề xuất: Cây chè giống phải ñảm bảo: Cây cao hơn 20cm có từ 6-8 lá, ñường kính thân cây ño cách gốc 5cm là 3-4mm, cây có 6 tháng tuổi trở lên Nếu cây cao quá 30cm phải bấm ngọn trước khi mang ñi trồng
Tác giả Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung (1999) khi xây dựng quy trình kỹ thuật trồng chè Shan ñã ñề xuất: Nếu trồng chè Shan tập trung theo hướng sản xuất
Trang 30công nghiệp thì tiêu chuẩn cây con xuất vườn phải ñạt chiều cao cây lớn hơn 25 cm,
có 8 lá thật, có 2/3 ñoạn thân hoá nâu, cây sinh trưởng khoẻ, cứng cáp Nếu trồng ở nơi có ñộ dốc trên 200, trồng xen lẫn cây rừng (trồng phân tán) cây con xuất vườn cần có chiều cao cây từ 40 -45 cm, ñường kính gốc ≥ 4mm và có trên 10- 12 lá, tuổi cây con trong vườn ươm trên 12 tháng
Nguyễn Văn Thiệp và cộng sự (2008) khi nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành ñối vơi 2 giống Keo Am Tích và Phúc Vân Tiên
ñã ñưa ra tiêu chuấn cây chè giống cho 2 giống này như sau: Chiều cao cây trên 25
cm, thân hoá nâu 1/3, ñường kính thân 3-4mm, có 6-8 lá thật, lá xanh vàng và sạch sâu bệnh
Khi nghiên cứu tiêu chuẩn cây chè giống cho 3 giống LDP1, LDP2,1A, tác giả ðặng Văn Thư và Nguyễn Văn Toàn (2003) kết luận: Dùng túi bầu chu vi 20 cm, chiều cao 18 cm, túi hàn ñáy và ñục 6 lỗ Chiều cao cây 22- 25 cm, có 6 -8 lá thật cây có ñộ hoá nâu trên 50% thời gian trong vườn ươm 8 -10 tháng
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 ðối tượng nghiên cứu
Các nội dung trong nghiên cứu của đề tài chủ yếu được thực hiện trên các dịng, giống chè LDP1, Shan Lũng Phìn, PH9, PH10, PH12, PH14
Giống LDP1: ðược tạo từ tổ hợp lai giữa cây mẹ ðại Bạch Trà và cây bố là giống PH1 cĩ năng suất cao, chọn lọc theo phương pháp chọn dịng vơ tính
- Hình thái: Cĩ diện tích lá to trung bình 18- 24 cm2, lá cĩ màu xanh sáng, hình ơ van thời gian sinh trưởng búp sớm và kết thúc sinh trưởng chậm
- Sinh trưởng: Sinh trưởng khoẻ, tán rộng, phân cành sớm là đặc trưng của giống Búp màu xanh, trọng lượng búp (1 tơm +2 lá) 0,35- 0,50g Khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi tốt Năng suất búp khá cao, cây 10 tuổi đạt 15 tấn/ha
- Chất lượng: Chế biến chè xanh cĩ ngoại hình đẹp, nước pha màu xanh vàng sáng, hương thơm đặc trưng Chế biến chè đen đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu Thành phần các hợp chất: Tanin 32,8 - 35,7%; chất hồ tan 41,6- 42,9%; Catechin tổng số 139,23 mg/100g chất khơ
Dịng chè Shan Lũng Phìn: Giống vơ tính của Việt Nam, được Viện nghiên cứu chè chọn lọc từ tập đồn chè shan Hà Giang trồng tại Phú Hộ từ năm 1999
- Thành phần sinh hố và chất lượng sản phẩm: hàm lượng tanin của giống PH9 đạt 30,54%, đường khử 2,74%, Catechin tổng số 159,95 mg/100g chất khơ, chất hồ tan 44,39%, axítamin 1,79%
Trang 32- Nguyên liệu búp cĩ chất lượng tốt chế biến chè đen đạt loại khá, hương thơm đặc trưng, màu nước xanh vàng sánh và bã màu xanh sáng
- Khả năng chịu hạn và giá lạnh tốt Thích ứng rộng, dễ giâm cành, tỷ lệ xuất vườn cao
- Năng suất: sớm cho năng suất cao, tuổi 2 đã cho năng suất 2,88 tấn/ha đến tuổi 8 đạt tới 15,80 tấn/ha, chịu thâm canh cao
- Khả năng chống chịu sâu bệnh khá (bị hại bởi rầy xanh, bọ xít muỗi, cánh tơ, nhện đỏ ở mức độ ít), đặc biệt giống bố Kim Tuyên và mẹ TRI777 bị rệp phảy phá hại nặng song giống PH9 hiện nay hầu như chưa xuất hiện
Dịng chè PH10
- ðược chọn lọc cá thể từ tập đồn các giống chè cĩ nguồn gốc Trung Quốc, ðược cơng nhận giống Quốc gia năm 2014 theo quyết định số 1489/QðBNN - TT – ngày 30/06/2014
- Dịng PH10 cĩ đặc điểm sinh trưởng trung bình, cĩ năng suất trung bình: Tuổi 2 đạt năng suất 1,5 tấn/ha đến tuổi 5 đạt 7,4 tấn/ha, chịu thâm canh
- Nguyên liệu búp tươi chế biến chè xanh đạt chất lượng tốt, ngoại hình đẹp hương thơm đặc trưng, hương hoa, chất lượng ổn định qua các thời vụ Cĩ khả năng chế biến chè Ơlong cĩ hương thơm, vị dịu, đậm cĩ hậu Khả năng chống chịu sâu bệnh khá, dịng PH10 dễ giâm cành, cĩ tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn cao đạt 80,0% cây xuất vườn
Giống chè PH12: Giống vơ tính của Việt Nam, được Viện nghiên cứu chè chọn lọc từ tập đồn chè shan rừng Suối Giàng - Yên Bái - Việt Nam, được BNN&PTNT cơng nhận là giống sản xuất thử năm 2010
Lá lớn cĩ màu xanh đậm, Búp chè cĩ nhiều lơng tuyết trắng Cây chè sinh trưởng khỏe, khả năng chống chịu sâu bệnh khá
Chất lượng chè xanh, chè đen đạt loại khá cĩ hương vị đậm đà, cĩ hậu đặc trưng của hương vị chè Shan và sản phẩm chè đen cĩ vị dịu ngọt
Thích ứng các vùng chè miền núi phía Bắc cĩ độ cao so với mặt nước biên trên 600m
Trang 33Giống chè PH14: Giống vô tắnh của Việt Nam, ựược Viện nghiên cứu chè chọn lọc từ tập ựoàn chè shan tại xã Thượng Sơn - Hà Giang - Việt Nam, ựược BNN&PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2010
đặc ựiểm có lá màu xanh, búp non xanh phớt tắm có nhiều lông tuyết Khả năng chống chịu sâu bệnh khá, riêng ựối với nhện ựỏ bị gây hại nặng
Chất lượng chè xanh chè ựen ựạt loại khá, vị ựậm có hậu ựặc trưng của sản phẩm chè Shan, chè ựen có vị ngọt dịu
được trồng tại các tỉnh miền núi phắa Bắc có ựộ cao trên 600m
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Túi PE ựể ựóng bầu có kắch thước 9cm (nửa chu vi) x 16cm (chiều cao) Túi hàn ựáy và ựục 6 lỗ
- Phân ựạm urê (46% N), supe lân Lâm Thao (16,5% P2O5), Kali sunfat (60% K2O)
- Thuốc trừ sâu, bệnh (khi cần)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2013 ựến tháng 9/2014
3.2.2 địa ựiểm nghiên cứu
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè Ờ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phắa Bắc Ờ xã Phú Hộ - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
3.3 Nội dung nghiên cứu
- đánh giá khả năng sản xuất hom của các dòng, giống chè
- đánh giá ảnh hưởng của mật ựộ ựể hom ựến sản lượng và chất lượng hom giống
- đánh giá ảnh hưởng của thời gian nuôi hom ựến sản lượng và chất lượng hom giống
- đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cành giâm các dòng, giống chè
- đánh giá hiệu quả kinh tế của kỹ thuật giâm cành cho các dòng, giống chè
Trang 343.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trắ thắ nghiệm
Thắ nghiệm 1: đánh giá khả năng sản xuất hom của các dòng, giống chè
Gồm 6 công thức, như sau:
Trang 35tích thí nghiệm: 1.800 m2 Thí nghiệm ñược bố trí trên cùng khu, các chế ñộ chăm sóc cho từng thí nghiệm như nhau
- Các công thức thí nghiệm cho từng giống:
Công thức Số cành nuôi hom (cành/ cây)
Trang 36- Các công thức thí nghiệm cho từng giống
Công thức Thời gian nuôi hom (ngày)
Trang 37Thí nghiệm ñược bố trí 3 lần nhắc lại theo kiểu bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh Mỗi dòng, giống cắm 900 hom/3 lần nhắc lại (300 hom/1 lần nhắc) Hom thí nghiệm là loại hom bánh tẻ Sơ ñồ thí nghiệm 4
Hàng bảo vệ
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu theo quy phạm QCVN 01 – 124: 2013/BNNPTNT
* Các chỉ tiêu theo dõi cho thí nghiệm 1, 2 , 3
+ Số cành/cây: Mỗi công thức chọn 05 cây tại 5 ñiểm theo phương pháp ñường chéo ðếm số cành nuôi hom trên mỗi cây rồi tính trung bình
+ Số hom/cành: ðếm số hom trên tổng số 100 cành rồi tính trung bình số hom/cành
+ Số hom/cây = Số cành trung bình/cây x số hom trung bình/cành
+ Sản lượng hom: Cân tổng số hom tiêu chuẩn thực tế ñạt ñược trên 1 ô thí nghiệm, quy ra sản lượng hom/ha
+ Xác ñịnh hom A: Chiều dài hom 3,5-4 cm, ñường kính 2,5-3,0 mm, ñộ dài mầm nách ≤ 5 mm
+ Xác ñịnh hom B: Chiều dài hom 3,5- 4 cm, ñường kính 2,0- 2,5 mm, ñộ dài mầm nách ≥10 mm
+ Tỷ lệ các loại hom: ðếm số hom xanh, hom bánh tẻ, hom nâu trên 1kg hom/1 giống
Trang 38* Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 4
+ Tỷ lệ ra mô sẹo (%):
Thời ñiểm theo dõi: Sau khi cắm hom, cứ 15 ngày theo dõi 01 lần cho ñến khi
ra rễ Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp ñường chéo 5 ñiểm Mỗi ñiểm nhổ lấy 5 hom ñể quan sát
ðếm số hom ra mô sẹo/số hom theo dõi
+ Tỷ lệ nảy mầm của hom giâm (%):
Thời ñiểm theo dõi: Sau khi cắm hom 45 ngày, theo dõi 15 ngày 01 lần cho ñến khi hom ñược 130 ngày ðếm toàn bộ số hom nảy mầm trên từng ô thí nghiệm
Tỷ lệ nảy mầm (%) =
Tổng số hom nảy mầm
x 100%
Tổng số hom theo dõi
+ Tỷ lệ sống của cây con:
ðếm toàn bộ số hom sống trong ô thí nghiệm (300hom/ô)
Thời ñiểm theo dõi: Theo dõi ñến 60 ngày sau khi cắm hom, 15 ngày theo dõi 1 lần
Công thức tính:
Tổng số hom sống
Tỷ lệ sống (%) = x 100%
Tổng số hom quan sát
Trang 39+ Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con
Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp ựường chéo 5 ựiểm, tại mỗi ựiểm lấy 5 cây ựể quan sát, theo dõi Tắnh trị số trung bình
- Chiều cao cây con vườn ươm (cm): ựo từ nách lá mẹ ựến ựỉnh sinh trưởng của cây chè, khi cây con ựủ tiêu chuẩn xuất vườn (8 tháng sau giâm)
- Số lá thật trên cây (lá): ựếm tổng số lá trên cây
- đường kắnh gốc (cm): dùng thước kẹp ựo cách gốc 1cm đường kắnh gốc là giá trị trung bình của các lần ựo
- Khối lượng tươi và khối lượng khô của cây chè trước khi xuất vườn, rửa sạch ựất cân khối lượng tươi của phần thân lá và phần rễ riêng Sau sấy khô ựến khối lượng không ựổi ựể cân riêng khối lượng thân lá khô và rễ khô đơn vị tắnh g/ cây
- Tỷ lệ xuất vườn (%): đếm trực tiếp số cây ựủ tiêu chuẩn xuất vườn
Công thức tắnh:
Tổng số cây ựủ tiêu chuẩn xuất vườn
Tỷ lệ cây xuất vườn (%) = x 100% Tổng số hom cắm
- đánh giá mức ựộ bệnh hại: nhẹ (+), Trung bình (++), nặng (++++)
+ Các chỉ tiêu tắnh ựến hiệu quả kinh tế
- Các chi phắ ựầu vào
- Giá thành cây con
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất hom của các dòng, giống
3.1.1 đánh giá khả năng sản xuất hom
Cây chè cũng như một số loại cây trồng khác có khả năng nhân giống theo hai hình thức: Nhân giống hữu tắnh và nhân giống vô tắnh Trong các hình thức nhân giống vô tắnh thì hình thức nhân giống khả thi nhất là giâm cành Khi sử dụng hom chè có chiều dài 4,5 - 5 cm trên ựó có 1 lá mẹ và 1 mắt mầm giâm vào một túi bầu, khi ựảm bảo những yêu cầu về ẩm ựộ, ánh sáng và dinh dưỡng sau một thời gian nhất ựịnh sẽ tạo thành một cây chè hoàn chỉnh Như vậy với hình thức nhân giống này hệ số nhân giống phụ thuộc vào khả năng sản xuất hom của các giống Do ựặc ựiểm sinh trưởng của từng giống khác nhau mà khả năng cho hom của các giống cũng khác nhau Khả năng này phụ thuộc vào sinh trưởng của cây mẹ, ựiều kiện chăm sóc cũng như ựiều kiện ngoại cảnh Khi trên cây chè ở lứa búp chắnh, tiến hành hái tỉa những búp sinh trưởng kém ựể lại những búp sinh trưởng tốt ựể nuôi hom với thời gian 3,5 tháng Khi ựó cành sẽ có 7 Ờ 8 lá thật, cành hom hóa nâu 2/3 thì tiến hành cắt ựể giâm gọi là cành nuôi hom
Bảng 3.1: Khả năng sản xuất hom của các dòng, giống Chỉ tiêu
Dòng, Giống
Số cành/cây (cành)
Số hom/cành (hom)
Số hom/cây (hom)
Sản lượng hom/ha (triệu hom)