1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo luật việt nam hiện hành

89 509 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 755,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng góp phần giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị xâm hại; răn ñe, phòng ngừa ñối với những người có hàn

Trang 2

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ðỒNG THEO LUẬT

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

NGUYỄN THỊ NGỌC TUYỀN DƯƠNG HỒNG NGỌC

Lớp: Luật Tư pháp K30

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu





Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC



Trang

LỜI NÓI ðẦU 1

1 L ý do chọn ñề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu ñề tài 2

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ðỒNG 3

1 Khái niệm và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 3

1.1.Khái niệm 3

1.2 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 6

2 Lịch sử phát triển của chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ 8

2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn 8

2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng dưới thời Pháp thuộc 10

2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng từ sau thời Pháp thuộc ñến nay 11

3 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với các chế ñịnh pháp luật khác 13

3.1 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với các chế ñịnh pháp luật khác trong BLDS 13

3.2 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với pháp luật hình sự 15

CHƯƠNG II CHẾ ðỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ðỒNG 17

1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 17

1.1 Phải có thiệt hại xảy ra 17

1.2 Phải có hành vi trái pháp luật 19

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả

xảy ra 20

1.4 Phải có lỗi của người gây thiệt hại 22

2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các trường hợp ñược miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 24

2.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 24

2.2 Các trường hợp ñược miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 27

3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và nguyên tắc bồi thường thiệt hại 29

3.1 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại 29

3.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 30

4 Xác ñịnh thiệt hại 32

4.1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 33

4.2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 33

4.3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 36

4.4 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 39

5 Các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 41

5.1 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết 41

5.2 Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra 41

5.3 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp có nhiều người cùng gây thiệt hại, bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi 42

5.4 Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra và bồi thường thiệt hại do người làm công, học nghề gây ra 43

5.5 Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 43

5.6 Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý 44

5.7 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao ñộ gây ra, bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra 45

5.8 Bồi thường thiệt hại do cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 48

5.9 Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 49

5.10 Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 50

5.11 Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 50

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG III THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ 52

1 Thực tiễn áp dụng các quy ñịnh pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 52

1.1 Thực tiễn áp dụng những quy ñịnh chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 52

1.1.1 Căn cứ xác ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 52

1.1.2 Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại 55

1.2 Thực tiễn giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong một số trường hợp cụ thể 56

1.2.1 Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao ñộ gây ra 56

1.2.2 Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 59

1.2.3 Những vướng mắc khi giải quyết bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 64

1.2.4 Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 69

2 Kiến nghị 71

2.1 Hướng hoàn thiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong một số trường hợp cụ thể 71

2.1.1 Về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 71

2.1.2 Về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường 73

2.1.3 Về bảo vệ quyền ñược khiếu nại, bồi thường của người tiêu dùng 74

2.2 Kiến nghị chung 75

2.2.1 Về khía cạnh pháp lý 75

2.2.2 Về khía cạnh xã hội 77

2.2.3 Về cơ chế phối hợp giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng 79

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI đẦU



1 Lý do chọn ựề tài:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng là một trong những chế ựịnh có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những nước khác nhau quy ựịnh khác nhau về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng Việt Nam trải qua nhiều triều ựại, nhiều chế

ựộ cũng có những quy ựịnh khác nhau Nhưng pháp luật cũng như tập quán ựều ghi nhận một nguyên tắc chung nhất là Ộngười gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hạiỢ Hiện nay, pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng ựược quy ựịnh trong Bộ luật Dân sự 2005,

và một số văn bản hướng dẫn thi hành

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng là trách nhiệm dân sự, tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng còn thường xuất hiện trong các vụ án hình sự dưới dạng trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự Chế ựịnh

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng thường xuyên ựược áp dụng, từ công tác hòa giải cơ sở ựến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm ở các Tòa án dân sự, Tòa án hình sự Vì vậy, nó có vai trò rất quan trọng trong việc ựảm bảo công bằng cho mọi người trong xã hội Tuy nhiên nó chỉ phát huy hết vai trò khi ựược hiểu và áp dụng ựúng

Chắnh vì những lẽ trên, tìm hiểu, phân tắch "Trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp ựồng trong luật Việt Nam hiện hành" một cách có hệ

thống ựể hiểu rõ hơn và áp dụng vào thực tiễn cho ựúng ựắn là cần thiết đó cũng chắnh là lý do chọn ựề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng là một bộ phận của nghĩa vụ dân sự Những quan hệ dân sự diễn ra hàng ngày luôn tìm ẩn nguy cơ phát sinh thiệt hại Có thiệt hại thì ựược bồi thường là quyền chắnh ựáng ựược pháp luật thừa nhận Vấn ựề ựặt ra là khi nào phát sinh trách nhiệm bồi thường, ai phải bồi thường, bồi thường cho ai và bồi thường bao nhiêu? đó là những gì mà tác giả quan tâm khi nghiên cứu ựề tài này

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phạm vi rất rộng, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp ñồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng ñược ñiều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu lấy những quy ñịnh của Bộ luật Dân sự 2005 làm cơ sở xác ñịnh trách nhiệm bồi thường Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên tác giả chỉ tập trung xem xét

phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong lĩnh vực dân sự

mà chủ yếu là các quy ñịnh liên quan trong Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005)

và các văn bản hướng dẫn

4 Phương pháp nghiên cứu:

Khi nghiên cứu ñề tài tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng ñược sử dụng như là cơ sở phương pháp luận ñể xem xét toàn bộ vấn ñề của ñề tài, phương pháp sưu tầm và tổng hợp những bài nghiên cứu, ý kiến của các luật gia, dự thảo luật,… kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, ñối chiếu các quy ñịnh của pháp luật nhằm tìm ra những ñiểm mới, những ñiểm hạn chế ñể từ ñó có một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ðỒNG

1 Khái niệm và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng:

1.1 Khái niệm:

Thế nào là thiệt hại? Thiệt hại là sự mất mát mà một chủ thể của quan hệ pháp luật phải gánh chịu, là sự thay ñổi tình trạng theo chiều hướng xấu: một người có tài sản bị mất tài sản ñó, một người có sức khỏe bình thường nay trở nên yếu ñi,…Tình trạng bị thay ñổi có thể là tình trạng vật chất (tài sản, tính mạng, sức khỏe) hoặc tình trạng tinh thần (danh dự, uy tín)(1)

Khi có thiệt hại xảy ra, giữa người bị thiệt hại và người gây thiệt hại sẽ phát sinh quan hệ dân sự, ñó là trách nhiệm dân sự Theo tiến sĩ Nguyễn Ngọc ðiệp “trách nhiệm dân sự là các biện pháp có tính cưỡng chế ñược áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban ñầu của một quyền dân sự bị vi phạm”(2) Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm ràng buộc bên

có hành vi gây thiệt hại phải bù ñắp, ñền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần cho bên bị vi phạm(3)

Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ñược hiểu như thế nào? Theo nghĩa rộng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là trách nhiệm dân sự, là biện pháp có tính cưỡng chế ñược áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban ñầu của một quyền dân sự bị xâm phạm Theo nghĩa hẹp trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là biện pháp cưỡng chế áp dụng ñối với người

có hành vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác, người gây thiệt hại có trách nhiệm khắc phục những thiệt hại ñã xảy ra bằng tài sản của mình

Chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng góp phần giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có quyền lợi bị xâm hại; răn ñe, phòng ngừa ñối với những người có hành vi gây thiệt hại, giúp mọi người tôn trọng những giá trị vật chất và tinh thần không chỉ của bản thân mà còn của cả

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

người khác làm cho trật tự xã hội ñược giữ vững, tạo ñiều kiện cho xã hội phát triển tốt hơn về mọi mặt



 So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng và

trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp ñồng:

Theo pháp luật dân sự, bên cạnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trên cơ sở hợp ñồng Cả hai loại trách nhiệm này ñều là nghĩa vụ dân sự, do ñó khi nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng cần hiểu và phân biệt ñược với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp ñồng

Trách nhiệm trong hợp ñồng ñược chi phối bởi các quy tắc ñược thiết lập trên khuôn khổ xây dựng chế ñộ pháp lý về hợp ñồng, ñược quy ñịnh cụ thể trong từng loại hợp ñồng Ví dụ, hợp ñồng mua bán tài sản sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường do giao vật không ñúng số lượng (ðiều 435 BLDS 2005), trách nhiệm bồi thường do giao vật không ñồng bộ (ðiều 436 BLDS 2005), trách nhiệm bồi thường do giao vật không ñúng chủng loại (ðiều 437 BLDS 2005), trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành (ðiều

448 BLDS 2005); hợp ñồng thuê vận chuyển tài sản sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển cho bên thuê vận chuyển nếu

ñể mất mát hoặc hư hỏng tài sản, bên thuê vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên vận chuyển và cho người thứ ba về thiệt hại do tài sản vận chuyển

có tính chất ñộc hại, nguy hiểm mà không có biện pháp ñóng gói bảo ñảm an toàn trong quá trình vận chuyển (ðiều 546 BLDS 2005), Còn trách nhiệm dân sự ngoài hợp ñồng là ñối tượng của một chương riêng biệt (chương V phần thứ ba BLDS 2005) Tuy nhiên, có thể ghi nhận ñặc ñiểm chung của trách nhiệm dân sự, dù là trong hay ngoài hợp ñồng trách nhiệm ñều phát sinh

từ sự vi phạm một nghĩa vụ, ñó có thể là nghĩa vụ do luật tạo ra (trách nhiệm dân sự ngoài hợp ñồng) hoặc do ý chí của các bên liên quan tạo ra (trách nhiệm dân sự trong hợp ñồng)

Trách nhiệm dân sự trong hợp ñồng là trách nhiệm hình thành từ việc không thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ hợp ñồng Một người không thực hiện hoặc thực hiện không ñúng nghĩa vụ ñã ñược giao kết mà gây thiệt hại cho người cùng giao kết, thì phải bồi thường thiệt hại cho người sau này Trách nhiệm dân sự ngoài hợp ñồng là trách nhiệm hình thành từ việc thực hiện một hành vi cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại cho một người và hành vi ñó không liên quan ñến bất kỳ một hợp ñồng nào có thể có giữa người gây thiệt

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hại và người bị thiệt hại(4) Ví dụ, A chạy xe trên ñường phố với tốc ñộ cao không kiểm soát ñược tay lái nên ñâm vào B làm B gãy chân A phải bồi thường cho B Giữa A và B không có sự thỏa thuận nào cả ðây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng

Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là những quy ñịnh của pháp luật (quy ñịnh những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn của chủ thể) không có sự thỏa thuận trước của các bên và ñược phát sinh chỉ trên

cơ sở hành vi bất hợp pháp do lỗi cố ý hoặc vô ý Các quyền và nghĩa vụ pháp

lý hoàn toàn do pháp luật quy ñịnh, trước thời ñiểm phát sinh trách nhiệm các bên trong quan hệ pháp luật này không có quan hệ với nhau Trong các trường hợp có quan hệ hợp ñồng nhưng nếu có việc gây thiệt hại không liên quan ñến việc thực hiện hợp ñồng thì ñó cũng là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng Sẽ sai lầm nếu khẳng ñịnh một cách tuyệt ñối rằng nghĩa vụ dân sự ngoài hợp ñồng loại trừ bất cứ mối quan hệ hợp ñồng nào giữa các bên Chẳng hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách (khoản 1 ðiều 533 BLDS 2005) là nghĩa vụ ngoài hợp ñồng mặc dù giữa hành khách và người vận chuyển có mối quan hệ hợp ñồng (hợp ñồng vận chuyển), chính vì tính mạng, sức khỏe của cá nhân ñược bảo vệ bằng pháp luật, không phải bằng hợp ñồng Tương tự, việc bồi thường thiệt hại cho bên thuê nhà trong trường hợp bên cho thuê không bảo dưỡng, sửa chữa nhà cho thuê (khoản 3 ðiều 493 BLDS 2005) cũng là nghĩa vụ dân sự ngoài hợp ñồng không phụ thuộc vào quan hệ hợp ñồng thuê nhà giữa hai bên

Trong nghĩa vụ hợp ñồng, thiệt hại là ñiều kiện làm phát sinh trách nhiệm

và ñôi khi không cần có thiệt hại, chỉ cần các bên có thỏa thuận trước bên vi phạm hợp ñồng phải bồi thường mà có bên vi phạm thì trách nhiệm bồi thường phát sinh ðối với nghĩa vụ ngoài hợp ñồng thì thiệt hại ñồng thời là ñiều kiện của nghĩa vụ và của trách nhiệm (có thiệt hại xảy ra mới ñược bồi thường và mức bồi thường ñược xác ñịnh dựa trên mức ñộ thiệt hại)

Việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng thông thường sẽ chấm dứt nghĩa vụ, nhưng ñối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp ñồng thì việc bồi thường thiệt hại không giải phóng người có nghĩa

vụ khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ một cách thực tế (giao vật, thực hiện một công việc,…)

(4) Tiến sĩ Nguyễn Ngọc ðiện , Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Khoa Luật Trường ðại học Cần Thơ, 2004 Tr49

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng cĩ thể phát sinh cả khi do lỗi của người khác (ðiều 293 BLDS 2005), cịn trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng một người cĩ thể phải bồi thường cả khi khơng cĩ lỗi nếu pháp luật cĩ quy định Cần nĩi thêm BLDS 2005 cĩ quy định một số trường hợp theo đĩ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng tưởng như phát sinh từ lỗi của người khác về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, về bồi thường thiệt hại do cơng chức, viên chức nhà nước, người

cĩ thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra,… nhưng thực ra trong những trường hợp này là sự suy đốn đương nhiên xuất phát từ trách nhiệm quản lý

Thiệt hại trong hợp đồng chỉ cĩ thể là thiệt hại vật chất cịn thiệt hại ngồi hợp đồng bao gồm cả thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần, bởi lẽ, khi giao kết hợp đồng các bên trong hợp đồng đĩ đã dự liệu trước những khoản cần bồi thường, vì vậy khơng cĩ cơ sở để tổn thất về tinh thần phát sinh Do

đĩ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ cĩ thể là bồi thường vật chất cịn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng cĩ thể là bồi thường thiệt hại vật chất hoặc tổn thất về tinh thần hay cả hai

1.2 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng:

Theo luật dân sự Việt Nam hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất về vật chất thực tế, tính tốn được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín của người đĩ thì ngồi việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính cơng khai cịn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại(5)

Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại ðiều 608 BLDS 2005; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 ðiều 609 BLDS 2005; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định

(5)

ðiều 307 BLDS 2005

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tại khoản 1 ðiều 610 BLDS 2005; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy ñịnh tại khoản 1 ðiều 611 BLDS 2005

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân ñược hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu ñau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải ñược bồi thường một khoản tiền

bù ñắp tổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) ñược hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức ñó bị giảm sút hoặc mất ñi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải ñược bồi thường một khoản tiền bù ñắp tổn thất mà tổ chức phải chịu(6)



 So sánh thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần:

ðể xác ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong từng trường hợp cụ thể thì cần xác ñịnh có những thiệt hại nào tồn tại Thiệt hại vật chất sẽ tương ứng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất, tương tự, thiệt hại tinh thần

sẽ làm phát sinh trách nhiệm bù ñắp tổn thất về tinh thần Cả hai loại thiệt hại ñều là sự thay ñổi theo chiều hướng xấu, ñều mang ñến cho người bị thiệt hại

sự mất mát Tuy nhiên, giữa hai loại thiệt hại này cũng có những ñiểm khác nhau cần phân biệt ñể xác ñịnh cho ñúng

Thiệt hại về vật chất bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý ñể ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và những tổn thất này có thể tính ñược thành tiền ñể bồi thường ngang giá Còn thiệt hại về tinh thần, theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HðTP thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần ñược hiểu là do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do ñó luật yêu cầu phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bên cạnh ñó người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại một khoản tiền bù ñắp tổn thất về tinh thần Tuy nhiên khoản tiền bù ñắp tổn thất về tinh thần không phải là một giá trị ngang giá với những gì mà người bị thiệt hại gánh chịu vì không có một phương pháp nào có thể cân, ño, ñong, ñếm ñược những mất mát về tinh thần của một người, chỉ có thể bù ñắp một khoản tiền ñể xoa dịu nỗi ñau về tinh thần của người ñó

(6)

Nghị quyết 03/2006/NG-HðTP ngày 08 tháng 7 năm 2006

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thiệt hại về tinh thần là thiệt hại không có tính chất tài sản như thiệt hại vật chất Mặc dù biết rằng việc bồi thường không bao giờ có tác dụng xóa sạch dấu vết của thiệt hại ngay cả thiệt hại là thuần túy vật chất, tuy nhiên ta có thể xác ñịnh mức ñộ của thiệt hại vật chất, biết ñược chính xác thiệt hại xảy ra là bao nhiêu ñể bồi thường cho thỏa ñáng, trong khi rất khó cho thẩm phán trong việc xác ñịnh tính chất, mức ñộ thiệt hại về tinh thần

* Việc thừa nhận cả thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần làm căn cứ bồi

thường thiệt hại có ý nghĩa hết sức quan trọng trong ñiều kiện ñời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng ñược nâng cao, giá trị danh dự, nhân phẩm, uy tín của con người càng ñược khẳng ñịnh Việc quy ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ ñối với những thiệt hại về vật chất mà còn ñối với cả những thiệt hại về tinh thần là một bước tiến bộ trong việc xây dựng pháp luật của nước ta, ñảm bảo ñược nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền nhân thân của con người, tránh bỏ qua những giá trị cần bảo vệ

2 Lịch sử phát triển của chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ:

2.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn:

Thời Lê là một trong những thời kỳ có vị trí ñặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của chế ñộ phong kiến Việt Nam Cùng với sự phát triển của bộ máy nhà nước hoạt ñộng lập pháp dưới thời Lê ñã ñược coi trọng ðây

là thời kỳ mà pháp luật Việt Nam ñạt ñược nhiều thành tựu quan trọng và giữ một vị trí ñặc biệt trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam(7) Trong 360 năm tồn tại, triều ñại nhà Lê ñã ñể lại cho hậu thế những thành tựu to lớn trên lĩnh vực pháp luật và ñiển chế Trong số các thành tựu ñó phải kể ñến Quốc triều Hình luật, một bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của Triều Lê Quốc triều Hình luật cũng chính là bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ ñược ñầy ñủ cho ñến ngày nay Tuy nhiên, do ra ñời từ năm 1470 ñến

1497 hoặc sớm hơn cho nên người làm luật thời ñó chưa phân biệt rạch ròi các ngành luật như bây giờ ðến thời Nguyễn, pháp luật dân sự vẫn chưa tách khỏi pháp luật hình sự và chủ yếu ñược quy ñịnh trong Bộ Hoàng Việt luật lệ

Nghiên cứu pháp luật thời Lê (Quốc triều Hình luật) và pháp luật thời Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ), chúng ta nhận thấy các chế ñịnh về trách nhiệm

(7) Bộ Tư pháp- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Một số vấn ñề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV ñến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, 1998 Tr9

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dân sự được quy định sơ sài và tản mạn(8) Khơng cĩ điều luật nào khái niệm thế nào là thiệt hại ngồi hợp đồng hay thiệt hại trong hợp đồng nhưng từ những điều luật cụ thể chúng ta cĩ thể suy đốn được đĩ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng Ví dụ, ðiều 466 Quốc triều Hình luật quy định về trường hợp đánh người gây thương tích, ngồi hình phạt kẻ đánh người cịn phải bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nạn nhân theo giá ngạch như sau: “…sưng, phù thì phải đền tiền thương tích 3 tiền; chảy máu thì một quan; gãy một ngĩn tay, một răng thì đền 10 quan; đâm chem.; bị thương thì đền 15 quan; đọa thai chưa thành hình đền 30 quan, đã thành hình đền 50 quan; đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan; đối với người quyền quý thì lại

xử khác.”

Thiệt hại được đề cập đến trong hai Bộ luật Quốc triều Hình luật và Hồng Việt luật lệ bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần(9) Thiệt hại về vật chất là những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng

Ví dụ, ðiều 466 Quốc triều Hình luật quy định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến sức khỏe, ðiều 29 Quốc triều Hình luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng: “Tiền đền mạng – nhất phẩm, tịng nhất phẩm được đền 15000 quan; nhị phẩm, tịng nhị phẩm được đền 9000 quan; tam phẩm, tịng tam phẩm được đền 7000 quan; tứ phẩm, tịng tứ phẩm được đền 5000 quan; ngũ phẩm, tịng ngũ phẩm được đền

2000 quan; lục phẩm, tịng lục phẩm được đền 1000 quan; thất phẩm, tịng thất phẩm được đền 500 quan; bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan; thứ dân trở xuống 150 quan”

Trong các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Quốc triều Hình luật và Hồng Việt luật lệ thuật ngữ "thiệt hại tinh thần" khơng được đề cập trực tiếp nhưng thơng qua một số điều luật cụ thể chúng ta

cĩ thể suy đốn được đĩ là bồi thường thiệt hại về tinh thần Ví dụ, trong Quốc triều hình luật, ðiều 472 quy định trường hợp đánh các quan chức bị thương, ngồi bồi thường thương tích người gây thiệt hại cịn phải đền tiền tạ; ðiều

473 quy định về các trường hợp lăng mạ quan chức và ðiều 474 quy định trường hợp đánh người trong hồng tộc,… cũng đều đưa ra một khoản tiền tạ ngồi việc phải chịu một khoản tiền phạt

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong các ví dụ trên ñây, khoản tiền tạ có thể ñược hiểu là khoản bồi thường thiệt hại về tinh thần cho các quan lại phong kiến, tùy theo ñịa vị xã hội của họ do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm ðối với người dân thường trong xã hội, khoản tiền tạ không thấy ñược ñề cập ñến trong pháp luật phong kiến(10) Bất công xã hội ñược phản ánh ngay trong pháp luật: chỉ có danh dự, nhân phẩm, uy tín của tầng lớp vua chúa, quan lại mới ñược bảo vệ, còn thứ dân thì không ñược quan tâm Ngoài ra, bồi thường do gây thiệt hại về tinh thần ñược dự liệu chung cho tất cả mọi người trong trường hợp từ hôn, nghĩa là ñã nhận ñồ sính lễ gả con gái rồi lại thay ñổi ý kiến hoặc nhà trai ñã mang ñồ sính ñến dạm hỏi rồi mà thay ñổi ý kiến thì người thay ñổi ý kiến không kết hôn nữa phải bồi thường thiệt hại về danh dự cho người kia (ðiều

315 Quốc triều Hình luật và ðiều 94 Hoàng Việt luật lệ)

2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng dưới thời Pháp thuộc:

Thời kỳ này do tiếp thu ñược sự tiến bộ của khoa học pháp lý phương Tây, trách nhiệm dân sự ñã ñược tách khỏi trách nhiệm hình sự Chúng ta xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong hai Bộ luật: Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật ðiều 712 Dân luật Bắc kỳ và ðiều 716 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy ñịnh: người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình ñều phải bồi thường thiệt hại Thiệt hại quy ñịnh trong hai Bộ luật này cũng ñược chia ra thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần(11)

Ví dụ, ðiều 258 Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy ñịnh: trong khi quản trị tài sản của người ñược giám hộ mà người giám hộ gây thiệt hại cho tài sản của người ñược giám hộ thì người giám hộ phải bồi thường thiệt hại ấy (thiệt hại về vật chất)

ðối với thiệt hại về tinh thần pháp luật thời kỳ này cũng quy ñịnh sự bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp từ hôn Ví dụ, ðiều 71 Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy ñịnh: Bên nào bỏ lời hứa về giá thú mà không có duyên cớ chính ñáng vì lỗi của bên ấy thì phải chịu bồi thường tổn hại

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Từ thời Lê, Nguyễn ựến thời Pháp thuộc, pháp luật ựã ựạt ựược những thành tựu to lớn làm nền tản cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật sau này, ựặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng Pháp luật thời kỳ này ựã chú trọng ựến những giá trị tinh thần của con người, có quy ựịnh trường hợp ựược giảm hoặc miễn trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do ngẫu nhiên hoặc lỗi của người bị thiệt hại (vắ dụ, điều 499 Quốc triều Hình luật: những việc lầm lỡ làm người khác bị thương hay chết ựều xét theo tình trạng sự việc mà giảm tội cho), ựã dự liệu ựược trường hợp thiệt hại

do con vật nuôi gây ra (điều 715 Dân luật Bắc kỳ và điều 764 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật),Ầ Tuy nhiên pháp luật thời này vẫn còn những ựiểm hạn chế nhất ựịnh

2.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng từ sau thời Pháp thuộc ựến nay:

Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quãng trường Ba đình, Bác Hồ ựọc bản tuyên ngôn ựộc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuy nhiên Việt Nam lại phải lao vào cuộc chiến mới - ựấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược

Do nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nên Hiến pháp 1946 cùng các văn kiện của đảng trong giai ựoạn này ựều không ựề cập ựến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng Hiến pháp 1959 cũng chỉ ựặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước khi trưng mua hoặc trưng dụng, trưng thu các tư liệu sản xuất khi cần thiết vì lợi ắch chung của cộng ựồng (điều 20 Hiến pháp 1959)

Năm 1972, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng (Thông tư số 173/UBTP ngày 23 tháng 02 năm 1972) Thông tư này không coi việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp ựồng là việc áp dụng biện pháp hình sự hay là một hình phạt phụ Trong phần III mục B Tắnh toán thiệt hại và ấn ựịnh mức bồi thường thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tắnh mạng, sức khỏe: ỘTắnh mạng con người là vô giá không thể tắnh toán thiệt hại cụ thể thành tiền ựược Sức khỏe con người cũng rất quý, khó có thể ựánh giá thiệt hại một cách chắnh xác Vì vậy bồi thường thiệt hại về tắnh mạng, sức khỏe có ý nghĩa thực chất là ựền bù một phần nào thiệt hại về vật chất tạo ựiều kiện cho nạn nhân hay gia ựình họ khắc phục khó khăn

do tai nạn gây nên, và trong một số ắt trường hợp chỉ có ý nghĩa là một trợ cấp: gồm các khoản chi phắ về nạn nhân và thiệt hại do thu nhập bị giảm sút hay bị mấtỢ Ở ựây hoàn toàn không quy ựịnh gì về thiệt hại tinh thần cũng như bồi

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thường cho những thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà chỉ chú trọng ñến những thiệt hại về vật chất

Hiến pháp 1980 tại ðiều 70 có quy ñịnh “Công dân có quyền ñược pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm” Sau thời gian áp dụng Thông tư số 173/UBTP ñã có những vấn ñề mới phát sinh mà Thông tư hướng dẫn chưa cụ thể hoặc chưa dự liệu Do ñó, Thông tư hướng dẫn giải quyết một số vấn ñề về bồi thường thiệt hại trong tai nạn ôtô (Thông tư số 03/TAND ngày 05 tháng 4 năm 1983), Thông tư giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng ñất (Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày

03 tháng 5 năm 1990),… ñã ñược ban hành ñể ñáp ứng nhu cầu thực tế Theo

ñó người gây tai nạn có thể phải bồi thường về sức khỏe, tính mạng, hàng hóa cho nạn nhân, người bị xâm phạm quyền sử dụng ñất có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về hoa màu, vật kiến trúc, vật nuôi, tài sản, nguồn lợi thủy sản… và các phí tổn ñã bỏ ra ñể khôi phục khả năng sử dụng ñất ñã bị hủy hoại

ðến Hiến pháp 1992, bên cạnh những giá trị về vật chất thì những giá trị tinh thần của con người ñược chú trọng, quan tâm hơn Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, ñược pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm… Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân (ðiều 71 Hiến pháp 1992); Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án ñã có hiệu lực pháp luật, người bị bắt giữ, bị giam giữ, bị truy tố, xét

xử trái pháp luật có quyền ñược bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự… (ðiều 72 Hiến pháp 1992); Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải ñược kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền ñược bồi thường thiệt hại

về vật chất và phục hồi danh dự… (ðiều 74 Hiến pháp 1992)

Năm 1994, với sự ra ñời của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ðiều 2 Pháp lệnh quy ñịnh quyền tác giả là quyền về vật chất và tinh thần của tác giả Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bị người khác xâm phạm quyền tác giả có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi ñó, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại (ðiều 42 Pháp lệnh)

Sau một thời gian dài ñất nước ổn ñịnh, phát huy tinh thần hiến pháp

1992 cùng với những kinh nghiệm rút ra từ các văn bản hướng dẫn giải quyết các vấn ñề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng Các văn bản

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

khác liên quan ñến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng ngày càng hoàn chỉnh Tuy nhiên, cần có một bộ luật quy ñịnh chung tất cả các vần ñề về trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng nói riêng, BLDS 1995 ra ñời với những quy ñịnh ñầy ñủ, chặt chẽ và hoàn chỉnh hơn trong BLDS 2005 ðể ñưa những ñiều luật ñi vào thực tế Hội ñồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ñã ban hành Nghị quyết hướng dẫn thi hành các ñiều luật ñó (Nghị quyết 01/2004/NQ-HðTP Nghị quyết 03/2006/NQ-HðTP và Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH 11)

Trên ñây là quá trình phát triển của những chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng trong pháp luật Việt Nam từ thời Lê, Nguyễn ñến nay

3 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với các chế ñịnh pháp luật khác:

3.1 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với các chế ñịnh pháp luật khác trong BLDS 2005:

Những quy ñịnh trong phần thứ nhất BLDS 2005 là những nguyên tắc chung mang tính ñịnh hướng, bao trùm toàn bộ hệ thống các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự Vì vậy, khi có quan hệ phát sinh liên quan ñến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng, ngoài việc áp dụng các quy ñịnh

cụ thể trong chương XXI, phần thứ 3 Nghĩa vụ dân sự và hợp ñồng dân sự, BLDS 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng thì các quy ñịnh trong phần chung cũng ñược áp dụng Chẳng hạn, muốn xác ñịnh năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại cần phải xem xét từ ðiều 14 ñến ðiều 23 BLDS 2005, thiệt hại do người chưa thành niên gây ra thì ai là người chưa thành niên? ðiều 18 BLDS 2005 (phần chung) ñã quy ñịnh cụ thể (người từ ñủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa ñủ mười tám tuổi là người chưa thành niên) Khi giải quyết việc bồi thường thiệt hại cần dựa trên các nguyên tắc quy ñịnh ở chương XXI nhưng cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản ñược quy ñịnh từ ðiều 4 BLDS

2005 ñến ðiều 13 BLDS 2005 phần Những quy ñịnh chung Do ñó, mối quan

hệ giữa các quy ñịnh thuộc phần chung với các quy ñịnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là quan hệ giữa hệ thống pháp luật và tiểu hệ thống, giữa các quy ñịnh mang tính nguyên tắc và các quy ñịnh cụ thể, ñặc thù

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Hợp ñồng dân sự, thực hiện công việc không có ủy quyền, nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, ñược lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là những chế ñịnh ñược xếp cùng một nhóm nên giữa chúng có mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau Chế ñịnh hợp ñồng giúp phân biệt ñâu là thiệt hại trong hợp ñồng và thiệt hại ngoài hợp ñồng, từ ñó ñưa ra cách giải quyết phù hợp trong từng trường hợp (hợp ñồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay ñổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự) Ví dụ, Giữa A và B có hợp ñồng mua bán tài sản, theo hợp ñồng, A phải giao hàng trước ngày 01/01/2008 nếu vi phạm A phải bồi thường 30% giá trị lô hàng Nhưng ñến 10/01/2008 A mới giao hàng cho B, theo hợp ñồng A phải bồi thường 30% giá trị lô hàng, bên cạnh ñó còn phải bồi thường cho B những tổn thất do giao hàng chậm (thiệt hại trong hợp ñồng) Khi giao hàng, A vô ý làm hư hỏng hàng rào nhà B,

A phải bồi thường khoản tiền sửa chữa hàng rào ñó (thiệt hại ngoài hợp ñồng) Thực hiện công việc không có ủy quyền (chương XIX), Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, ñược lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (chương XX) ñược quy ñịnh trong hai chương riêng biệt với Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng (chương XXI) Tuy nhiên, khi người thực hiện công việc không có uỷ quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc ñược thực hiện, nếu người thực hiện công việc không có uỷ quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh ñảm nhận công việc, người

ñó có thể ñược giảm mức bồi thường (ðiều 597 BLDS 2005); người ñược lợi

về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi ñó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy ñịnh tại khoản 1 Ðiều 247 BLDS 2005 Các quy ñịnh tại chương XXI BLDS 2005 sẽ ñược áp dụng giải quyết bồi thường thiệt hại trong các trường hợp này vì giữa người bị thiệt hại và người thưc hiện công việc không có ủy quyền, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật hoàn toàn không có sự thỏa thuận nào làm phát sinh thiệt hại

 Với pháp luật thừa kế:

Khi có một người chết thì vấn ñề thừa kế ñược ñặt ra Di sản người chết

ñể lại bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong phần tài sản chung với người khác Có thiệt hại xảy ra thì người gây thiệt hại

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phải bồi thường thiệt hại Nếu ñến thời ñiểm người bị thiệt hại chết mà khoản tiền bồi thường thiệt hại chưa di chuyển vào tài sản có của họ, khoản tiền bồi thường ñó vẫn ñược phân chia theo pháp luật thừa kế; nếu người gây thiệt hại chết mà chưa bồi thường cho người bị thiệt hại thì khoản tiền bồi thường ñó sẽ

di chuyển vào tài sản nợ ñể giải quyết khi chia thừa kế Vì vậy, khi phân chia thừa kế mà có những quan hệ dân sự ngoài hợp ñồng làm phát sinh thiệt hại liên quan ñến người chết chưa ñược giải quyết thì cần phải áp dụng những quy ñịnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng

 Với pháp luật sở hữu trí tuệ:

Hiện tại trong phần thứ 6 BLDS 2005 về quyền Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ không ñưa ra các quy ñịnh về bồi thường thiệt hại trong trường hợp xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Vì vậy, nếu có thiệt hại xảy ra do hành vi xâm phạm, việc xác ñịnh thiệt hại và ấn ñịnh mức bồi thường ñược thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên tắc, phương pháp và cách thức ñược quy ñịnh trong chế ñịnh bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng Ví dụ, trong trường hợp gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người nắm giữ hợp pháp các ñối tượng sở hữu trí tuệ, các quy ñịnh tại mục 1, mục 2 chương XXI phần thứ 3 BLDS 2005

sẽ ñược áp dụng ñể xác ñịnh thiệt hại

3.2 Mối quan hệ giữa chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng với pháp luật hình sự:

Pháp luật dân sự và pháp luật hình sự là hai ngành luật ñộc lập, tuy nhiên giữa hai ngành luật này luôn có mối liên hệ, hỗ trợ nhau

Bộ luật Hình sự ñã giúp giải ñáp một số khái niệm liên quan ñến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng mà BLDS 2005 (và BLDS 1995) không quy ñinh Chẳng hạn, sự kiện bất ngờ (ðiều 11 Bộ luật hình sự), phòng

vệ chính ñáng (ðiều 15 Bộ luật hình sự), tình thế cấp thiết (ðiều 16 Bộ luật hình sự) Bộ luật hình sự cũng có ñề cập ñến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng chỉ xem ñó là một biện pháp tư pháp chứ không ñưa vào danh sách các hình phạt Người phạm tội phải trả lại tài sản ñã chiếm ñoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất

ñã ñược xác ñịnh do hành vi phạm tội gây ra Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại (ðiều 42 Bộ luật Hình sự 1999) Vậy, những thiệt hại vật chất và tinh thần ở ñây ñược xác ñịnh như thế nào, chương XXI phần 3 BLDS 2005 ñã quy ñịnh cụ thể

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Bên cạnh Bộ luật Hình sự, pháp luật hình sự còn hỗ trợ pháp luật dân sự

về giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng bằng Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người

có thẩm quyền trong hoạt ñộng tố tụng hình sự gây ra làm cở sở giải quyết bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra ñược quy ñịnh tại ðiều 620 BLDS 2005 và bồi thường thiệt hại do cán bộ công chức gây ra (ðiều 619 BLDS 2005)

Pháp luật dân sự và pháp luật hình sự hỗ trợ nhau bảo vệ những lợi ích chính ñáng của người bị thiệt hại, giải quyết việc bồi thường một cách nhanh chóng và ñơn giản

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG II CHẾ ðỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ðỒNG

1 Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng:

Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng là những yếu tố, những cơ sở ñể xác ñịnh trách nhiệm bồi thường, người phải bồi

thường và mức ñộ bồi thường Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi

thường thiệt hại phải ñược xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất

nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà

gây thiệt hại thì phải bồi thường

2 Trong trường hợp pháp luật quy ñịnh người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy ñịnh ñó.”

Và ñược hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HðTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 Theo ñó, ñể xác ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp ñồng cần có 4 căn cứ: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật,

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra, người

gây thiệt hại phải có lỗi

1.1 Phải có thiệt hại xảy ra:

ðây là ñiều kiện tiền ñề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi lẽ mục ñích của trách nhiệm bồi thường là khôi phục lại tình trạng trước khi xảy ra

thiệt hại hoặc bù ñắp một phần tổn thất Do ñó cần phải có thiệt hại mới làm

phát sinh trách nhiệm bồi thường, nếu không có thiệt hại thì câu hỏi ñặt ra là:

Bồi thường cái gì?, Bồi thường bao nhiêu? Vậy, nhất thiết phải có thiệt hại xảy

ra

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thiệt hại là những tổn thất thực tế ñược tính thành tiền do xâm phạm ñến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần

Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, quy ñịnh tại ðiều 608 BLDS 2005; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, quy ñịnh tại Khoản 1 ðiều 610 BLDS 2005; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy ñịnh tại ðiều 611 BLDS 2005 Ví dụ, A ñiều khiển xe môtô chạy lề trái ñụng B ñang ñi ở phần ñường dành cho người ñi bộ B ñược ñưa vào cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm ñến tính mạng Tuy nhiên, trong thời gian nằm viện B không ñược cơ quan mình trả lương Trong trường hợp này B có quyền yêu cầu A bồi thường cho mình chi phí cứu chữa, thu nhập bị mất trong thời gian không ñi làm và các chi phí hợp lý khác

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân ñược hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu ñau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm và cần phải ñược bồi thường một khoản tiền bù ñắp tổn thất họ phải chịu

 Ví dụ, tờ báo X cho ñăng tin công ty A ñang bán sản phẩm kém chất

lượng làm công ty này mất uy tín dẫn ñến mất một lượng lớn khách hàng Sau khi chứng minh ñược thông tin trên là sai sự thật, công ty A có quyền kiện yêu cầu tờ báo X phải bồi thường thiệt hại cho mình

Khi xem xét thiệt hại xảy ra không phải mọi trường hợp thiệt hại vật chất

và thiệt hại tinh thần ñều tách bạch nhau mà phần lớn các thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần ñan xen nhau

mũi Ngoài việc phải bồi thường tổn hại về sức khỏe A còn phải bồi thường

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

một khoản tiền bù ñắp tổn thất về tinh thần cho B do sau khi bị gãy mũi B không dám gặp mọi người

Việc xác ñịnh thiệt hại là rất quan trọng, cần phải xác ñịnh rõ có thiệt hại xảy ra hay không, thiệt hại nào chính ñáng cần ñược bồi thường, bồi thường cho ai, bồi thường bao nhiêu,… Tòa án cần phải xem xét kỹ ñể xác ñịnh cho ñúng ñắn và hợp lý

1.2 Phải có hành vi trái pháp luật:

Hành vi trái pháp luật là những hành vi xử sự cụ thể của con người ñược thể hiện thông qua hành ñộng hoặc không hành ñộng trái với các quy ñịnh của pháp luật(12) Theo pháp luật dân sự hành vi gây thiệt hại là nguyên nhân gây

ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội, không thể có người gây thiệt hại khi không

có hành vi gây thiệt hại Hành vi gây thiệt hại có thể ở dạng hành ñộng hay không hành ñộng Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, nghĩa là hành vi mà pháp luật cấm thực hiện, nếu hành vi ñó pháp luật không cấm thực hiện thì dù người ñó có gây thiệt hại vẫn không phải bồi thường Ví dụ, A là cán bộ phòng ñịa chính huyện X tiến hành giải tỏa mặt bằng tại khu vực Y (ñã bồi hoàn thỏa ñáng), trong ñó có hộ anh B, nhưng anh B không chịu di dời Thực hiện nhiệm vụ, A ñã cưỡng chế và tiến hành tháo dỡ nhà của B Trường hợp này B không có quyền kiện yêu cầu A bồi thường thiệt hại

hiện hành vi mà ñáng ra không ñược thực hiện hành vi ñó, dẫn ñến một hệ quả

là trái với các quy ñịnh của pháp luật, trái với ñường lối, chủ trương, chính sách của ðảng và Nhà nước, ñạo ñức truyền thống tốt ñẹp của dân tộc… gây

ra thiệt hại Tuy nhiên có những hành vi gây ra thiệt hại nhưng không bị coi là hành vi trái pháp luật, chẳng hạn:

Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính ñáng

Gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ

Gây thiệt hại do tình thế cấp thiết

 Hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng không hành ñộng: chủ

thể không thực hiện hành vi mà pháp luật yêu cầu dẫn ñến một hệ quả là trái các quy ñịnh của pháp luật, trái với ñường lối, chủ trương, chính sách của ðảng và Nhà nước, ñạo ñức, truyền thống tốt ñẹp của dân tộc… gây ra thiệt

(12) Luật gia Hoàng Châu Giang, 110 câu hỏi và trả lời về bồi thường thiệt hại, NXB Lao ñộng,Hà Nội,

2006 Tr47

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hại Hành vi trái pháp luật dưới dạng không hành ñộng có phải bồi thường thiệt hại hay không và sẽ áp dụng như thế nào là vấn ñề phức tạp, về phương diện lý luận vẫn coi ñây là hành vi trái pháp luật và có khi phải chịu trách nhiệm hình sự (ví dụ: không cứu giúp người bị nạn), nhưng ñể buộc người ñó bồi thường thiệt hại là vấn ñề rất khó

1.3 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra:

Giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra phải có mối quan hệ nhân

quả Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và

ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại(13) ðiều này ñược quy ñịnh ở ðiều 604 BLDS 2005 (ð609 BLDS 1995) dưới dạng: "người nào…xâm phạm…mà gây thiệt hại…thì phải bồi thường" Tuy nhiên, việc xác ñịnh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Do ñó, cần phải xem xét, phân tích, ñánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ

ñó mới có thể rút ra ñược kết luận chính xác về nguyên nhân nào dẫn ñến kết quả nào, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người ñối với lỗi gây thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không phát sinh nếu thiệt hại xảy ra không phải là kết quả tất yếu của nguyên nhân là hành vi trái pháp luật Nghĩa

là nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác ñịnh và phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết ñịnh với thiệt hại xảy ra Hành vi trái pháp luật phải luôn xuất hiện trước thiệt hại về mặt thời gian, nếu không thỏa mãn ñiều này chúng ta có thể loại trừ ngay ñược khả năng tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật

và hậu quả xảy ra

Những trường hợp gây thiệt hại ñối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng có mối quan hệ nhân quả ñược biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có hai dạng phổ biến là: quan hệ nhân quả ñơn trực tiếp và quan hệ nhân quả kép trực tiếp

 ðối với quan hệ nhân quả ñơn trực tiếp thường dễ nhận thấy và nhanh chóng xác ñịnh ñược trách nhiệm bồi thường vì trong quan hệ này chỉ

có một hành vi trái pháp luật ñóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả Ví dụ,

(13)

Nghị quyết 03/2006/NQ- HðTP, ngày 08 tháng 7 năm 2006

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

A gây thương tích làm tổn hại sức khỏe cho B, do ñó A phải bồi thường thiệt hại cho B

 Ngược lại trong mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp thì có nhiều lỗi của một chủ thể hoặc nhiều chủ thể ñộc lập cùng ñóng vai trò nguyên nhân

trực tiếp hoặc có ý nghĩa quyết ñịnh ñối với thiệt hại xảy ra Ví dụ, A và B rủ

nhau ñi ñánh C ñể trả thù việc C ñã ñánh D làm C bị thương nặng Trên ñường ñưa C ñi cấp cứu thì E ñi ngược chiều ñâm vào xe chở C làm C ngã xuống ñường chết tại chỗ, kết quả giám ñịnh pháp y cho thấy C chết là do vỡ hộp sọ; trong trường hợp này rõ ràng lỗi của A, B và E ñều có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại xảy ra cho C, song cái chết của C là do lỗi của E chứ không thể coi nguyên nhân ñầu tiên là lỗi ñánh người của A và B ñược

Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại xảy ra cũng cần xem xét mối quan hệ tổng hợp giữa các nguyên nhân bởi nó cũng bao hàm sự tác ñộng qua lại của nhiều hiện tượng khác nhau chứa ñựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại, thậm chí khả năng gây ra hậu quả ñôi lúc chỉ hình thành khi có sự kết hợp giữa nhiều hành vi trái pháp luật Khi xác ñịnh người

có hành vi trái pháp luật trực tiếp gây ra thiệt hại thì người ñó cũng không nhất thiết phải bồi thường tất cả các thiệt hại phát sinh sau khi xảy ra hành vi gây thiệt hại của mình, bởi lẽ chỉ những thiệt hại nào là hệ quả tất yếu của việc phạm lỗi mới thuộc phạm vi trách nhiệm của người có lỗi, nói cách khác, người gây thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm ñối với thiệt hại mà mình là tác giả(14)

Tuy luật viết không quy ñịnh về trách nhiệm chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa giữa lỗi và thiệt hại Song, một cách hợp lý, có thể thừa nhận rằng chính người bị thiệt hại phải chứng minh rằng thiệt hại có nguồn gốc từ hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại Nếu ñiều ngược lại ñược thừa nhận, thì cứ hình dung: buổi sáng, có một người ném một lọ hoa qua cửa sổ; buổi chiều, có một người khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị lọ hoa rơi trúng vào ñầu gây thương tích; vậy người ném lọ hoa phải chứng minh rằng thương tích của người bị kiện là do nguyên nhân khác chứ không phải do

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.4 Phải có lỗi của người gây thiệt hại:

Cũng như các căn cứ khác, lỗi là một trong những căn cứ ñể xác ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một chủ thể ñối với một chủ thể khác Như vậy, thế nào mới ñược xem là có lỗi? Lỗi có thể ñược tạm hiểu như là sự sai lầm, thiếu sót trong thái ñộ xử sự Trước hết, một hành vi trái pháp luật gây

ra thiệt hại của mỗi chủ thể ñều là sự thống nhất giữa hai mặt: khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài, còn mặt chủ quan là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể Hành vi gây thiệt hại sẽ bị coi là

có lỗi nếu hành vi ñó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết ñịnh của chủ thể trong khi chủ thể có ñủ ñiều kiện khách quan và chủ quan ñể tự do lựa chọn và quyết ñịnh một xử sự khác phù hợp với lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của chủ thể khác

Căn cứ vào ñặc ñiểm cấu trúc tâm lý của yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi mà luật thực ñịnh ñã phân biệt hai loại lỗi: lỗi vô ý và lỗi cố ý (khoản 2 ðiều 308 BLDS 2005) Lỗi cố ý ñược ghi nhận trong trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác

mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng ñể mặc cho thiệt hại xảy ra Lỗi vô ý ñược ghi nhận trong trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn ñược

Luật thực ñịnh Việt Nam coi lỗi như là ñiều kiện cơ bản ñể xét trách nhiệm trong hợp ñồng, còn trách nhiệm dân sự ngoài hợp ñồng, trên nguyên tắc, chỉ có thể ñược quy kết trong trường hợp có lỗi cố ý hoặc vô ý của người

có trách nhiệm Cá biệt, có trường hợp trách nhiệm dân sự ngoài hợp ñồng ñược xác lập mà không cần xét ñến lỗi như khi có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao ñộ gây ra (ðiều 623 BLDS 2005) và trong một số trường hợp ñặc biệt khác mà trách nhiệm dân sự ñược quy kết do rủi ro (trong trường hợp có

ñủ căn cứ ñể xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một người ñối với một người khác, trừ lỗi)(16)

Trên nguyên tắc, mức ñộ nghiêm trọng của lỗi không ảnh hưởng ñến mức bồi thường, với tính chất của một biện pháp bù ñắp thiệt hại, việc bồi thường

(16) Tiến sĩ Nguyễn Ngọc ðiện, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Khoa Luật Trường ðại học Cần Thơ, 2004 Tr58

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chỉ được định lượng tùy theo mức độ thiệt hại chứ khơng phải theo mức độ lỗi Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, thẩm phán cĩ xu hướng đánh giá mức

độ thiệt hại căn cứ vào mức độ lỗi Với cách đánh giá đĩ, thì cuối cùng mức

độ lỗi lại cĩ tác động gián tiếp chi phối việc xác định mức độ bồi thường

Việc chứng minh lỗi của người gây thiệt hại đối với người khác là rất quan trọng, nhưng trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc về ai? Nếu trong trường hợp bị thiệt hại, người bị thiệt hại chỉ cĩ thể yêu cầu xác định trách nhiệm dân

sự của người gây thiệt hại sau khi chứng minh người này cĩ lỗi thì sẽ khơng

cĩ nhiều người bị thiệt hại được bồi thường Việc chỉ ra bằng chứng về ý định xấu hoặc về sự cẩu thả của người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác khơng phải là một việc đơn giản, nếu khơng muốn nĩi là rất khĩ Bởi vậy, luật quy định: việc chứng minh khơng cĩ lỗi thuộc nghĩa vụ của người vi phạm nghĩa vụ dân sự, hẳn giải pháp này cũng được áp dụng cho trường hợp xác định trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng Nĩi cách khác, người gây thiệt hại luơn được suy đốn là cĩ lỗi và chính người này phải tìm cách gạt bỏ suy đốn đĩ bằng cách chứng minh điều ngược lại, như trường hợp gây thiệt hại trong giới hạn phịng vệ chính đáng (Khoản 1 ðiều 613 BLDS 2005), tình thế cấp thiết (khoản 1 ðiều 614 BLDS 2005),… khi đĩ người gây thiệt hại khơng chịu trách nhiệm dân sự

Một người cĩ thể phải bồi thường thiệt hại do hành vi trực tiếp (lỗi trong trách nhiệm do hành vi trực tiếp mà cĩ lỗi, ta cĩ thể định nghĩa là hành vi của người sẽ phải trực tiếp chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp các điều kiện xác lập trách nhiệm dân sự đều hội đủ, lỗi trong hành vi trực tiếp cĩ thể là lỗi

cố ý hoặc lỗi vơ ý) hoặc do hành vi của người khác và lỗi trong trách nhiệm do vật gây ra

Lỗi là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng cũng cĩ những thiệt hại chỉ cần ba căn cứ kia mà khơng cần cĩ lỗi thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường, điều này được quy định tại khoản 2 ðiều 604 BLDS 2005: Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp khơng cĩ lỗi thì áp dụng quy định đĩ, đây là quy định hồn tồn mới so với BLDS 1995; ví dụ, bồi thường thiệt hại

do người của pháp nhân gây ra (ðiều 618 BLDS 2005), bồi thường thiệt hại

do người làm cơng, người học nghề gây ra (ðiều 622 BLDS 2005) bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (ðiều 623 BLDS 2005), Cĩ vẻ như nhà làm luật Việt Nam thêm vào BLDS 2005 quy định này để bảo vệ hơn

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nữa quyền ñược bồi thường của người bị thiệt hại, nhà làm luật hướng ñến những chủ thể có khả năng bồi thường sớm nhất cho người bị thiệt hại (người của pháp nhân trong khi thực hiện nhiệm vụ ñược pháp nhân giao mà gây thiệt hại cho người khác thì pháp nhân phải ñứng ra bồi thường thiệt hại; người làm công, học nghề mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc ñược giao thì người chủ phải ñứng ra bồi thường thiệt hại ñó) Tuy nhiên, yếu tố lỗi vẫn tồn tại, dù người ñứng ra bồi thường không có lỗi thì vẫn có quan hệ với người gây ra lỗi và sau khi bồi thường cho người bị thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu người kia trả lại một khoản tiền tùy theo mức ñộ lỗi

Bốn căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại có mối quan

hệ mật thiết với nhau, ñể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải có thiệt hại xảy ra và phải có hành vi trái pháp luật dẫn ñến thiệt hại ñó, tức là giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật phải có mối quan hệ nhân quả, ñồng thời phải có lỗi của người gây thiệt hại

2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các trường hợp

ñược miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

2.1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Người bị thiệt hại có quyền kiện người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại

ñó ñể yêu cầu bồi thường Trong trường hợp người bị thiệt hại không thể tự mình thực hiện quyền kiện do không có năng lực hành vi hoặc không nhận thức ñược hành vi của mình thì người ñại diện của người này có quyền kiện Nếu người bị thiệt hại chết, ai có quyền kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại? ðối với những thiệt hại về vật chất, chúng ta có thể hình dung khi một người chết

ñi thì khối tài sản của họ ñược ñể lại cho những người thừa kế Do ñó chúng ta

có thể tin rằng nếu người bị thiệt hại chết thì những người thừa kế của họ là người có quyền ðối với tổn thất về tinh thần, như chúng ta ñã biết thì tinh thần là yếu tố gắn liền với nhân thân do ñó những người thừa kế của người này chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần do mất mát người thân của chính mình và yêu cầu cải chính công khai do hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín làm cho người bị xúc phạm do xúc ñộng dẫn ñến bệnh hay

tự tử chết

Khi ñã có người ñứng ra kiện thì phải có người bị kiện ðứng trước một ñơn kiện thẩm phán phải xem xét năng lực chủ thể của các ñương sự Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước,… nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có năng năng lực chịu

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trách nhiệm bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ mặc

dù hành vi gây thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện BLDS 2005 quy ñịnh về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (ðiều 606 BLDS 2005) Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan

hệ dân sự, luật quy ñịnh năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân

 Người từ ñủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự ñầy ñủ thì phải tự mình bồi thường thiệt hại do mình gây ra, ñiều này xuất phát từ "khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự" (ðiều 17 BLDS 2005) nên họ phải chịu trách nhiệm do hành vi bất hợp pháp của họ bằng tài sản của chính họ Tuy nhiên, trong ñiều kiện này, nhiều người tuy có ñủ năng lực hành vi dân sự nhưng khả năng về tài sản của họ trên thực

tế không có (người ñủ 18 tuổi không có bất cứ khoản thu nhập nào, họ không

có tài sản riêng ñể bồi thường) Vì vậy khi quyết ñịnh bồi thường ñối với những người này có thể ñộng viên cha mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha mẹ tự nguyện bồi thường thì ghi nhận sự tự nguyện ñó mà không buộc cha

mẹ phải bồi thường thay cho con em họ

 Nếu người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì trường học, bệnh viện, tổ chức trực tiếp quản lý phải bồi thường thiệt hại xảy ra nếu không chứng minh ñược mình không có lỗi (ðiều 621 BLDS 2005) “Thời gian trực tiếp quản lý” ñược hiểu là thời hạn trong ñó các

tổ chức theo quy ñịnh về nghề nghiệp có nghĩa vụ giáo dục, chữa bệnh,… mà

họ không thực hiện hoặc thực hiện không tốt chức năng của mình, do ñó, nếu người mất năng lực hành vi dân sự, người dưới 15 tuổi gây ra thiệt hại cho người khác Nếu cơ quan, tổ chức quản lý chứng minh ñược mình không có lỗi thì cha, mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ ñó ñược dùng tài sản của người ñược giám hộ ñể bồi thường, nếu người ñược giám hộ không có tài sản hoặc không ñủ tài sản ñể bồi thường

thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình Có hai trường hợp ñược ñặt ra:

 Người gây ra thiệt hại trong trường hợp này còn cha, mẹ: cha, mẹ là người giám hộ ñương nhiên của con chưa thành niên, con mất năng lực hành

vi dân sự Nhưng theo quy ñịnh tại ðiều 606 BLDS 2005 “người chưa thành

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại… người chưa thành niên từ ñủ mười lăm tuổi ñến chưa ñủ mười tám tuổi thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không

ñủ tài sản ñể bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình” nên nếu tổ chức trực tiếp quản lý người chưa thành niên người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại chứng minh ñược mình không có lỗi trong việc ñể xảy ra thiệt hại thì cha, mẹ ñứng ra bồi thường (trừ trường hợp cha, mẹ không ñủ ñiều kiện là giám hộ cho con)

 Người gây thiệt hại không còn cha, mẹ Theo khoản 3 ðiều 606 BLDS 2005 “người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ ñó ñược dùng tài sản của người ñược giám hộ ñể bồi thường, nếu người ñược giám hộ không có tài sản hoặc không ñủ ñể bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh ñược mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình ñể bồi thường” Vậy, nếu người giám hộ cũng chứng minh ñược mình không có lỗi ñể thiệt hại xảy ra mà người ñược giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không ñủ ñể bồi thường thì người bị thiệt hại phải làm gì ñể bảo về quyền lợi của mình? ðây là vấn ñề rất khó có giải pháp thỏa ñáng vì nếu buộc người giám hộ, tổ chức trực tiếp quản

lý người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường hay liên ñới bồi thường khi không có lỗi là không hợp lý; nhưng không giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại, họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong khắc phục hậu quả

Trong trường hợp người gây thiệt hại ñã thành niên, không nhận thức ñược hành vi của mình nhưng chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người gây thiệt hại cho mình ñã mất năng lực hành vi dân sự với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Khi ñó tình trạng mất năng lực hành vi dân sự của người gây thiệt hại ñược xác lập, người giám hộ sau này của người gây thiệt hại sẽ ñứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại nhưng chỉ trong phạm vi tài sản của người ñó vì trên thực tế họ hoàn toàn không có lỗi

 Trường hợp người trực tiếp chịu trách nhiệm bồi thường chết thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về ai? Luật không quy ñịnh cụ thể, tuy nhiên, căn cứ vào khoản1 ðiều 637 BLDS 2005 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết ñể lại, theo ñó người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trong phạm vi di sản của người chết ñể lại, từ ñó có thể suy luận: người thừa

kế có trách nhiệm ñứng ra bồi thường thiệt hại do người chết gây ra cho người

bị thiệt hại dựa trên phạm vi tài sản mà người chết ñể lại (không chỉ ñối với thiệt hại vật chất mà cả thiệt hại về tinh thần) Trong trường hợp pháp nhân chịu trách nhiệm bồi thường chấm dứt mà có pháp nhân thừa kế thì pháp nhân thừa kế nhận vai trò bị ñơn(17)

Luật không có quy ñịnh trường hợp người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, do ñó có thể nghĩ rằng người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải tự chịu trách nhiệm trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, người ñại diện của họ không phải chịu trách nhiệm nhưng phải ñại diện cho người sau này trong quá trình xét xử

vụ việc

Tóm lại, một cá nhân từ ñủ 18 tuổi trở lên, ñủ năng lực hành vi dân sự thì mới có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của chính mình hay của người mà giữa họ với người ñó có sự ràng buộc trách nhiệm Trong trường hợp người của pháp nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức mà gây thiệt hại khi ñang làm nhiệm vụ ñược giao thì không phải người gây ra thiệt hại trực tiếp ñứng ra bồi thường mà người ñại diện của tổ chức sẽ thay mặt tổ chức tham gia vụ kiện và người ñó cũng phải có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (ñủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự ñầy ñủ)

2.2 Các trường hợp ñược miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

 Thiệt hại xảy ra do người gây thiệt hại buộc phải phòng vệ chính

Trong luật hình sự, phòng vệ chính ñáng là hành vi của người bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính ñáng của mình hoặc của cả người khác mà chống lại một cách tương xứng người ñang có hành vi xâm

(17)

Nghị quyết 03/2006/NQ- HðTP, ngày 08 tháng 7 năm 2006

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phạm các lợi ích nói trên Người có hành vi phòng vệ chính ñáng không bị xem là có tội Chỉ khi hành ñộng chống trả rõ ràng là quá ñáng thì người có hành vi mới phải chịu trách nhiệm hình sự Trong luật Dân sự, nguyên tắc bồi thường thiệt hại cũng ñược xác ñịnh dựa trên yếu tố “phòng vệ chính ñáng” hay “vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng”

Theo quy ñịnh tại ðiều 613 BLDS 2005: “Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính ñáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại Người gây thiệt hại do vượt quá giới hại phòng vệ chính ñáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại”

 Thiệt hại xảy ra do người gây thiệt hại ở trong tình thế cấp thiết:

Cũng giống như trường hợp hành vi có yếu tố “phòng vệ”, trường hợp

“vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” cũng ñược quy ñịnh ñồng thời trong

Bộ luật Hình sự 1999 và BLDS 2005

Theo BLDS 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có yếu tố tình thế cấp thiết cũng ñược xác ñịnh dựa trên cơ sở ñánh giá tính chất quá ñáng hay không quá ñáng của người có hành vi gây thiệt hại (ðiều 614 BLDS 2005) Cụ thể là:

Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại

Người ñã gây ra tình thế cấp thiết dẫn ñến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại

Như vậy, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự của người có hành

vi mang yếu tố “phòng vệ” hay “tình thế cấp thiết” ñược ñặt ra song song Người có hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính ñáng hay do tình thế cấp thiết không phải là tội phạm và cũng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại

 Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại:

Trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cho mình thì họ phải cùng chịu trách nhiệm với người gây ra thiệt hại ñó Tuy nhiên, người bị thiệt hại chỉ phải gánh chịu phần tương ñương với lỗi của họ

Vì vậy có thể coi ñây là một trường hợp ñặc biệt của trách nhiệm bồi thường Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại (ví dụ: cố ý lao vào

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñầu xe ôtô ñể tự tử) thì người bị thiệt hại phải chịu trách nhiệm hoàn toàn còn người gây thiệt hại không phải bồi thường Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ khi xem xét trách nhiệm bồi thường, như phân tích ở trên, cần phải có ñầy ñủ

4 căn cứ (có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra, phải có lỗi của người gây thiệt hại) nếu thiếu một trong các căn cứ ñó thì cũng không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ở ñây lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại tạo ra, họ

ñã ñặt người gây thiêt hại vào trong tình trạng phải phòng vệ chính ñáng, hay tình thế cấp thiết không thể làm khác hơn

Vậy, nếu một người có hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính ñáng, hay

do bị ñặt vào tình thế cấp thiết, do lỗi hoàn toàn của người bị thiệt hại thì họ ñược miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại

3 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

3.1 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Khi có một ñơn kiện gởi ñến Tòa án thì cán bộ Tòa án có trách nhiệm xem xét thời hiệu khởi kiện còn hay hết Vậy, khi có một thiệt hại xảy ra thì quyền khởi kiện tồn tại bao lâu?

BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 ñều có quy ñịnh thời hiệu khởi kiện Theo BLDS 1995: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể ñược quyền khời kiện ñể yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn ñó kết thúc thì bị mất quyền khởi kiện” Tương tự, BLDS 2005 cũng quy ñịnh thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể ñược quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, tuy nhiên, cơ quan nhà nươc có thẩm quyền ở ñây chỉ có thể là Tòa án

BLDS 1995 không quy ñịnh cụ thể thời hạn ñó là bao lâu và Nghị quyết 01/2004/NQ-HðTP cũng không hướng dẫn về vấn ñề này Có lẽ, trong hầu hết trường hợp, người bị thiệt hại ñiều nhanh chóng thực hiện quyền của mình, do

ñó, thẩm phán hầu như không có cơ hội xem xét và giải quyết các yêu cầu bác ñơn kiện với lý do vụ việc ñã xảy ra quá lâu Tuy nhiên, việc xác ñịnh thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại vẫn tỏ ra cần thiết ñể ngăn ngừa khả năng Tòa án phải xem xét những vụ việc ñã xảy ra quá lâu Do ñó, BLDS 2005 ñã

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cụ thể hóa thời hiệu khởi kiện trong một số trường hợp cụ thể ðối với thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại “thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân,

chủ thể khác bị xâm phạm” (ðiều 607 BLDS 2005) Quy ñịnh này ñược hướng dẫn cụ thể tại nghị quyết 03/2006/NQ-HðTP như sau:

“- ðối với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng phát sinh kể từ ngày 01/01/2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm

- ðối với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng phát sinh trước ngày 01/01/2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày 01/01/2005”

Quy ñịnh trên chỉ cho phép người có quyền yêu cầu khởi kiện duy trì quyền của mình trong một khoảng thời gian hợp lý (2 năm), nếu qua thời gian

ñó mà họ vẫn không sử dụng quyền của mình thì có nghĩa là họ ñã từ bỏ nó Trong trường hợp này, áp dụng quy tắc suy lý “luật dừng lại ở nơi dừng lại của lý lẽ” thì không có lý do gì ñể bảo vệ họ nữa khi họ ñã tự từ bỏ quyền của mình Tuy nhiên, ñặt ra trường hợp nếu một người không sử dụng quyền này trong khoảng thời gian quy ñịnh vì nguyên nhân khách quan, thiết nghĩ, thời hạn hai năm nên ñược tính kể từ ngày không còn yếu tố khách quan ảnh hưởng ñến việc khởi kiện của họ

Ví dụ, A sống ñộc thân không người thân thích, 01/01/2005 A bị tai nạn

giao thông làm mất trí, ñến 01/05/2007 hồi phục trí nhớ Từ khi thiệt hại phát sinh, từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của A bị xâm phạm ñến khi A hồi phục trí nhớ thì thời hiệu khởi kiện theo quy ñịnh tại ðiều 607 BLDS 2005 ñã hết (ñã 2 năm 4 tháng), trong trường hợp này, không phải A từ bỏ quyền của mình mà do tình trạng sức khỏe buộc A không thể thực hiện quyền khởi kiện

Do ñó, quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại của A cần ñược bảo vệ

3.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

Xuất phát từ ñặc ñiểm các quan hệ tài sản mà luật dân sự ñiều chỉnh cũng như ñịa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, những ñiều kiện khách quan cũng như chủ quan của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại, tính khả thi của quyết ñịnh bồi thường… Trước hết, việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng phải xuất phát từ những nguyên tắc ñược quy ñịnh từ ðiều 4 ñến ðiều 12 của BLDS 2005, tại chương I “Những

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nguyên tắc cơ bản” vì những nguyên tắc này là những nguyên tắc ñược xác ñịnh là cơ bản và ñược áp dụng chung cho toàn bộ hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực dân sự Do ñó, phải xem xét chúng như một thể thống nhất khi giải quyết vấn ñề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ñược quy ñịnh tại ðiều 605 BLDS 2005 Nguyên tắc chung là thiệt hại phải ñược bồi thường toàn bộ và kịp thời Bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra là nguyên tắc công bằng, hợp lý phù hợp với mục ñích cũng như chức năng phục hồi của chế ñịnh pháp luật này Bồi thường kịp thời cho người bị thiệt hại nhằm khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại, tạo ñiều kiện cho họ khắc phục tình trạng trước khi thiệt hại xảy ra, phần nào giảm bớt những nỗi ñau, mất mát về vật chất, tinh thần.ðiều này càng có ý nghĩa quan trọng khi bồi thường thiệt hại

về tính mạng, sức khoẻ trong việc cứu chữa, hạn chế thiệt hại bởi các chi phí cứu chữa trong trường hợp này nhiều khi vượt quá khả năng của nạn nhân và gia ñình họ

Bồi thường toàn bộ và kịp thời nhưngcần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, phương thức bồi thường (bồi thường một lần hoặc nhiều lần), hình thức bồi thường (bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc) trừ trường hợp luật có quy ñịnh khác.Ở ñây, pháp luật tôn trọng sự

tự do ý chí, thoả thuận của các ñương sự trong quan hệ bồi thường thiệt hại Khi xảy ra thiệt hại ñặc biệt là thiệt hại về tinh thần, theo như phân tích ở những phần trước, rất khó xác ñịnh thiệt hại là bao nhiêu, do ñó các bên có thể thương lượng với nhau mức mà cả hai cảm thấy hợp lý nhất nếu thỏa thuận không trái pháp luật, ñạo ñức xã hội Trong trường hợp các bên không thỏa thuận ñược thì phải căn cứ vào ñiều luật tương ứng của BLDS 2005, trong trường hợp cụ thể có thể xác ñịnh thiệt hại bao gồm những khoản nào, thiệt hại

ñã xảy ra là bao nhiêu, mức ñộ lỗi của các bên ñể buộc người gây thiệt hại bồi thường ở mức tương xứng ðể thiệt hại ñược bồi thường kịp thời, Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật ñịnh Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy ñịnh của pháp luật tố tụng ñể giải quyết yêu cầu cấp bách của ñương

sự

ðể ñảm bảo tính khả thi của bản án, quyết ñịnh của Tòa án, tính phù hợp với các ñiều kiện thực tế của các ñương sự, khoản 2 ðiều 605 BLDS 2005 còn quy ñịnh: “người gây thiệt hại có thể ñược giảm mức bồi thường thiệt hại”

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tuy nhiên,người gây thiệt hại chỉ có thể ñược giảm mức bồi thường thiệt hại

khi có ñủ hai ñiều kiện sau: “Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại”(18) Có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt cũng như về lâu dài của họ không có khả năng bồi thường ñược toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại ñó Nguyên tắc này phù hợp với truyền thống tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam, ñây là nét ñặc trưng của pháp luật Việt Nam nói chung và của chế ñịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự nói riêng.Do ñó, nếu người gây thiệt hại với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý mà không gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình thì không ñược “giảm mức bồi thường” Quy ñịnh của ñiều luật chỉ ñịnh hình, ñịnh tính, mà không ñịnh lượng việc giảm mức bồi thường Việc giảm mức bồi thường phụ thuộc vào ñiều kiện, hoàn cảnh, mức ñộ lỗi của người gây thiệt hại mà Tòa án ra quyết ñịnh trong từng trường hợp cụ thể, việc giảm mức bồi thường là bao nhiêu

Bên cạnh ñó, nếu mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do sự thay ñổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến ñộng về giá cả mà mức bồi thường ñang ñược thực hiện không còn phù hợp trong ñiều kiện ñó hoặc do có sự thay ñổi về tình trạng thương tật, khả năng lao ñộng của người

bị thiệt hại cho nên mức mức bồi thường không còn phù hợp với sự thay ñổi

ñó hoặc do sự thay ñổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại thì mức bồi thường có thể ñược thay ñổi Nguyên tắc thay ñổi mức bồi thường chỉ ñược thực hiện trong trường hợp bồi thường theo ñịnh kỳ mà không ñược ñặt ra trong trường hợp bồi thường toàn bộ một lần Trên thực tế, người bị thiệt hại thường yêu cầu tăng mức bồi thường và thời hạn bồi thường Ngược lại, người gây thiệt hại thường yêu cầu giảm mức bồi thường và thời hạn bồi thường… Việc xem xét các ñiều kiện thực tế và xác ñịnh sự phù hợp cũng như quyết ñịnh thay ñổi mức bồi thường thuộc về Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nguyên tắc này thực sự khách quan và công bằng, bảo vệ quyền

và lợi ích của hai bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại

4 Xác ñịnh thiệt hại:

Xác ñịnh thiệt hại là một phần quan trọng mà các thẩm phán phải cân nhắc khi giải quyết một vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp ñồng Vậy, có những thiệt hại nào cần ñược quan tâm?

(18)

Khoản 2 ðiều 605 BLDS 2005

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

4.1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại ñược bồi thường bao gồm:

1 Tài sản bị mất;

2 Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

3 Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4 Chi phí hợp lý ñể ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.(19)

Có lẽ theo quan ñiểm của các nhà làm luật Việt Nam, thiệt hại về tài sản

là thiệt hại dễ khắc phục hậu quả nhất Khi một người làm mất, hủy hoại hay làm hư hỏng tài sản của một người khác họ chỉ phải bồi thường cho người bị thiệt hại những khoản thuộc về vật chất, không có những thiệt hại về tinh thần ñược thừa nhận

4.2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

ðiều 609 BLDS 2005 (ðiều 613 BLDS 1995) quy ñịnh cụ thể những thiệt hại cần xác ñịnh khi sức khỏe bị xâm phạm và ñược hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HðTP (Nghị quyết 01/2004/NQ-HðTP)

 Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện ñưa người bị thiệt hại ñi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ ñịnh của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp ñạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người

bị thiệt hại theo chỉ ñịnh của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe ñẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ ñể hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)

 Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Nếu

trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng

do sức khỏe bị xâm phạm họ phải ñi ñiều trị và do ñó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ ñược bồi thường khoản thu nhập thực tế

bị mất hoặc bị giảm sút ñó

(19)

ðiều 608 BLDS 2005

Ngày đăng: 27/11/2015, 20:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạp chí luật học, số 10/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí luật học
Năm: 2006
4. Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 01/ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2006
5. Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 6/ 2006. ðịa chỉ trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2006
7. Vụ công tác lập pháp, Những nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2005, NXB Tư pháp, 2006.Báo, tạp chí Khác
2. Tạp chí luật học, số 10/ 2007 Khác
3. Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 6/2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w