1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận mối quan hệ giữa Tòa án, cơ quan thi hành án và Trọng tài

30 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ có sự hỗ trợ của Tòa án vào Trọng tài là tổ chức phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động hiệu quả.Sự hỗ trợ của Tòa án đối với quá trình tố tụng của Trọng tài thương mại được thể hiện thôn

Trang 1

I KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Khái nhiệm tranh chấp

Tranh chấp, là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ

thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Khi các bên đưa ra Trọng tài, Tòa án tức là những xung đột, bất đồng đã lên đến đỉnh điểm Cho nên, cần sức mạnh cưỡng chế buộc các bên phải ngồi lại để giải quyết tranh chấp, bất đồng với nhau

1.2 Cơ sở lý luận mối quan hệ giữa Tòa án, cơ quan thi hành án và Trọng tài

Trọng tài là một cơ quan tài phán được thành lập để giải quyết các tranh chấp,

bất đồng khi các bên không thương lượng được với nhau Trọng tài là cơ quan tài phán nhưng là tài phán tư, là tổ chức phi Chính phủ Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài không phải do Nhà nước trao cho mà thẩm quyền của Hội đồng trọng tài bắt nguồn từ quyền lực theo hợp đồng hay quyền lực đại diện do các bên tranh chấp giao phó và ủy nhiệm cho Hội đồng trọng tài thông qua một thỏa thuận trọng tài

Để có một trọng tài có hiệu lực, trước hết phải có một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Trọng tài chỉ có quyền hành động trong giới hạn phạm vi mà các bên đã

ủy quyền Nói cách khác, trọng tài nhân danh chính các bên đã ủy quyền để giải quyết tranh chấp giữa họ chứ không phải nhân danh và đại diện cho quyền lực giống như Tòa án Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp nếu một trong các bên không có thái độ hợp tác, cố tình trì hoãn để quá trình Trọng tài không xảy

ra hoặc không tuân thủ phán quyết Trọng tài thì Hội đồng Trọng tài không có sức mạnh cưỡng chế để buộc họ phải tuân theo Hơn nữa, một vụ tranh chấp phức tạp thông thường liên quan đến rất nhiều bên nhưng thẩm quyền của Trọng Tài thường bị hạn chế đối với các bên tham gia chính quá trình tố tụng Trọng tài Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước vào hoạt động Trọng tài thì chắc chắn Trọng tài

sẽ hoạt động không có hiệu quả và trọng một số trường hợp có thể dẫn đến bế tắc

Trang 2

Tòa án là một cơ quan tài phán công, đại diện và hoạt động nhân danh quyền

lực Nhà nước nên Tòa án đương nhiên có sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước khi xét xử Tòa án có thẩm quyền giải quyết đương nhiên theo luật định đối với các vụ tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực nếu các bên không có thỏa thuận khác Các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân

có liên quan và được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Tương tự như Tòa án, Cơ quan thi hành án cũng là một cơ quan đại diện và

hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước nên Cơ quan thi hành án đương nhiên

có sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước khi tiến hành thực thi các bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài Theo quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà không

có thẩm quyền buộc các bên phải thi hành Vì vậy, để phán quyết của Hội đồng trọng tài được thi hành trên thực tế cần có sự hỗ trợ của Cơ quan thi hành án dân sự

II NỘI DUNG

2.1 Sự hỗ trợ của Tòa án trong hoạt động tố tụng trọng tài theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và Luật trọng tài thương mại 2010

Bên cạnh sự thành công của Trọng tài không thể không nói đến vai trò của Tòa

án Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động Trọng tài cũng cần đến Tòa án Trọng tài chỉ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nếu có sự gắn kết chặt chẽ với Tòa

án Trọng tài thực sự là Tòa án tư nhưng không thể hành chính hóa như Tòa án công mà phải chịu sự gắn kết, ủng hộ của Tòa án công Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Tòa án chỉ là giải pháp cần thiết trong những trường hợp nhất định mà thôi vì phải đảm bảo nguyên tắc “Trọng tài sẽ nhận được sự hỗ trợ kịp thời của Tòa án nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc Trọng tài độc lập với Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp” Hoạt động Trọng tài có hiệu quả nếu Tòa án quan tâm đến kết quả Trọng tài và sự hỗ trợ khi cần thiết nhằm giúp các bên tham gia Trọng tài đạt được

Trang 3

mục đích trên cơ sở công lý, công bằng và khách quan Ngược lại, nếu Tòa án tham gia không sâu, không kịp thời hoặc không đúng lúc thì Trọng tài sẽ mất đi tính linh hoạt vốn có của mình và khi ấy, trọng tài đơn thuần chỉ là cái bóng của Tòa án Nhờ có sự hỗ trợ của Tòa án vào Trọng tài là tổ chức phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động hiệu quả.

Sự hỗ trợ của Tòa án đối với quá trình tố tụng của Trọng tài thương mại được thể hiện thông qua các quy định như: Tòa án đảm bảo thi hành điều khoản thỏa thuận trọng tài; chỉ định trọng tài viên, chủ tịch Hội đồng trọng tài; thay đổi trọng tài viên; thu thập chứng cứ; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; triệu tập người làm chứng; hủy bỏ phán quyết trọng tài Tuy nhiên, những vấn đề này được quy định khác nhau trong hai văn bản là Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 (PLTTTM 2003) và Luật trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM 2010) Cụ thể đó là:

2.1.1 Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề đảm bảo thi hành điều khoản thỏa thuận trọng tài

Việc Pháp luật Trọng tài quy định về vai trò hỗ trợ của Tòa án trong việc thực thi thỏa thuận trọng tài xuất phát từ những lý do sau:

Thực tiễn cho thấy, không phải trong mọi trường hợp, các bên trong thỏa thuận trọng tài đều thực hiện đúng như thỏa thuận mà mình đã cam kết Trong trường hợp có mâu thuẫn với nhau về thẩm quyền hoặc một trong các bên cố tình không thực thi thỏa thuận đã cam kết mà không có cơ quan nào đứng ra giải quyết thì tố tụng trọng tài có nguy cơ bế tắc Bởi vì, bản chất Trọng tài là tài phán tư chỉ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận của các bên tranh chấp Trọng tài không thể buộc các bên phải thựa hiện đúng thỏa thuận mà mình đã cam kết Do đó, cần thiết phải có

sự hỗ trợ của Tòa án trong trường hợp này để hoạt động trọng tài diễn ra bình thường

Có thể nói rằng, thỏa thuận trọng tài là điều kiện cần thiết của Trọng tài, chính vì thế hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có tầm quan trọng đặc biệt Cho nên

Trang 4

vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm thi hành thỏa thuận Trọng tài là cần thiết Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết vấn đề này có ý nghĩa quan trọng bởi nó

sẽ quyết định Trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp hay không và đảm bảo hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề đảm bảo thi hành điều khoản thỏa thuận trọng tài theo PLTTTM 2003

Điều 5 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 có quy định:

“Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu” Các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại

Điều 10 Pháp lệnh

Như vậy, Tòa án phải chủ động kiểm tra sự tồn tại, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và có nghĩa vụ đương nhiên từ chối thẩm quyền khi vụ tranh chấp có thỏa thuận trọng tài hợp pháp Trường hợp nếu các bên tranh chấp đã có thỏa thuận điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài mà một trong các bên không thực hiện thì Tòa án hỗ trợ để đảm bảo thi hành

Tuy nhiên, khi quy định về vấn đề này thì PLTTTM 2003 lại bỏ sót trường

hợp, đó là “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Pháp lệnh chỉ quan

tâm đến thỏa thuận trọng tài của các bên có vô hiệu hay không mà bỏ qua trường hợp liệu rằng thỏa thuận trọng tài của các bên có khả thi, có thể thực hiện được trên thực tế hay không?

b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề đảm bảo thi hành điều khoản thỏa thuận trọng tài theo Luật TTTM 2010

Theo Điều 6 Luật TTTM 2010 quy định “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải

từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”

Trang 5

So với Pháp lệnh TTTM 2003 thì danh sách các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được đã được rút ngắn lại theo quy định tại Điều 18 Luật TTTM 2010 Đồng thời, Luật TTTM 2010 đã bổ sung thêm trường hợp thỏa thuận trọng tài

“không thể thực hiện được” Bổ sung này là cần thiết vì một mặt phù hợp với

thông lệ quốc tế, mặt khác đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khắc phục được những vấn đề chưa hợp lý, phù hợp với thực tiễn, đảm bảo hiệu lực thi hành của các thỏa thuận trọng tài

Hơn nữa, so với pháp lệnh TTTM năm 2003, kể cả về mặt hình thức, Điều 6

Luật TTTM 2010 là một điều riêng biệt với tên gọi “Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài” Cách gọi tên của điều luật này có tính xác định rõ hơn so với tên gọi của Điều 5 tương ứng trong Pháp lệnh “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài”.

Tuy nhiên, quy định trên theo Luật TTTM 2010 vẫn chưa bao quát hết các trường hợp có thể phát sinh trong thực tiễn

Ví dụ: Một bên khởi kiện ra Tòa án và Tòa án không từ chối thụ lý và cũng có phản đối của bên kia về thẩm quyền của Tòa án trong quá trình sơ thẩm Liệu bản

án sơ thẩm có thể bị hủy trên cơ sở Điều 6 của Luật hay không nếu một trong các bên không đồng ý với phán quyết cho rằng Tòa án đã vi phạm Điều 6 và yêu cầu Tòa án cấp trên hủy án sơ thẩm Tương tự, sau khi bản án sơ thẩm được đưa ra, Viện kiểm sát có thể kháng nghị yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng Tòa án

đã không áp dụng Điều 6 của Luật TTTM 2010 không? Theo quy định tài Điều 6 Luật TTTM 2010, Tòa án phải chủ động kiểm tra sự tồn tại, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và có nghĩa vụ đương nhiên từ chối thẩm quyền khi vụ tranh chấp

có thỏa thuận trọng tài hợp pháp mà không cần phải có bất kỳ đơn yêu cầu nào của một bên Đương sự Tuy nhiên, nếu hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng sau

đó, một bên khởi kiện ra Tòa án, bên còn lại không phản đối thì có được xem là họ

từ bỏ thỏa thuận trọng tài hay không?

Trang 6

Có quan điểm cho rằng: “ Nếu hai bên đã ký thỏa thuận trọng tài nhưng sau đó, một bên cứ kiện ra Tòa án và bên kia chấp nhận bằng văn bản việc kiện ra Tòa án, thì có nghĩa là hai bên đã tự nguyện thỏa thuận xóa bỏ điều khoản trọng tài và giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho Tòa án Chỉ lúc này Tòa án mới được thụ lý giải quyết Còn nếu bên kia không đồng ý bằng văn bản thì Tòa án không có thẩm quyền” Về nguyên tắc, khi đã quy định thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản thì việc thay đổi hay bãi bỏ thỏa thuận đó cũng chỉ có hiệu lực khi được thể hiện bằng văn bản Điều này là hợp lý và phù hợp với chế định trọng tài Ý kiến khác cho rằng: “ không nên hủy án sơ thẩm vì Tòa án không từ chối thụ lý và cũng không có sự phản đối của bên kia về thẩm quyền của Tòa án trong quá trình

sơ thẩm, chúng ta coi như các bên đã ngầm từ bỏ thoả thuận trọng tài đã thiết lập

và chấp nhận thẩm quyền của Tòa án” Trong trường hợp này, ta thấy, ý kiến thứ hai có vẻ hợp lý hơn và phù hợp với chế định trọng tài Bởi lẽ, do có tình tiết là bên kia không phản đối thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án trong quá trình sơ thẩm và có những hành vi tham gia tích cực vào quá trình tố tụng tại tòa nên có thể hiểu là giữa các bên đã ngầm từ bỏ thỏa thuận trọng tài Do thỏa thuận trọng tài giữa các bên không còn tồn tại nên Tòa án không vi phạm Điều 6 Luật TTTM 2010 Hướng giải quyết này sẽ có lợi là hạn chế được trường hợp một bên lợi dụng chứng cứ để Tòa án giải quyết, chừng nào thấy bản án của Tòa án bất lợi cho mình mới phản đối thẩm quyền của Tòa án để hủy bản án đó

2.1.2 Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề chỉ định trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên đối với Hội đồng trọng tài vụ việc

Hội đồng trọng tài vụ việc được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của các bên, nếu vì một lý do nào đó không thể chọn được trọng tài viên thì tòa án sẽ đứng ra chỉ định Việc chỉ định trong trường hợp này là cần thiết, đảm bảo cho sự vô tư khách quan và bảo vệ quyền lợi của các bên một cách tốt nhất

a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề chỉ định trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên đối với Hội đồng trọng tài vụ việc theo PLTTTM 2003

Trang 7

Sự hỗ trợ này được quy định tại Điều 26 PLTTTM 2003 trong trường hợp các bên tự thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad - hoc), cụ thể là:

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì khi nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn, bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết trọng tài viên mà mình chọn Nếu quá thời hạn luật định (ba mươi ngày)

mà bị đơn không chọn được trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa

án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên cho bị đơn Hai trọng tài viên được chọn hoặc được Tòa án chỉ định phải thống nhất và chọn

ra trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài trong thời hạn mười năm ngày Nếu như hai trọng tài viên được chọn hoặc được chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ ba, các bên có quyền yêu cầu Tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ

sở hoặc cư trú chỉ định trọng tài viên thứ ba

Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng Trọng tài được các bên thành lập giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên do các Trọng tài viên khác trong Hội đồng Trọng tài quyết định Trong trường hợp không quyết định được hoặc nếu hai Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp thì theo yêu cầu của nguyên đơn Chánh án Toà án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc

cư trú giao cho một Thẩm phán xem xét quyết định Quyết định của Toà án là chung thẩm (điểm b khoản 4 Điều 27 PLTTTM 2003)

b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề chỉ định trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên đối với Hội đồng trọng tài vụ việc theo Luật TTTM 2010

Sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài trong việc chỉ định trọng tài viên chỉ được áp dụng trong Trọng tài vụ việc và được quy định tương tự như PLTTTM

2003, cụ thể tại Điều 41 Luật TTTM 2010 Tuy nhiên, đối với quy định về việc thay đổi trọng tài viên thì so với PLTTTM 2003, Luật TTTM 2010 đã mở rộng quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên đối với vụ tranh chấp do Hội đồng Trọng tài được các bên thành lập giải quyết, cụ thể là:

Trang 8

Theo Pháp lệnh, chỉ nguyên đơn mới có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi trọng tài viên, còn theo Luật TTTM 2010 chủ thể không chỉ là nguyên đơn mà là một hoặc các bên tranh chấp Có nghĩa là bị đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên Đồng thời, Luật còn cho phép một hoặc các trọng tài viên được chỉ định để giải quyết vụ tranh chấp cũng có quyền yêu cầu.

Như vậy, việc mở rộng quyền yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên theo Luật TTTM 2010 là hợp lý Bởi vì kết quả của việc giải quyết tranh chấp không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn mà còn cả bị đơn, ngoài ra thì đây là trọng tài vụ việc do các bên thỏa thuận thành lập để giải quyết tranh chấp nên để đảm bảo cho sự bình đẳng về quyền thì bị đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi trọng tài viên Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết tranh chấp thì các trọng tài viên được chỉ định giải quyết tranh chấp cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi một trong các trọng tài viên còn lại Điều này đảm bảo sự khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài vụ việc

2.1.3 Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề lưu giữ hồ sơ đối với giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (ad hoc)

Hội đồng trọng tài vụ việc được thành lập theo ý chí của các bên để giải quyết tranh chấp, sau khi giải quyết xong thì chấm dứt Do vậy, nếu không quy định lưu trữ hồ sơ đối với hình thức trọng tài này thì sẽ gặp phải những khó khăn với yêu cầu xin hủy phán quyết trọng tài sau này

a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề lưu giữ hồ sơ đối với giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (ad hoc) theo PLTTTM 2003

Theo PLTTTM 2003, cụ thể tại khoản 2 Điều 48 Pháp lệnh trọng tài thương

mại 2003 quy định: “Đối với việc giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày công bố

Trang 9

quyết định trọng tài hoặc biên bản hoà giải, Hội đồng Trọng tài phải gửi quyết định trọng tài, biên bản hoà giải kèm theo hồ sơ giải quyết vụ tranh chấp cho Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra quyết định trọng tài hoặc lập biên bản hoà giải để lưu trữ”

Như vậy, hồ sơ sẽ được lưu trữ tại Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài Chính sự hỗ trợ của Tòa án trong việc lưu trữ hồ sơ trọng tài

đã tạo ra sự an tâm cho các bên tranh chấp, mặt khác còn tạo ra sự thuận lợi để Tòa án xem xét khi có yêu cầu hủy quyết định trọng tài đối với trọng tài theo vụ việc

b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề lưu giữ hồ sơ đối với giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (ad hoc) theo Luật TTTM 2010

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật TTTM 2010: “Trung tâm trọng

tài có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ vụ tranh chấp đã thụ lý Hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài vụ việc giải quyết được các bên hoặc các Trọng tài viên lưu trữ”.

Như vậy, Luật TTTM 2010 đã bỏ đi quy định về việc lưu trữ hồ sơ giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài vụ việc của Tòa án mà hồ sơ vụ tranh chấp Trọng tài vụ việc sẽ do các bên hoặc các Trọng tài viên lưu trữ

2.1.4 Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tố tụng Trọng tài thường nhanh hơn tố tụng Tòa án Tuy nhiên, cũng phải mất một khoảng thời gian để Hội đồng trọng tài đưa ra một phán quyết cuối cùng Khoảng thời gian này chính là điều kiện để bên chống đối có những hành vi như: che dấu hoặc là hủy hoại chứng cứ, bán tài sản, chuyển hàng hóa hoặc tài sản đến nới khác Vì vậy, trong những trường hợp như thế, các lệnh nhằm mục đích bảo vệ tài sản, chứng cứ, hoặc theo cách nào đó duy trì hiện trạng trong khi chờ đợi kết quả của chính quá trình tố tụng của Tòa án hay Hội đồng trọng tài là cần thiết

Trang 10

Điều này giúp hạn chế tình trạng một bên tranh chấp hủy hoại chứng cứ, chuyển tài sản ra nước ngoài gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ tranh chấp Cho nên sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất cần thiết.

a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo PLTTTM 2003

Tại Điều 33 Pháp lệnh trọng tài trọng tài thương mại 2003 quy định rõ:

“Trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây:

1 Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ;

2 Kê biên tài sản tranh chấp;

3 Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;

4 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;

5 Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ;

6 Phong toả tài khoản tại ngân hàng.”

Tùy theo yêu cầu áp dụng loại biện pháp khẩn cấp tạm thời mà bên yêu cầu phải cung cấp mà bên yêu cầu phải cung cấp cho Toà án bằng chứng cụ thể về các chứng cứ cần được bảo toàn, các chứng cứ về việc bị đơn tẩu tán, cất giấu tài sản có thể làm cho việc thi hành quyết định trọng tài không thể thực hiện được Đồng thời, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp một khoản tiền bảo đảm do Toà án ấn định, nhưng không quá nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng

Trang 11

biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có yêu cầu (khoản 2, 3 Điều 34 PLTTTM 2003)

Như vậy, Tòa án chỉ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có yêu cầu của các bên và phải trong quá trình tố tụng trọng tài Khi nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải xem xét tài liệu do bên yêu cầu cung cấp theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Nếu đủ căn cứ theo Điều 33, 34 của Pháp lệnh này thì Tòa án mới ra quyết định

Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được thay đổi hoặc hủy

bỏ khi không còn phù hợp hoặc không còn cần thiết theo yêu cầu của bên đề nghị

áp dụng (Điều 35 PLTTTM 2003)

Có thể nói, việc Tòa án xem xét áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình tố tụng trọng tài là biện pháp hỗ trợ quan trọng nhất của Tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Vai trò hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là một điều được quy định trong pháp luật trọng tài của nhiều nước nhưng lại là lần đầu tiên được quy định rõ ràng trong pháp luật nước ta bằng PLTTTM 2003

Tuy nhiên, các quy định của PLTTTM 2003 về vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời còn một số hạn chế, cụ thể là:

Theo quy định tại Điều 33 PLTTTM 2003 thì nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời các bên phải chờ đến khi Hội đồng trọng tài được thành lập Quy định này một phần nào đó không còn mang bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời vì bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, thời điểm các bên cần thiết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đồng nhất với thời điểm Hội đồng trọng tài đã được thành lập

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh

thì chỉ được thực hiện “trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh

Trang 12

chấp” Điều này chỉ được tiến hành “trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết

vụ tranh chấp” Và trước câu hỏi “Trước khi Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, một bên có quyền yêu cầu biện pháp trên không?” thì Pháp lệnh không có câu trả lời Bên cạnh đó, quy định này vô hình chung đã tạo cơ hội cho các bên có

đủ thời gian để tẩu tán tài sản gây khó khăn cho quá trình giải quyết tranh chấp và trong một số trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa

án không còn ý nghĩa nữa vì các bên đã kịp chuyển tài sản ra nước ngoài hoặc đã hủy hoại toàn bộ chứng cứ

Tại Điều 33 Pháp lệnh này, chỉ trao thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Tòa án nơi Hội đồng trọng tài thụ lý tranh chấp Chính điều này đã gây khó khăn cho cả Tòa án và các bên trong quá trình áp dụng quy định này Bởi lẽ thực tiễn cho thấy có nhiều vụ tranh chấp có tài sản là đối tượng của vụ tranh chấp có ở nhiều nơi khác nhau thì quy định này trở nên không hợp lý và sẽ gây nhiều khó khăn cho Tòa án khi xem xét ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ các biện pháp này Trường hợp vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì quy định này khó có thể thực hiện trên thực tế vì Tòa án Việt Nam không thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam Điều này chỉ hợp lý khi các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài, tài sản liên quan ở cùng một nơi, còn nếu tài sản liên quan ở địa bàn khác hoặc nằm ở nước ngoài thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là bất khả thi và không hợp lý

Ngoài ra, Điều 33 Pháp lệnh cho phép các bên, trong khi Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp, nếu cần thiết thì có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là Pháp lệnh không cho phép Hội đồng trọng tài có quyền xem xét hoặc kiến nghị gì đối với Quyết định này mặc dù việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những điều khoản của tố tụng trọng tài Điều này cho thấy Hội đồng trọng tài là cơ quan trực

Trang 13

tiếp xét xử vụ việc nhưng lại không có quyền gì đối với việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi nhận thấy việc áp dụng này là không đúng

Theo quy định của Điều 35 Pháp lệnh thì chỉ duy nhất bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mới có quyền yêu cầu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp

tạm thời nên không thể hủy bỏ quyết định này khi bên yêu cầu không có yêu cầu hủy bỏ Như vậy, khi vụ việc đã được Hội đồng trọng tài xét xử xong với kết quả

có thể là bác yêu cầu của bên đã đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng lại không có quyền hủy hoặc kiến nghị Tòa án hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Bởi vậy, có thể dẫn đến tình trạng là yêu cầu của bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ kiện không được Hội đồng trọng tài chấp nhận nhưng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn

“treo” tài sản của bên kia, đặc biệt là của bên thứ ba nên có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng tới người bị áp dụng biện pháp

b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Luật TTTM 2010

Điểm mới của Luật TTTM 2010 là cho phép Hội đồng trọng tài được quyền xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như được quyền thay đổi, hủy

bỏ quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đó Việc pháp luật trao thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Hội đồng trọng tài có ý nghĩa quan trọng, giúp cho quá trình trọng tài diễn ra nhanh hơn, góp phần tăng sức hấp dẫn của Trọng tài Tuy nhiên, phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài còn hạn chế, vì thế, đối với những biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền áp dụng thì

sự hỗ trợ của Tòa án trong trường hợp này là rất cần thiết giúp cho quá trình tố tụng Trọng tài diễn ra bình thường, đảm bảo tính khả thi của phán quyết Trọng tài đồng thời nâng cao uy tín Trọng tài

Đồng thời, để tránh sự nhầm lẫn hoặc lạm quyền của Tòa án, khoản 2 Điều 48

Luật TTTM 2010 còn quy định: “Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn

Trang 14

cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài”.

Để khắc phục những thiếu sót của Pháp lệnh trong việc quy định về thời điểm yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như đã đề cập ở trên thì Luật TTTM 2010 đã quy định, khi nhận thấy lợi ích có nguy cơ bị xâm phạm, một bên

đã có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp mà không bị giới hạn như Pháp lệnh là chờ đến khi Hội đồng Trọng tài được thành lập mới có quyền yêu

cầu Cụ thể là theo quy định tại Điều 53 Luật TTTM 2010: “Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền yêu cầu

áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng”

Bên cạnh đó, Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 7 Luật TTTM 2010 quy

định: “Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng” Như

vậy, Luật TTTM 2010 đã khắc phục được quy định không hợp lý của Pháp lệnh ở việc quy định về vấn đề trao thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Tòa án nơi Hội đồng trọng tài được thành lập Thay vào đó, Luật 2010 quy định Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng Quy định này là hợp lý vì nó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Tòa án khi xem xét ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp này

Mặc dù khắc phục được những quy định chưa hợp lý của Pháp lệnh TTTM

2003 về vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời Tuy nhiên Luật TTTM 2010 còn mắc phải một số hạn chế, cụ thể là:

Như đã phân tích, theo khoản 1 Điều 53 Luật TTTM 2010, sau khi nộp đơn khởi kiện, một bên có quyền làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền yếu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này vô hình chung tạo cơ hội để cho các bên tẩu tán tài sản gây khó khăn cho quá trình giải quyết

Trang 15

tranh chấp Trong một số trường hợp, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án không còn ý nghĩa nữa vì các bên đã kịp chuyển tài sản ra nước ngoài hoặc đã hủy hoại toàn bộ chứng cứ Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 53

là chưa thật hợp lý Thiết nghĩ, việc cho phép các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với thời điểm nộp đơn khởi kiện ra trọng tài sẽ hợp lý hơn

Hơn nữa, Luật TTTM 2010 quy định “một bên” có quyền yêu cầu Tòa án hủy

bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng Tuy nhiên, Luật lại không quy định rõ một bên là gồm những bên nào Một bên ở đây được hiểu là các bên trong tố tụng trọng tài (nguyên đơn và bị đơn) hay bao gồm cả bên thứ ba là người có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan đến vụ tranh chấp Nếu một bên ở đây chỉ bao gồm các bên trong tố tụng trọng tài thì quy định này chưa hợp lý Bởi lẽ, thực tiễn cho thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ được áp dụng đối với tài sản hoặc chứng cứ đang thuộc quyền quản lý, sở hữu của các bên trong tố tụng trọng tài mà còn có thể được áp dụng đối với tài sản hoặc chứng cứ thuộc về bên thứ ba, không phải là một bên trong tố tụng trọng tài

Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, các bên cũng như Hội đồng trọng tài thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng quy định này, bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên thứ ba liên quan đến vụ tranh chấp, văn bản hướng dẫn thi hành Luật TTTM 2010 cần phải giải thích rõ quy định này theo hướng: một bên ở đây không chỉ là các bên trong tố tụng trọng tài mà còn cả bên thứ ba là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng được quyền yêu cầu Tòa án đã ra quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời xem xét, giải quyết việc thay đổi, hủy bỏ hoặc giữ nguyên các biện pháp đó Bởi lẽ, nếu không trao cho bên thứ ba quyền này và biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn cần thiết nữa nhưng các bên tranh chấp không có yêu cầu hủy bỏ thì biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn bị “treo” Trong trường hợp này Tòa án và Hội đồng trọng tài không thể làm gì được vì theo Luật TTTM 2010, Tòa án không thể tự mình hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

đã áp dụng mà phải có yêu cầu của một bên

Ngày đăng: 27/11/2015, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w