1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm tính mạng con người trong luật hình sự việt nam

95 727 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 852,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ðối với các tội xâm phạm tính mạng con người trong luật hình sự Việt Nam, chúng ta ñi sâu vào nghiên cứu, xem xét các nguyên nhân và ñiều kiện ñược thể hiện một cách khái quát qua các dạ

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC LỜI NÓI ðẦU 1

1 Tính cấp thiết của ñề tài 1

2 Nội dung nghiên cứu .2

3 Phạm vi và mục ñích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu .2

5 Cơ cấu luận văn .2

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VI Ệ T NAM 3

1.1 Khái niệm chung về các tội xâm phạm 3

1.1.1 khái niệm 3

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý 3

1.1.2.1 Mặt khách thể của tội phạm .3

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm 3

1.1.2.3 Mặt chủ thể của tội phạm .4

1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm .4

1.1.3 Hình phạt .4

1.2 Nguyên nhân, ñiều kiện của tình hình tội phạm 5

1.3 Lịch sử phát triển các quy ñịnh về các tội 9

1.3.1 Giai ñoạn trước năm 1945 10

1.3.2 Giai ñoạn từ năm 1945 ñến 1975 11

1.3.3 Giai ñoạn 1975 ñến nay 12 Chương 2

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ VỀ TỘI XÂM PHẠM TÍNH

MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRONG LUẬT

HÌNH S Ự VI Ệ T NAM 14

2.1 Tội giết người (ðiều 93 Bộ luật hình sự) 14

2.1.1 ðịnh nghĩa 14

2.1.2 Các dấu hệu pháp lý 14

2.1.3 Về hình phạt 19

2.1.3.1 Khung tăng nặng có mức hình phạt từ 12 năm ñến 20 .19

2.1.3.1.1 Giết nhiều người 19

2.1.3.1.2 Giết phụ nữ mà biết là có thai .20

2.1.3.1.3 Giết trẻ em 21

2.1.3.1.4 Giết người ñang thi hành công vụ 22

2.1.3.1.5 Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân 22

2.1.3.1.6.Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô 23

2.1.3.1.7 Giết người mà liền trước ñó hoặc ngay sau ñó 24

2.1.3.1.8.Giết người ñể thực hiện hoặc che dấu tội phạm khác .25

2.1.3.1.9 Giết người ñể lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân .26

2.1.3.1.10.Thực hiện tội phạm một cách man rợ .27

2.1.3.1.11 Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp .27

2.1.3.1.12 Giết người bằng phương pháp có khả .27

2.1.3.1.13 Thuê giết người hoặc giết người thuê .28

2.1.3.1.14 Giết người có tính chất côn ñồ .28

2.1.3.1.15 Giết người có tổ chức 29

2.1.3.1.16 Giết người trong trường hợp tái phạm nguy hiểm 29

2.1.3.1.17 Giết người vì ñộng cơ ñê hèn 30

2.1.3.2 Có khung hình phạt tù từ 7 năm ñến 15 năm tù .32

2.2 Tội giết con mới ñẻ 34

2.2.1 ðịnh nghĩa 34

2.2.2 Các dấu hiệu pháp lý 34

2.2.3 Về hình phạt 35

2.3 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị 36

2.3.1 ðịnh nghĩa .36

2.3.2 Các dấu hiệu pháp lý 36

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.3.3 Về hình phạt 39

2.4 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ 39

2.4.1 ðịnh nghĩa 39

2.4.2 Các dấu hiệu pháp lý 39

.4.3 Về hình phạt 41

2.5 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ 42

2.5.1 ðịnh nghĩa 42

2.5.2 Các dấu hiệu pháp lý 42

2.5.3 Về hình phạt 44

2.6 Tội vô ý làm chết người 45

2.6.1 ðịnh nghĩa 45

2.6.2 Các dấu hiệu pháp lý 45

2.6.3 Về hình phạt 46

2.7 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc 47

2.7.1 ðịnh nghĩa 47

2.7.2 Các dấu hiệu pháp lý 48

2.7.3 Về hình phạt 48

2.8 Tội bức tử (ðiều 99 Bộ luật hình sự) 49

2.8.1 ðịnh nghĩa 49

2.8.2 Các dấu hiệu pháp lý 49

2.8.3 Về hình phạt 51

2.9 Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát 52

2.9.1 ðịnh nghĩa 52

2.9.2 Các dấu hiệu pháp lý 52

2.9.3 Về hình phạt 53

2.10 Tội không cứu giúp người ñang ở trong tình 54

2.10.1 ðịnh nghĩa 54

2.10.2 Các dấu hiệu pháp lý 54

2.10.3 Về hình phạt 56

2.11 Phân biệt giữa các tội xâm phạm tính mạng với 57

2.11.1 Sự khác biệt giữa tội giết người trong trạng thái tinh .57

2.11.1.1.Với trường hợp phạm tội bị kích ñộng mạnh về tinh .57

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.11.1.2 Với trường hợp giết người do vượt quá giới 58

2.11.1.3.Với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây .59

2.11.2 Sự khác biệt giữa tội làm chết người trong khi thi .59

2.11.2.1 Với tội giết người ở ñiều 93 Bộ luật hình sự .59

2.11.2.2 Với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng .60

Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC .62

3.1.Thực trạng về các tội xâm phạm tính mạng con 62

3.2 Những vướng mắc và bất cập 67

3.2.1 Về mặt lập pháp 67

3.2.2 Những bất cập và vướng mắc trong công tác ñiều tra, truy 70

3.2.3 Những bất cập và vướng mắc trong công tác vận ñộng, 73

3.3 Các giải pháp 73

3.3.1 Giải pháp ñối với các nguyên nhân và ñiều kiện của các .73

3.3.2 Một số giải pháp ñấu tranh với tình hình tội phạm .76

3.3.3 Hoàn thiện pháp luật 79

3.3.3.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự 79

3.3.3.2 Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác 81

3.3.3 Các biện pháp cụ thể trong qúa trình ñiều tra, truy tố, xét .82

3.3.4 Thông qua công tác vận ñộng tuyên truyền pháp luật .84

KẾT LUẬN 86

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ðẦU

1 Tính cấp thiết của ñề tài

Trong nhiều thập kỷ bị chiến tranh tàn phá nặng nề, sau khi giành ñược ñộc lập,

ñất nước ta ñứng trước những khó khăn vô cùng to lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế,

chính trị, văn hoá…Trong hoàn cảnh ñó, ðảng và Nhà nước ta ñã tiến hành công cuộc

ñổi mới (năm 1986) với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và

văn minh Từ khi ñổi mới chúng ta ñã khẳng ñịnh mình trên trường quốc tế; nền kinh

tế tăng trưởng khá nhanh, ñời sống nhân dân ñược cải thiện ñáng kể Việt Nam giờ ñây

là môi trường ñầu tư thuận lợi ñồng thời là bạn hợp tác kinh tế của khá nhiều nước trên thế giới Mới ñây, ngày 07 tháng 11 năm 2007, thế giới hân hoan chào ñón Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới – WTO Sự kiện trọng ñại này ñã ñánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam Những cơ hội thuận lợi và không ít những khó khăn thách thức ñang ñặt ra Việt Nam trên bước ñường phát triển cần phải vững vàng, bản lĩnh ñể vượt qua mọi trở ngại cũng như nắm bắt thời cơ Bên cạnh ñó, tình hình thế giới và khu vực ñang diễn biến rất phức tạp Chiến tranh xảy ra, môi trường bị hủy hoại; các loại tội phạm ngày càng trở nên nguy hiểm, phức tạp; hình thức phạm tội cũng tinh vi hơn Trước những khó khăn ñó, Việt Nam cần phải quan tâm và phát huy hơn nữa cuộc ñấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và các tội phạm tính mạng con người nói riêng ðể bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế ñộ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia

và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân góp phần vào

sự nghiệp kiến thiết nước nhà

“Con người là vốn quý nhất của xã hội”, tính mạng của con người là thiêng liêng,

bất khả xâm phạm

Thật vậy, tại ñiều 71 Hiến pháp 1992 quy ñịnh: “công dân có quyền bất khả xâm

phạm về thân thể, ñược pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” ðể ñảm bảo các nguyên tắc ñược Hiến pháp ghi nhận, Bộ luật Hình sự 1985

trước ñây và nay là Bộ luật Hình sự 1999 ñã dành một chương riêng quy ñịnh những hành vi xâm phạm ñến quyền sống, quyền bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tính mạng,

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

danh dự và nhân phẩm của con người là tội phạm và người có hành vi vi phạm phải chịu hình phạt

để góp phần ựấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, ựứng

dưới góc ựộ của một người nghiên cứu pháp luật, tôi xin trình bày một số nội dung liên quan ựến phần tội phạm trong luật Hình sự đó là các tội phạm xâm phạm tắmh mạng con người trong luật Hình sự Việt Nam

2 Nội dung nghiên cứu

Bài viết này ựi sâu vào nghiên cứu các vấn ựề liên quan ựến các tội xâm phạm tắnh mạng trong luật Hình sự Việt Nam Những nội dung cơ bản như: lịch sử phát triển, dấu hiệu pháp lý chung và ựối với từng loại tội cụ thể, thực trạng và các biện pháp phòng chống các tội xâm phạm tắnh mạngẦSau ựó có cách nhìn tổng quát và

ựánh giá chung cho các loại tội phạm này Bên cạnh các ựiều luật cụ thể thì số liệu và

tình hình thực tế sẽ góp phần làm rõ nguyên nhân cơ bản và ựề ra các biện pháp xử lý, phòng chống có hiệu quả

3 Phạm vi và mục ựắch nghiên cứu

Bài viết sẽ ựi sâu nghiên cứu một phần của chương XII của Bộ luật Hình sự

1999, ựó là các tội xâm phạm tắnh mạng con người

Giới hạn trong luận văn này tôi chỉ trình bày 10 tội cơ bản ựược quy ựịnh tại các ựiều 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102 của Bộ luật Hình sự 1999 Ngoài ra, trong những ựiều kiện khác cho phép, tôi sẽ nghiên cứu sâu rộng ựể từ ựó có cách nhìn

và hiểu biết toàn diện hơn đặt biệt là ựể hoàn thành tốt luận văn của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn ựược xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức ựã có, thu thập và tổng hựp tài liệu có liên quan ựến các tội xâm phạm tắnh mạng, kết hợp với việc khảo sát thực tế ựể chứng minh và làm rõ vấn ựề Mặc khác, tác giả cũng ựã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như:

- Dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về tội phạm và hình phạt

- Thu thập tài liệu, thống kê số liệu,Ầ

- Phân tắch, tổng hợp, so sánh

5 Cơ cấu luận văn

Luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về các tội xâm phạm tắnh mạng con người trong luật

hình sự Việt Nam

Chương 2: Các tội phạm cụ thể về xâm tội phạm tắnh mạng con người trong luật

hình sự Việt Nam

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng về các tội xâm phạm tính mạng con người ở Việt Nam

Những vướng mắc, bất cập và các giải pháp khắc phục

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH

MẠNG CON NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM 1.1 Khái niệm chung về các tội xâm phạm tắnh mạng của con người trong luật hình sự Việt Nam

1.1.1 khái niệm

Các tội xâm phạm tắnh mạng là hành vi (hành ựộng hay không hành ựộng) có lỗi (cố ý hay vô ý) xâm phạm quyền ựược tôn trọng và bảo vệ tắnh mạng của người khác

Theo Bộ luật Hình sự 1999 có 10 tội thuộc nhóm này đó là các tội:

- Tội giết người (điều 93 BLHS);

- Tội giết con mới ựẻ (điều 94 BLHS);

- Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kắch ựộng mạnh (điều 95 BLHS);

- Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chắnh ựáng (điều 96 BLHS);

- Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (điều 97 BLHS);

- Tội vô ý làm chết người (điều 98 BLHS);

- Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chắnh (điều 99 BLHS);

- Tội bức tử (điều 100 BLHS);

- Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (điều 101 BLHS);

- Tội không cứu giúp người ựang ở trong tình trạng nguy hiểm ựến tắnh mạng (điều 102 BLHS)

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý

1.1.2.1 Mặt khách thể của tội phạm

Khách thể của nhóm tội phạm này là một trong những khách thể quan trọng nhất

ựược luật Hình sự bảo vệ đó là quyền sống, quyền ựược tôn trọng và bảo vệ tắnh

mạng của con người

đối tượng của nhóm tội này là những chủ thể có quyền ựược tôn trọng và bảo vệ

về tắnh mạng đó là những người ựang sống, những người ựang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người - thực thể của tự nhiên và xã hội

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của các tội phạm xâm phạm tắnh mạng tuy khác ở hình thức thể hiện cụ thể nhưng có cùng tắnh chất là ựều có thể trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hại ựến tắnh mạng hoặc ựe doạ gây thiệt hại Trong những hành vi tội phạm tội của nhóm tội phạm này, có những hành vi có thể ựược thực hiện cả bằng hình thức hành

ựộng và không hành ựộng (điều 93, 98 BLHS 1999), có những hành vi có thể ựược

thực hiện bằng hình thức hành ựộng (điều 96, 97, 98, 99, 100, 101 BLHS) và có hành

vi chỉ có thể thực hiện bằng hình thức không hành ựộng (điều 102 BLHS)

Hậu quả của những hành vi trên có thể trực tiếp hay gián tiếp gây ra là thiệt hại

ựến quyền sống của con người, thể hiện dưới dạng thiệt hại thể chất là chết người Tuy

nhiên dấu hiệu hậu quả chết người chỉ là dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm (các ựiều 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 102 BLHS) Ở các cấu thành tội phạm còn lại hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong ựó có hai cấu thành tội phạm phải có dấu hiệu hậu quả là hành vi tự sát của nạn nhân (điều 100, 101 BLHS)

1.1.2.3 Mặt chủ thể của tội phạm

Chủ thể hầu hết các tội xâm phạm tắnh mạng không phải là chủ thể ựặc biệt Những người có năng lực trách nhiệm hình sự và ựạt ựộ tuổi luật ựịnh ựều có khả năng trở thành chủ thể của nhiều tội trong nhóm này Trong các tội xâm phạm tắnh mạng có hai tội ựòi hỏi chủ thể phải có thêm những ựặc ựiểm ựặc biệt khác (chủ thể ựặt biệt) Những ựặc ựiểm ựó là người ựang thi hành công vụ và người có quan hệ lệ thuộc với nạn nhân Hai tội ựó là tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (điều 97 BLHS)

và tội bức tử (điều 100 BLHS)

1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội có thể là lỗi cố ý (các tội quy ựịnh tại các điều 93, 94,

95, 96, 100, 101, 102 BLHS) hoặc lỗi vô ý (các tội quy ựịnh tại các điều 98, 99 BLHS)

Hầu hết các cấu thành tội phạm không có dấu hiệu ựộng cơ phạm tội

1.1.3 Hình phạt

Hình phạt chắnh ựược quy ựịnh cho các tội xâm phạm tắnh mạng có nhiều mức ựộ khác nhau Hình phạt thấp nhất là cảnh cáo và cao nhất là tử hình Trong số các tội có một tội ựược quy ựịnh luôn luôn là tội ắt nghiêm trọng; một tội ựược quy ựịnh có thể là tội ựặc biệt nghiêm trọng; bốn tội ựược quy ựịnh có thể là tội rất nghiêm trọng; năm tội

ựược quy ựịnh có thể là tội nghiêm trọng

Ngoài hình phạt chắnh, hình phạt bổ sung ựược quy ựịnh ở bốn tội đó là tội giết người (điều 93 BLHS), tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (điều 97 BLHS), tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chắnh (điều 99 BLHS), tội không cứu giúp người ựang ở trong tình trạng nguy hiểm

ựến tắnh mạng (điều 102 BLHS) Hình phạt bổ sung ựược quy ựịnh cho cả bốn tội là

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hình phạt cấm ñảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất ñịnh

Riêng tội giết người còn có thêm hình phat bổ sung là hình phạt quản chế hoặc cấm cư

trú

1.2 Nguyên nhân, ñiều kiện của tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng nhìn từ góc ñộ tội phạm học

Nguyên nhân, ñiều kiện của tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm nói riêng là ñối tượng nghiên cứu của tội phạm học Bởi vì, quá trình nghiên cứu tội phạm luôn gắn với quá trình tìm tòi phát hiện ra nguyên nhân và ñiều kiện pham tội Tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của ñời sống xã hội

Do ñó, nó có mối quan hệ tác ñộng qua lại với các hiện tượng quá trình xã hội khác mang tính chất tiêu cực và cả những hiện tượng xã hội tích cực Nó chịu sự chi phối và quyết ñịnh của các hiện tượng, quá trình xã hội Vì vậy, ñể phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng, tội phạm học nghiên cứu làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình xã hội làm nảy sinh và quy ñịnh tội phạm như

là hậu quả của hiện tượng, quá trình ñó Nếu không xác ñịnh ñược nguyên nhân và

ñiều kiện của tình hình tội phạm thì không thể ñưa ra các giải pháp phòng ngừa tội

phạm Nhìn từ góc ñộ tội phạm học, nguyên nhân của tình hình tội phạm ñược thể hiện

là tổng hợp các hiện tượng kinh tế, tư tưởng, xã hội, văn hoá, chính trị, tâm lý, tổ chức tiêu cực trong tác ñộng qua lại và thâm nhập lẫn nhau làm phát sinh, quyết ñịnh tình hình tội phạm

Những nguyên nhân và ñiều kiện của tình hình tội phạm trên các lĩnh vực kinh tế,

tư tưởng, xã hội, văn hoá, giáo dục, chính trị…dẫn ñến sự hình thành các quan ñiểm cá nhân manh tính chống ñối xã hội và từ quan ñiểm cá nhân này sẽ dẫn ñến hành vi phạm tội nói chung và ñặc biệt là các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng Tội phạm học còn tìm ra các ñiều kiện, các hiện tượng có vai trò ngăn ngừa sự ảnh hưởng của các nguyên nhân và ñiều kiện của tội phạm và khám phá ra cơ chế tác ñộng qua lại giữa các nguyên nhân và ñiều kiện với nhau dẫn ñến thực hiện hành vi phạm tội cụ thể

Giữa tội phạm nói chung, các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng với hành vi tiêu cực khác không phải là tội phạm có mối quan hệ qua lại với nhau Vì vậy, tội phạm học cần phải nghiên cứu các hiện tượng chống ñối xã hội có ảnh hưởng ñến tội phạm, ñưa ra các biện pháp phòng chống chúng Ví dụ như tình hình sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, ma tuý, mua bán dâm,…

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nguyên nhân và ñiều kiện của tình hình tội phạm nói chung, các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng ñược tội phạm học nghiên cứu thể hiện qua: Nguyên nhân và ñiều kiện của tình hình nhóm tội phạm; nguyên nhân và ñiều kiện của loại tội phạm cụ thể

ðối với các tội xâm phạm tính mạng con người trong luật hình sự Việt Nam,

chúng ta ñi sâu vào nghiên cứu, xem xét các nguyên nhân và ñiều kiện ñược thể hiện một cách khái quát qua các dạng sau ñây:

- Nguyên nhân vì hám lợi: Bản chất của tư tưởng này là phủ ñịnh nguyên tắc phân phối theo lao ñộng, tạo nên sự dối kháng giữa người với người Vì lợi ích của bản thân

mà người phạm tội có thể có những hành vi như: giết người (ðiều 93 Bộ luật hình sự),

cụ thể là thể hiện qua các tội: giết người ñể thực hiện tội phạm khác, giết người ñể lấy

bộ phận cơ thể của nạn nhân, giết người thuê, ; tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (ðiều 101 Bộ luật hình sự);

- Nguyên nhân vì bạo lực: Xuất phát ñiểm của khuynh hướng này là sự mù quáng, coi thường người khác, sự mưu toan thống trị quyền uy ñối với người khác, muốn chà

ñạp lên họ ðặc ñiểm tâm lý của những người gây ra các tội phạm có sử dụng bạo lực

như: giết nhiều người, giết phụ nữ mà biết là có thai, thuê giết người, giết người có tổ chức, phạm tội một cách man rợ,

Những kẻ phạm tội có sử dụng bạo lực có ñặc trưng là tình cảm không biết kìm chế, tầm nhận thức hạn chế, lỗ mãng ða số họ có trình ñộ văn hoá thấp và rất thấp Ngày nay, tình hình tội phạm ñang diễn ra với xu hướng ngày một gia tăng, ñặc biệt là ñối tượng phạm tội phát triển trên diện rộng như: phụ nữ giết người, trẻ em giết người, học sinh giết thầy cô giáo, Nguyên nhân của những hành vi phạm tội ñó cũng xuất phát từ bạo lực của người phạm tội Thật vậy, xu hướng bạo lực ñang là mối lo ngại cho toàn xã hội vì nó ñang có chiều hướng gia tăng

- Nguyên nhân vì sự bị ñộng xã hội: Là tiền ñề của các tội phạm nói chung, các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng như bỏ rơi quyền hạn của mình, vô trách nhiệm, vi phạm các nghĩa vụ công dân, bàng quan với trách nhiệm cá nhân, lơ là với tập thể, quan lieu, Tâm lý của những kẻ phạm tội dạng này thường là theo kiểu “ñèn nhà ai nấy rạng” Trường hợp này ñúng với hành vi phạm tội “cố ý không giúp người

ñang ở trong tình trạng nguy hiểm ñến tính mạng” (ðiều 102 Bộ luật hình sự)… ðiều

ñó, thể hiện tính chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi, sự vô kỷ luật, tính thiếu tổ chức và trốn

tránh trách nhiệm, nghĩa vụ ñối với xã hội và tập thể

- ðiều kiện về nghề nghiệp, trình ñộ nghiệp vụ của người phạm tội: ðây cũng chính là những ñiều kiện mà có thể có nhiều tội phạm xảy ra Có nhiều nguyên nhân

và ñiều kiện bộc lộ ở nhiều khía cạnh khác nhau Người phạm tội do không thực hiện

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñúng những quy tắc nghề nghiệp quy ñịnh mà có thể dẫn ñến chết người, hậu quả chết

người là bất thường và vô ý ðiều ñó ñược thể hiện qua: tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (ðiều 99 Bộ luật hình sự) Tuy nhiên, cũng có trường hợp người phạm tội lợi dụng kiều kiện của bản thân mà thực hiện hành vi phạm tội như: Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (ðiều 93 Bộ luật hình sự) Mặc khác, cũng có những trường hợp người phạm tội có hành vi làm chết người trong khi thi hành, thực hiện nhiệm vụ do sự thiếu hiểu biết hoặc quá tự tin trong công việc, cũng như hành vi của người vì muốn bảo vệ lợi ích chính ñáng mà có hành ñộng vượt quá mức cần thiết cho phép Tâm lý của người phạm tội có thể là vô ý hoặc cố ý như các trường hợp: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (ðiều 97

Bộ luật hình sự), tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng (ðiều 96 Bộ luật hình sự)

Hầu hết, những khuynh hướng phạm tội nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người ñều là sản phẩm của một quá trình giáo dục kém, là hậu quả của quá trình xã hội hoá cá nhân không ñúng mức, gần gũi với bản năng sinh vật của con người

và ñược hình thành do những nguyên nhân và ñiều kiện khách quan

Chúng ta ñiều biết, các hiện tượng và quá trình xã hội nói chung, tội phạm và các hành vi phạm tội nói riêng không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên, ñành rằng các yếu tố như bệnh tật, thần kinh, tính cách,… có ảnh hưởng nhất ñịnh ñến khả năng

ý thức của con người và thông qua ñó ảnh hưởng ñến hành vi của họ nhưng không phải là những yếu tố quyết ñịnh Thật vậy, con người sinh ra không phải trở thành kẻ phạm tội Tính cách, tính khí không phải bẩm sinh mà có, nó ñược hình thành dần dần trong quá trình học tập, lao ñộng rèn luyện, vui chơi, giao tiếp và quan hệ với xã hội xung quanh

Hiện nay, cơ chế tác ñộng qua lại giữa các yếu tố tiêu cực khách quan với các yếu

tố chủ quan vẫn ñang là vấn ñề phức tạp ðối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, thậm chí ñối với mỗi hành vi hoặc nhóm hành vi phạm tội người ta có thể tìm thấy những nguyên nhân phạm tội khác nhau ðối với các tội xâm phạm tính mạng con người có những nhóm nguyên nhân khách quan sau ñây:

- Các yếu tố tiêu cực trong gia ñình: ðây là nguyên nhân hết sức quan trọng góp phần hình thành nên nhân cách lệch lạc của con người ngay từ thuở còn bé, thời niên thiếu Cha mẹ không biết cách giáo dục con cái hoặc cố ý lẫn tránh trách nhiệm giáo dục con cái một cách ñúng ñắn, thường thấy là cha mẹ quá nuông chiều hoặc quá hà khắc ñối với con cái, bỏ mặc con cái,

Những cái xấu thường xảy ra trong gia ñình cũng làm ảnh hưởng ñến nhân cách của con cái như: cãi cọ, mắng chửi, thậm chí là ñánh nhau; chưa kể ñến những thói hư

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tật xấu: tham lam, ắch kỷ, trộm cắp, lừa gạt, nghiện ngập, Ngoài ra, gia ựình không thể hiện thái ựộ kiên quyết lên án ựối với hành vi vô ựạo ựứa, vi phạm pháp luật của con cái, xúi giục lôi kéo con cái phạm tội, Từ ựó hình thành nên nhân cách không tốt ựối với người phạm tội sau này Ngoài những hành vi xâm phạm tắnh mạng con người mà chủ yếu là giết người thì giết ông, bà, cha, mẹ của người phạm tội, người nuôi dưỡng người phạm tội là hậu quả của quá trình dạy dỗ không tốt từ phái gia

ựình,

- Các yếu tố bên trong nhà trường: đó là các phương pháp giáo dụ không tốt, không thắch hợp với yêu cầu ựào tạo con người mới, tách rời lý thuyết với thực hành, buông thả kỷ luật học tập và rèn luyện, thiếu kiểm tra và uốn nắn kịp thời ngay từ ựầu

từ những sai phạm nhỏ của sinh viên, học sinh Bên cạnh ựó, những hành vi vi phạm

ựạo ựức và vị phạm pháp luật của giáo viên chưa ựược xử lý nghiêm sẽ là tấm gương

xấu ựể các sinh viên, học sinh noi theo Ngoài ra, chất lượng giáo dục về ý thức ựạo

ựức và pháp luật cho học sinh chưa ựược quan tâm ựúng mức Chắnh vì thế mà trong

thời gian gần ựây có nhiều vụ án giết người thường xuyên diễn ra trong các nhà trường trên khắp cả nước, ựối tượng phạm tội là sinh viên, học sinh còn người bị hại là các thầy cô giáo, các sinh vinh viên và học sinh đây là những trường hợp giết người thể hiện tắnh phản trắc và vô ựạo ựức của kẻ phạn tội

- Các yếu tố tiêu cực từ môi trường xung quanh: Môi trường sinh hoạt xung quanh cuộc sống hằng ngày của người phạm tội có ảnh hưởng rất lớn ựến tắnh cách cũng như dẫn ựến hành vi phạm tội của họ Thật vậy, ựây chắnh là những nơi mà người phạm tội tiếp xuc thường xuyên như nơi giải trắ, khu dân cư, trường học và các nơi công cộng khác, ựiều này ựã ảnh hưởng ắt nhiều ựến nhân cách tốt hay xấu của người phạm tội Ngoài ra sự cám dỗ từ phắa bạn bè xấu ựã lôi cuốn người phạm tội ựi vào con ựường tội lỗi như:ăn chơi, hút chắt, giết người, cướp của,

- Các yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội: đó là tình trạng xuống cấp của ựạo

ựức xã hội ở một bộ phận nhỏ dân cư, sự lây lan của tình trạng vi phạm pháp luật và

tội phạm đặc biệt là ựối với các tội xâm phạm tắnh mạng con người có nền mống từ môi trường xã hội này Nguyên nhân phải kể ựến là sự thiếu ựồng bộ và sự chồng chéo của hệ thống pháp luật, những chủ trương, chắnh sách chưa phù hợp; sự lưu hành bất hợp pháp của các loại hình văn hoá phẩm ựồi truỵ do thiếu kiểm soát chặt chẽ của cơ quan chức năng,

- Các yếu tố tiêu cực trong tập thể lao ựộng, trong các hoạt ựông vui chơi, giải trắ

và sinh hoạt của xã hội: đó là các quyết ựịnh sai trái của lãnh ựạo, phân phối sản phẩm không công bằng, tổ chức kém hiệu quả, kỷ luật lỏng lẻo, các hành vi phạm pháp không ựược xử lý ựúng mức, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, không trong sáng, Từ ựó

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dẫn ñến cá nhân của tổ chức tập thể phạm tội như: Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (ðiều 99 Bộ luật hình sự), Tội giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (ðiều 93 Bộ luật hình sự), Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (ðiều 97 bộ luật hình sự)

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì cũng cần chú ý ñến những ñiều kiện Thật vậy, cho dù các nguyên nhân ñã tồn tại nhưng thiếu những ñiều kiện thuận lợi thì tội phạm không thể xảy ra hoặc khó có thể xảy ra Tuỳ từng trường hợp cụ thể

mà ñiều kiện này khác nhau ðối với các tội xâm phạm tính mạng con người, ñiều kiện thuận lợi cho tội phạm ñược thực hiện dễ dàng ñó là: sự thiếu cảnh giác của người bị hại; không có sự kiểm tra, tuần tra thường xuyên của cơ quan chức năng; không tạo

ñược dư luận rộng rãi lên án những hành vi vi phạm pháp luật, ñặc biệt là ñối với các

tội phạm thể hiện tính giáo dục cao như tội giết con mới ñẻ, giết ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, giết người ñể lấy bộ phận cơ thể của nạn nhận, ; không có sự phản ứng,

tố giác kịp thời của người dân cũng như tâm lý lo sợ bị trả thù của mọi người khi phát hiện tội phạm Bên cạnh ñó, còn phải kể ñến những ñiều kiện mà do chính nạn nhân ñã tạo ra cho người phami tội như có suy nghĩ, ý ñịnh muốn chết (trường hợp phạm tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát) Có những ñiều kiện do người khác ñem lại như tội giết người thuê và thuê giết người; cả người thuê và người giết thuê ñiều tạo ñiều kiện cho nhau ñể thực hiện tội phạm Nếu không có người thuê thì người giết thuê không phạm tội này và ngược lại nếu không có người giết thuê thì ñâu có người thuê giết người và tội phạm cũng không xảy ra

Mặc khác cũng phải kể ñến những quy ñịnh của pháp luật thiếu chặt chẽ, chủ trương chính sách thiếu phù hợp, cũng là những ñiều kiện thuận lợi cho người phạm tội thực hiện hành vi trái pháp luật của mình

Tóm lại, những nguyên nhân và ñiều kiện kể trên ñều dẫn tới tội phạm nói chung, các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng Chúng ta cũng thấy ñược rằng bản chất và nguồn gốc cũng như cơ chế tác ñộng của chúng là hết sức phức tạp và sự ảnh hưởng của chúng ñối với tình hình tội phạm là không nhỏ

1.3 Lịch sử phát triển các quy ñịnh về các tội xâm phạm tính mạng con người trong Luật hình sự Việt Nam

Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta ñã ñạt ñược nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước ñộc lập, tự chủ vững mạnh Qua ñó, ñã ñể lại cho các thế hệ sau nhiều

di sản quý báu về kinh nghiệm quản lý và ñiều hành ñất nước Một trong những di sản quý báu ñó là thành quả to lớn, ñầy tính sáng tạo trong xây dựng nền pháp luật ñộc lập, tự chủ phù hợp với ñiều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai ñoạn lịch sử, trong ñó

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thành tựu về lập pháp hình sự có vị trắ trọng yếu Thật vậy, khi nói về lĩnh vực hình sự

là chúng ta lại nghĩ ựến các tội phạm và hình phạt Một trong những nhóm tội phạm tiêu biểu của luật hình sự thì các tội xâm phạm tắnh mạng con người cũng có một bề dày lịch sử phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Dưới góc ựộ nghiên cứu của ựề tài này, lịch sử phát

triển các tội xâm phạm tắnh mạng ựược xem xét qua các giai ựoạn sau:

1.3.1 Giai ựoạn trước năm 1945

Do nguồn tài liệu ựể lại không nhiều nên chỉ nghiên cứu các tội xâm phạm tắnh mạng theo từng thời kì riêng lẽ Trong giai ựoạn này, chưa có ựịnh nghĩa pháp lắ về khái niệm tội phạm nhưng có ựề cập ựến một số loại tội phạm và hình phạt

Thời kì nhà Lý, về lĩnh vực hình sự có ựề cập ựến tội xâm phạm tắnh mạng thông qua Bộ hình thư - bộ luật thành văn ựầu tiên của nước ta, ựược lập ra vào năm 1042;

thông qua tội giết người: ỘNếu tranh nhau ruộng ao, mà lấy ựồ binh khắ nhọn sắc ựánh

chết hay làm bị thương người thì ựánh 80 trượng, xử tội ựồ, ựem ruộng ao ấy trả cho người chết hoặc bị thươngỢ 1 Có thể nói ựây là hình phạt quá nhẹ ựối với tội giết người Tội giết người cũng ựược xếp vào tội thập ác như: ựánh chết ông bà, cha mẹ (ác nghịch); giết người vô tội (bất ựạo); mưu giết người hay bán người thân (bất mục); giết trưởng quan, thầy học (bất nghĩa) Khi giết người thuộc vào tội thập ác thì không ựược chuộc bằng tiền mà phải bị phạt

Thời kì nhà Lê, thông qua Bộ luật Hồng đức và Hồng đức thiện chắ (1483) có

quy ựịnh về tội giết người Vắ dụ: ở điều 479 quy ựịnh: Ộđánh chết người thì xử tội

giảo,ựánh chết không phải bằng mũi nhọn và không phải cố ý giết người thì xử tội lưu

ựi châu xaỢ 2 Như vậy, ở Bộ luật này có ựề cập ựến lỗi cố ý và lỗi vô ý Ờ với lỗi cố ý

thì chịu trách nhiệm nặng hơn lỗi vô ý Ngoài ra, còn có thêm quy ựịnh: Ộđi bắt tội

nhân mà tội nhân chống cự bị người ựi bắt ựánh chết, hay vì tội nhân bỏ chạy, ựuổi

mà ựánh chết, hay vì tội nhân cùng quẫn quá mà tự sát, thì người ựi bắt ựều ựược miễn tội, (điều 646 Bộ luật Hồng đức)Ợ3 Như vậy, ựối với người thi hành nhiệm vụ

mà làm chết người khác thì cũng ựược xem là không có tội Cũng giống như thời nhà

Lý, Bộ luật Hồng đức cũng quy ựịnh tội giết người thuộc vào nhóm tội thập ác và bị

trừng phạt nặng nhất, ựó là: Ộđánh và mưu giết ông bà, cha mẹ, chú, bác,thắm, cô, anh,

chị, em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng (ác nghịch); giết hay ựem bán những người trong họ từ hàng phải ựể tang 03 tháng trở lên, ựánh ựập và tố cáo chồng, cùng

1.Xem: TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chắnh trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.19 2.Xem: TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chắnh trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.31

3 Xem:TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chắnh trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.34

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

những họ hàng từ tiểu công trở lên (bất hiếu, bất mục); giết quan bản phủ và các quan

ñương chức tại nhiệm, giết thầy học, nghe tin chồng chết không cử ai lại vui chơi ăn

mặc như thường, cùng là cải giá (bất nghĩa)” 4 Với những quy ñịnh ñó nhằm mục

ñích bảo vệ chế ñộ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc về luân lý ñạo ñức phong kiến

Thời kì nhà Nguyễn cũng ñề cập ñến các tội xâm phạm tính mạng thông qua Bộ luật Gia Long (1812) Cũng giống như pháp luật hình sự thời nhà Lê, Bộ luật Gia Long cũng quy ñịnh các tội xâm phạm tính mạng qua hành vi giết người, ñồng thời có quy ñịnh các tội giết người trong các tội thập ác như: bất hiếu, bất mục, bất nghĩa,…

và phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc xếp ngang hàng các tội chống chính quyền như mưu phản, mưu ñại nghịch, phản bội Tại ðiều 251 quy ñịnh tội âm mưu giết người;

ðiều 265 quy ñịnh tội xe, ngựa làm người bị thương, chết người: “Phàm vô cớ không

ñược cho xe, ngựa chạy nhanh tha hồ nơi tiệm buôn, phố chợ Nhân ñó làm cho người

ta bị thương thì giảm một bực theo thường nhân ñánh lộn có thương tích, nếu nhân ñó chết người, phạt 100 trượng và lưu 3000 dặm” 5

Thời kì thực dân Pháp xâm lược với ba bộ luật ñược áp dụng cho ba miền: Hình luật canh cải (áp dụng tại Nam kỳ); Luật hình An Nam (áp dụng ở Bắc Kỳ); Hoàng Việt hình luật (áp dụng ở Trung Kỳ) Cả ba bộ luật hình này ñều quy ñịnh các tội xâm phạm tính mạng và hình phạt ðặc biệt là tội xâm phạm tính mạng nhà vua, Hoàng thân và cuộc trị yên của Nhà nước nhằm ñe dọa phong trào yêu nước, ñấu tranh giành

ñộc lập của nhân dân Việt Nam Ngoài ra còn có quy ñịnh (giống như là phòng vệ

chính ñáng): “Khi giết người, làm cho có thương tích và ñánh ñập mà giữ thân mình,

hay giữ thân người ta, thì không có trọng tội, khinh tội” 6 Như vậy, dù không có ñịnh nghĩa về phòng vệ chính ñáng nhưng có xu hướng bảo vệ người có hành vi giết người bởi lẽ mục ñích là ñể phòng vệ

1.3.2 Giai ñoạn từ năm 1945 ñến 1975

ðây là giai ñoạn mà ñịnh nghĩa về tội phạm chưa ñược ghi nhận trong bất kì văn

bản nào, mà chỉ quy ñịnh về tội phạm và hình phạt

Giai ñoạn từ 1945 ñến 1954 ðây là giai ñoạn từ khi Cách mạng tháng Tám thành công và sau ñó là thời kì toàn quốc kháng chiến, do tình hình khẩn trương nên không thể ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hình sự Do ñó Nhà nước ta ñã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong ñó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và Bộ “Hình luật pháp tu chính” với ñiều kiện

4 Xem:TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chính trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.41

5 Xem:Hoàng Việt luật lệ- NXB Văn hóa-thông tin ,Hà Nội- 1994, tr.666

6 Xem: TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chính trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.69

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ộkhông trái với nguyên tắc ựộc lập của nước Việt Nam và chắnh thể dân chủ cộng hòaỢ

Dù chưa có ựịnh nghĩa về khái niệm phòng vệ chắnh ựáng nhưng ựã có quy ựịnh

về phòng vệ chắnh ựáng trong các trường hợp ựược sử dụng vũ khắ trong khi thi hành nhiệm vụ và giết người, qua Nghị ựịnh số 301- TTg ngày 10-7-1957 của Thủ tướng chắnh phủ, quy ựịnh chi tiết luật số 103-SL ngày 20-5-1957 ựảm bảo quyền tự do thân thể 8

1.3.3 Giai ựoạn 1975 ựến nay

Giai ựoạn này chúng ta ựi sâu nghiên cứu các tội xâm phạm tắnh mạng qua hai bộ luật - Bộ luật hình sự 1985 và Bộ luật hình sự 1999

Các tội xâm phạm tắnh mạng trong Bộ luật hình sự 1985 ựược quy ựịnh cụ thể trong chương II, thông qua các ựiều luật cụ thể ựã cho thấy nhóm tội này ựược quy

ựịnh khá cụ thể, ựầy ựủ và tương ựối chặc chẽ so với trước ựây đó là các ựiều luật: điều 101 (tội giết người); điều 102 (tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ

chắnh ựáng); điều 103 (tội xâm phạm tắnh mạng hoặc sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ); điều 104 (tội vô ý làm chết người); điều 105 (tội bức tử); điều

106 (tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát); điều 107 (tội cố ý không cứu giúp người ựang ở trong tình trạng nguy hiểm ựến tắnh mạng)

Có thể nói Bộ luật hình sự năm 1985 ựánh dấu sự phát triển nhảy vọt về lập pháp nói chung, về pháp luật hình sự nói riêng đăc biệt là phát triển các quy ựịnh về các loại tội phạm, trong ựó phải kể ựến những quy ựịnh về các tội xâm phạm tắnh mạng,

ựáp ứng ựược yêu cầu của xã hội ựặt ra Bộ luật hình sự năm 1985 cũng là bộ luật hình

sự ựầu tiên ở Việt Nam và cũng là văn bản ựầu tiên ghi nhận ựịnh nghĩa pháp lắ về khái niệm tội phạm (quy ựịnh tại khoản 1 điều 8) Tuy nhiên, khi Bộ luật hình sự năm

1985 có hiệu lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp ựổi mới bắt ựầu Bộ luật này với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong ựó quy ựịnh tội phạm và hình phạt ựược xác ựịnh trên

7 Xem: TS.Trần Quang Tiệp-Lịch sử Luật hình sự Việt Nam-NXB Chắnh trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.84 8.Xem: TS.Trần Quang Tiệp - Lịch sử Luật hình sự Việt Nam - NXB Chắnh trị quốc gia Hà Nội-2003, tr.95

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiển tình hình tội phạm của thời kì ñó Do vậy, khi Bộ luật ra ñời, nó ñã ở trong tình trạng không phù hợp với chủ trương ñổi mới cũng như những ñòi hỏi của ñổi mới ðể ñáp ứng và phục vụ cho

ñổi mới, luật hình sự buộc phải có những thay ñổi mang tính phát triển Trong khoản

15 năm tồn tại, Bộ luật hình sự năm 1985 ñã ñược sửa ñổi, bổ sung 04 lần vào các năm

1989, 1991, 1992 và 1997 Qua 04 lần sửa ñổi, bổ sung

có trên 100 lượt ñiều luật ñược sửa ñổi, bổ sung Nhờ ñó mà luật hình sự ñã có sự phát triển ñáp ứng ñược phần nào ñòi hỏi của cuộc ñấu tranh phòng chống tội phạm trong

ñiều kiện mới

Bộ luật hình sự năm 1999 ñược xây dựng trên cơ sở sửa ñổi, bổ sung một cách tương ñối toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp

lí, tích cực của Bộ luật hình sự này qua 04 lần sửa ñổi, bổ sung Bộ luật hình sự 1999

ñã có những thay ñổi cần thiết làm cho những quy ñịnh trở nên chặc chẽ hơn Cụ thể là ñối với các tội xâm phạm tính mạng cũng có sự phát triển rõ rệt, có những ñiều luật

trong Bộ luật hình sự 1999 ñược tách ra từ một ñiều trong Bộ luật hình sự 1985 Chẵng hạn: ðiều 93 (tội giết người), ðiều 94 (tội giết con mới ñẻ), ðiều 95 (tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích ñộng mạnh) ñược tách ra từ ðiều 101 (tội giết người)

Bộ luật hình sự 1985 Tội vô ý làm chết người (ðiều 104) Bộ luật hình sự 1985 tách ra thành hai tội, ñó là tội vô ý làm chết người (ðiều 98) và tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (ðiều 99) của Bộ luật hình sự

1999 .v.v Ngoài ra, Bộ luật hình sự 1999 có những bước phát triển hơn các bộ luật trước ñó về các tội xâm phạm tính mang như về các dấu hiệu pháp lí, các yếu tố lỗi, hình phạt…ñể phù hợp với tình hiện tại

Qua những phân tích và tìm hiểu trên ñây giúp cho chúng ta thấy ñược rằng pháp luật hình sự nói chung, các quy ñịnh về các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng có một bề dày lịch sử phát triển nhất ñịnh.Thông qua từng giai ñoạn phát triển và nhu cầu của xã hội, các quy ñịnh về các tội xâm phạm tính mạng trong pháp luật hình

sự cũng có sự chuyển biến, thay ñổi tích cực ñể ngày càng hoàn thiện hơn Từ ñó ñảm bảo trật tự, an toàn cho xã hội, ñồng thời làm nền tảng vững chắt trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ ñất nước

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 2 CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ VỀ TỘI XÂM PHẠM TÍNH

MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRONG LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.1 Tội giết người (ðiều 93 Bộ luật hình sự)

Trong Bộ luật hình sự năm 1999 tại ðiều 93 quy ñịnh tội giết người nhưng không mô tả dưới dạng ñịnh nghĩa mà chỉ nêu tội danh Từ thực tiển xét xử ñã ñược

thừa nhận, có thể ñịnh nghĩa như sau: Giết người là hành vi cố ý tước ñoạt tính mạnh

của người khác một cách trái pháp luật

ðiều luật chỉ quy ñịnh giết người mà không quy ñịnh cố ý giết người, vì từ “giết”

ñã bao hàm cả sự cố ý Do ñó nếu có trường hợp nào tước ñoạt tình mạng người khác

không phải do cố ý thì không phải là tội giết người ðiều luật cũng không mô tả các dấu hiệu của tội giết người, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử chúng ta có thể xác ñịnh các dấu hiệu của tội giết người như sau:

Ví dụ: Người cảnh sát thi hành bản án tử hình ñối với người phạm tội

- Hành vi tước ñoạt tính mạng ñược hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, kết thúc sự sống của họ Do ñó, những hành vi không có khả năng này không thể xem là hành vi khách quan của tội giết người Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành ñộng hoặc không hành ñộng

+ Hành ñộng: thể hiện qua việc người phạm tội ñã chủ ñộng thực hiện các hành

vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao ñâm, dùng súng bắn, dùng cây ñánh, dùng ñá ñập vào ñầu, … nhằm giết người khác

+ Không hành ñộng: Thể hiện qua việc người phạm tội ñã không thực hiện nghĩa

vụ phải làm (phải hành ñộng) ñể ñảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác…nhằm giết người khác Thông thường tội phạm ñược thực hiện trong trường hợp lợi dụng nghề ngiệp

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ví dụ: ðể trả thù người có thai ñến thời kỳ sinh nở, không thể sinh bình thường

mà phải mổ, bác sĩ phụ sản trực tiếp xử lý ca mổ ñã cố ý trì hoãn không cho mổ với mục ñích giết hại người ñó và dẫn ñến người ñó chết

Ngoài ra, hành vi còn ñược thể hiện qua việc có hoặc không có sử dụng vũ khí, hung khí khác:

+ Có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác Trong trường hợp này người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: sung, lựu ñạn, bom, mìn,…hoặc các tác nhân gây chết người khác như: thuốc ñộc, ñiện,…

+ Không sử dụng vũ khí hoặc hung khí: Trường hợp này người phạm tội chủ yếu dùng sức mạnh cơ thể của mình tác ñộng lên cơ thể của nạn nhân hoặc ñẩy nạn nhân vào ñiều kiện không thể sống ñược như: ñấm, ñá, bóp cổ,…hoặc dùng những thủ ñoạn khác như ñẩy xuống sông…

- Cần phải phân biệt các hành vi:

+ Nếu ñối tượng bị chết là con mới ñẻ thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội giết con mới ñẻ

+ Nếu mà làm chết bản thân mình thì bị coi là tự tử hoặc tự sát chứ không cấu thành tội này

+ Nếu vì vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng mà làm chết người thì cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng

Ngoài ra trong thực tiễn xét xử còn gặp những trường hợp tước ñoạt tính mạng của người khác do ñược sự ñồng ý của nạn nhân ðộng cơ của những hành vi này có thể khác nhau, trong ñó có những ñộng cơ mang tính nhân ñạo

Ví dụ: tước ñoạt tính mạng của người mắc bệnh nguy hiểm nghèo, nhằm tránh

ñau ñớn kéo dài cho họ theo sự yêu cầu của nạn nhân và gia ñình nạn nhân

Tuy nhiên với bất kỳ là ñộng cơ gì thì theo luật Việt Nam những trường hợp này cũng bị coi là trái pháp luật Một số nước trên thế giới lại cho phép và công nhận việc tước ñoạt tính mạng của người khác trong những trường hợp ñó là hợp pháp

- Hậu quả của hành vi: Hành vi khách quan của tội này thông thường gây ra hậu quả làm người khác chết Tuy nhiên về tội giết người có cấu thành hình thức nên hậu quả có làm chết người hay không không phải là dấu hiệu bắt buộc, chỉ cần hành vi mà người phạm tội ñã thực hiện có mục ñích nhằm làm chấm dứt sự sống của người khác

ñược xem là phạm tội giết người

Ví dụ: ðể trả thù B, A dùng súng bắn B, tuy nhiên do ñạn lép A không giết ñược

B Trường hợp này dù hậu quả chết người chưa xảy ra nhưng A vẫn bị coi là phạm tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa ñạt

- Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan ñã thực hiện và hậu quả chết người

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ựã xảy ra cũng là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội giết người Hành

vi trái pháp luật phải là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người Do ựó, hành vi là nguyên nhân gây ra chết người phải là hành vi xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian

Vắ dụ: Sau khi bị bắn, nạn nhân chết

Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi nào xảy ra trước hậu quả chết người ựều là nguyên nhân mà chỉ có những hành vi có mối quan hệ nội tại, tất yếu với hậu quả thì mới là nguyên nhân Mối quan hệ nội tại tất yếu ựó thể hiện ở chổ: Khi cái chết của nạn nhân có cơ sở ngay trong hành vi của người phạm tội; hành vi của người phạm tội

ựã mang trong ựó mầm móng sinh ra hậu quả chết người; hành vi của người phạm tội

trong những ựiều kiện nhất ựịnh phải dẫn ựến hậu quả chết người chứ không thể khác

ựược Vắ dụ: một người dùng súng bắn vào ựầu người khác, tất yếu sẽ dẫn ựến cái chết

của người này

Nếu một hành vi ựã mang trong ựó mầm mống dẫn ựến cái chết của nạn nhân, nhưng hành vi ựó lại ựược thực hiện trong hoàn cảnh không có những ựiều kiện cần thiết ựể hậu quả chết người và thực tế hậu quả ựó chưa xảy ra, thì người có hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng ở giai ựoạn phạm tội chưa ựạt

Vắ dụ: A có ý ựịnh bắn vào ựầu B nhằm tước ựoạt tắnh mạng của B, nhưng ựạn không trúng vào ựầu B mà chỉ trúng tay nên B không chết

Hậu quả chết người có trường hợp không phải do một nguyên nhân gây ra mà

do nhiều nguyên nhân cùng gây ra, thì cần phải phân biệt nguyên nhân nào là nguyên

nhân chủ yếu, nguyên nhân nào thứ yếu ỘNguyên nhân chủ yếu là nguyên mà nếu

không có nó thì hậu quả không xuất hiện, nó quyết ựịnh những ựặc trưng tất yếu chung của hậu quả ấy, còn nguyên nhân thứ yếu là nguyên nhân chỉ quyết ựịnh những ựặc

ựiểm nhất thời, cá biệt không ổn ựịnh của hậu quả; khi nó tác ựộng vào kết quả thì nó

chỉ có tắnh chất hạn chế và phục tùng nguyên nhân chủ yếuỢ 9 Dù là chủ yếu hay thứ yếu thì tất cả những người có hành vi ựều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, nhưng mức ựộ khác nhau

Trong thực tế chúng ta còn thấy hậu quả chết người xảy ra có cả nguyên nhân

trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp ỘNguyên nhân trực tiếp là nguyên nhân tự nó sinh

ra kết quả, nó có tắnh chất quyết ựịnh rõ rệt ựối với hậu quả, còn nguyên nhân gián

tiếp là nguyên nhân chỉ góp phần gây ra hậu quảỢ 10

9 Xem: đinh Văn Quế, Tìm hiểu các tội xâm phạm tắnh mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người

trong Bộ luật hình sự năm 1999, NXB đà Nẵng - 2001, tr 24

10 Xem: đinh Văn Quế, Tìm hiểu các tội xâm phạm tắnh mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999, NXB đà Nẵng - 2001, tr 25

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thông thường, hành vi là nguyên nhân trực tiếp mới phải chịu trách nhiệm ñối với hậu quả, còn ñối với hành vi là nguyên nhân gián tiếp thì không phải chịu trách nhiệm ñối với hậu quả

Ví dụ: A cho B mượn súng ñể ñi săn, nhưng B ñã dùng súng ñó ñể bắn chết người

Tuy nhiên, trong vụ án có ñồng phạm thì hành vi của tất cả những người ñồng phạm là nguyên nhân trực tiếp

Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cần phân biệt nguyên nhân với ñiều kiện ðiều kiện là những hiện tượng khách quan hoặc chủ quan, nó không trực tiếp gâu ra hậu quả, nhưng nó ñi với nguyên nhân trong không gian và thời gian, ảnh hưởng ñến nguyên nhân và bảo ñảm cho nguyên nhân có sự phát triển cần thiết ñể sinh ra hậu quả Nếu một người có hành vi không liên ñến việc giết người và người ñó không biết hành vi của mình ñã tạo ñiều kiện cho người khác giết người, thì không phải chịu trách nhiệm về tội giết người

Ví dụ: A cho B ñi nhờ xe Honda nhưng A không biết B ñi nhờ xe của mình ñể

ñuổi kịp C và giết C

Thực tiễn xét xử không phải bao giờ cũng dễ dàng xác ñịnh ñược mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi và hậu quả chết người, do ñó ñòi hỏi có sự hỗ trợ của giám ñịnh pháp y

2.1.2.2 Mặt khách thể

Hành vi giết người ñã xâm phạm ñã xâm phạm ñến tính mạng của người khác

2.1.2.3 Mặt chủ quan

Người phạm tội ñã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý, ñược thể hiện bằng lỗi cố

ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Cụ thể như sau:

- Cố ý trực tiếp ñược hiểu là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước ñược hậu quả của hành vi ñó và mong muốn cho hậu quả ñó xảy ra nên ñã thực hiện hành vi phạm tội

- Cố ý gián tiếp ñược hiểu là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước ñược hậu quả của hành vi ñó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn cố ý ñể mặc cho hậu quả ñó xảy ra

Trong trường hợp hậu quả chết người ñã xảy ra, việc xác ñịnh lỗi là cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc ñịnh tội Nhưng ñối với trường hợp chết người chưa xảy ra, việc xác ñịnh lỗi này có ý nghĩa hết sức quan trọng Cụ thể như sau:

- Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng ở giai

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñoạn phạm tội chưa ñạt

- Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu như có thương tích xảy ra) hay các tội phạm khác mà người phạm tội ñã thực hiện (không mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng có ý thức ñể mặc cho hậu quả ñó xảy ra nhưng nó chưa xảy ra), mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa ñạt

Trong thực tế, việc xác ñịnh lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp không phải lúc nào cũng ñơn giản mà có nhiều trường hợp hết sức phức tạp Việc xác ñịnh lỗi còn ñặc biệt phức tạp hơn trong những trường hợp xác ñịnh lỗi cố ý gián tiếp hay chỉ là lỗi vô

ý do quá tự tin ñối với hậu quả chết người

Lưu ý: Dù mục ñích giết người không phải là dấu hiệu cấu thành tội phạm bắt

buộc nhưng trong một số trường hợp vẫn ñược xem xét như một dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan ñể phân biệt với một số trường hợp sau:

- Gây thương tích dẫn ñến chết người Trong trường hợp này người phạm tội không có mục ñích giết người

- Nạn nhân bị tấn công nhưng chỉ bị thương tích không chết hoặc không bị thương tích, trường hợp này cần xác ñịnh mục ñích là gì, nếu có mục ñích nhằm giết người khác thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa ñạt

Những người phạm tội giết người ñều có chung một mục ñích là tước ñoạt tính mạng con người, nhưng ñộng cơ thì khác nhau

ðộng cơ phạm tội tuy không có ý nghĩa về mặt ñịnh tội nhưng có một số ñông cơ

phạm tội ñược quy ñịnh là tình tiết ñịnh khung tăng nặng hay giảm nhẹ

Những dấu hiệu khác như: thời gian, ñịa ñiểm, hoàn cảnh, chỉ có ý nghĩa xác

ñịnh mức ñộ nguy hiểm ñối với hành vi giết người, chứ không có ý nghĩa ñịnh tội

Lưu ý:

Người bị giết phải là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạm tính mạng con người Nếu một người ñã chết thì mọi hành vi xâm phạm ñến xác chết ñó không phải là hành vi giết người, nhưng giết một người sắp chết vẫn là giết người

Giết một ñứa trẻ mới ra ñời cũng là giết người nhưng phá thai, dù cái thai ñó ở tháng thứ mấy cũng không gọi là giết người, vì vậy giết một phụ nữ ñang có thai không phải là giết nhiều người

Trường hợp người phạm tội tưởng nhầm xác chết là người ñang còn sống mà có những hành vi như: bắn, ñâm, chém, với ý thức là giết người thì vẫn phạm tội giết người Khoa học luật hình sự gọi là sai lầm về ñối tượng

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.2.4 Mặt chủ thể

Chủ thể của tội giết người là bất kỳ, nhưng phải là người có ựủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải là người từ ựủ 14 tuổi trở lên, vì tội giết người là tội rất nghiêm trọng hoặc ựặc biệt nghiêm trọng

2.1.3.1.1 Giết nhiều người (ựiểm a khoản 1 điều 93)

Giết nhiều người là trường hợp người phạm tội có ý ựịnh giết từ hai người trở lên hoặc có ý bỏ mặc cho hậu quả nhiều người chết xảy ra

Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về trường hợp phạm tội này, có quan ựiểm cho rằng chỉ coi là giết nhiều người nếu có từ hai người chết trở lên, nếu người phạm tội có ý ựịnh giết nhiều người, nhưng chỉ có một người chết thì không coi là giết nhiều người Quan ựiểm này là không có cơ sở khoa học và thực tiễn Vì thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp không có ai bị chết cả nhưng vẫn có người bị xét xử về tội giết người đó là những trường hợp giết người chưa ựạt Do ựó trường hợp giết nhiều người cũng vậy, chỉ cần xem xét người phạm tội có ý ựịnh giết nhiều người là thuộc vào tội này mà không cần thiết phải có nhiều người chết thì mới phạm tội giết nhiều người

Vắ dụ: Nguyễn Văn T có mâu thuẩn với gia ựình ông Trần Văn N và có ý ựịnh giết cả nhà ông N Vào lúc gia ựình ông N ựang ăn cơm, T rút chốt lựu ựạn ném vào chổ mâm cơm mà cả nhà ông N ựang ăn, nhưng lựu ựạn không nổ Trường hợp này không có ai bị chết nhưng T vẫn phạm tội giết nhiều người

đối với trường hợp phạm tội có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, tức là lỗi cố

ý gián tiếp, thì nhất thiết phải có từ hai người chết trở lên thì mới phạm tội giết

nhiều người

Vì vậy, nhiều người bị giết phải ựều thuộc trường hợp quy ựịnh tại điều 93 Bộ luật hình sự thì người phạm tội mới bị coi là giết nhiều người và bị áp dụng ựiểm a khoản 1 ựiều này

Xét ựến trường hợp có hai người chết, nhưng trong ựó lại có một người do lỗi vô

ý của người phạm tội thì không coi là giết nhiều người mà thuộc trường hợp phạm hai

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tội: “Giết người” và “Vô ý làm chết người”

Ví dụ: A uống rượu cùng với B rồi sau ñó sinh ra mâu thuẩn và A rút súng ñịnh bắn B Con của B nghe và từ ngoài chạy vào, B cũng từ trong chạy ra Vừa lúc ñó A

nổ súng bắn xuyên qua ngực B và trúng vào ñầu con của B; cả B và con của B ñều bị chết

Nếu có hai người chết, trong ñó có một người chết thuộc trường hợp quy ñịnh tại

ðiều 93 Bộ luật hình sự, còn người kia thuộc trường hợp trong trạng thái tinh thần bị

kích ñộng mạnh hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng, hoặc thuộc trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ thì không thuộc trường hợp giết nhiều người mà tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự

về tội giết người quy ñịnh tại khoản 2 ðiều 93 Bộ luật hình sự và một tội khác (giết người trong trạng thái tinh thần bị kích ñộng mạnh hoặc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính ñáng, )

2.1.3.1.2 Giết phụ nữ mà biết là có thai (ñiểm b khoản 1 ðiều 93)

Là trường hợp người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ ñang có thai (không kể tháng thứ mấy) Nếu nạn nhân là người tình của người phạm tội (mục ñích

là ñể trốn trách nhiệm) thì thuộc trường hợp giết người vì ñộng cơ ñê hèn

Nếu người bị giết có thai thật nhưng có căn cứ ñể xác ñịnh người phạm tội không biết họ (người phụ nữ) ñang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội giết phụ nữ mà biết là có thai Vì vậy với ñiều kiện là người phạm tội biết nạn nhân là người phụ nữ ñang mang thai thì mới phạm tội này

Ví dụ: A là khách qua ñường vào ăn cơm trong quán cơm của chị B A chê cơm không ngon mà lại tính tiền quá cao, chị B cũng bực tức cãi lại và hai bên ñã xung ñột

A lao vào ñấm ñá chị B liên tiếp, vì bị ñá ñúng chổ hiểm nên chị B bị chết sau ñó Khám nghiệm tử thi mới biết chị B ñang có thai hai tháng Trong trường hợp này A không biết chị B ñang có thai vì A không phải là vùng ñó và thai cũng mới có hai tháng nên A không thể nhận biết ñược Vì vậy, A không thuộc tội giết phụ nữ mà biết

là ñang có thai

Trong trường hợp người phụ nữ bị giết không có thai nhưng người phạm tội tưởng lầm là có thai và sự tưởng lầm này là có căn cứ thì người phạm tội vẫn bị xét xử

về tội giết người trong trường hợp “giết phụ nữ mà biết là có thai”

Ví dụ: M là tên lưu manh cùng ñi xe khách với chị H, vì tranh giành chổ ngồi mà hai người cãi nhau Xe tới bến M thấy chị H ñi khệnh khạng, bụng hơi to M tưởng chị

H có thai nên M ñánh chị H và vừa ñánh vừa hô to: “Tao ñánh cho mày hỏng thai ñể

mày hết thói chua ngoa” Mọi người thấy chị H mang thai và bị ñánh nên vào can ngăn

và M vẫn tiếp tục Chị H bị ñá vỡ lá lách và chết sau ñó Sau khi chị H chết thì mới

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

biết chị không có thai mà là chị giấu thuốc lá lậu trong người ñể khỏi bị cơ quan chức năng phát hiện Biên bản khám nghiệm tử thi kết luận chị H không có thai Như vậy,

M vẫn bị xét xử về tội “giết phụ nữ mà biết là có thai”

Giết phụ nữ mà biết là có thai là dấu hiệu thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội chứ không phải dấu hiệu khách quan như trường hợp phạm tội ñối với phụ nữ có thai quy ñịnh tại ñiểm h khoản 1 ðiều 48 Bộ luật hình sự Tại ñiểm h khoản 1 ðiều 48

Bộ luật hình sự chỉ cần xác ñịnh người bị hại là phụ nữ có thai là ñủ căn cứ xác ñịnh là tình tiết tăng nặng chứ không cần xác ñịnh người phạm tội có biết hay không biết rõ người phụ nữ có thai hay không

2.1.3.1.3 Giết trẻ em (ñiểm c khoản 1 ðiều 93)

Giết trẻ em là trường hợp người phạm tội ñã cố ý tước ñoạt tính mạng của trẻ em Theo ðiều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻ

em

Như vậy, những hành vi giết người dưới 16 tuổi, theo quy ñịnh của Bộ luật hình

sự năm 1999, ñều bị coi là tình tiết ñịnh khung tăng nặng theo khoản 1 ñiều 93

Giết trẻ em ñược coi là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự ðiều ñó có nghĩa: Vừa bảo vệ trẻ em - là bảo vệ tương lai của ñất nước, bảo vệ lớp người kế tục

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; vừa bảo vệ những người không có khả năng tự

vệ

Do ñây là quy ñịng mới so với quy ñịnh tại ðiều 101 của Bộ luật hình sự năm1985 nên chỉ áp dụng ñối với người phạm tội thực hiện hành vi kể từ 00 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000

Lưu ý: Khi áp dụng trường hợp phạm tội ñược quy ñịnh tại ñiểm c ðiều 93 Bộ

luật hình sự cần chú ý những ñiểm sau:

- Cần xác ñịnh tuổi của người bị hại là trẻ em ðây là công việc bắt buộc của cơ quan tiến hành tố tụng Trong hồ sơ vụ án phải có giấy khai sinh của người bị hại là trẻ

em, nếu không thì phải có giấy tờ khác chứng minh là người bị hại chưa ñến tuổi 16 Tuy nhiên trong công tác xét xử việc xác ñịnh tuổi là hết sức khó khăn Hiện nay có hai ý kiến trái ngược nhau:

+ Ý kiến thứ nhất: nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng

ñó, nếu không biết tháng sinh thì lấy tháng cuối cùng của năm ñó Cách tính này

không có lợi cho người phạm tội

+ Ý kiến thứ hai: nếu không biết ngày sinh thì lấy ngày ñầu tiên của tháng ñó, nếu không biết tháng sinh thì lấy tháng ñầu tiên của năm ñó Cách tính này thì có lợi cho người phạm tội

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Xuất phát từ hai ý kiến trên thì việc hướng dẫn bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về xác ñịnh tuổi của người bị hại, nhất là trẻ em là hết sức cần thiết và quan trọng Từ ñó giúp cho thực tiễn xét xử ñược dễ dàng, thuận tiện hơn

- Phạm tội ñối với trẻ em nói chung và giết trẻ em nói riêng không phải thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội mà là tình tiết khách quan, vì thế không cần người phạm tội phải nhận thức ñược hoặc buộc họ phải nhận thức ñược ñối tượng mà mình xâm hại là trẻ em thì mới coi là tình tiết tăng nặng, mà chỉ cần xác ñịnh người bị xâm hại là trẻ em thì người phạm tội bị coi là phạm tội ñối với trẻ em Do ñó việc xác ñịnh tuổi của người bị hại là trẻ em là cần thiết và quan trọng trong việc xác ñịnh tội này

2.1.3.1.4 Giết người ñang thi hành công vụ (ñiểm d khoản 1 ðiều 93)

ðây là trường hợp người bị giết là người ñang thi hành công vụ, tức người bị giết ñang thực hiện một nhiệm vụ ñược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao phó Nhiệm

vụ ñược giao có thể là ñương nhiên do nghề nghiệp quy ñịnh: cán bộ chiến sĩ công an nhân dân ñang làm nhiệm vụ bảo vệ; thầy thuốc ñang ñiều trị tại bệnh viện; thầy giáo

ñang giảng bài hoặc hướng dẫn học sinh tham quan; thẩm phán ñang xét xử tại phiên

toà; cán bộ thuế ñang thu thuế; Ngoài ra còn ñược xem là ñang thi hành công vụ

ñối với những người tuy không ñược giao nhiệm vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào

việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong một số trường hợp nhất

ñịnh như: ñuổi bắt người phạm tội ñang bỏ trốn, can ngăn, hoà giải những vụ ñánh

nhau tại nơi công cộng,

ðể xác ñịnh ñúng thì phải thoả mãn ñiều kiện sau ñây:

- Nạn nhân bị chết phải là lúc họ ñang làm nhiệm vụ, nếu nạn nhân bị chết vào lúc khác thì không thuộc trường hợp giết người ñang thi hành công vụ; khi ñó còn tuỳ từng trường hợp có thể là trường hợp giết người bình trường hoặc thuộc trường hợp khác

- Nạn nhân bị giết phải là người thi hành nhiệm vụ ñúng pháp luật,nếu trái pháp luật mà bị giết thì người có hành vi giết người không phải là “giết người ñang thi hành công vụ”

Ví dụ: Một người tự xưng là công an ñòi khám nhà của người khác, chủ nhà yêu cầu xuất trình lệnh khám nhà nhưng người này không ñưa, dẫn ñến hai bên xô xát và chủ nhà giết chết người này Khi ñó chủ nhà không phạm phải tội “giết người ñang thi hành công vụ”

2.1.3.1.5 Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân (ñiểm d khoản 1 ðiều 93)

Khác với trường hợp giết người ñang thi hành công vụ, nạn nhân bị giết trong trường hợp này không phải lúc họ ñang thi hành công vụ mà có thể trước hoặc sau ñó

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Có hai trường hợp xảy ra:

- Thông thường, nạn nhân là người ñã thi hành một nhiệm vụ và vì thế ñã làm cho người phạm tội thù oán nên ñã giết họ

Ví dụ: A buôn bán ma tuý và bị ñội ñặc nhiệm của b bắt giữ, A ñã dùng mọi cách

ñút lót ñể B bỏ qua hành vi phạm tội của mình nhưng B không chịu nên A ñã giết B ñể

trốn tránh pháp luật

- Cũng có một số trường hợp người bị giết chưa kịp thi hành nhiệm vụ ñược giao, nhưng người có hành vi giết người sợ ñể người này sống nhiệm vụ mà họ thực hiện sẽ gây thiệt hại cho mình và ñã giết trước

Ví dụ: Ông A xây nhà trái phép, Uỷ ban nhân dân quận B ra quyết ñịnh phá dỡ căn nhà và giao công việc này cho Uỷ ban nhân dân phường K thi hành Ông A ñến nhà ông chủ tịch phường xin hoãn lại, nhưng không ñược và bực tức và dùng dao ñâm chết ông chủ tịch phường tại nhà riêng của ông

2.1.3.1.6.Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình (ñiểm ñ khoản 1 ðiều 93)

ðây là trường hợp giết người mang tính phản trắc, bội bạc Người phạm tội lẽ ra

phải kính trọng người bị giết nhưng lại có hành vi phạm tội ñối với những người này Xuất phát từ truyền thống ñạo ñức, tôn sư trọng ñạo của dân tộc Việt Nam, trường hợp giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự Bộ luật hình sự năm 1985 không coi trường hợp phạm tội này là tình tiết ñịnh khung hình phạt Tuy nhiên trong một số trường hợp nếu người phạm tội giết người có tính chất bội bạc, phản trắc thì áp dụng tình tiết “giết người vì

ñộng cơ ñê hèn” ðiểm ñ khoản 1 ðiều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 quy ñịnh tình tiết ñịnh khung tăng nặng và nó ñược áp dụng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000

Thông qua ñiều luật quy ñịnh chúng ta có thể hiểu:

- Ông, bà bao gồm: ông bà nội, ông bà ngoại của người phạm tội

- Cha, mẹ bao gồm: cha, mẹ ñẻ; cha, mẹ nuôi; cha, mẹ vợ; cha, mẹ chồng của

người có hành vi phạm tội

- Người nuôi dưỡng là những người tuy không phải là ông, bà, cha, mẹ nhưng ñã nuôi dưỡng người phạm tội từ bé, thông thường là những người có họ hàng thân thích với người phạm tội như: cô, chú, bác, cậu, mợ, dì, hoặc là những người chăm sóc,

nuôi dưỡng người phạm tội trong các trại mồ coi, trại ñiều dưỡng

- Thầy giáo, cô giáo của người phạm tội là những người ñã và ñang dạy người

phạm tội

Tuy nhiên, trường hợp giết thầy, cô giáo phải xác ñịnh người phạm tội với ñộng

cơ gì? Nếu là ñộng cơ phản trắc và người thầy, cô giáo ñó phải có một quá trình dạy

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dỗ nhất ñịnh ñối với người phạm tội Nếu như không vì ñộng cơ phản trắc và thầy, cô giáo ñó không có một quá trình dạy dỗ nhất ñịnh thì không thuộc trường

hợp phạm tội này

Ví dụ: Trần Quang T là sinh viên một trường ðại học X Do có mâu thuẫn với Nguyễn ðăng K là giảng viên của trường vì T và K ñều yêu Phan Cẩm H - là học viên cùng lớp với T Vì K là giảng viên trẻ ñược trường giữ lại và không có dạy T giờ nào ở lớp ðể ngăn cản K yêu H nên T gây chuyện và giết chết K Trong trường hợp này thì

T ñã giết chết K nhưng T không phạm tội thuộc vào ñiểm ñ khoản 1 ñiều 93 Bộ luật

Ví dụ: A vừa sử dụng vũ khí cướp tài sản của B, ñang bỏ chạy thì gặp C C là người mà A ñã thù ghét từ trước, sẵn có vũ khí trong tay A gây chuyện và giết chết C Thực tế rất khó ñể có thể xác ñịnh như thế nào là liền trước và trong khoản thời gian là bao lâu vì chưa có sự giải thích hay hướng dẫn cụ thể về vấn ñề này Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử thì chỉ coi là liền trước hành vi giết người khi hành vi ñó thực hiện trước trong khoảng thời gian vài giờ ñồng hồ hoặc cùng lắm là trong ngày Còn nếu tội phạm ñược thực hiện trước tội giết người với khoảng cách thời gian nhất

ñịnh không còn liền kề với hành vi giết người thì không coi là giết người mà liền trước

ñó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc ñặc biệt nghiêm trọng quy ñịnh tại ñiểm e

khoản 1 ñiều 93 Bộ luật hình sự năm 1999

Khác với trường hợp giết người ñể thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác ở chỗ: tội phạm của người phạm tội trước khi giết người không liên quan với tội giết người và phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm ñặc biệt nghiêm trọng chứ không phải

là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng

- Giết người mà ngay sau ñó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc ñặc biệt nghiêm trọng là trường hợp sau khi giết người, người phạm tội ñã phạm một tội tội rất nghiêm trọng hoặc ñặc biệt nghiêm trọng

Ví dụ: A vừa giết người và chạy trốn thì gặp B ñi xe máy, A dùng vũ khí khống chế cướp xe máy của B ñể chạy trốn

Vì vậy, nhà làm luật quy ñịnh trường hợp phạm tội này cùng trong một ñiểm với trường hợp giết người mà liền trước ñó phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc ñặc biệt nghiêm trọng quy ñịnh tại ñiểm e khoản 1 ñiều 93 Bộ luật hình sự năm 1999

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.3.1.8.Giết người ñể thực hiện hoặc che dấu tội phạm khác (ñiểm g khoản

ñây không phải là tội giết người

Về thời gian, tội phạm ñược thực hiện sau khi giết người, có thể là liền ngay sau khi vừa giết người hoặc có thể xảy ra sau một thời gian nhất ñịnh, nhưng khác với

trường hợp “giết người mà liền ngay sau ñó lại phạm một tội nghiêm trọng khác” ở

chỗ tội phạm ñược thực hiện sau khi giết người ở trường hợp này có liên quan mật thiết với hành vi giết người Khi ñó hành vi giết người là tiền ñề, là phương tiện ñể thực hiện tội phạm sau, nếu không giết người thì sẽ không thực hiện ñược tội phạm sau

Ví dụ: Giết người ñể cướp của, giết người ñể trốn ñi nước ngoài,

- Giết người ñể che giấu tội phạm khác ðây là trường hợp trước khi giết người, người có hành vi giết người ñã thực hiện một tội phạm và ñể che giấu tội phạm ñó nên người phạm tội ñã giết người Thông thường sau khi phạm một tội có nguy cơ bị lộ, người phạm tội cho rằng chỉ có giết người thì tội phạm ñã thực hiện trước ñó mới không bị lộ Người bị giết thường là người ñã biết ñược hành vi phạm tội hoặc cùng thực hiện tội phạm với người ñó

Giữa hành vi giết người của người phạm tội với tội phạm mà người ñó ñã thực hiện phải có mối liên hệ với nhau Mối liên hệ này chỉ là thủ ñoạn ñể che giấu tội phạm chứ không phải là tiền ñề hay phương tiện như trong trường hợp “ giết người ñể thực hiện tội phạm khác”

Về thời gian, tội phạm mà người có hành vi giết người muốn che giấu có thể xảy

ra liền ngay trước tội giết người, cũng có thể trước ñó một thời gian nhất ñịnh Nhưng nếu xảy ra liền trước ñó lại là tội nghiêm trọng và không có mối liên hệ với tội giết người thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà là thuộc trường hợp “giết người

mà liền trước ñó lại phạm một tội nghiêm trọng khác”, (ñiểm e khoản 1 ðiều 93 Bộ luật hình sự)

Lưu ý: Xem xét hành vi giết người mà liền trước ñó hoặc ngay sau ñó lại phạm

một tội rất nghiêm trọng hoặc tội ñặc biệt nghiêm trọng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử hay bị nhầm lẫn với trường hợp giết người ñể thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác quy ñịnh tại ñiểm g khoản 1 ñiều 93 Bộ luật hình sự ðể phân biệt hai trường hợp giết người này, chúng ta có sơ ñồ so sánh sau:

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ðiểm g khoản 1 ñiều 93 ðiểm e khoản 1 ñiều 93

-Tội phạm mà người phạm tội thực hiện

trước hoặc sau tội giết người có thể là

tội rất nghiêm trọng, tội ñặc biệt

nghiêm trọng và cũng có thể là tội

nghiêm trọng và tội ít nghiêm trọng

- Tội phạm mà người phạm tội thực hiện trước hoặc sau tội giết người chỉ là tội rất nghiêm trọng hoặc tội ñặc biệt nghiêm trọng

- Về thời gian, tội phạm mà người

phạm tội thực hiện trước hoặc sau tội

giết người có thể xảy ra trước ñó hoặc

sau ñó một thời gian ngắn, nhưng cũng

có thể cách tội giết người một thời gian

dài

- Tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải xảy ra liền trước ñó hoặc ngay sau ñó, không có khoảng cách

- Tội phạm mà người phạm tội thực

hiện trước hoặc sau tội giết người có

liên quan mật thiết ñến tội giết người

(không giết người thì không thực hiện

ñược tội phạm ñó hoặc không che giấu

ñược tội phạm ñó)

- Tội phạm mà người phạm tội thực hiện trước hoặc sau tội giết người không liên quan ñến tội giết người

ðây là trường hợp giết người ñể lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân ñể thay thế

hoặc bán cho người khác dùng vào việc thay thế bộ phận ñó Trường hợp giết người này thực tiễn nước ta chưa xảy ra, nhưng trên thế giới ñã có rất nhiều trường hợp xảy

ra Tham khảo pháp luật các nước, ñồng thời dự kiến trong tình hình phát triển của xã hội có thể có trường hợp này xảy ra nên Bộ luật hình sự năm 1999 có quy ñịnh trường hợp giết người này là tình tiết ñịnh khung tăng nặng ñể ñề phòng thực tế xảy ra

Tuy nhiên cũng có những trường hợp vì quá căm tức mà người phạm tội sau khi giết người ñã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân ñể nhằm mục ñích cho hả giận

thì không thuộc trường hợp phạm tội này

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.3.1.10.Thực hiện tội phạm một cách man rợ (ñiểm i khoản 1 ðiều 93)

ðây là trường hợp giết người một cách ñặc biệt tàn ác, dã man, làm cho nạn nhân ñau ñớn, quằn quại trước khi chết như: mổ bụng, môi gan, khoét mắt, chặt chân tay,

xẻo thịt, lột da, tra tấn cho tới chết, hoặc gây cho người khác sự khủng khiếp, rùng rợn vì căm tức nạn nhân hay nhằm che giấu tội phạm như: chặt rời chân tay, ñầu nạn nhân ra thành từng mảng và vứt ra ở những nơi khác nhau

Các hành vi trên người phạm tội thực hiện trước khi phạm tội hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng ñã coi các hành vi nêu trên là những hành vi có tính man rợ, nhưng không phải là thực hiện tội phạm mà là ñể che giấu tội phạm, là trường hợp “thực hiện tội phạm một cách man rợ”

Ví dụ: Sau khi nạn nhân ñã chết, người phạm tội cắt xác nạn nhân ra thành nhiều phần ñem vứt ra khắp nơi ñể phi tang

ðây là vấn ñề lí luận cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nếu coi cả những

hành vi có tính chất man rợ nhằm che giấu tội giết người cũng là “thực hiện tội phạm một cách man rợ” thì nên quy ñịnh trường hợp phạm tội này là “phạm tội một cách man rợ” vì phạm tội bao hàm cả hành vi che giấu tội phạm, còn thực hiện tội phạm mới chỉ mô tả những hành vi khách quan và ý thức chủ quan của cấu thành tội giết người

2.1.3.1.11 Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (khoản 1 ðiều 93)

ðây là trường hợp người phạm tội ñã sử dụng nghề nghiệp của mình ñể làm

phương tiện giết người dễ dàng và cũng dễ dàng che giấu tội phạm như: Bác sĩ giết bệnh nhân nhưng ghi bệnh án là bệnh hiểm nghèo mà chết, bảo vệ bắn chết người nhưng vu cho họ là kẻ cướp,

Tuy nhiên phải xác ñịnh rõ người phạm tội ñã lợi dụng nghề nghiệp của mình ñể giết người thì mới thuộc trường hợp phạm tội này Nếu bằng phương pháp có tính chất nghề nghiệp nhưng không phải là nghề nghiệp của người phạm tội mà lại lợi dụng người có nghề nghiệp ñó rồi thông qua người này thực hiện ý ñồ của mình thì không thuộc trường hợp phạm tội này

Ví dụ: Có một kẻ ñã ñánh tráo ống thuốc tiêm của y tá thay vào ñó là ống thuốc

ñộc có nhãn hiệu như ống thuốc thật ñể mượn tay người y tá giết chết người bệnh mà

người phạm tội muốn giết

2.1.3.1.12 Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (ñiểm l khoản 1 ðiều 93)

Phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là nói ñến tính năng, tác dụng của phương tiện mà người phạm tội sử dụng khi phạm tội có tính nguy hiểm cao, có

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thể gây thương vong cho nhiều người như: ném lựu ñạn vào chỗ ñông người, bỏ thuốc

ñộc vào dòng nước nhằm giết chết một người mà người phạm tội mong muốn

Hậu quả của hành vi sử dụng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người có thể chết người mà người phạm tội mong muốn và có thể gây chết những người khác và cũng có thể không ai bị chết Nhưng người phạm tội vẫn bị coi là giết chết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người và bị xử lý theo khoản 1 ðiều 93 Bộ luật hình sự

2.1.3.1.13 Thuê giết người hoặc giết người thuê (ñiểm m khoản 1 ðiều 93)

Thuê giết người là trường hợp người phạm tội trả cho người khác tiền hoặc lợi ích vật chất ñể họ giết người mà người phạm tội muốn giết

Trong trường hợp này, người trực tiếp giết người là người thuê giết

Thuê giết người hoặc giết người thuê có mối quan hệ mật thiết với nhau, cái này

là tiền ñề cho cái kia và ngược lại, thiếu một trong hai cái ñó thì không có trường hợp giết người này xảy ra (có người thuê thì mới có người làm thuê hoặc có thể ngược lại) Thường thì việc giết người thuê và thuê giết người ñồng thời là trường hợp giết người có tổ chức nhưng cũng có thể trường hợp ñồng phạm bình thường

Giết người thuê là trường hợp người phạm tội nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác ñể giết người theo yêu cầu của người khác

ðây là một nghề kiếm tiền của một số người và việc trừng trị ñối với kẻ giết

người thuê là ngăn chặng tình trạng “ñâm thuê, chém mướn”, nhất là trong tình trạng

xã hội hiện nay thì hành vi này càng tinh vi và phức tạp

Trước ñây, những hành vi phạm tội thuê giết người hoặc giết người thuê bị coi là phạm tội có ñộng cơ ñê hèn, Bộ luật hình sự 1999 không xếp hành vi này vào tội

“phạm tội có ñộng cơ ñê hèn” mà xếp vào tội thuê giết người hoặc giết người thuê

2.1.3.1.14 Giết người có tính chất côn ñồ (ñiểm n khoản 1 ðiều 93)

ðây là trường hợp khi giết người, người phạm tội rõ ràng ñã coi thường những

quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, giết người vô cớ thể hiện tính hung hãn và sẵn sàng giết người vì những nguyên cớ hết sức nhỏ nhặt

Ví dụ: ðặng Quang H ñi xe khách, vì y hút thuốc lá trên xe nên mọi người rất khó chịu Trần Minh T thấy thế nên góp ý Do có sẵn trong người máu côn ñồ, xe vừa

ñến bến H xuống xe và rút dao ñâm vào ngực T và làm cho T chết tại chỗ

Việc xác ñịnh trường hợp giết người có tính chất côn ñồ hay không không phải bao giờ cũng dễ dàng như những trường hợp khác ñược quy ñịnh tại khoản 1 ñiều 93

Bộ luật hình sự 1999 Thực tế công tác xét xử không ít trường hợp giết người không thuộc các trường hợp khác quy ñịnh trong ñiều luật này, thì toà án thường xác ñịnh giết người có tính chất côn ñồ ñể áp dụng khoản 1 ñiều 93 Bộ luật hình sự Trong công

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tác xét xử, nhiều bản án ñã bị kháng nghị theo trình tự Giám ñốc thẩm hoặc Toà án phúc thẩm nhân dân tối cao sửa bản án sơ thẩm chỉ vì xác ñịnh không ñúng tình tiết này ðây cũng là vấn ñề còn nhiều vướng mắc và phức tạp, ñồng thời có nhiều ý kiến khác nhau Việc tổng hợp kinh nghiệm xét xử về vấn ñề này chưa ñáp ứng tình trạng tội phạm xảy ra; vì thế ảnh hưởng không nhỏ ñến việc áp dụng pháp luật

Do ñó cần xác ñịnh trường hợp giết người có tính chất côn ñồ cần phải có quan

ñiểm xem xét toàn diện, tránh xem xét một cách phiến diện như: chỉ quan tâm nhấn

mạnh nhân thân người phạm tội hoặc chỉ nhấn mạnh ñến ñịa ñiểm gây án, hay chỉ nhấn mạnh ñến hành vi cụ thể gây ra cái chết cho nạn nhân, thái ñộ của người phạm tội khi gây án, nguyên nhân nào là nguyên nhân dẫn ñến việc người phạm tội giết người…

2.1.3.1.15 Giết người có tổ chức (ñiểm o khoản 1 ðiều 93)

Giết người có tổ chức là trường hợp nhiều người tham gia vào một vụ giết người,

có sự cấu kết chặc chẽ giữa những người cùng thực hiện giết người, có sự phân công;

có kẻ chủ mưu; cầm ñầu; chỉ huy việc giết người

Nếu nhiều người cùng tham gia vào một vụ án giết người nhưng không có sự cấu kết chặc chẽ mà chỉ có sự ñồng tình có tính chất hời hợt thì không phải là vụ giết người có tổ chức

Ví dụ: một số thanh niên xã A ñi xem hát gây gổ ñánh nhau với một số thanh niên xã B dẫn ñến một thanh niên xã A bị thanh niên xã B ñánh chết

Khi ñã xác ñịnh giết người có tổ chức thì tất cả những người cùng tham gia vụ giết người dù ở vai trò nào (chủ mưu hay giúp sức, chỉ huy hay thực hành…) ñều bị coi là giết người có tổ chức Tuy nhiên khi quyết ñịnh hình phạt (cá thể hóa hình phạt) phải căn cứ vào vai trò, vị trí của từng người tham gia vụ án Có thể có kẻ bị tử hình nhưng có kẻ chỉ bị phạt ba hoặc bốn năm tù

2.1.3.1.16 Giết người trong trường hợp tái phạm nguy hiểm (ñiểm p khoản

1 ðiều 93)

ðây là trường hợp trước khi giết người, người phạm tội ñã bị kết án về tội rất

nghiêm trọng hoặc tội ñặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa ñược xoá án tích hoặc ñã tái phạm, chưa ñược xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý (khoản 2 ðiều 49 Bộ luật hình sự)

Tái phạm là trường hợp ñã bị kết án, chưa ñược xoá án tích mà lại phạm tội do cố

ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội ñặc biệt nghiêm trọng do vô ý (khoản 1 ðiều 49

Bộ luật hình sự)

Trường hợp phạm tội này cũng có ý kiến cho rằng không nên coi trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết phạm tội phải xử lý theo (khoản 1 ðiều 93 Bộ luật hình sự

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

vì trong nhiều trường hợp không thể hiện tính chất nguy hiểm cao của hành vi giết

người Các quan hệ nhân thân chỉ nên coi là tình tiết tăng nặng theo ðiều 48 Bộ luật

hình sự là ñủ Nếu coi trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết ñịnh khung hình phạt

ñối với tội giết người thì chỉ nên coi trường hợp tái phạm về tội này, tức là ñã bị kết án

về tội giết người chưa ñược xoá án tích mà còn giết người

2.1.3.1.17 Giết người vì ñộng cơ ñê hèn (ñiểm q khoản 1 ðiều 93)

Là những trường hợp phạm tội giết người với tính chất, ñộng cơ phạm tội ñã làm mức ñộ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên một cách ñáng kể so với những trường hợp bình thường khác Thông qua công tác xét xử, những hành vi giết người vì

ñộng cơ sau ñây sẽ bị xem là ñộng cơ ñê hèn:

- Giết vợ hoặc chồng ñể tự do kết hôn với người khác

Vì muốn tự do kết hôn với người khác nên người phạm tội ñã giết vợ hoặc chồng của mình Phải có căn cứ xác ñịnh người phạm tội vì muốn kết hôn với người khác mà buộc phải giết vợ hoặc giết chồng của mình thì mới coi là giết người vì ñộng cơ ñê hèn Nếu vì một lý do khác, người phạm tội ñã giết vợ hoặc chồng sau ñó mới có ý

ñịnh kết hôn với người khác thì không phải giết người vì ñộng cơ ñê hèn

Ví dụ: Nguyễn Văn T ñi làm về, chưa thấy vợ nấu cơm, liền nổi giận ñá vợ mấy cái vào bụng Do bị ñá vỡ lá lách nên vợ T bị chết sau 4 tiếng ñồng hồ T hoảng sợ lấy thuốc sâu ñổ vào miệng vợ rồi nói với mọi người rằng vợ y tự tử Với hành ñộng ñó, T

ñã che giấu tạm thời hành vi phạm tội của mình Sau khi chôn cất vợ thì hoàn cảnh gia ñình khó khăn lại phải nuôi con nhỏ nên sau một năm T lấy vợ khác ñể chăm sóc con

cái và giúp y trong việc nội trợ Lấy vợ ñược 6 tháng thì hành vi giết vợ của T bị phát hiện

- Giết vợ hoặc chồng ñể kết hôn với vợ hoặc chồng nạn nhân

Thông thường, trong trường hợp này giữa người có hành vi giết người với vợ hoặc chồng nạn nhân có quan hệ thông gian với nhau Tuy nhiên, có trường hợp cá biệt không có quan hệ thông gian từ trước, nhưng trước khi giết nạn nhân người có hành vi giết người ñã có ý ñịnh giết chồng hoặc vợ nạn nhân Trường hợp có quan hệ thông gian từ trước và cả hai ñều là thủ phạm thì một người phạm tội thuộc trường hợp

“Giết vợ hoặc chồng ñể tự do kết hôn với người khác” còn một người phạm tội thuộc trường hợp “Giết vợ hoặc chồng ñể kết hôn với vợ hoặc chồng nạn nhân”

Ví dụ: Phạm Văn N là nhân viên bảo vệ trường dạy nghề của tỉnh Q N ñã nhiều lần quan hệ bất chính với M là vợ của H ðể lấy ñược nhau, N và M ñã bàn bạc giết anh H; theo kế hoạch ñã ñịnh, M rủ H vào rừng lấy nấm, khi anh H ñi qua chỗ N phục sẵn, M ra hiệu ñể N nổ súng bắn chết H Trường hợp này N giết H là ñể lấy vợ H, còn

M giết H là ñể tự do lấy N

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Giết người tình mà biết là có thai với mình nhằm trốn tránh trách nhiệm

ðây là trường hợp giết phụ nữ mà biết là có thai, nhưng nạn nhân lại là người

tình của người phạm tội

Trách nhiệm mà người phạm tội trốn tránh là trách nhiệm làm bố của ñứa trẻ, do

có trách nhiệm này mà có thể làm cho người phạm tội bị ảnh hưởng ñến nhiều mặt trong cuộc sống như: bị kỷ luật, bị xã hội lên án, bị gia ñình, vợ con ruồng bỏ xa lánh…

Nạn nhân có thai là yếu tố bắt buộc ñể xác ñịnh bị cáo phạm tội trong trường hợp này Nhưng nếu nạn nhân không có thai mà nói dối với bị cáo là ñã có thai nhằm thúc

ép bị cáo phải cưới mình và bị cáo vì sợ trách nhiệm nên ñã giết nạn nhân thì vẫn bị coi là phạm tội vì ñộng cơ ñê hèn

- Giết chủ nợ ñể trốn nợ

Trong trường hợp này bị cáo giết nạn nhân chủ yếu nhằm trốn nợ, nhưng không phải cứ có vay mượn, nợ nần thì vội xác ñịnh người phạm tội giết người vì ñộng cơ ñê hèn, mà phải xác ñịnh việc vay mượn ñó có xuất phát từ tình cảm tương trợ, giúp ñỡ lẫn nhau không? Nếu nạn nhân là người cho vay lãi nặng, có tính chất bóc lột thì không thuộc trường hợp giết người vì ñộng cơ ñê hèn

- Giết người cướp tài sản

Là trường hợp người phạm tội muốn chiếm ñoạt tiền của do nạn nhân trực tiếp quản lý (chiếm hữu) nên ñã giết họ Tính chất ñê hèn của trường hợp giết người này cũng là vì tiền

Người phạm tội giết người trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm hình sự

về hai tội: Tội giết người và tội cướp tài sản… Riêng tội giết người, người phạm tội

ñã có hai tình tiết ñịnh khung tăng nặng ñó là: “vì ñộng cơ ñê hèn và ñể thực hiện một

tội phạm khác”, người có hành vi giết người ñể cướp của thường bị phạt với mức án cao như tù chung thân hoặc tử hình nếu họ ñã ñủ 18 tuổi trở lên

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử ít có Tòa án xác ñịnh người phạm tội giết người ñể cướp của là trường hợp “giết người vì ñộng cơ ñê hèn” mà chỉ coi là “giết người ñể thực hiện tội phạm khác”, vì như trên ñã nêu người có hành vi giết người cướp của ñã phạm một lúc hai tội nghiêm trọng và hình phạt ñối với họ cũng rất nghiêm khắc, nên

ít ai bàn ñến việc có cần phải áp dụng thêm tình tiết “giết người vì ñộng cơ ñê hèn” hay không? Chính vì vậy mà không ít người cho rằng giết người ñể cướp của không phải là vì ñộng cơ ñê hèn

- Giết ân nhân của mình

ðược coi là ân nhân của kẻ giết mình trong trường hợp nạn nhân là người ñã có

công giúp ñỡ người phạm tội trong lúc khó khăn mà bản thân người phạm tội không

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thể tự mình khắc phục ựược Việc giúp ựỡ của nạn nhân ựối với người phạm tội lẽ ra người ựó phải chịu ơn suốt ựời, nhưng ựã bội bạc phản trắc, ựã giết người giúp mình, chứng tỏ sự hèn hạ cao ựộ

Khi xác ựịnh nạn nhân có phải là ân nhân của người phạm tội hay không thì xét trong hoàn cảnh cụ thể; mối quan hệ phải rõ ràng, ựược dư luận xã hội thừa nhận và không trái pháp luật Nếu hành vi trái pháp luật của nạn nhân làm cho kẻ giết người phải chịu ơn thì không coi là giết ân nhân của mình

Vắ dụ: Một giám thị ựưa bài cho thắ sinh chép trong phòng thi, một cán bộ tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa rồi ựem tài sản ựó giúp cho người khác, một thẩm phán cố tình

ựưa ra một bản án trái pháp luật có lợi cho người phạm tội Ầ

Ngoài các trường hợp ựã nêu trên, thực tiễn xét xử còn có các trường hợp cũng nên coi là giết người vì ựộng cơ ựê hèn đó là trường hợp người có hành vi giết người không giết ựược người mà mình muốn giết nên giết những người thân của họ trong khi những người này không hề có mâu thuẫn gì với người có hành vi giết người, họ yếu

ựuối không có khả năng tự vệ như ông bà già, người bị bệnh nặng và các em nhỏ, họ

chắnh là cha mẹ, vợ con của người mà người có hành vi giết người ựịnh giết nhưng không ựược

2.1.3.2 Có khung hình phạt tù từ 7 (bảy) năm ựến 15 (mười lăm) năm tù

Giết người không thuộc một trong những trường hợp quy ựịnh tại khoản 1 điều

93 Bộ luật hình sự thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2

điều 93 đây là trường hợp giết người thông thường, không có các tình tiết tăng nặng ựịnh khung tăng nặng Trường hợp phạm tội này lẽ ra phải là cấu thành cơ bản nhưng

do kỹ thuật và truyền thống lập pháp nên ựối với tội giết người Ờ nhà làm luật xây dựng cấu thành tăng nặng trước, sau ựó mới ựến cấu thành cơ bản Tuy nhiên không nên coi khoản 2 điều 93 Bộ luật hình sự là cấu thành giảm nhẹ, như trong một số tội xâm phạm an ninh quốc gia Trong Bộ luật hình sự năm 1985 khi quy ựịnh về tội giết người ựã chia thành 4 trường hợp, trong ựó có hai trường hợp giết người cấu thành giảm nhẹ, ựó là Ộgiết người trong trạng thái tinh thần bị kắch ựộng mạnhỢ (khoản 3

ựiều 101 Bộ luật hình sự 1985), và ỘTội giết con mới ựẻỢ (khoản 4 ựiều 101 Bộ luật

hình sự 1985), Còn Bộ luật hình sự 1999 không quy ựịnh hai trường hợp giết người này cùng chung tội giết người nữa mà quy ựịnh thành hai tội riêng

Tại khoản 3 điều 93 Bộ luật hình sự thì quy ựịnh người phạm tội còn có thể bị cấm ựảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất ựịnh từ một năm

ựến năm năm theo quy ựịnh tại ựiều 36 Bộ luật hình sự, phạt quản chế hoặc cấm cư trú

từ một năm ựến năm năm theo quy ựịnh tại ựiều 37, ựiều 38 Bộ luật hình sự đây là

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hình phạt bổ sung kèm theo hình phạt chính, Tòa án có thể áp dụng trong những trường hợp cần thiết

Trường hợp ñối với tội giết người, nếu tòa án áp dụng hình phạt tử hình ñối với người phạm tội thì không áp dụng hình phạt bổ sung vì các hình phạt bổ sung là hình phạt phải thi hành sau khi chấp hành hình phạt tù, một người ñã bị kết án tử hình thì không có việc chấp hành xong hình phạt tù, nếu áp dụng hình phạt bổ sung ñối với một người ñã bị kết án tử hình sẽ trở thành vô nghĩa

Riêng ñối với hình phạt tù chung thân cũng có ý kiến cho rằng Tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung, vì người bị phạt tù chung thân có thể ñược giảm hình phạt tù

và trên thực tế chưa có người nào bị phạt tù chung thân lại ở tù suốt ñời, việc áp dụng hình phạt bổ sung ñối với họ là cần thiết và như vậy mới ñảm bảo tính công bằng với người bị phạt tù có thời hạn Tuy nhiên, hình phạt tù chung thân là hình phạt tù không

có thời hạn, nếu Tòa án áp dụng hình phạt bổ sung ñối với người phạm tội thì khi

tuyên án Tòa án không thể quyết ñịnh quản chế hoặc cấm cư trú người phạm tội mấy

năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù, quyết ñịnh như vậy xét về góc ñộ pháp lý là không chính xác, không ai biết ñược phạm tội bị phạt tù chung thân ñến khi nào thì họ chấp hành xong hình phạt tù

Trừ trường hợp Bộ luật hình sự quy ñịnh “người bị phạt tù chung thân nếu ñược

giảm hình phạt xuống tù có thời hạn thì Tòa án sẽ áp dụng hình phạt bổ sung ñối với họ” hoặc “hình phạt bổ sung nếu áp dụng ñối với người bị phạt tù chung thân thì hình phạt bổ sung sẽ ñược thi hành nếu người bị kết án ñược giảm án xuống tù có thời hạn theo quy ñịnh của Bộ luật hình sự” Tuy nhiên hiện nay chưa có quy ñịnh nào về việc

áp dụng hình phạt tù chung thân nên Tòa án không thể áp dụng hình phạt bổ sung ñối với họ

Vậy, tội giết người (ðiều 93) trong Bộ luật hình sự năm 1999 có những ñiểm mới so với tội giết người (ðiều 101) trong Bộ luật hình sự năm 1985 cơ bản như sau:

- Ở ðiều 93 ñược cấu tạo thành ba khoản, khoản 1 vẫn là những trường hợp phạm tội có những tình tiết ñịnh khung tăng nặng nhưng quy ñịnh thêm các tình tiết:

“giết trẻ em; giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

giết người ñể lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; thuê giết người hoặc giết người thuê”

Khoản 2 quy ñịnh trường hợp giết người không có các tình tiết quy ñịnh ở khoản 1,

nhưng mức cao nhất của khung hình phạt chỉ có mười lăm năm Còn khoản 3 quy ñịnh

hình phạt bổ sung

- Khoản 3 và 4 của ðiều 101 ñược tách thành ðiều 95 và 94 Bộ luật hình sự

1999

Ngày đăng: 27/11/2015, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w