Trên những chiếc xe hiện đại ngày nay, ngoài các hệ thống điện chiếu sáng còn rất nhiều các hệ thống điện rất hiện đại phục vụ cho nhu cầu giải trí: Hệ thống âm thanh, CD, Radio…, hệ thố
Trang 1MỤC LỤC
1 Mục đích và ý nghĩa đề tài 3
2 Tổng quan 4
2.1 Tổng quan về hệ thống cung cấp 4
2.1.1 Công dụng, phân loại, yêu cầu 4
2.1.2 Những thông số cơ bản của hệ thống cung cấp 5
2.1.3 Các bộ phận cơ bản của hệ thống cung cấp 6
2.1.3.3 Bộ chỉnh lưu 19
2.2 Giới thiệu chung về xe chọn tham khảo 23
2.2.1 Sơ đồ tổng thể và các thông số kỹ thuật của xe Toyota Fortuner 2.5G 23
2.2.2 Các hệ thống cơ bản trên xe Toyota Fortuner 2.5G 24
3 Tính toán hệ thống cung cấp 31
3.1 Chọn sơ đồ hệ thống cung cấp 31
3.2 Tính toán hệ thống cung cấp 32
3.2.1 Tính toán công suất máy phát 34
3.2.2 Tính toán kích thước dây của mạch phụ tải 36
3.3 Kết cấu một số cụm chi tiết chính trên hệ thống cung cấp thiết kế 41
3.3.1 Ắc qui 41
3.3.2 Máy phát 41
4 Các mạch cơ bản của hệ thống cung cấp 44
4.1 Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu 44
4.1.1 Hệ thống chiếu sáng 45
4.2 Hệ thống thông tin và hiển thị trên xe 53
4.2.1 Hệ thống thông tin 53
4.2.2 Hệ thống hiển thị và đo đạc 56
4.3 Hệ thống an toàn 60
4.3.1 Hệ thống phanh chống bó cứng ABS 60
4.3.1 Hệ thống túi khí SRS 65
Trang 24.4.1 Hệ thống điều hòa 67
4.4.2 Hệ thống sấy kính 70
4.4.3 Hệ thống gạt nước và rửa kính 71
4.4.4 Hệ thống nâng hạ kính 73
4.4.5 Hệ thống điều khiển ghế điện 74
5 Chuẩn đoán hư hỏng và cách khắc phục 74
5.1 Các hư hỏng và biện pháp khắc phục trong hệ thống cung cấp 74
5.1.1 Đèn báo nạp hoạt động không bình thường 76
5.1.2 Ắc quy yếu, hết điện 77
5.1.3 Ắc quy bị nạp quá mức 77
5.1.4 Tiếng ồn khác thường 77
5.2 Các hư hỏng và biện pháp khắc phục trong hệ thống chiếu sáng 78
5.3 Các hư hỏng và biện pháp khắc phục trong hệ thống tín hiệu 81
6 Kết luận 784
7 Tài liệu tham khảo 785
Trang 31 Mục đích và ý nghĩa đề tài
Ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão thì những ứng
dụng công nghệ tiên tiến trên ôtô ngày càng nhiều Trong đó không thể thiếu những
thiết bị tiện nghi trên xe, nhu cầu sử dụng xe hơi ngày càng khắt khe hơn người ta
ngày càng quan tâm đến những chiếc xe được trang bị các hệ thống hiện đại, mà
trên đó không thể thiếu được các thiết bị điện, điện tử Ngược trở lại những năm
1950 và sớm hơn nữa, xe hơi chỉ được trang bị ắc-quy 6V và bộ sạc điện áp 7V Dĩ
nhiên, những chiếc xe cổ này cũng không cần nhiều điện năng ngoài việc đánh lửa
hay vài bóng đèn thắp sáng Giữa thập kỷ 50, việc chuyển sang hệ thống điện 12V
mang lại giúp các nhà sản xuất có thể sử dụng các dây điện nhỏ hơn và đồng thời
kéo theo việc sinh ra nhiều tiện nghi dùng điện cho xe hơi Trên những chiếc xe
hiện đại ngày nay, ngoài các hệ thống điện chiếu sáng còn rất nhiều các hệ thống
điện rất hiện đại phục vụ cho nhu cầu giải trí: Hệ thống âm thanh, CD, Radio…, hệ
thống an toàn trên xe: ABS, hệ thống chống trộm, hệ thống túi khí an toàn, hệ thống
kiểm soát động cơ,…Các hệ thống hiện đại này đã nâng giá trị của ôtô và con người
không chỉ dừng ở đó, các kỹ sư ôtô còn có những ước mơ lớn hơn là làm sao để
những chiếc xe thật sự thân thiện với người sử dụng, đến lúc đó khi ngồi trên xe ta
sẽ có cảm giác thật sự thoải mái, giảm đến mức tối thiểu các thao tác của người lái
xe, mọi hoạt động của xe sẽ được kiểm soát và điều chỉnh một cách hợp lý nhất
Để có được những chiếc xe hiện đại và tiện nghi như vậy cần rất nhiều các
thiết bị điều khiển, những thiết bị này có thể đã được lập trình sẵn hoặc không Tuy
nhiên chúng cùng có một đặc điểm chung là phải sử dụng nguồn điện trên ô tô,
nguồn điện này được cung cấp bởi ăcquy và máy phát
Với những ý nghĩa trên, em đã chọn đề tài thiết kế hệ thống cung cấp điện
trên ô tô nhằm cung cố lại toàn bộ những kiến thức đã học, cũng như áp dụng những
kiến thức đã học vào công việc tính toán một hệ thống điện thực tế
Trang 42 Tổng quan
2.1 Tổng quan về hệ thống cung cấp
Hình 2 – 1 Sơ đồ hệ thống cung cấp điện tổng quát
2.1.1 Công dụng, phân loại, yêu cầu
a) Công dụng
Trên ô tô, người ta trang bị các thiết bị điện, các hệ thống( như điều hòa
không khí, hệ thống thông tin, hệ thống chiếu sáng…) để đảm bảo tính tiện nghi
cũng như tính an toàn khi sử dụng Để các thiết bị, hệ thống này hoạt động, cần
cung cung cấp cho chúng một lượng điện năng Vì vậy cần phải có một hệ thống
cung cấp để cung cấp năng lượng điện cho các phụ tải với một hiệu điện thế ổn định
ở mọi điều kiện làm việc của ôtô máy kéo
Để cung cấp năng lượng cho các phụ tải trên ô tô, cần phải có bộ phận tạo ra
nguồn năng lượng có ích Nguồn năng lượng này được tạo ra từ mát phát điện trên ô
tô Khi động cơ hoạt động, máy phát cung cấp điện cho các phụ tải và nạp điện cho
acquy Để đảm bảo toàn bộ hệ thống hoạt động một cách hiệu quả, an toàn Năng
lượng đầu ra của máy phát và năng lượng yêu cầu cho các tải điện phải thích hợp
với nhau
b) Phân loại
Trong hệ thống điện ô tô hiện nay thường sử dụng ba loại máy phát xoay chiều
sau:
Trang 5- Máy phát điện xoay chiều kích thích bằng nam châm vĩnh cửu
- Máy phát điện xoay chiều kích thích bằng điện từ có vòng tiếp điện, sử
dụng trên các ô tô
- Máy phát điện xoay chiều kích thích bằng điện từ không có vòng tiếp điện,
thường sử dụng chủ yếu trên máy kéo và các xe chuyên dụng
c) Yêu cầu
- Để đảm bảo những điều kiện làm việc đặc biệt trên động cơ ô tô máy phát
điện phải thoả mãn những yêu cầu sau:
- Máy phát luôn tạo ra một hiệu điện áp ổn định (đơn 13,8V – 14.2V đối với
hệ thống điện 14V) trong mọi chế độ làm việc của phụ tải
- Có công suất và độ tin cậy cao, chịu đựng được sự rung lắc, bụi bẫn, hơi
dầu máy, hơi nhiên liệu và do ảnh hưởng bởi nhiệt độ khá cao của động cơ
- Có công suất cao kích thước và trọng lượng nhỏ gọn Đặc biệt giá thành
thấp
- Việc chăm sóc và bảo dưỡng trong quá trình sử dụng càng ít càng tốt
- Đảm bảo thời gian làm việc lâu dài
2.1.2 Những thông số cơ bản của hệ thống cung cấp
- Điện áp định mức: Phải bảo đảm Uđm = 14V đối với những xe sử dụng hệ
thống điện 12V, Uđm = 28V đối với những xe sử dụng hệ thống điện 24V
- Công suất máy phát: Phải đảm bảo cung cấp điện cho tất cả các tải điện trên
xe hoạt động Thông thường, công suất của các máy phát trên ôtô hiện nay vào
khoảng Pmf = 700 – 1500W
- Dòng điện cực đại: Là dòng điện lớn nhất mà máy phát có thể cung cấp
Thông thường Imax = 70 – 140A
- Tốc độ cực tiểu và tốc độ cực đại của máy phát: nmax, nmin phụ thuộc vào tốc
độ của động cơ đốt trong
min i
Trong đó: i: tỉ số truyền ( i = 1,5 - 2) Hiện nay trên xe đời mới sử dụng máy
phát cao tốc nên tỉ số truyền i cao hơn
ni: tốc độ cầm chừng của động cơ
Trang 6- Nhiệt độ cực đại của máy phát tomax : Là nhiệt độ tối đa mà máy phát cĩ thể
điện thực hiện chức năng của một thiết bị chuyển đổi hóa năng thành điện năng
và ngược lại Đa số ắc qui khởi động là loại ắc qui chì – axit Đặc điểm của loại
ắc qui nêu trên là có thể tạo ra dòng điện có cường độ lớn, trong khoảng thời
gian ngắn (510s), có khả năng cung cấp dòng điện lớn (200800A) mà độ sụt
thế bên trong nhỏ, thích hợp để cung cấp điện cho máy khởi động để khởi động
động cơ
Ắc qui khởi động còn cung cấp điện cho các tải điện quan trọng khác
trong hệ thống điện, cung cấp từng phần hoặc toàn bộ trong trường hợp động cơ
chưa làm việc hoặc đã làm việc mà máy phát điện chưa phát đủ công suất (động
cơ đang làm việc ở chế độ số vòng quay thấp): cung cấp điện cho đèn đậu
(parking lights), radio cassette, CD, các bộ nhớ (đồng hồ, hộp điều khiển…), hệ
thống báo động…
Ngoài ra, ắc qui còn đóng vai trò bộ lọc và ổn định điện thế trong hệ
thống điện ô tô khi điện áp máy phát dao động
Điện áp cung cấp của ắc qui là 6V, 12V hoặc 24V Điện áp accu thường là
12V đối với xe du lịch hoặc 24V cho xe tải Muốn điện áp cao hơn ta đấu nối tiếp
các accu 12V lại với nhau
Trên ôtô có thể sử dụng hai loại Ắc qui để khởi động: Ắc qui axit và Ắc
qui kiềm Nhưng thông dụng nhất từ trước đến nay vẫn là accu axit, vì so với
accu kiềm nó có sức điện động của mỗi cặp bản cực cao hơn, có điện trở trong
nhỏ và đảm bảo chế độ khởi động tốt, mặc dù accu kiềm cũng có khá nhiều ưu
điểm
Trang 7Ắc qui axit bao gồm vỏ bình, có các ngăn riêng, thường là ba ngăn hoặc 6
ngăn tùy theo loại ắc qui 6V hay 12V
Trong mỗi ngăn đặt khối bản cực có hai loại bản cực: bản dương và bản
âm Các tấm bản cực được ghép song song và xen kẽ nhau, ngăn cách với nhau
bằng các tấm ngăn Mỗi ngăn như vậy được coi là một ắc qui đơn Các ắc qui đơn
được nối với nhau bằng các cầu nối và tạo thành bình ắc qui Ngăn đầu và ngăn
cuối có hai đầu tự do gọi là các đầu cực của ắc qui
Dung dịch điện phân trong ắc qui là axit sunfuric, được chứa trong từng
ngăn theo mức qui định thường không ngập các bản cực quá 10 15 mm.
Vỏ ắc qui được chế tạo bằng các loại nhựa ebônit hoặc cao su cứng, có độ bền và
khả năng chịu được axit cao Bên trong vỏ được ngăn thành các khoang riêng
biệt, ở đáy có sống đỡ khối bản cực tạo thành khoảng trống (giữa đáy bình và
khối bản cực) nhằm chống việc chập mạch do chất tác dụng rơi xuống đáy trong
quá trình sử dụng
Khung của các tấm bản cực được chế tạo bằng hợp kim chì – stibi (Sb) với
thành phần 87 95% Pb + 5 13% Sb Các lưới của bản cực dương được chế tạo
từ hợp kim Pb-Sb có pha thêm 1,3%Sb + 0,2% Kali và được phủ bởi lớp bột
dioxit chì Pb0 2 ở dạng xốp tạo thành bản cực dương Các lưới của bản cực âm có
pha 0,2% Ca + 0,1% Cu và được phủ bởi bột chì Tấm ngăn giữa hai bản cực làm
Trang 8bằng nhựa PVC và sợi thủy tinh có tác dụng chống chập mạch giữa các bản cực
dương và âm, nhưng cho axit đi qua được
Dung dịch điện phân là dung dịch axid sulfuric H 2 SO 4 có nồng độ 1,22
1,27 g/cm 3 , hoặc 1,29 1,31g/cm 3 nếu ở vùng khí hậu lạnh Nồng độ dung dịch
quá cao sẽ làm hỏng nhanh các tấm ngăn, rụng bản cực, các bản cực dễ bị sunfat
hóa, khiến tuổi thọ của ắc qui giảm Nồng độ quá thấp làm điện thế ắc qui giảm
b) Các quá trình điện hóa trong accu
Trong ắc qui thường xảy ra hai quá trình hóa học thuận nghịch đặc trưng
là quá trình nạp và phóng điện, và được thể hiện dưới dạng phương trình sau:
PbO 2 + Pb + 2H 2 SO 4 2PbSO 4 + 2H 2 O
Trong quá trình phóng điện, hai bản cực từ PbO 2 và Pb biến thành PbSO 4
Như vậy khi phóng điện, axit sunfuric bị hấp thụ để tạo thành sunfat chì, còn
nước được tạo ra, do đó, nồng độ dung dịch H 2 SO 4 giảm
Hình 2 – 3 Cấu tạo chi tiết bản cực
1 Bản cực âm; 2 Bản cực dương; 3 Vấu cực; 4 Khối bản cực âm; 5 Khối
Trang 9Quá trình phóng điện
điện phân
Bản cực dương
Quá trình nạp điện
điện phân
dương Chất đượïc tạo ra cuối
quá trình phóng
Quá trình ion hóa Pb ++ , SO 4 - - 2H + , 4OH - , 2H + SO 4 - - , Pb ++
Pb ++++
Sự thay đổi nồng độ dung dịch điện phân trong quá trình phóng và nạp là
một trong những dấu hiệu để xác định mức phóng điện của ắc qui trong sử dụng
2.1.3.2 Máy phát điện
a) Cơng dụng
Máy phát là nguồn điện chính trên ơ tơ máy kéo, nĩ cĩ nhiệm vụ:
+ Cung cấp điện cho tất cả các phụ tải
Trang 10-b) Phân loại
- Máy phát trên ô tô theo tính chất dòng điện phát ra có thể chia làm hai loại chính:
+ Máy phát điện một chiều
+ Máy phát điện xoay chiều
- Máy phát điện một chiều theo tính chất điều chỉnh chia ra:
+ Loại điều chỉnh trong (bằng chổi điện thứ ba)
+ Loại điều chỉnh ngoài (bằng bộ điều chỉnh điện kèm theo)
- Máy phát điện xoay chiều theo phương pháp kích thích chia ra:
+ Loại kích thích bằng nam châm vĩnh cửu
+ Loại kích thích kiểu điện từ (bằng nam châm điện)
c) Yêu cầu
Máy phát điện trên ô tô máy kéo làm việc trong những điều kiện đặc biệt, vì
thế chúng phải đáp ứng được các yêu cầu chính sau:
- Chịu được rung sóc bụi bẩn và làm việc tin cậy trong môi trường có nhiệt
độ cao, có nhiều hơi dầu mỡ nhiên liệu
- Tuổi thọ cao
- Kích thước và trọng lượng nhỏ, giá thành thấp
- So với máy phát một chiều thì máy phát xoay chiều có nhiều ưu điểm hơn,
vì nó không có vòng đổi điện và cuộn dây rô to đơn giản hơn
d) Cấu tạo máy phát điện xoay chiều
Trên ô tô sử dụng hai loại máy phát điện xoay chiều là máy phát xoay chiều
kích thích bằng nam châm vĩnh cửu và máy phát xoay chiều kích thích kiểu điện từ
(bằng nam châm điện)
Các máy phát kích thích bằng nam châm vĩnh cửu, do công suất hạn chế nên
chủ yếu chỉ được sử dụng trên xe máy và máy kéo Gần đây, kỹ thuật đã chế tạo
được những hợp kim từ mới có chất lượng cao, nên loại máy phát này bắt đầu có
khả năng sử dụng được trên ô tô
Máy phát kích thích bằng nam châm vĩnh cửu có loại một pha và ba pha Loại
ba pha công suất có thể đạt tới 400VA hoặc lớn hơn
Trang 11Hình 2 – 5 Hệ thống từ của máy phát với nam châm hình sao
1-Stato; 2-Rô to nam châm
Máy phát nam châm vĩnh cửu có nhiều ưu điểm hơn hẳn các máy phát kích
thích kiểu điện từ, như: làm việc tin cậy, kết cấu đơn giản, không có cuộn dây quay,
hiệu suất cao, ít nóng, mức nhiễu xạ vô tuyến thấp
Nhưng chúng cũng có một số nhược điểm quan trọng là: khó điều chỉnh thế
hiệu, công suất hạn chế, giá thành cao, trọng lượng lớn hơn loại kích thích kiểu điện
từ cùng công suất Ngoài ra từ thông của nó còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng
hợp kim và kim loại chế tạo nam châm
+ Máy phát xoay chiều kích thích bằng nam châm vĩnh cửu:
Cấu tạo của máy phát điện xoay chiều kích thích bằng nam châm vĩnh cửu
gồm hai phần chính là rôto và stato
Rôto: Phần lớn các máy phát đang được sử dụng hiện nay đều có nam châm
quay, tức nam châm là rôto Các máy phát loại này khác nhau chủ yếu ở kết cấu của
rôto và có thể chia ra một số loại chính:
- Rôto nam châm hình trụ:
Trang 12- Rôto nam châm hình móng:
Hình 2 – 6 Roto nam châm hình móng Đơn giản nhất là loại rôto hình trụ: Nó có ưu điểm là chế tạo đơn giản, nhưng
nhược điểm là hiệu suất sử dụng nam châm thấp Vì thế chúng chỉ được sử dụng ở
các máy phát cỡ nhỏ công suất 100 VA
Thông dụng nhất là loại rôto nam châm hình sao: Loại này có ưu điểm là hệ
số sử dụng vật liệu lớn Số cực nam châm thường là sáu, vì nếu tăng số cực lên nữa
thì hệ số sử dụng vật liệu lại kém đi
Nhược điểm của rôto nam châm hình sao là khó nạp từ cho rôto, cường độ từ
trường và từ cảm yếu, độ bền cơ học thấp
Rôto nam châm hình sao được sử dụng chủ yếu trong các máy phát điện của
máy kéo với công suất giới hạn khoảng 180 VA
Rôto nam châm hình móng ra đời khi xuất hiện các vật liệu từ mới có lực từ
kháng lớn, cho phép chế tạo các nam châm mạnh
Nam châm cơ dạng hình trụ rỗng được nạp từ theo chiều trục Hai đầu của nó
đặt hai tấm bích bằng thép ít các bon, có các vấu cực nhô ra như những chiếc móng
Các móng cực của hai bích được bố trí xen kẽ nhau Do chịu ảnh hưởng của hai cực
từ khác dấu ở hai mặt đầu của nam châm, nên các móng cực của mỗi tấm bích cũng
mang cực tính của cực từ tiếp xúc với nó Như vậy các móng của hai tấm bích trở
thành những cực khác tên xen kẽ nhau của rôto
Để tránh mất mát từ, thường thường trục rôto được chế tạo bằng thép không
dẫn từ hay nam châm được đặt lên trục qua một ống lót không dẫn từ
Rôto hình móng có một loạt các ưu điểm, như:
- Nạp từ có thể tiến hành sau lắp ghép;
- Từ trường phân bố đều hơn;
- Tốc độ vòng có thể cho phép tới 100 m/s và cao hơn;
Trang 13- Có thể lắp đồng thời một số nam châm nhỏ hơn lên trục theo phương
án đặc biệt để đảm bảo từ thông tổng cần thiết Do đó giảm được kích thướcđường kính của nam châm hoặc tăng công suất của máy phát
Stato: của máy phát là một khối thép từ hình trụ rỗng, ghép từ các lá thép
điện kỹ thuật được cách điện với nhau bằng sơn cách điện để giảm dòng fucô Mặt
trong của stato có các vấu cực để quấn các cuộn dây phần ứng
+ Máy phát xoay chiều kích thích kiểu điện từ:
Máy phát điện xoay chiều kích thích kiểu điện từ dùng cho ô tô máy kéo có hai
loại:
- Loại có vòng tiếp điện;
- Loại không có vòng tiếp điện
Loại có vòng tiếp điện: Cấu tạo của máy phát điện loại có vòng tiếp điện
gồm những bộ phận chính là: rôto, stato, các nắp, puli, cánh quạt và bộ chỉnh lưu
(bộ chỉnh lưư có thể tính hoặc không tính vào thành phần cấu tạo của máy phát, tuỳ
theo nó được đặt trong máy phát hay riêng biệt bên ngoài)
Hình 2 – 7 Máy phát xoay chiều loại có vòng tiếp điểm
1-Stato và cuộn dây; 2-Rô to; 3-Cuộn kích thích; 4-Quạt gió; 5-Puli; 6,7-Nắp; 8-Bộ
chỉnh lưu; 9-Vòng tiếp điểm; 10-Chổi điện và giá đỡ
Loại không có vòng tiếp điện: Về những phần kết cấu chính, máy phát điện loại
không có vòng tiếp điện nói chung không có gì khác so với loại có vòng tiếp điện
Nó chỉ khác ở chỗ: với mục đích tăng tuổi thọ và độ tin cậy của máy phát, người ta
Trang 14loại bỏ các vòng tiếp điện và chổi điện hay hư hỏng, bằng cách cho các cuộn dây
kích thích đứng yên
Do những ưu điểm trên, máy phát điện loại này được sử dụng ngày càng
nhiều trên các ôtô làm việc trong điều kiện nặng nhọc và trên các máy kéo nông
nghiệp
Từ các sơ đồ ta thấy: mọi bộ phận của máy phát không có vòng tiếp điện
đều có kết cấu tương tự như ở máy phát điện loại có vòng tiếp điện Chỉ có điểm
khác biệt là: cuộn dây kích thích 3 được đặt ngay trên phần ống nhô ra của nắp sau
hay lắp cố định trên đĩa 6 bắt chặt vào khối thép từ của stato Tức là cuộn dây kích
thích trở thành một bộ phận của stato và điện được dẫn avfo cuộn kích thích qua các
đầu nối cố định trên stato
Hình 2 – 8 Sơ đồ máy phát điện xoay chiều không có vòng tiếp điện
1-Stato; 2-Vòng không dẫn từ; 3-Cuộn dây kích thích cố định; 4,5-Các móng cực;
6-Đĩa lắp cuộn dây kích thích
So với các máy phát loại có vòng tiếp điện, máy phát loại không có vòng tiếp
điện nói chung có khối lượng và kích thước lớn hơn Tuy vậy, độ tin cậy cao và tuổi
thọ lớn hoàn toàn có thể bù lại được cho những nhược điểm trên của chúng
2.1.3.2 Bộ điều chỉnh
a) Công dụng
Các máy phát điện ô tô làm việc trong điều kiện số vòng quay, phụ tải và chế
độ nhiệt luôn luôn thay đổi trong một giới hạn rộng Vì thế, để đảm bảo cho các
4
Trang 15trang thiết bị điện trên ôtô máy kéo làm việc được bình thường và bảo đảm an toàn
cho máy phát, thì phải có bộ điều chỉnh điện để:
Điều chỉnh thế hiệu và hạn chế cường độ dòng điện của máy phát;
Phân phối chế độ làm việc giữa ắc quy và máy phát điện (một chiều) hoặc
nối ngắt mạch giữa ắc quy và máy phát (xoay chiều)
Tuỳ theo loại máy phát sử dụng trên ô tô mà bộ điều chỉnh điện kèm theo nó
có thể gồm có một hay một số bộ phận sau đây:
Rơ le điều chỉnh thế hiệu: làm nhiệm vụ giữ cho thế hiệu máy phát ổn định,
không sai lệch khỏi giá trị định mức quá giới hạn cho phép (3% 5%)
Khi số vòng quay của máy phát thay đổi, người ta đã xác định được là: nếu
thế hiệu máy phát tăng lên 10% 12% so với định mức, thì thời hạn phục vụ của ắc
quy và các bóng đèn sẽ giảm đi từ 2 2,5 lần
Rơ le hạn chế dòng điện: làm nhiệm vụ của bộ phận an toàn, bảo vệ cho máy
phát không bị quá tải bởi dòng điện quá lớn, có thể gây cháy hỏng cuộn dây và cách
điện của nó
Rơ le dòng điện ngược: làm nhiệm vụ phân phối chế độ làm việc giữa ắc quy
và máy phát một chiều: nối máy phát vào mạch phụ tải khi thế hiệu của nó đạt giá
trị lớn hơn thế hiệu của ắc quy mắc song song với nó và ngắt máy phát ra khi thế
hiệu của nó giảm xuống thấp hơn thế hiệu của ắc quy để tránh dòng điện ngược từ
ắc quy phóng lại làm cháy hỏng cuộn dây máy phát và có hại cho ắc quy
.Rơ le đống mạch: làm nhiệm vụ nối ắc quy với máy phát xoay chiều khi bật
khoá điện và ngược lại: để tránh dòng điện ngược từ ắc quy dò qua bộ chỉnh lưu và
các cuộn dây của máy phát khi máy phát không làm việc, làm ắc quy bị mất điện
dần
Đối với máy phát một chiều làm việc song song với ắc quy đòi hỏi phải sử
dụng ba loại rơ le là: rơ le điều chỉnh thế hiệu (RLĐCTH), rơ le hạn chế dòng điện
(RLHCDĐ) và rơ le dòng điện ngược (RLDĐN)
Trong thực tế, đôi khi người ta không làm RLHCDĐ riêng mà làm kết hợp
với RLĐCTH chung trong một kết cấu Trong trường hợp đó, rơ le kết hợp này
được gọi là RLĐCTH giảm dần (vì nó không đảm bảo giữ cho thế hiệu máy phát ổn
định, mà thế hiệu máy phát sẽ giảm dần khi Imf tăng) Thậm chí có trường hợp cả ba
loại rơ le trên được làm kết hợp chung trong một kết cấu
Trang 16Đối với các máy phát điện xoay chiều: do có bộ chỉnh lưu bán dẫn nên việc
sử dụng RLDĐN không cần thiết nữa, vì các điốt chỉnh lưu không cho dòng điện đi
ngược từ ắc quy sang máy phát RLHCDĐ cũng không cần thiết nữa, vì đa số các
máy phát xoay chiều có đặc tính tự hạn chế dòng lớn
Như vậy, đối với máy phát xoay chiều bộ điều chỉnh điện lúc này chỉ cần có
RLĐCTH và RL đóng mạch
b) Phân loại
Theo nguyên lý làm việc bộ điều chỉnh điện (ĐCĐ) được chia ra các loại:
+ Loại rung
+ Loại bán dẫn có tiếp điểm điều khiển
+ Loại bán dẫn không có tiếp điểm điều khiển
Theo số lượng rơ le, loại rung được chia ra:
+ Loại 1 rơ le
+ Loại 2 rơ le
+ Loại 3 rơ le
+ Loại 4 và loại 5 rơ le
Bộ ĐCĐ 4 rơ le được dùng trong trường hợp mạch kích thích của máy phát
được phân nhánh Lúc đó bộ ĐCĐ sẽ có 2 RLĐCTH tương ứng với các nhánh của
mạch kích thích
Trong trường hợp cả mạch tải điện của máy phát cũng được phân nhánh, thì
bộ ĐCĐ sẽ có thêm 1 rơ le nữa, tức là có 5 rơ le
c) Yêu cầu
Bộ điều chỉnh điện cần đáp ứng những yêu cầu sau:
+ Điều chỉnh chính xác
+Làm việc tin cậy, ổn định, chịu rung xóc tốt và tuổi thọ cao
+Kết cấu, điều chỉnh, bảo dưỡng và sửa chữa đơn giản
+Giá thành rẻ
d) Cấu tạo
+ Rờ le điều chỉnh thế hiệu loại rung: Cấu tạo gồm khung từ 2; lõi thép 1,
trên đó quấn cuộn dây từ hoá WU đặt dưới điện thế của máy phát (mắc song song
với nó); cần tiếp điểm 3 có thể quay quanh điểm tựa trên khung từ; tiếp điểm KK':
Trang 17trong đó K là má vít cố định được bắt cách điện với khung từ, còn K' là má vít động
được gắn trên cần tiếp điểm 3; lò xo (lx) có khuynh hướng giữ cho tiếp điểm K-K'
luôn luôn ở trạng thái đóng; điện trở phụ Rf mắc song song với KK'
Hình 2 – 9 Sơ đồ rơ le điều chỉnh thế hiệu loại rung a- Sơ đồ nguyên lí; b- Sơ đồ cấu tạo
+ Rơ le dòng điện ngược:
Hình 2 – 10 Sơ đồ bộ điều chỉnh điện PP-115
W l I
Rf Wkt
MF
Trang 18Rơ le cũng gồm khung từ, lõi thép, cần tiếp điểm, tiếp điểm và lò xo tương tự
nư ở RLĐCTH Nhưng có điểm khác là:
- Tiếp điểm ở đây bình thường (khi rơ le chưa làm việc) ở trạng thái mở;
- Trên lõi thép của RLDĐN có hai cuộn dây: cuộn từ hoá chính có nhiều
vòng và đường kính dây nhỏ mắc song song với máy phát gọi là cuộn đóng mạch
(Wđg) và cuộn từ hoá phụ gồm một số vòng dây với đường kính lớn, mắc nối tiếp
giữa ắc quy và máy phát ở mạch phụ tải
- Ở trạng thái không làm việc: tiếp điểm KK' (dưới tác dụng của lực lò xo)
mở, do đó tất cả các phụ tải đều dùng điện của ắc quy
- Sau khi khởi động động cơ: máy phát bắt đầu làm việc > trong cuộn dây
đóng mạch xuất hiện dòng điện Iđg từ hoá lõi thép của rơ le Số vòng quay và thế
hiệu của máy phát tăng dần làm Iđg tăng theo
- Khi thế hiệu máy phát đạt giá trị Uđg > Eaq (ứng với số vòng quay nđg): thì
lực từ hoá đủ lớn, thắng được lực lò xo hút cần tiếp điểm xuống làm tiếp điểm KK'
2
W l I
Rf Wkt
MF
Hình 2 – 11 Rơ le điều chỉnh thế hiệu giảm dần
a- Sơ đồ đấu dây; b- Đặc tính
Để bảo vệ cho máy phát khỏi quá tải trong những trường hợp như:
- Khi ắc quy bị phóng điện nhiều;
- Phụ tải quá lớn hoặc có những hư hỏng trong mạch điện
Trang 19Người ta dùng một cơ cấu điện từ phụ gọi là rơ le hạn chế dòng điện
(RLHCDĐ) Rơ le này tự động hạn chế, giữ cho dòng điện mà máy phát phát ra
không vượt quá giá trị cho phép
Cấu tạo: RLĐCTH giảm dần giống RLĐCTH đã khảo sát, chỉ khác ở chỗ:
trên lõi thép của rơ le có hai cuộn dây từ hoá: cuộn WU mắc song song và cuộn WI
mắc nối tiếp trong mạch phụ tải quấn cùng chiều với cuộn WU (hình 2.87)
2.1.3.3 Bộ chỉnh lưu
Bộ chỉnh lưu có nhiệm vụ biến đổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện
một chiều Bộ chỉnh lưu được áp dụng làm nguồn điện áp một chiều; làm nguồn
điện một chiều có điều khiển cấp cho các thiết bị mạ, thiết bị hàn một chiều ; nguồn
điện cho các truyền động động cơ điện một chiều, nguồn cung cấp cho mạch kích từ
của máy điện một chiều hoặc máy điện đồng bộ Bộ chỉnh lưu còn dùng để chuyển
đổi điện xoay chiều thành dạng một chiều để truyền tải đi xa
a) Bộ chỉnh lưu 6 diod
Hình 2 – 12 Bộ chỉnh lưu 6 diod
Để biến đổi dòng điện xoay chiều của máy phát sang dòng điện một chiều, ta
dùng bộ chỉnh lưu 6 diode, 8 diode hoặc 14 diode Đối với máy phát cócông suất
lớn (P > 1000 W), sự xuất hiện sóng đa hài bậc 3 trong thành phần của hiệu điện thế
pha do ảnh hưởng của từ trường các cuộn pha lên cuộn kích làm giảm công suất
máy phát
Trang 20b) Bộ chỉnh lưu 8 diod
Hình 2 – 13 Bộ chỉnh lưu 8 diod
Vì vậy người ta sử dụng cặp diode mắc từ dây trung hoà để tận dụng sóng đa
hài bậc 3, làm tăng công suất máy phát khoảng 10 – 15% (hình 2-11) Trong một số
máy phát, người ta còn sử dụng 3 diode nhỏ (diode trio) mắc từ các pha để cung cấp
cho cuộn kích đồng thời đóng ngắt đèn báo nạp
c) Bộ chỉnh lưu 14 diod
Hình 2 – 14 Sơ đồ rơ le điều chỉnh thế hiệu loại rung 1- Accu; 2- Cuộn kích (G); 3- Cuộn dây stator; 4- Diode chỉnh lưu (+);
5- Diode chỉnh lưu (-); 6- Diode trio; 7- Các diode công suất; 8- Diode chỉnh lưu
dòng trung hòa; 9- Tụ điện; 10- Đầu cuối của cuộn dây máy phát (W)
Hoạt động của bộ chỉnh lưu: Trên (hình 2-12) là sơ đồ của máy phát chỉnh lưu 3 pha
có bộ nắn dòng mắc theo sơ đồ nắn dòng 2 nửa chu kỳ, 3 pha Các cuộn dây stator
Trang 21được đấu dạng sao Với kiểu mắc này thì quan hệ giữa điện áp và cường độ dòng
điện trên dây và trên pha là:
U n = 3 UΦ và I n = IΦ
Ta giả thiết rằng tải của máy phát là điện trở thuần
Điện áp tức thời trên các pha A, B, C là:
Trang 22Ta cũng giả thiết là các diode mắc ở hướng thuận có điện trở Rt vô cùng
bé (Rt = 0) còn ở hướng ngược thì rất lớn (Rn = ∞)
Trên sơ đồ chỉnh lưu 3 pha này có 6 diode; 3 diode ở nhóm trên hay còn gọi
là các diode dương (VD1, VD3, VD5), có catod được nối với nhau; Nhóm dưới còn
gọi là các diode âm (VD2, VD4, VD6) có các anode được nối với nhau Ở hướng
dẫn điện, một diode nhóm trên dẫn điện khi anode của nó có điện thế cao hơn, còn ở
nhóm dưới diode dẫn có điện thế thấp hơn Vì vậy, ở một thời điểm bất kỳ đều có 2
diode hoạt động, một diode cực tính dương (phía trên) và một diode cực tính âm
(phía dưới) Mỗi diode sẽ cho dòng điện qua trong 1/3 chu kỳ (T/3)
Điện thế dây của máy phát được đưa lên bộ chỉnh lưu Điện áp chỉnh lưu
được xác định bởi các tung độ nằm giữa các đường cong trên và dưới (hình 2-13)
của điện áp pha UA, UB, UC Vì vậy, điện áp chỉnh lưu tức thời Umf sẽ thay đổi và
tần số xung động của điện áp chỉnh lưu lớn hơn tần số của điện áp pha 6 lần
Trang 232.2 Giới thiệu chung về xe chọn tham khảo
2.2.1 Sơ đồ tổng thể và các thông số kỹ thuật của xe Toyota Fortuner 2.5G
Trang 242.2.2 Các hệ thống cơ bản trên xe Toyota Fortuner 2.5G
2.2.2.1 Động cơ
Toyota Fortuner sử dụng động cơ 2KD-FTV là loại động cơ diêsel, 4 kỳ tăng
áp, phù hợp với các loại xe tính cơ động trên mọi địa hình Động cơ được điều
khiển điện tử bằng ECU động cơ ECU nhận các tín hiệu từ các cảm biến xử lý và
truyền tín hiệu điều khiển
Động cơ có 4 xilanh, bố trí thẳng hàng, dung tích công tác là 2492 cm3
Hình 2 – 17 Động cơ 2KD-FTV Động cơ sử dụng hệ thống cam kép tác dụng trực tiếp, gồm 16 xupap (mỗi
máy có 4 xupap, hai nạp và hai thải) Trục cam đặt trên nắp máy cho phép làm giảm
khối lượng các chi tiết trung gian chuyển động tịnh tiến (không có đũa đẩy) đảm
bảo hoạt động ổn định cho cơ cấu phân phối khí ngay cả tại số vòng quay cao Trục
cam được dẫn động bằng xích từ trục khuỷu
Hệ thống bôi trơn áp suất cưỡng bức hoàn toàn, tất cả dầu được đưa qua lọc
dầu và bộ làm mát dầu
Tua bin tăng áp (2KD) là loại gọn nhẹ, được làm mát bằng áo nước tại ổ bạc
giúp cải thiện tính năng nạp, van cửa xả sẽ điều khiển áp suất tăng áp của tua bin,
vận hành bằng cơ cấu cơ khí tùy vào áp suất của tua bin
Trang 25Bảng 2 – 2 Thông số kỹ thuật của động cơ
1 Số xylanh và cách bố trí - 4-xylanh thẳng hàng
16-xu páp DOHC, Dẫn động đai và bánh
Trang 26+ Cho phép hạn chế tốc độ dịch chuyển của đĩa ép khi đóng ly hợp đột ngột, nhờ
đó giảm được gíá trị tải trọng động
Bảng 2 – 3 Thông số kỹ thuật của Ly hợp
Hộp số này có kết cấu đơn giản, có 3 trục nhằm làm tăng độ cứng vững cho
trục thứ cấp, duy trì sự ăn khớp tốt nhất cho các cặp bánh răng lắp trên trục ngoài
ra nó còn có ưu điểm nổi bậc là cho phép tạo ra tỷ số truyền thẳng với hiệu suất cao
nhất (điều này có ý nghĩa rất lớn)
Quá trình sang số hoàn toàn do người lái quyết định nên chịu được tải trọng
nặng và tăng tốc tương đối nhanh
Trang 27Bảng 2-3 Thông số kỹ thuật của hộp số R151
2.2.2.3 Hệ thống treo
a) Hệ thống treo trước
Hình 2 – 20 Hệ thống treo trước
Hệ thống treo trước sử dụng cơ cấu độc lập loại chạc kép, với thanh cân bằng
làm tăng độ chắc chắn và độ êm, giúp điều khiển xe dễ dàng và thoải mái hơn Bộ
giảm chấn của cơ cấu này có những ưu điểm
Kết cấu mới gọn nhẹ do chỉ nối với thân xe bằng một điểm
Van điều khiển dầu giảm chấn tuyến tính nhiều lớp cho tính ổn định lái cao
Lực giảm chấn của van điều khiển tuyến tính được giữ không đổi ở tốc độ
thấp
Trang 28b) Hệ thống treo sau
Hệ thống treo sau sử dụng kiểu phụ thuộc 4 thanh liên kết lò xo trụ với đòn
ngang dạng thanh xoắn ETA có bạc cao su hiệu chỉnh độ chụm sau, với thanh cân
bằng vừa tạo khả năng lái thoải mái vừa đảm bảo tính chịu lực cao cho xe trong mọi
điều kiện, kết hợp ưu điểm của cả hệ thống treo độc lập lẫn hệ thống treo phụ thuộc
Hình 2-21 Hệ thống treo sau
2.2.2.4 Hệ thống lái
Hình 2 – 23 Sơ đồ hệ thống lái 1- Vô lăng; 2- Trục lái; 3- Các đăng; 4- Đường ống dầu hồi; 5- Đường
dầu đi; 6- Đai ốc dầu; 7- Cơ cấu lái; 8- Đường dầu nối giữa khoan phải
xylanh với van xoay; 9- Đường dầu nối giữa khoan phải xylanh với van
xoay; 10- Xylanh trợ lực; 11- Thanh kéo ngang; 12- Đòn quay đứng;
13- Khớp cầu; 14- Bình chứa dầu; 15- Bơm dầu;
4 5 1
7 8
9 10 11
15
12
13 3
6
Trang 29Lái có cấu tạo cho phép người lái thay đổi góc nghiêng của vành tay lái,
hoặc cho phép trụ lái chùm ngắn lại
Nguyên lý hoạt động và thông số kỹ thuật của hệ thống lái
Khi xe đi thẳng, vành tay lái ở vị trí trung gian chất lỏng từ bơm đến chạy vào
trong lõi và trở về bình dầu, thanh răng giữ nguyên vị trí giúp xe đi thẳng
Khi xe muốn thay đổi hướng qua phải hay trái thì nhờ van xoay ở cơ cấu lái sẻ
điều chỉnh lượng dầu đi qua khoan phải hay trái của xy lanh trợ lực làm cho thanh
răng dịch về bên trái đẩy bánh xe quay sang phải hay trái
Bảng 2 – 4 Thông số kỹ thuật hệ thống lái
Toyota Fortuner 2.5G bao gồm các hệ thống phanh sau:
- Hệ thống phanh chính (phanh chân): Phanh trước là phanh đĩa và phanh sau
là phanh guốc, hổ trợ hệ thống phanh ABS
Hình 2 – 24 Kết cấu phanh đĩa
5
2 1
Trang 30- Phanh dừng (phanh tay): Là phanh cơ khí tác dụng lên bánh sau
- Các cơ cấu phanh có cơ cấu điều chỉnh khe hở tự động
Bảng 2 – 5 Thông số kỹ thuật hệ thống phanh
4 Kích thước đĩa Rotor (D x T) mm 319 x 28
Trang 313 Tính toán hệ thống cung cấp
3.1 Phân tích chọn phương án thiết kế
Hiện nay trên ô tô có rát nhiếu loại máy phát khác nhau, các loại máy phát
một chiều được sử dụng chủ yếu trên các ô tô tải, trên các dòng xe du lịch và xe
khách người ta hay sử dụng các máy phát xoay chiều vì đặc điểm của máy phát
xoay chiều nhỏ gọn, hoạt động ổn định, … trên cơ sở đó, với đề tài là thiết kế hệ
thống cung cấp trên xe du lịch nên chọn phương án là sử dụng máy phát xoay chiều
cho hệ thống, sau đây là sơ đồ và nguyên lý hoạt động của mạch phương án này
Hình 3 – 1 Sơ đồ tổng mạch điện hệ thống cung cấp Nguyên lý hoạt động: Khi bật công tắc máy, thông qua chân IG, M-IC sẽ
cung cấp 1 hiệu điện thế đến cực B của Tr1 làm Tr1 dẫn, khi đó: dòng điện từ ắc qui
đến chân B →Wkt →mass Kích từ cho máy phát Dòng điện sinh ra được cung cấp
cho hệ thống, 1 phần được nạp ắc qui và cung cấp cho Wkt Khi số vòng quay n máy
phát tăng cao, hiệu điện thế tăng và điện áp đặt vào chân S tăng khi đó M-IC sẽ điều
khiển ngắt Tr1 → dòng điện trong cuộn Wkt giảm khiến điện áp máy phát giảm
theo→ M-IC sẽ điều khiển Tr1 mở trở lại Quá trình này lại lặp đi lặp lại Ngoài ra
M-IC còn điều khiển đèn báo nạp thông qua Tr2
Khóa di?n
ECU
D1
F E
Tr2
Tr2
Tr1 Wkt
1 3
IG
L S
M B
P
M - IC W3
W2
D2 D3 D4 D9
D8
Khóa điện
Trang 323.2 Tính toán hệ thống cung cấp
Như đã biết phụ tải trên ô tô bao gồm công suất của các phụ tải hoạt động
liên tục và các phụ tải hoạt động không liên tục, hệ thống cung cấp phải đảm bảo
cung cấp đủ công suất cho tất cả các phụ tải đó Ngoài những phụ tải hoat động liên
tục với công suất cố định như: Hệ thống đánh lửa, bơm nhiên liệu, hệ thống phun
nhiên liệu, hệ thống điều khiển Thì ta còn có các phụ tải hoạt động gián đoạn như:
các loại đèn báo đậu đổ xe, các thiết bị âm thanh, giải trí,… Các phụ tải này hoạt
động với mực độ khác nhau, tùy thuộc vào mức độ của người sử dụng, và môi
trường làm việc của nó, ví dụ như xe hoạt động vào ban đêm nhiều thì sẽ thường
xuyên sử dụng các loại đèn pha, đèn đậu đổ xe,… Để đơn giản trong việc tính toán
người ta đưa ra các hệ số sử dụng của các thiết bị trên xe như sau:
Bảng 3 – 1 Hệ số sử dụng của các phụ tải hoạt động không liên tục
STT Phụ tải hoạt động
gián đoạn Phân tích hệ số sử dụng
Hệ số sử dụng
1 Radio
Rất ít khi sử dụng khi xe hoạt động, chỉ dùng khi xe đi vào các khu vực bắt buộc bật Radio để nghe sự chỉ dẫn của khu vực đó
0,1
2 Đèn báo trên
Taplô
Sử dụng ít, các đèn chỉ sáng khi người lái xe nhấn nút điều khiển các đèn báo
0,5
4 Đèn đỗ xe Dùng khi xe đổ trong thời gian ngắn 0,1
5 Đèn cốt Dùng khi xe đi vào ban đêm, các hầm
6 Đèn pha
Dùng khi muốn vượt qua xe khác vào ban đêm, khi đi trên đường không có đèn chiếu sáng hai bên để tăng khả năng chiếu sáng giúp cho lái xe dễ quan sát
0,15
Trang 337 Đèn biển số Dùng vào ban đêm và nó hoạt động
cùng với đèn kích thước, đèn cốt 0,5
8 Đèn báo rẽ Dùng khi xe muốn thay đổi hướng di
chuyển khi đang đi trên đường thẳng 0,1
10 Đèn trần Dùng khi xe đi ban đêm, vào đường
hầm, khi trời mưa quang cảnh âm u 0,3
11 Motor điều khiển
kính
Dùng khi máy điều hòa trong xe bị hỏng tạm thời, khi cần lấy vật nào đó ở phía ngoài xe mà không cần mở cửa
xe
0,15
12 Quạt điều hòa
13 Xông kính Dùng khi kính bị ướt do trời mưa, rửa
xe hoặc đi trong sương mù 0,1
14 Motor phun nước
rửa kính
Dùng khi các bụi bẩn bám vào nhiều
mà xe không có điều kiện để lau chùi kính phía trước ( khi xe đang hoạt động trên đường)
0,15
15 Còi
Dùng khi muốn vượt qua đám đông, cảnh báo qua các ngã rẽ, vượt qua xe khác
0,1
16 Đẻn sương mù Dùng khi xe đi vào buổi sáng sớm 0,1
18 Motor gạt nước
19 Motor khởi động Dùng khi xe khởi động 0,1
20 Quạt làm mát
động cơ
Trong quá trình hoạt động động cơ luôn sinh ra lượng nhiệt lớn do đó quạt cần làm việc nhiều để làm mát động
cơ
0,9
22 Motor điểu khiển
angten Chỉ dùng khi cần chọn lại tần số 0,1
Trang 343.2.1 Tính toán công suất máy phát
Công suất tổng của máy phát được xác định từ công suất cung cấp cho các tải
liên tục và tải gián đoạn trên ô tô
3.2.1.1 Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động liên tục
Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động liên tục được xác định bằng tổng
công suất của các phụ tải đó:
P1= Pi Các công suất này được xác định theo bảng sau:
Bảng 3 – 2 Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động liên tục
STT Tải điện hoạt động liên tục Đơn vị Giá trị
Như vậy, tổng công suất của các phụ tải hoạt động liên tục là 330W
3.2.1.2 Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động không liên tục (gián đoạn)
Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động không liên tục được xác định bằng
tổng công suất của các phụ tải đó nhân với các hệ số sử dụng của nó:
P2= Pi i (i: Hệ số sử dụng của tải)
Trang 35Như đã phân tích ở phần chọn phương án thiết kế, dựa vào các giá trị thực và
các hệ số sử dụng ta có các công suất tương đương của các phụ tải như sau
Bảng 3 – 3 Công suất tiêu thụ của các phụ tải hoạt động không liên tục
STT Phụ tải hoạt động gián
đoạn
Giá trị thực (W)
Hệ số sử dụng
Công suất tương đương (W)
Trang 36Như vậy tổng công suất tiệu thụ của các phụ tải hoạt động không liên tục Pw2
là 665,6 (W)
Vậy tổng công suất của máy phát cần cung cấp là :
P= P1 + P2 = 330 + 605,6 = 935,6 (W) Và:
)(82,6614
6,935
A U
P
I tt w
Vậy ta chọn máy phát: MPA11087, được sản xuất tại thái lan
Có các thông số như sau : output 80(A), 12(V)
3.2.2 Tính toán kích thước dây của mạch phụ tải
3.2.2.1 Mục đích của việc tính toán dây dẫn
Tất cả các hệ thống điện trên xe sử dụng dây dẫn để truyền tải điện năng từ
ắc quy hoặc máy phát đến các phụ tải Sự làm việc của phụ tải có được đảm bảo hay
không phụ thuộc lớn vào khả năng chịu tải của dây dẫn
Nếu sử dụng các dây dẫn có tiết diện không đảm bảo, trong quá trình hoạt
động, dòng điện chạy qua sẽ làm cho dây dẫn nóng lên quá mức, gây hiện tượng
ngắn mạch do dây dẫn nóng chảy hoặc cháy nổ đối với hệ thống điện
Mặt khác trong hệ thống, điện năng truyền tải từ nguồn điện (Ắc quy hoặc
máy phát) đến phụ tải luôn tồn tại tổn thất, tổn thất này phụ thuộc vào tiết diện của
dây dẫn Như vậy tiết điện của dây dẫn phải đảm bảo đủ lớn, để tổn thất điện áp trên
hệ thống nhỏ hơn tổn thất điện áp cho phép ∆U, để các phụ tải làm việc bình
thường
Chính vì vậy, việc tính toán dây dẫn nhằm mục đích sử dụng dây dẫn 1 cách
hợp lý, đảm bảo cho hệ thống hoạt động tốt, tránh những sự cố điện đáng tiếc xảy ra
trong hệ thống
3.2.2.2 Cơ sở tính toán
Khi tính toán dây dẫn, ta cần xác định nhu cầu tải thực tế lớn nhất Từ đó, sẽ
tính được tiếp diện dây dẫn trong mạch
+ Xác định điện áp tính toán:
Toyota Fortuner 2.5G hệ thống điện sử dụng điện thế 12V, và các phụ tải
được mắc nối song song với nhau
Trang 37Do vậy, điện thế tại các đầu vào của từng mạch đều có điện thế bằng nhau,
Trong thực tế thì trên mạch điện luôn có sự tổn thất, nên trong bất kỳ mạch
điện luôn có sự sụt áp ∆U nhất định tại điểm đầu so với điểm cuối của quá trình
truyền tải điện Nhìn chung độ sụt áp ∆U cho phép trên dây thường nhỏ hơn 10%
điện áp định mức
Mặt khác ta có [4]:
)3 - (3
S
L I
Trong đó: ∆U là độ sụt áp cho phép của dây dẫn trong hệ thống
I là cường độ dòng điện chạy trong dây dẫn tính theo Ampe
L là chiều dài dây dẫn trong hệ thống
ρ là điện trở suất của vật liệu làm dây dẫn
Từ CT(3 – 3) ta thấy, trong hệ thống điện với các điều kiện I,L và ρ như
nhau thì độ sụt áp ∆U tỷ lệ nghịch với tiết diện S của dây dẫn Như vậy để hệ thống
làm việc bình thường thì tiết diện dây dẫn (S) tính theo độ sụt áp cho phép phải nhỏ
hơn hoặc bằng tiết diện dây dẫn thực tế (Stt) sử dụng của hệ thống trên xe
Bảng 3 – 4 Độ sụt áp tối đa trên dây dẫn kể cả mối nối[4]
Trang 38+ Công suất đặt Pđ (KW):
Công suất đặt trong mạch lă tổng của câc công suất định mức của tất cả câc
thiết bị tiíu thụ điện trong từng mạch điện
+ Cường độ dòng điện trong mạch:
Theo định luật Ôm ta có:
(A) R
Để hệ thống hoạt động an toăn thì dòng điện qua cuộn dđy phải nhỏ hơn
dòng điện của cầu chì bảo vệ cho mạch điện
+ Xâc định tiết diện của dđy dẫn:
Từ công thức tính độ sụt âp trín dđy dẫn, ta xâc định tiết diện dđy đẫn như
Đèn pha cốt , đèn đuôi
LH
Đèn pha cốt, đèn đuôi
RH
A B
Trang 39Câc thiết bị tiíu thụ điện trong mạch gồm 2 bóng đỉn pha-cốt Câc bóng đỉn
năy được bố trí thănh 2 mạch nhânh, mạch nhânh bín phải ACD vă mạch bín trâi
ABD Mỗi nhânh gồm 1 bóng đỉn pha-cốt công suất 115W (pha 60W vă cốt 55W)
Để đảm bảo tính kinh tế vă độ bền nhiệt của dđy dẫn, nếu chọn độ sụt âp nhỏ
thì tiết diện dđy dẫn sẽ phải lớn khi đó thỏa mên điều kiện bền như lại không kinh
tế, còn khi ta chọn độ sụt âp quâ cao sẽ dẫn đến dđy dẫn có tiết diện quâ bĩ, lúc năy
sẽ không đảm bảo độ bền Do đó theo (bảng 3 – 4) trín ta chọn độ sụt âp trín dđy
dẫn trong mạch đỉn sương mù lă ∆U = 0,2 V nằm trong khoảng giữa của độ sụt âp
bĩ nhất vă độ sụt âp tối đa
Cường độ dòng điện trín mỗi mạch nhânh của mạch đỉn pha cốt
Theo CT (3 – 5) ta có:
A 9,6 12
115 U
P I I
* U
1,8
*0,0178
*9,6
Đèn sương mù sau
Đèn sương mù trước
A B
Trang 40Các thiết bị tiêu thụ điện trong mạch gồm 4 bóng đèn sương mù Các bóng
đèn này được bố trí thành 2 mạch nhánh, mạch nhánh phía trước ACE và mạch phía
sau BDE Mỗi nhánh gồm 2 bóng đèn sương mù công suất 35 W
Công suất đặt trên mỗi mạch nhánh của mạch đèn sương mù
P = 35 x 2 = 70 (W)
Để đảm bảo tính kinh tế và độ bền nhiệt của dây dẫn, nếu chọn độ sụt áp nhỏ
thì tiết diện dây dẫn sẽ phải lớn khi đó thỏa mãn điều kiện bền như lại không kinh
tế, còn khi ta chọn độ sụt áp quá cao sẽ dẫn đến dây dẫn có tiết diện quá bé, lúc này
sẽ không đảm bảo độ bền Do đó theo (bảng 3 – 4) trên ta chọn độ sụt áp trên dây
dẫn trong mạch đèn sương mù là ∆U = 0,2 V nằm trong khoảng giữa của độ sụt áp
P I I
* U
Vì nhánh ACE có chiều dài lớn hơn nên ta chọn làm nhánh tính toán cho
mạch
Khảo nghiệm thực tế trên xe, ta có chiều dài đoạn dây dẫn AC là LAC = 4 m
Tiếp diện dây dẫn AC trong mạch, theo CT(3 – 6) ta có:
)(mm 1,380,3
4
*0,0178
*5,83