1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"

194 596 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố chính thuộc về môi trường quản lý là: Triết lý của nhà quản lý về quản trị rủi ro: triết lý về quản trị rủi ro là quan điểm, nhận thức và thái độ của nhà quản lý, điều này tạo nên cách thức mà đơn vị tiếp cận với rủi ro trong tất cả các hoạt động, từ phát triển chiến lược đến các hoạt động hàng ngày. Triết lý quản lý phản ánh những giá trị mà đơn vị theo đuổi,tác động đến văn hoá và cách thức đơn vị hoạt động, và ảnh hưởng đến việc áp dụng các yếu tố khác của ERM11 bao gồm cách thức nhận dạng rủi ro, các loại rủi ro được chấp nhận và cách thức quản lý chúng. Rủi ro có thể chấp nhận: là mức độ rủi ro mà xét trên bình diện tổng thể, đơn vị sẵn lòng chấp nhận để theo đuổi giá trị. Nó phản ánh triết lý về quản trị rủi ro của nhà quản lý cấp cao, và ảnh hưởng đến văn hoá, cách thức hoạt động của đơn vị. Rủi ro có thể chấp nhận được xem xét khi đơn vị xác định các chiến lược, ở đó lợi ích kỳ vọng của một chiến lược phải phù hợp với mức rủi ro có thể chấp nhận đã đề ra. Các chiến lược khác nhau sẽ dẫn đến những mức độ rủi ro khác nhau đối với đơn vị, một khi mức rủi ro có thể chấp nhận được xác lập sẽ giúp ích cho nhà quản lý lựa chọn chiến lược nằm trong giới hạn chịu đựng đối với các loại rủi ro.Hội đồng quản trị : đây là một bộ phận quan trọng và ảnh hưởng đến những yếu tố khác. Vai trò của Hội đồng quản trị được thể hiện ở việc giám sát ban quản lý trong việc lựa chọn chiến lược, lên kế hoạch và việc thực hiện nó. Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên, và mối quan hệ giữa họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Cho dù trong lịch sử đơn vị chưa phải gánh chịu những tổn thất, cho dù chưa có bằng chứng hay dấu hiệu nào cho thấy đơn vị phải đối mặt với những rủi ro quan trọng, thì Hội đồng quản trị cũng không nên suy nghĩ rằng rủi ro sẽ không xảy đến. Phải luôn ý thức rằng, cho dù có một chiến lược hay, đội ngũ nhân sự lành nghề, chu trình được thiết kế khoa học và kỹ thuật áp dụng là đáng tin cậy thì đơn vị vẫn phải đối mặt với tổn hại từ các loại rủi ro và việc quản trị rủi ro vẫn rất cần thiết.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp mới của đề tài 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG ĐƠN VỊ HOẠT ĐỘNG CÔNG 5

1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát rủi ro 5

1.1.1 Khái niệm kiểm soát rủi ro 8

1.1.2 Lợi ích kiểm soát rủi ro 8

1.1.3 Hạn chế của kiểm soát rủi ro 9

1.2 Nội dung c.bản của hệ thống KSRR trong đơn vị hoạt động công 10

1.2.1 Môi trường quản lý 10

1.2.2 Thiết lập các mục tiêu 13

1.2.3 Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng 14

1.2.4 Đánh giá rủi ro 16

1.2.5 Phản ứng rủi ro 18

1.2.6 Hoạt động kiểm soát 20

1.2.7 Thông tin và truyền thông 20

1.2.8 Giám sát 21

1.3 Nhận diện rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động thu thuế GTGT 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 26

Trang 2

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI

RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH

ĐỊNH 27

2.1 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh Bình Định 27

2.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục thuế tỉnh Bình Định: 27

2.1.2 Tổ chức bộ máy của Cục thuế tỉnh Bình Định: 28

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ các Phòng, các Chi cục thuế thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định: 29

2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 30

2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp xử lý 31

2.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp và phương pháp xử lý 32

2.3 Đánh giá hoạt động thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định 34

2.3.1 Đánh giá hoạt động thu thuế GTGT toàn ngành thuế 34

2.3.2 Đánh giá hoạt động thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định 50

2.3.3 Đánh giá hệ thống các văn bản liên quan đến công tác thu và chống thất thu thuế GTGT 52

2.3.4 Đánh giá hệ thống tổ chức nhận diện rủi ro và kiểm soát rủi ro tại Cục thuế tỉnh Bình Định 55

2.4 Đánh giá thực trạng kiểm soát rủi ro tại Cục thuế tỉnh Bình Định 58

2.4.1 Đánh giá thực trạng KSRR ngành thuế 58

2.4.2 Đánh giá thực trạng KSRR tại Cục thuế tỉnh Bình Định 59

2.4.3 Đánh giá các yếu tố hệ thống KSRR thông qua bản khảo sát 60

2.4.4 Những mặt chưa làm được và nguyên nhân tồn tại của hệ thống KSRR tại Cục thuế Bình Định 95

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 98

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 99

3.1 Quan điểm hoàn thiện 99

3.2 Hoàn thiện hệ thống nhận diện rủi ro và KSRR tại Cục thuế Bình Định 103

Trang 3

3.2.1 Về môi trường quản lý 103

3.2.2 Về Thiết lập mục tiêu 104

3.2.3 Về Nhận diện sự kiện tiềm tàng 105

3.2.4 Về Đánh giá rủi ro 106

3.2.5 Về Phản ứng rủi ro 106

3.2.6 Về Hoạt động kiểm soát 106

3.2.7 Về Thông tin và truyền thông 107

3.2.8 Về Giám sát 108

3.3 Các kiến nghị 108

3.3.1 Đối với nhà nước: 108

3.3.2 Đối với Ngành thuế: 115

3.3.3 Đối với Cục thuế tỉnh Bình Định: 116

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 118

KẾT LUẬN CHUNG 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC 121 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Thống kê trình độ công chức văn phòng Cục thuế tỉnh

2.3 Thống kê loại hình doanh nghiệp đang hoạt động đến

2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức tại Cục thuế tỉnh Bình Định 29

2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức các Chi cục thuộc Cục thuế tỉnh

2.3 Khung nghiên cứu luận văn do tác giả tự xây dựng 31

2.5 Kết quả thống kê nhân tố Môi trường kiểm soát 63 2.6 Kết quả thống kê nhân tố Xây dựng các mục tiêu 68 2.7 Kết quả thống kê nhân tố Nhận diện các sự kiện tiềm tàng 73 2.8 Kết quả thống kê nhân tố Đánh giá rủi ro 76 2.9 Kết quả thống kê nhân tố Phản ứng rủi ro 81 2.10 Kết quả thống kê nhân tố Hoạt động kiểm soát 86 2.11 Kết quả thống kê nhân tố Thông tin và truyền thông 90

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

G20 The Group of Twenty Nhóm 20 nước có nền kinh tế lớn

Trang 6

MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là công cụ kinh tế chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước trong đó Thuế GTGT chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu thuế của ngân sách nhà nước Một trong những yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu đúng thu đủ & đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế Chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách quốc gia, cũng như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế

Trước bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước gặp nhiều biến động bất lợi, khó khăn, các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngành Thuế đã chủ động kiến nghị

và xây dựng các cơ chế chính sách thuế phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngành Thuế cũng đã tiến hành miễn, giảm, giảm thuế GTGT cho các DN đủ điều kiện Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không ít DN để nợ thuế kéo dài dây dưa, mặc dù cơ quan thuế đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở song các DN này vẫn cố tình chây ỳ, không tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, một số doanh nghiệp, một số lĩnh vực kinh doanh chưa thật sự tự giác, chưa nâng cao ý thức nghĩa vụ nộp thuế của mình, có ý tránh né việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gian lận trong việc kê khai thuế gây thất thu ngân sách Nhà nước và từ chính trong bộ máy tổ chức cơ quan thuế không chặt chẽ dẫn đến việc thất thu trong công tác thu thuế GTGT

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, là một người công tác trong ngành thuế, chịu trách nhiệm kiểm tra, quản lý các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, tôi

chọn đề tài “Kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định.” để thực hiện luận văn cuối khoá

Trang 7

2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố

- Những nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam cũng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề rủi ro trong công tác thu thuế, về vấn đề hoàn thiện hệ thống quản lý thuế

- Trần Văn Ninh (2012) Tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Cẩm Lệ: Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát thuế GTGT, các

hành vi vi phạm và các giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát thuế GTGT

- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội ): các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế nhằm tăng cường sự tuân

thủ thuế của doanh nghiệp, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế

- Báo nhân dân Kiểm soát việc trốn thuế thu nhập doanh nghiệp (2012): đề xuất của các chuyên gia thuế quốc tế tại cuộc hội thảo “Xu hướng cải cách thuế GTGT và Thuế GTGT ở các nước và tác động”

- Lê Thị Thanh Thảo (2012) Kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế TNDN tại Chi cục thuế Quận Tân Phú- Thực trạng và giải pháp

- Nghiên cứu ngoài nước:

Đã có nhiều nghiên cứu được xuất bản bàn về công cuộc quản trị rủi ro trong công tác thu thuế với mục tiêu giảm thiểu và kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế

Trong cuốn sách “Tax Risk Management : From risk to opportunity”1 tác giả

đã bàn về vai trò của thuế; TCF2 - một hệ thống để nhận dạng rủi ro, giảm thiểu rủi

ro về thuế, kiểm soát và báo cáo rủi ro về thuế với mục tiêu quan trọng của hệ thống này là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiệu quả & minh bạch , và một số kinh

Trang 8

nghiệm quản trị rủi ro trong công tác thu thuế của nhiều nước trên thế giới như Úc, Canada, Pháp, Ireland,

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm :

 Đánh giá tình hình thu thuế trên địa bàn tỉnh Bình Định

 Phân tích các rủi ro dẫn đến việc thất thu trong công tác thu thuế GTGT

 Từ đó đề xuất giải pháp để kiểm soát rủi ro giảm thiểu thất thu

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này tập trung vào phân tích sự ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát rủi ro đến việc thu thuế tại Cục thuế Tỉnh Bình Định Cụ thể hơn trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung làm rõ khả năng ngăn chặn việc thất thu thông qua việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi ro từ các yếu tố bên trong cũng như những yếu tố bên ngoài

1.4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu hệ thống kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục thuế Tỉnh Bình Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, cụ thể:

Về lý luận: hệ thống hóa lý thuyết KSRR theo báo cáo COSO 2004 và đặc

điểm trong hoạt động công INTOSAI 2004

Về thực trạng: Phân tích, so sánh, đánh giá hệ thống KSRR thông qua các

văn bản hiện hành trong công tác thu thuế GTGT toàn ngành và tại Cục thuế tỉnh Bình Định

Khảo sát bảng câu hỏi về 8 yếu tố trong hệ thống KSRR: Kết quả bảng

khảo sát sẽ được phân tích, đánh giá thông qua phương pháp thống kê mô tả

Các giải pháp hoàn thiện: được tổng hợp, suy diễn trên cơ sở kết quả lý

thuyết vận dụng phù hợp vào thực trạng Cục thuế tỉnh Bình Định

Trang 9

6 Đóng góp mới của đề tài

Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát rủi ro tại Cục thuế Bình Định từ năm

2008 đến 2012

Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả hệ thống kiểm soát rủi ro tại Cục thuế tỉnh Bình Định

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mục lục,danh mục bảng biểu, hình vẽ, chữ viết tắt, bố cục chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương I : Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát rủi ro trong đơn vị hoạt động công

Chương II : Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định

Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định

Trang 10

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG ĐƠN VỊ

HOẠT ĐỘNG CÔNG

1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát rủi ro

Từ khi có hoạt động kinh doanh, những người điều hành đều phải sử dụng các biện pháp để kiểm soát các hoạt động tại đơn vị mình Hoạt động kinh doanh càng phát triển thì chức năng kiểm soát càng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình quản lý Thông qua các hoạt động kiểm soát, nhà quản lý đánh giá và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất

Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị Khái niệm KSNB lúc đầu được sử dụng như

là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong trong việc lập kế hoạch kiểm toán, đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu

Theo thời gian, hoạt động ở các tổ chức không ngừng tăng lên về khối lượng

và mức độ phức tạp Những người quản lý chịu sức ép nặng nề hơn và họ đã sử dụng kiểm toán nội bộ như là một vũ khí lợi hại của mình Nếu như trước đây, kiểm toán nội bộ hướng nhiều vào kế toán, thì ngày nay, đã có xu hướng không những kiểm toán vào các lĩnh vực tài chính mà còn mở rộng đến các lĩnh vực phi tài chính

Những năm 1990 chứng kiến sự bùng nổ về quản trị rủi ro nhằm ngăn chặn

sự hư hại hoặc thậm chí bị sụp đổ của một tổ chức bởi những xì-căn-đan, bởi những sai lầm về quản trị hay bởi những sự kiện mang lại tác động đối nghịch với công việc kinh doanh Ban giám đốc ở tất cảcác loại hình kinh doanh và dịch vụ công đã được củng cố tầm quan trọng của sự cần thiết phải có những hệ thống tốt để quản trị rủi ro Như là kết quả của sự phát triển, rất nhiều tổ chức nhìn vào kiểm toán nội bộ

để hướng dẫn việc triển khai chiến lược quản trị rủi ro và cung cấp các đề nghị

Trang 11

nhằm đẩy mạnh khía cạnh này Những kiểm toán viên nội bộ được đòi hỏi đánh giá

sự thích hợp của chiến lược quản trị rủi ro và báo cáo cách mà các cấu trúc, cơ cấu,

và việc thực hiện có thể được cải thiện trong việc xác định và quản trị rủi ro theo những hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp

Đến những năm 2000, việc quản trị rủi ro doanh nghiệp đòi hỏi những con người có kỹ năng trong việc nhận dạng, đánh giá rủi ro và tiên phong thực hiện việc quản trị rủi ro theo cách gắn liền với qui trình trong chiến lược kinh doanh được chấp nhận

COSO3 là một Ủy ban bao gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hổ trợ cho

Ủy ban Treadway Các tổ chức nghề nghiệp trên bao gồm : Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA4, Hội kế toán Hoa Kỳ AAA5, Hiệp hội các nhà quản trị tài chính FEI6, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IIA7 và Hiệp hội kế toán kế toán viên quản trị IMA8 Qua quá trình tìm hiểu về gian lận, COSO đã nhận thấy KSNB đã có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xảy ra gian lận Vì thế, việc nghiên cứu và đưa ra chuẩn về KSNB được đặt ra Báo cáo COSO năm 1992 là kết quả của quá trình nghiên cứu này, cung cấp một hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm này, kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đó về KSNB

Mặc dù đã được bổ sung và hoàn thiện trong quá trình phát triển, tuy nhiên

lý thuyết về kiểm soát nội bộ vẫn còn những hạn chế, đặc biệt trong điều kiện kinh

tế hiện nay Các hạn chế của lý thuyết kiểm soát nội bộ thể hiện ở những mặt sau đây:

 Chưa mở rộng tầm nhìn chiến lược

Báo cáo COSO năm 1992 không xác định việc xây dựng các mục tiêu của đơn vị nằm trong chu trình KSNB Vì vậy, hệ thống KSNB được xây dựng chỉ để nhằm mục đích kiểm soát việc thực hiện các mục tiêu đã được xác định, chứ không

3 COSO: Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission

4 AICPA: American Institute of Certified Public Accountants

5 AAA: American Accounting Association

6 FEI: Financial Executives International

7 IIA: Institute of Internal Auditors

8 IMA: Institute of Management Accountants

Trang 12

nhằm phục vụ việc quản trị các tình huống không chắc chắn và tối ưu hoá quá trình quản trị đó

Mặt khác, việc xác định các mục tiêu, đặc biệt là các mục tiêu chiến lược không nằm trong chu trình kiểm soát cũng làm cho hệ thống KSNB bị hạn chế về tính dự báo đối với các loại rủi ro và vì vậy không xây dựng được các chiến lược dài hạn đối để đối phó

 Chưa áp dụng các phương pháp, kỹ thuật để quản trị rủi ro

Báo cáo COSO năm 1992 cung cấp khá nhiều các phương pháp, kỹ thuật cho KSNB Tuy nhiên các kỹ thuật này mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm soát chứ chưa đáp ứng được yêu cầu về đánh giá và quản trị các rủi ro liên quan đến đơn vị

 Chưa thể hiện vai trò của người quản lý cao cấp và trách nhiệm của họ đối với rủi ro

Hệ thống KSNB được xây dựng bởi những người quản lý trong đơn vị nhằm đảm bảo hợp lý việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, lý thuyết KSNB chỉ giới hạn trách nhiệm của người quản lý trong các hoạt động của đơn vị, chưa thể hiện trách nhiệm liên quan đến việc kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn Vì vậy, sau khi Báo cáo COSO năm 1992 ra đời thì lý thuyết KSNB tiếp tục phát triển theo nhiều hướng khác nhau và theo hướng tích hợp với việc quản trị các rủi ro tại đơn vị

Mùa thu năm 2001, COSO đề xuất nghiên cứu nhằm đưa ra một lý thuyết để giúp các tổ chức quản trị các rủi ro liên quan đến quá trình hoạt động Mặc dù đã tồn tại nhiều lý thuyết về quản trị rủi ro nhưng COSO vẫn khẳng định rằng cần thiết phải có một cách tiếp cận mới về rủi ro và phải xây dựng một khuôn mẫu lý thuyết cũng như các kỹ thuật áp dụng tương tương để các đơn vị có thể áp dụng phù hợp với điều kiện của mình Công ty kiểm toán PriceWaterhouseCooper9 được chọn tham gia vào dự án này Đến tháng 10 năm 2004, dự án được hoàn thành và COSO công bố báo dưới tiêu đề: Quản trị rủi ro doanh nghiệp – Khuôn khổ hợp nhất

9

PriceWaterhouseCooper (PwC): đã được tạo ra bởi sự sát nhập của hai công ty - Price Waterhouse và Coopers & Lybrand, là một trong những công ty kiểm toán lớn hiện nay, website: http://www.pwc.com/

Trang 13

1.1.1 Khái niệm kiểm soát rủi ro

Theo Báo cáo của COSO năm 2004[i] thì quản trị rủi ro (QTRR) doanh nghiệp được định nghĩa như sau: QTRR là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn

vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được của rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị

Theo INTOSAI10 - một hệ thống kiểm soát nội bộ của Hoa Kỳ về ứng dụng kiểm soát nội bộ theo chuẩn quốc tế trong hoạt động công cho rằng: KSRR được thiết lập để đối phó với rủi ro Hoạt động của tổ chức luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn KSRR có thể giúp tổ chức nhận diện, chủ động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu[ii]

1.1.2 Lợi ích kiểm soát rủi ro

- Tạo lập sự phù hợp giữa lựa chọn chiến lược và mức rủi ro có thể chấp nhận:

Đối với mỗi chiến lược được lựa chọn, đơn vị xem xét mức rủi ro có thể chấp nhận cho từng chiến lược, trên cơ sở đó đơn vị có căn cứ để xây dựng các mục tiêu cụ thể và xác định cách thức quản lý các rủi ro liên quan Điều này tạo sự nhất quán trong việc quản lý và hướng các công việc hàng ngày theo theo mục tiêu ban đầu đã đề ra

- Làm tăng hiệu quả đối với việc phản ứng với rủi ro:

QTRR cung cấp các kỹ thuật và phương pháp cụ thể trong việc nhận dạng và lựa chọn các phương thức phản ứng với rủi ro như né tránh rủi ro, giảm thiểu rủi ro, chuyển giao rủi ro và chấp nhận rủi ro sẽ giúp các nhà quản lý phản ứng với rủi ro một cách hiệu quả

10 INTOSAI: The International Organisation of Supreme Audit Institutions

Trang 14

- Giảm thiểu tổn thất bất ngờ trong quá trình hoạt động:

QTRR làm tăng khả năng của đơn vị về việc nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, thiết lập cách thức phản ứng với rủi ro và do đó giảm thiểu những chi phí và tổn thất bất ngờ

- Nhận dạng và quản lý rủi ro xuyên suốt toàn đơn vị:

Mỗi đơn vị phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro tác động đến nhiều bộ phận khác nhau Và QTRR đòi hỏi người quản lý không chỉ quản lý các loại rủi ro riêng biệt mà còn phải hiểu được sự tác động lẫn nhau của các rủi ro đó Từ đó giúp cho đơn vị có cái nhìn hệ thống đối với các loại rủi ro và phản ứng hiệu quả hơn đối với rủi ro, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu tổng thể của đơn vị

- Giúp đơn vị nắm bắt những cơ hội trong kinh doanh:

QTRR xem xét tất cả các sự kiện tiềm tàng liên quan đến đơn vị không chỉ

có rủi ro và vì vậy giúp các nhà quản lý nhận dạng các sự kiện mang đến cơ hội từ

đó đưa ra những phản ứng thích hợp để tận dụng những cơ hội đó

- Cải thiện sự phân bổ nguồn vốn của đơn vị:

Có được đầy đủ thông tin về rủi ro giúp nhà quản lý đánh giá tổng quát nhu cầu về vốn và tối ưu hoá việc phân bổ vốn của đơn vị

Tóm lại, QTRR giúp nhà quản lý trong việc tạo lập giá trị cho đơn vị bằng cách: xử lý hữu hiệu đối với những sự kiện không chắc chắn trong tương lai và cung cấp các cách thức phản ứng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho đơn vị

1.1.3 Hạn chế của kiểm soát rủi ro

Một hệ thống KSRR được xem là hữu hiệu, dù đã được thiết kế và vận hành thế nào đi chăng nữa, nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị chứ không đảm bảo tuyệt đối Điều này xuất phát từ những hạn chế của hệ thống KSRR doanh nghiệp Cụ thể như sau:

 Rủi ro liên quan đến tương lai và chứa đựng yếu tố không chắc chắn Một quy trình KSRR dù được đầu tư rất nhiều trong thiết kế cũng không thể nhận dạng hết toàn bộ các rủi ro và do đó không thể đánh giá chính xác sự tác động của chúng

Trang 15

 Những hạn chế xuất phát từ con người như: việc ra quyết định sai do thiếu thông tin, bị áp lực trong sản xuất kinh doanh; sự vô ý, bất cẩn, đãng trí; hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới; việc đảm nhận vị trí công việc tạm thời, thay thế cho người khác;…

 Sự thông đồng giữa các nhân viên với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị

 Khi đưa ra các quyết định, yêu cầu thường xuyên và trên hết là của người quản lý là xem xét quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được Việc phản ứng với rủi ro và tiếp theo đó là các hoạt động giám sát cũng phải đảm bảo rằng lợi ích có được phải lớn hơn chi phí mà đơn vị bỏ ra

 Luôn có khả năng những người quản lý lạm quyền nhằm phục vụ cho các mưu đồ riêng

1.2 Nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát rủi ro trong đơn vị hoạt động công

Theo COSO năm 2004 và INTOSAI 2004, KSRR ra đời đã cung cấp một định nghĩa thống nhất, một cách hiểu chung nhất được chấp nhận rộng rãi về rủi ro và KSRR thông qua hệ thống QTRR, hỗ trợ các nhà quản lý doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn doanh nghiệp của mình

Tám yếu tố của QTRR bao gồm: môi trường quản lý; thiết lập mục tiêu, đánh giá rủi ro; đối phó rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông và giám sát KSRR thông qua việc xây dựng hệ thống QTRR đang được xem là một xu hướng mới của nền kinh tế - một cách thức tốt nhất để đảm bảo nguồn lực bên trong

và bên ngoài của doanh nghiệp được sử dụng một cách hữu hiệu và hiệu quả nhằm mục đích tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận

1.2.1 Môi trường quản lý

Môi trường quản lý phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, chi phối ý thức của các thành viên trong đơn vị về rủi ro và đóng vai trò nền tảng cho các yếu tố khác của QTRR Nó tạo nên cấu trúc và phương thức vận hành về quản trị rủi ro trong đơn vị

Trang 16

Các nhân tố chính thuộc về môi trường quản lý là:

Triết lý của nhà quản lý về quản trị rủi ro: triết lý về quản trị rủi ro là quan điểm, nhận thức và thái độ của nhà quản lý, điều này tạo nên cách thức mà đơn vị tiếp cận với rủi ro trong tất cả các hoạt động, từ phát triển chiến lược đến các hoạt động hàng ngày Triết lý quản lý phản ánh những giá trị mà đơn vị theo đuổi, tác động đến văn hoá và cách thức đơn vị hoạt động, và ảnh hưởng đến việc áp dụng các yếu tố khác của ERM11 bao gồm cách thức nhận dạng rủi ro, các loại rủi

ro được chấp nhận và cách thức quản lý chúng

Rủi ro có thể chấp nhận: là mức độ rủi ro mà xét trên bình diện tổng thể, đơn vị sẵn lòng chấp nhận để theo đuổi giá trị Nó phản ánh triết lý về quản trị rủi ro của nhà quản lý cấp cao, và ảnh hưởng đến văn hoá, cách thức hoạt động của đơn

vị Rủi ro có thể chấp nhận được xem xét khi đơn vị xác định các chiến lược, ở đó lợi ích kỳ vọng của một chiến lược phải phù hợp với mức rủi ro có thể chấp nhận đã

đề ra Các chiến lược khác nhau sẽ dẫn đến những mức độ rủi ro khác nhau đối với đơn vị, một khi mức rủi ro có thể chấp nhận được xác lập sẽ giúp ích cho nhà quản

lý lựa chọn chiến lược nằm trong giới hạn chịu đựng đối với các loại rủi ro

Hội đồng quản trị : đây là một bộ phận quan trọng và ảnh hưởng đến những yếu tố khác Vai trò của Hội đồng quản trị được thể hiện ở việc giám sát ban quản

lý trong việc lựa chọn chiến lược, lên kế hoạch và việc thực hiện nó Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên, và mối quan hệ giữa họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập Cho dù trong lịch sử đơn vị chưa phải gánh chịu những tổn thất, cho dù chưa có bằng chứng hay dấu hiệu nào cho thấy đơn vị phải đối mặt với những rủi ro quan trọng, thì Hội đồng quản trị cũng không nên suy nghĩ rằng rủi ro sẽ không xảy đến Phải luôn ý thức rằng, cho dù có một chiến lược hay, đội ngũ nhân sự lành nghề, chu trình được thiết kế khoa học và kỹ thuật áp dụng là đáng tin cậy thì đơn vị vẫn phải đối mặt với tổn hại từ các loại rủi ro và việc quản trị rủi ro vẫn rất cần thiết

11

ERM: Enterprise Risk Management- Quản lý rủi ro doanh nghiệp

Trang 17

Tính chính trực và các giá trị đạo đức: Sự hữu hiệu của hệ thống quản trị rủi ro trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người có liên quan đến quá trình quản trị rủi ro Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cấp cao phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị

và cư xử đúng đắn để ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Muốn vậy, những nhà quản lý, đặc biệt là giám đốc điều hành (CEO12) cần phải làm gương cho cấp dưới trong việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng những thể thức thích hợp Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hoặc điều kiện có thể dẫn đến nhân viên

có thể có những hành vi thiếu trung thực Ví dụ, gian lận trong các báo cáo có thể xuất phát từ việc nhân viên bị ép buộc phải thực hiện các mục tiêu phi thực tế của nhà quản lý Hành động không đúng của nhà quản lý có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản lý lại gắn chặt với số liệu trên báo cáo,

Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không họ sẽ không thực hiện nhiệm vụ được giao hữu hiệu và hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ tuyển dụng những nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, và phải giám sát và huấn luyện họ đầy đủ và thường xuyên

Cơ cấu tổ chức: Là sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận trong đơn vị, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu Nói cách khác,

cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động của đơn vị Vì vậy, khi xây dựng một cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt với các quyền hạn, trách nhiệm với các thể thức báo cáo cho phù hợp Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào quy mô và tính chất hoạt động của đơn vị Cho dù với bất cứ loại hình cơ cấu nào đều phải đảm bảo hệ thống quản trị rủi ro hoạt động hữu hiệu và các hoạt động được tiến hành để đạt mục tiêu mà đơn vị đề ra

12 CEO: Chief Executive Officer- Tổng giám đốc điều hành

Trang 18

Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hoá quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên và từng nhóm thành viên trong đơn vị, giúp cho mỗi thành viên và nhóm hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ có ảnh hưởng như thế nào đối với những nhóm hay thành viên khác trong việc hoàn thành mục tiêu Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hoá bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và nhóm thành viên, và quan hệ giữa họ với nhau

Chính sách nhân sự: là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, khen thưởng, kỷ luật nhân viên Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường quản lý thông qua tác động đến những nhân tố khác trong môi trường quản lý như đảm bảo về năng lực, tính chính trực, …

1.2.2 Thiết lập các mục tiêu

Các mục tiêu được thiết lập đầu tiên ở cấp độ chiến lược, từ đó đơn vị xây dựng bốn mục tiêu tổng quát: chiến lược, hoạt động, báo cáo, và tuân thủ Việc thiết lập các mục tiêu của đơn vị là điều kiện đầu tiên để nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro

- Các mục tiêu chiến lược: là những mục tiêu cấp cao của đơn vi, các mục tiêu này phù hợp và ủng hộ cho sứ mạng mà đơn vị đã đề ra Nó thể hiện sự lựa chọn của nhà quản lý về cách thức đơn vị tạo lập giá trị cho chủ sở hữu của mình

- Các mục tiêu liên quan: là những mục tiêu cụ thể hơn so với mục tiêu chiến lược và phù hợp với mục tiêu chiến lược đã được lập Mặc dù các mục tiêu trong đơn vị rất đa dạng, nhưng các mục tiêu liên quan đến các mục tiêu chiến lược

có thể chia thành các loại sau:

- Các mục tiêu hoạt động: các mục tiêu này liên quan đến sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động tại đơn vị, bao gồm cách thức hoạt động của đơn vị, lợi nhuận và việc bảo vệ nguồn lực như thế nào Dưới mỗi mục tiêu hoạt động cơ bản thì đơn vị có thể xây dựng các mục tiêu nhỏ hơn nhằm đảm bảo cho sự hữu hiệu và

Trang 19

hiệu quả của các hoạt động tại đơn vị, hướng đơn vị đi đến mục tiêu cao nhất của mình

- Các mục tiêu về báo cáo: gắn liền với sự trung thực và đáng tin cậy của các báo cáo, bao gồm các báo cáo cho bên trong và bên ngoài và có thể liên quan đến các thông tin tài chính và phi tài chính Các báo cáo đáng tin cây cung cấp cho nhà quản lý những thông tin đầy đủ và chính xác để điều hành và giám sát các hoạt động xảy ra tại đơn vị, hướng đến các mục đích đã dự tính trước Việc báo cáo cũng liên quan đến những thông tin công bố ra bên ngoài như báo cáo tài chính, báo cáo đến các cơ quan chức năng về các lĩnh vực liên quan, báo cáo về thảo luận và phân tích của ban đều hành cho các cổ đông,…

- Các mục tiêu tuân thủ: liên quan đến việc tuân thủ luật pháp, quy định của Nhà nước và chấp hành các chính sách, thủ tục tại đơn vị Đơn vị phải kiểm soát các hoạt động của mình sao cho phù hợp với luật pháp, quy định của Nhà nước cũng như các chính sách, thủ tục mà đơn vị đặt ra

1.2.3 Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng

Sự kiện tiềm tàng: là biến cố bắt nguồn từ bên trong hoặc bên ngoài đơn vị ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của đơn vị Một sự kiện có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến đơn vị và có thể cả hai

Các yếu tố ảnh hưởng: có nhiều yếu tố có thể dẫn đến các sự kiện tác động đến việc thực hiện mục tiêu của đơn vị Các yếu tố này có thể xuất phát từ bên trong hoặc bên ngoài đơn vị, các yếu tố bên ngoài bao gồm:

- Môi trường kinh tế: gồm các sự kiện liên quan đến mặt bằng giá cả, nguồn vốn có thể huy động, chi phí sử dụng vốn, tỷ lệ thất nghiệp, các đối thủ cạnh tranh mới,…

- Môi trường tự nhiên: thiên tai, sự tác động của môi trường đến nhà xưởng, sự tiếp cận nguồn nguyên liệu thô, di dân giữa các vùng địa lý,

- Các yếu tố chính trị: các quy định mới của luật pháp, chính sách thuế, sự hạn chế của nhà nước đối với các khu vực thị trường,

Trang 20

- Các yếu tố xã hội: tình trạng già/trẻ của dân số, phong tục tập quán, cấu trúc gia đình, ưu tiên nghề nghiệp của dân chúng, các hoạt động khủng bố,…

- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: các hình thức thương mại điện tử mới,

sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ kỹ thuật cao,…

Các yếu tố bên trong tác động đến sự kiện tiềm tàng bao gồm:

- Cơ sở vật chất: cơ sở vật chất hiện có để liên lạc với các trung tâm của đơn

vị, giảm thiểu thời hạn cung ứng các yếu tố đầu vào, cải thiện sự hài lòng cho khách hàng,

- Nhân sự: tai nạn lao động, gian lận của nhân viên, hiệu lực của hợp đồng lao động, các hành động làm tổn hại đến tiền bạc và danh tiếng của đơn vị,…

- Các chu trình: sự không phù hợp giữa chu trình công việc và các quy định của nhà quản lý, các lỗi khi thực hiện các chu trình, thực hiện việc thuê ngoài khi chưa được xem xét thoả đáng,

- Việc áp dụng khoa học kỹ thuật: việc thay đổi máy móc, công nghệ để đáp ứng về doanh thu, khối lượng; máy móc bị trục trặc, gian lận trong thực hiện công việc,

Việc xác định được các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến đơn vị có tác dụng quan trọng đến việc nhận dạng các sự kiện tiềm tàng Một khi các yếu tố ảnh hưởng đã được nhận dạng, nhà quản lý có thể xem xét tầm quan trọng của chúng và tập trung vào các sự kiện có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị

Ngoài việc nhận diện các sự kiện tiềm tàng ở mức độ toàn đơn vị, sự kiện tiềm tàng cũng có thể được nhận diện ở mức độ chi tiết cho các hoạt động Điều này giúp cho việc đánh giá các rủi ro theo các hoạt động hoặc các chức năng chính, ví

dụ đơn vị phải xem xét các sự kiện tiềm tàng liên quan đến công việc bán hàng, sản xuất, tiếp thị, ứng dụng công nghệ, R&D13,…

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự kiện: các sự kiện liên quan đến đơn vị thường không xuất hiện độc lập mà có sự tương tác lẫn nhau Một sự kiện xuất hiện

13

R&D: Research & Development - nghiên cứu và phát triển; một trong những chìa khóa thành công của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới

Trang 21

có thể tạo ra, tác động đến một sự kiện khác và các sự kiện có thể xuất hiện đồng thời Trong việc nhận dạng các sự kiện, đơn vị phải biết được sự liên quan giữa các

sự kiện là như thế nào Bằng cách đánh giá sự liên quan giữa các sự kiện, đơn vị có thể biết được nơi nào cần tập trung cần thiết để quản trị rủi ro Ví dụ, sự thay đổi về lãi suất cơ bản của ngân hàng Nhà nước sẽ tác động đến tỷ giá hối đoái và do đó tác động đến thu nhập hoặc tổn thất của các đơn vị kinh doanh ngoại tệ

Phân biệt cơ hội và rủi ro

Sự kiện tiềm tàng nếu xuất hiện sẽ tác động tiêu cực hoặc tích cực đến đơn vị hoặc tác động cả hai Nếu sự kiện có tác động tiêu cực, đe dọa nguy cơ đạt được mục tiêu của đơn vị, thì đòi hỏi đơn vị phải đánh giá rủi ro và phản ứng với rủi ro Nếu sự kiện có tác động tích cực đến đơn vị, làm thuận lợi việc thực hiện mục tiêu của đơn vị hoặc tạo giá trị cho đơn vị, thì phải được xem xét trở lại đối với các chiến lược đã được xây dựng

1.2.4 Đánh giá rủi ro

Các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể tạo ra các sự kiện ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của đơn vị Mặc dù một số nhân tố có tính chất chung đặc trưng cho từng ngành, nhưng sự tác động đối với từng đơn vị củ thể thì hoàn toàn khác nhau, bởi vì mục tiêu và sự lựa chọn của mỗi đơn vị trong quá khứ của mỗi đơn vị là không giống nhau Trong việc đánh giá rủi ro, đơn vị phải xem xét các sự kiện trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của riêng đơn vị mình chẳng hạn như: quy

mô của đơn vị, sự phức tạp của các hoạt động, mức độ tác động của các quy định lên các hoạt động của đơn vị,

Các sự kiện được xem xét bao gồm các sự kiện đã được đơn vị dự tính và các

sự kiện không được dự tính Các sự kiện đã dự tính bao gồm những sự kiện thường xuyên lặp đi lặp lại, sự kiện diễn ra hàng ngày hoặc các sự kiện đã được tiên liệu trong kế hoạch của đơn vị

Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: rủi ro tiềm tàng là rủi ro do thiếu các

hoạt động của đơn vị nhằm thay đổi khả năng hoặc sự tác động của các rủi ro đó Rủi ro kiểm soát là rủi ro vẫn còn tồn tại sau khi đơn vị đã phản ứng với rủi ro Đơn

Trang 22

vị cần phải xem xét cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, đầu tiên là xem xét các rủi ro tiềm tàng, sau đó khi đã có phương án phản ứng với rủi ro tiềm tàng thì tiếp tục xem xét đến rủi ro kiểm soát

Ước lượng khả năng và ảnh hưởng: các sự kiện tiềm tàng phải được đánh

giá trên hai khía cạnh: khả năng xảy ra và mức độ tác động của nó Những sự kiện

mà khả năng xuất hiện thấp và tác động ít đến đơn vị thì không cần phải tiếp tục xem xét Ngược lại, các sự kiện với khả năng xuất hiện cao và tác động lớn thì cần phải xem xét kỹ càng Các sự kiện nằm giữa hai thái cực này đòi hỏi sự đánh giá phức tạp, điều quan trọng là phải phân tích kỹ lưỡng và hợp lý

Để đo lường khả năng xuất hiện một sự kiện, có thể dùng các chỉ tiêu định tính như cao, trung bình, thấp hoặc các cấp độ chi tiết khác Hoặc có thể dùng chỉ tiêu định lượng như: tỷ lệ xuất hiện, tần suất xuất hiện,

Đơn vị đo lường tác động của một sự kiện thông thường là cùng hoặc tương

tự với đơn vị đo lường của việc thực hiện mục tiêu để có thể đánh giá được mức độ tác động của sự kiện đó Chẳng hạn một đơn vị với mục tiêu là duy trì dịch vụ khác hàng ở một mức độ nào đó thì đơn vị đo lường mục tiêu này có thể là: chỉ số hài lòng của khách hàng, số lượng các khách hàng than phiền về dịch vụ,… thì khi đó đơn vị để đo lường tác động của các rủi ro đối với dịch vụ khách hàng, chẳng hạn thời gian website của công ty không truy cập được, phải hoàn toàn tương tự

Sự liên hệ giữa các sự kiện: đối với những sự kiện độc lập với nhau thì đơn

vị đánh giá các sự kiện một cách độc lập Nhưng nếu có sự liên hệ giữa các sự kiện hoặc các sự kiện cùng kết hợp lại với nhau sẽ tạo nên những tác động lớn thì đơn vị phải đánh giá được tác động tổng hợp đó Bởi vì, một sự kiện riêng lẻ có thể có tác động nhỏ nhưng sự nhưng sự kết hợp hoặc tác động dây chuyền có thể có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện mục tiêu của đơn vị Ví dụ, một công ty tham gia vào thị trường nước ngoài với nhà quản lý mới là người địa phương, chưa hiểu biết về cách thức đánh giá hoạt động của công ty mẹ, sử dụng hệ thống báo cáo chưa được kiểm tra sẽ dẫn đến rủi ro về gian lận và sai sót trong báo cáo tài chính

Trang 23

Khi rủi ro tác động đến nhiều bộ phận, đơn vị kết hợp các rủi ro đó trong danh sách các sự kiện và xem xét trước hết sự tác động đến từng bộ phận, sau đó xem xét tác động tổng thể đến toàn đơn vị Ví dụ, đối với một ngân hàng, rủi ro liên quan đến lãi suất của ngân hàng trung ương phải được đánh giá không những cho từng hoạt động của các bộ phận như huy động, cho vay, ngoại tệ, mà còn phải đánh giá sự tác động tổng thể đó đối với chính ngân hàng đó

Việc lựa chọn các cách thức khác nhau để đánh giá rủi ro tùy thuộc vào bản chất của sự kiện sẽ xảy ra Để đánh giá sự tác động riêng lẻ của các sự kiện, đơn vị thường sử dụng phương pháp sác suất như: thảo luận, phỏng vấn, khảo sát thực tế,… để định lượng hoặc so sánh khả năng xảy ra của sự kiện và tác động của sự kiện đó Đánh giá sự sự tác động tổng hợp của các sự kiện thì phương pháp mô phỏng hoặc phân tích xu hướng thường hữu ích hơn

1.2.5 Phản ứng rủi ro

Sau khi đã đánh giá các rủi ro liên quan, đơn vị xác định các cách thức để phản ứng với các rủi ro đó Các cách thức để phản ứng với rủi ro bao gồm:

Né tránh rủi ro: không thực hiện các hoạt động mà có rủi ro cao như

sản xuất một mặt hàng mới, giảm doanh số ở một số khu vực của thị trường, bán bớt một số ngành hàng hoạt động,…

Giảm bớt rủi ro: các hoạt động nhằm làm giảm thiểu khả năng xuất

hiện hoặc mức độ tác động của rủi ro hoặc cả hai Các hoạt động này liên quan đến việc điều hành hàng ngày tại đơn vị

Chuyển giao rủi ro: Làm giảm thiểu khả năng xuất hiện và mức độ

tác động của rủi ro bằng cách chuyển giao hoặc chia sẽ một phần rủi ro Các kỹ thuật này bao gồm: mua bảo hiểm cho tổn thất, sử dụng các công cụ về tài chính để

dự phòng cho tổn thất, các hoạt động thuê ngoài,…

Chấp nhận rủi ro: đơn vị không làm gì cả đối với rủi ro Né tránh rủi

ro được sử dụng khi các phản ứng khác không thể làm giảm khả năng xảy ra của sự kiện hoặc tác động của sự kiện đó xuống mức có thể chấp nhận được Giảm thiểu

Trang 24

rủi ro và chuyển giao rủi ro được sử dụng để làm giảm rủi ro kiểm soát xuống mức phù hợp với từng mức độ rủi ro bộ phận

Chấp nhận rủi ro khi rủi ro tiềm tàng của sự kiện nằm trong phạm vi của rủi

ro bộ phận Khi lựa chọn một phản ứng đối với rủi ro, cần xem xét các vấn đề sau:

Xác định các phản ứng: đối với nhiều loại rủi ro, việc xác định phương thức

phản ứng tương đối dễ dàng Ví dụ, đối với rủi ro vễ lỗi của hệ thống máy tính thì phản ứng thông thường là sữa chữa, phục hồi hệ thống máy tính Nhưng đối với một

số loại rủi ro thì việc lựa chọn phản ứng không hề dễ dàng, đòi hỏi sự điều tra và phân tích Ví dụ để xác định được phản ứng đối với rủi ro từ các hoạt động của đối thủ cạnh tranh tác động đến giá trị của một nhãn hiệu hàng hoá, đòi hỏi đơn vị phải tiến hành nghiên cứu và phân tích thị trường,… Trong việc xác định các phản ứng đối với rủi ro, cần xem xét các vấn đề sau:

- Ảnh hưởng của phản ứng của đơn vị đến khả năng và tác động của rủi ro,

và phản ứng nào nằm trong phạm vi của rủi ro bộ phận

- Lợi ích và chi phí của từng loại phản ứng

- Cơ hội có thể có đối với việc thực hiện mục tiêu chung của đơn vị khi phản ứng với các rủi ro cụ thể

Lựa chọn phản ứng: sau khi đã đánh giá các phản ứng khác nhau đối với rủi

ro, đơn vị quyết định phải quản lý rủi ro như thế nào, lựa chọn phản ứng để đối phó với rủi ro trong phạm vi rủi ro bộ phận, lưu ý rằng phản ứng được lựa chọn không phải là phản ứng có rủi ro kiểm soát nhỏ nhất Tuy nhiên, khi rủi ro kiểm soát vượt

ra khỏi giới hạn của rủi ro bộ phận, đơn vị cần phải xem xét lại phản ứng đã chọn, hoặc trong một số trường hợp thì đơn vị có thể điều chỉnh lại rủi ro bộ phận đã được thiết lập trước đây

Việc lựa chọn phản ứng đòi hỏi đơn vị phải xem xét các rủi ro mới, phát sinh

từ việc áp dụng phản ứng đó Điều này phát sinh một chu trình kế tiếp và đơn vị phải xem xét tiếp rủi ro trước khi đưa ra quyết định cuối cùng

Nhìn nhận hệ thống: hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp đòi hỏi đơn vị

nhìn nhận rủi ro trên bình diện toàn đơn vị, hay nhìn nhận có tính hệ thống Để nhìn

Trang 25

nhận rủi ro có tính hệ thống, đòi hỏi đơn vị phải: xem xét rủi ro kiểm soát có phù hợp với mục tiêu và có nằm trong phạm vi của rủi ro có thể chấp nhận của bộ phận

đó hay không, và kết hợp các rủi ro kiểm soát của các bộ phận lại và xem xét có phù hợp với rủi ro có thể chấp nhận của toàn đơn vị hay không

Các rủi ro khác nhau liên quan đến mỗi bộ phận có thể nằm trong phạm vi rủi ro bộ phận của các bộ phận đó, nhưng khi kết hợp lại với nhau chúng sẽ vượt quá giới hạn của rủi ro có thể chấp nhận của toàn đơn vị Trong các trường hợp như vậy, đòi hỏi đơn vị phải có những phản ứng đối với rủi ro một cách phù hợp nhằm đưa rủi ro trở về phạm vi có thể chấp nhận

Nhìn nhận rủi ro một cách hệ thống có thể được diễn tả theo nhiều cách khác nhau như: kết hợp các sự kiện hoặc rủi ro quan trọng và xem xét sự tác động đến các bộ phận của đơn vị; xem xét tác động của các rủi ro đơn lẻ đến toàn bộ đơn vị bằng cách định lượng sự tác động của rủi ro đến việc đạt mục tiêu của đơn vị;… Với cách nhìn nhận định lượng này, đơn vị có những thông tin hữu ích để phân bổ nguồn vốn hợp lý giữa các bộ phận, và thực hiện các điều chỉnh về chiến lược

1.2.6 Hoạt động kiểm soát

Các hoạt động kiểm soát bao gồm các chính sách và thủ tục được thực hiện bởi các nhân viên liên quan, nhằm đảm bảo các chính sách, chỉ thị của nhà quản lý

về phản ứng với rủi ro được thực hiện Các hoạt động kiểm soát có thể được phân loại tuỳ thuộc vào mục tiêu của đơn vị mà hoạt động kiểm soát có liên quan như: chiến lược, hoạt động, báo cáo và tuân thủ

Theo nội dung thực hiện thì hoạt động kiểm soát được thực hiện tại đơn vị bao gồm: kiểm soát cấp cao, kiểm soát các hoạt động chức năng, kiểm soát quá trình xử lý thông tin và nghiệp vụ, kiểm soát vật chất, hoạt động phân tích soát xét lại, phân chia trách nhiệm

1.2.7 Thông tin và truyền thông

Thông tin và cách thức truyền thông là yếu tố không thể thiếu để đơn vị nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, đánh giá và phản ứng với rủi ro KSRR nhấn mạnh chất lượng thông tin trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của khoa học về công nghệ

Trang 26

thông tin hiện nay và nội dung thông tin phải gắn liền với việc quản lý các rủi ro tại đơn vị Thông tin phải được cung cấp cho những người liên quan theo những cách thức và thời gian thích hợp để họ có thể thực hiện quá trình KSRR và những nhiệm

vụ liên quan

Để thông tin phục vụ cho quá trình quản trị các rủi ro liên quan đến đơn vị, thông tin cần đạt những yêu cầu sau đây:

 Gắn với quá trình KSRR

 Có thể so sánh được với mức rủi ro có thể chấp nhận

 Phát triển hệ thống thông tin tích hợp

Để làm tăng chất lượng thông tin, đơn vị cần một chương trình quản lý dữ liệu trên toàn đơn vị, bao gồm các yêu cầu về thông tin, việc duy trì truyền tải thông tin Nếu không hệ thống thông tin sẽ không cung cấp được những gì mà các cấp quản lý và những người khác cần để thực hiện các chức năng nhiệm vụ liên quan đến quá trình quản trị rủi ro

1.2.8 Giám sát

Đây là bộ phận cuối cùng của hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp Giám sát là quá trình người quản lý đánh giá vai trò, nhiệm vụ của những người liên quan đến các yếu tố trong hệ thống KSRR trong quá trình thực hiện

Để đạt kết quả tốt, đơn vị cần thực hiện các hoạt động giám sát thường xuyên

và đánh giá định kỳ

1.3 Nhận diện rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động thu thuế GTGT

- Vai trò của thuế trong nền kinh tế

Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng ta xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập

Trang 27

Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế Mỗi

một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường nhà nước

sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; có những ngành kinh tế tác động đến sự tăng trưởng kinh tế (kinh tế công cộng) nhưng lại không được các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận không cao, cần có sự đầu tư của nhà nước Điều này đòi hỏi phải huy động thuế một tỷ lệ tương đối cao đối với một số ngành có điều kiện thuận lợi trong những thời kỳ nhất định và một tỷ lệ thuế tương đối thấp đối với những ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Đồng thời, việc phân biệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá

cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm, ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế

Vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị

trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi người Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế

- Đặc điểm nhận diện rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động thu thuế

Rủi ro thất thu trong công tác thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khoá nào Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi ích của DN (hay lợi ích cá nhân) Trên thực tế thì hai lợi

Trang 28

ích này thường mâu thuẫn nhau, Nhà nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó DN luôn mong muốn giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt Nói cách khác, ở đâu có thuế khoá thì ở đó có thất thu

Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành hai dạng:

- Thất thu thực tế: có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng

trong các luật thuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúng quy định

- Thất thu tiềm năng: thất thu tiềm năng, bao hàm cả trường hợp “lách thuế”

có nguyên nhân từ kẽ hở của luật pháp hoặc sự buông lỏng quản lý, có nghĩa là thực

tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên vào ngân sách nhưng lại không thu được, vì chưa có quy định của luật pháp

Tình trạng thất thu thuế nói trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó

có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Xuất phát từ người nộp thuế: trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các

nhà kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, mà thuế cũng là một khoản chi mà họ phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận mà họ thu được Do đó vì lợi ích của mình họ luôn tìm cách làm giảm số thuế đáng lẽ phải nộp

mà trốn được thuế không phải nộp thì càng tốt

- Nguyên nhân từ cơ quan thuế: Một phần do trình độ quản lý còn yếu, bộ

máy tổ chức kém hiệu quả, hay có thể do trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chưa cao hoặc có thể do chính sách thuế thay đổi liên tục, diễn giải không rõ ràng, còn có những thiếu sót, sơ hở dẫn đến việc hiểu sai luật thuế do đó sẽ dẫn đến thực hiện sai Thêm nữa, một cán bộ thuế phải quản lý một số lượng lớn doanh nghiệp,

cá nhân nộp thuế nên không thể phát hiện ra những gian lận, sai sót trong các hóa đơn, chứng từ, sổ sách và số lượng chủ thể do vậy người nộp thuế có thể trốn thuế

- Các cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý thuế Chính quyền các cấp chưa tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan

Trang 29

thuế làm việc Hệ thống cơ sở pháp lý như Luật, các Nghị định, Thông tư ban hành hướng dẫn còn bất cập, thiếu ràng và chồng chéo

- Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế đã được cải thiện nhiều song vẫn còn nhiều phiền hà, gây khó khăn cho người nộp thuế Nhiều quy trình quản lý thuế chưa được rà soát, xem xét sửa đổi do vậy gây tâm lý sợ đến cơ quan thuế của người nộp thuế

- Hiện tượng tiêu cực của một số ít cán bộ thuế cũng có tác động không nhỏ dẫn tới việc thất thu thuế ở một số địa phương Đối với sắc thuế GTGT, trong việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT, các nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân, trong đó, hai nguyên nhân trực tiếp là: Chính sách thuế GTGT còn khe hở, bất cập, không phù hợp với thực tại và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Công nghệ quản lý thu thuế chưa theo kịp, do đó đã tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi, để các chủ thể kinh doanh trốn thuế, lậu thuế

Và còn có ba nguyên nhân sâu xa, đó là:

+ Trong tư tưởng cải cách thuế vẫn còn mang nặng dấu ấn cơ chế cũ – cơ chế

kế hoạch hoá tập trung

+ Quá trình cải cách thuế mới tập trung nhiều đến khía cạnh chính sách mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc cải cách hành chính thuế, dẫn đến năng lực quản lý hành chính thuế thấp, hiệu quả chưa cao, làm xuất hiện nhiều tồn tại trong công tác thu

+ Chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để triển khai thuế GTGT có hiệu quả

Mặc dù đã nhận diện được nguyên nhân gây thất thu thuế song cuộc đấu tranh chống gian lận trong lĩnh vực thuế luôn là cuộc chiến lâu dài, bền bỉ đòi hỏi phải có những quan điểm, chính sách và biện pháp xử lý thích hợp trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế - xã hội

Vì thế để thực hiện mục tiêu thu đúng, thu đủ NSNN và kiểm soát được hoạt động thu, thông thường tại cục thuế cũng như Chi cục thuế luôn luôn phải có quy trình KSRR trong hoạt động chống thất thu thuế Ở mỗi quốc gia, quy trình KSRR

Trang 30

có thể khác nhau tùy theo đặc điểm tuy nhiên quy trình KSRR thông qua hệ thống QTRR đều được các quốc gia thực hiện dựa trên tám yếu tố cấu thành đó là : Môi trường quản lý, Thiết lập mục tiêu, Nhận dạng sự kiện tiềm tàng, Đánh giá rủi ro, Phản ứng với rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông và Giám sát

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG I Trong chương này, tác giả đã lựa chọn lý thuyết theo COSO 2004 mà không chọn COSO 1992, vì COSO 2004 đi sâu vào hệ thống QTRR, trong đó có đề cập đến KSRR Mặc khác vì các đơn vị quản lý thuế là hoạt động công, nên lý luận cũng đề cập đến INTOSAI, một lý thuyết triển khai từ COSO ứng dụng trong hoạt động công KSRR có những lợi ích nhưng cũng có những hạn chế còn tồn tại, qua

đó cung cấp những kiến thức cơ bản về tám yếu tố cấu hành hệ thống KSRR bao gồm: Môi trường quản lý, Thiết lập mục tiêu, Nhận dạng sự kiện tiềm tàng, Đánh giá rủi ro, Phản ứng với rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông và Giám sát

Thuế giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế vì thế mục tiêu thu đúng và đủ số thuế là vấn đề cấp thiết mà tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm,

vì vậy thiết lập được hệ thống KSRR tại đơn vị thu thế nhằm nhận diện, ngăn ngừa

và phản ứng với rủi ro một cách hiệu quả nhất

Trang 32

CHƯƠNG II:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh Bình Định

2.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục thuế tỉnh Bình Định:

Cục thuế tỉnh Bình Định là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thuế được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1990 Với một chặng đường 25 năm qua, Cục thuế tỉnh Bình Định không ngừng lớn mạnh và phát triển về mọi mặt Đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thuế tỉnh Bình Định được thực hiện theo Quyết định số 108/2010/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của

Bộ Tài chính [iii] Theo đó:

Về cơ cấu tổ chức:

Cục thuế tỉnh Bình Định có 11 Phòng chức năng tham mưu về chuyên môn nghiệp vụ cho Lãnh đạo Cục thuế trong việc chỉ đạo, điều hành toàn bộ công tác quản lý thu thuế toàn ngành và 11 Chi cục thuế các huyện, thành phố với gần 100 đội thuế, đội thuế liên xã, liên phường nhằm thực hiện chức năng quản lý thu thuế trên địa bàn

Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn:

Cục thuế tỉnh Bình Định tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí

và các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn của tỉnh theo quy định của pháp luật

Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn tỉnh, thành phố; Phân tích, tổng hợp, đánh giá công tác quản lý thuế; Lập và thực hiện dự toán thu NSNN; Quản lý thông tin, xây dựng hệ thống dữ liệu về người nộp thuế; Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế; Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn chính sách thuế

và hỗ trợ người nộp thuế; Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra nội bộ ngành thuế; Thanh

Trang 33

tra, kiểm tra về thuế của người nộp thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế,

(xem thêm Phụ lục số II)

2.1.2 Tổ chức bộ máy của Cục thuế tỉnh Bình Định:

Tổ chức bộ máy của Cục thuế tỉnh Bình Định trực thuộc Tổng cục thuế thực hiện theo Quyết định số 108/QĐ-BTC nêu trên Tổng số cán bộ công chức của văn phòng Cục thuế tỉnh Bình Định tính đến 31/12/2012 là 124 người Trình độ cán bộ công chức qua bảng dưới đây:

Bảng 2.1: T/kê trình độ công chức V.P Cục thuế Bình Định từ năm 2008 - 2012

“Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo từ 2008 - 2012 của Cục thuế Bình Định,2012”

Từ bảng thống kê về trình độ của cán bộ công chức tại Cục thuế tỉnh Bình Định ở bảng trên cho thấy:

- Về trình độ chuyên môn: Hầu hết cán bộ công chức thuế đã được đào tạo ở

trình độ Đại học và sau Đại học với chuyên ngành chủ yếu là Tài chính - Kế toán

và Tài chính - Ngân hàng Số cán bộ công chức thuế còn lại có trình độ dưới bậc Đại học không nhiều, chỉ chiếm không quá 10% so với biên chế toàn Cục thuế tỉnh Bình Định

- Về trình độ nghiệp vụ: Chính sách thuế thường xuyên thay đổi nhằm điều

chỉnh những bắt cập và dần hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

- xã hội Vì vậy, lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bình Định rất quan tâm đến việc thường

Trang 34

xuyên tổ chức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công chức thuế để nâng cao trình độ nghiệp vụ và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành

Đây có thể nói là kết quả đáng mừng vì công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức được quan tâm để phù hợp với chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế, Cục thuế tỉnh Bình Định đã có sự đầu tư theo chiều sâu về tin học hoá nhằm ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý thuế, qua đó đội ngũ công chức làm công tác tin học khá tốt và ổn định để hỗ trợ phục vụ tốt công tác quản lý thu thuế

Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại nhất định như: Công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ thường chú trọng đến việc phổ cập trình độ đại học nhưng theo hệ tại chức hoặc từ xa dẫn đến chất lượng thật sự chưa cao, chưa phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quản lý thu thuế mà chưa chú trọng đào tạo ở bậc trên đại học, các nghiệp

vụ nâng cao, chuyên sâu, chuyên ngành nên hiệu quả công tác quản lý thu thuế chưa cao Bên cạnh đó, đối với công tác đảng và đoàn thể: Đảng bộ Cục thuế tỉnh Bình Định có 68 đảng viên, trong Đảng bộ có 03 Chi bộ sinh hoạt theo khối phụ trách của lãnh đạo Cục thuế, có Chi đoàn thanh niên, có tổ chức công đoàn Các phòng chức năng tại văn phòng Cục thuế tỉnh Bình Định gồm có 11 phòng theo hình như sau:

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ các Phòng, các Chi cục thuế thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định:

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tại Cục thuế tỉnh Bình Định

Trang 35

Thực hiện Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục thuế về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các Phòng thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định

(xem thêm Phụ lục số II) và sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng ở

trên cho thấy: Thực hiện chức năng phục vụ nội bộ có các Phòng: Phòng HCQT - Tài vụ - Ấn chỉ, Phòng Tin học, Phòng Kiểm tra nội bộ và Phòng Tổ chức cán bộ Còn chức năng quản lý thu thuế thì có: Phòng Thanh tra thuế, Phòng Kiểm tra thuế, Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, Phòng Kê khai và kế toán thuế và Phòng Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế Ngoài các Phòng chức năng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bình Định ở trên, còn có 11 Chi cục thuế các huyện, thành phố để quản lý thu thuế trên địa bàn quản lý của mình Sơ đồ bộ máy

tổ chức của Chi cục thuế các huyện, thị xã và thành phố thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

Hình 2.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức các Chi cục thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định

2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả lần lượt đưa ra các câu hỏi nghiên cứu để đạt được các mục tiêu đặt ra và các cách thức giải quyết các câu hỏi đó như sau:

1 Cơ sở lý luận nào cần thiết cho việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định ?

2 Thực trạng hiện nay về công tác kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế nói chung và thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định

An Nhơn

CCT huyện Tây Sơn

CCT huyện Vân Canh

CCT huyện Vĩnh Thạnh

CCT huyện Phù Cát

CCT huyện Phù

Mỹ

CCT huyện Hoài Nhơn

CCT huyện Hoài

Ân

CCT huyện

An Lão

Trang 36

Hệ thống

hóa lý luận

Số liệu sơ cấp

Những giải pháp hoàn thiện HTKSRR

ào dẫn đến việc rủi ro trong công tác thu thuế GTGT

nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát rủi ro trong

ế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định ?

ên cứu và tìm kiếm một phương pháp giải quyết các vấn đề

ọc có độ tin cậy cao, tác giả đã xây dựng một mô hình nghiên c

ất của vấn đề, từ đó có tìm cách giải quyết các vấn đề một cách thích hợp dựa

ù hợp, có độ tin cậy để xử lý

ập dữ liệu thứ cấp và phương pháp xử lý

các văn bản về KSRR của Tổng cục thuế: Luật quản lý thuế,

à các văn bản dưới luật; bên cạnh đó còn có các công v

ên quan đến khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

ản của Cục thuế tỉnh Bình Định

Hình 2.3 : Khung nghiên cứu - Tự tác giả xây dựng

Câu hỏi nghiên cứu

Đặc điểm của hoạt động thu

Khảo sát thực trạng

Cơ sở dữ liệu

Số liệu thứ cấp (nguồn số liệu Cục thuế)

Số liệu sơ cấp (bảng câu hỏi)

Phương pháp nghiên

Định tính

Những mặt đã làm được, chưa làm được và nguyên nhân tồn tại Những giải pháp

hoàn thiện HTKSRR

ẫn đến việc rủi ro trong công tác thu thuế GTGT tại Cục

ệu quả công tác kiểm soát rủi ro trong

ải quyết các vấn đề ình nghiên cứu dựa vào

ải quyết các vấn đề một cách thích hợp dựa

ản về KSRR của Tổng cục thuế: Luật quản lý thuế,

òn có các công văn hướng

ự tác giả xây dựng

Phương pháp nghiên cứu

Định lượng

Trang 37

- Nghiên cứu về sơ đồ tổ chức KSRR trong công tác quản lý thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định

Báo cáo tổng kết công tác thuế và số liệu đánh giá công tác chống thất thu thuế GTGT trong thời gian 05 năm gần đây từ năm 2008 - 2012 của Cục thuế tỉnh Bình Định (tác giả không sử dụng số liệu năm 2013 vì hiện tại chưa có số liệu đối chiếu chính thức mà chỉ là số liệu báo cáo nhanh chưa đảm bảo độ tin cậy cao cho việc nghiên cứu)

Để xử lý dữ liệu thứ cấp, tác giả chọn theo phương pháp định tính và cả định lượng Với phương pháp định tính, tác giả tìm hiểu và đánh giá các dữ liệu thứ cấp, thông tin phi tài chính về thực trạng công tác tổ chức hệ thống KSRR hiện nay, các văn bản quy định về hệ thống KSRR của cục thuế nói chung và tại Cục thuế tỉnh Bình Định nói riêng, đánh giá công tác thu thuế và thất thu thuế hàng năm tại Cục, ý kiến của cấp lãnh đạo và nhân viên quản lý, nhân viên thu thuế tại Cục Các dữ liệu thứ cấp tài chính được tác giả phân tích hàng năm, tính tỷ lệ so sánh để đánh giá các nhân tố tác động trong hệ thống KSRR đến công tác chống thất thu thuế

2.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp và phương pháp xử lý

 Đối tượng được chọn khảo sát:

Với mong muốn kiểm soát cả các yếu tố bên trong và bên ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu thuế, tác giả muốn khảo sát 2 đối tượng là nội bộ ngành thuế tỉnh Bình Định là các cán bộ công chức ở văn phòng Cục thuế tỉnh Bình Định, Chi cục thuế các huyện, thành phố và bên ngoài ngành thuế đó là lãnh đạo các

cơ quan có am hiểu về hệ thống KSRR

Với số lượng 140 bảng câu hỏi được phát đi, sau khi tiến hành khảo sát thu

về đủ 140 bản câu hỏi tuy nhiên có 15 bảng câu hỏi không đáp ứng được yêu cầu do đáp viên không chắc chắn về các câu trả lời Để tránh gây nhiễu dữ liệu, tác giả loại

bỏ 15 bảng câu hỏi này Như vậy, số bảng câu hỏi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện và phục vụ tốt cho quá trình nghiên cứu còn lại là 125 bảng Thành phần nghiên cứu cụ thể tác giả trình bày chi tiết trong bảng sau:

Trang 38

Hình 2.4: Thành ph

Bảng 2.2 : ThĐối tượng

Lãnh đạo

Lãnh đạo các cơ quan khác

Trưởng, phó phòng

Chuyên viên thuế

 Cách thiết kế câu hỏi khảo sát

Trên cơ sở kiến thức v

hình hoạt động thực tế tại Cục thuế tỉnh B

câu hỏi khảo sát nhằm tham khảo ý kiến của các chuy

của Cục thuế tỉnh Bình Đ

kiểm soát rủi ro tại Cục d

thực thu thuế Việc này giúp tác gi

61%

Thành phần đối tượng nghiên cứu

Hình 2.4: Thành phần đối tượng nghiên cứu

ảng 2.2 : Thành phần đối tượng nghiên cứu

Số người tham gia khảo sát Tỷ lệ phần trăm

3

40

76

ết kế câu hỏi khảo sát

ở kiến thức và hiểu biết chung về hệ thống kiểm soát rủi

ạt động thực tế tại Cục thuế tỉnh Bình Định Tác giả đã thiết lập một bảng

ỏi khảo sát nhằm tham khảo ý kiến của các chuyên gia là các cán b

Định Với mục đích là thăm dò ý kiến về thực trạng công tác

ểm soát rủi ro tại Cục dưới góc nhìn của lãnh đạo và nhân viên quản lý, nhân vi

ày giúp tác giả có cái nhìn bao quát hơn về thực trạng hệ thống

ỷ lệ phần trăm 2%

Trang 39

kiểm soát rủi ro tại Cục thuế và sau đó có cơ sở để xây dựng nên bảng câu hỏi chính thức phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn này

Bảng câu hỏi chính thức (xem thêm Phụ lục I) được tác giả chia ra làm 2

phần:

- Phần 1: đánh giá chung về thực trạng hiện tại của hệ thống kiểm soát rủi ro tại Cục thuế tỉnh Bình Định thông qua các câu hỏi từ 1 đến 8

- Phần 2: Các câu hỏi từ được thiết kế theo nhóm với thang đo Likert 5 mức

độ Nhằm đánh giá chi tiết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến 8 nhân tố cốt lõi của hệ thống kiểm soát rủi ro bao gồm: : Môi trường quản lý, Thiết lập các mục tiêu, Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, Đánh giá rủi ro, Phản ứng rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông và Giám sát

2.3 Đánh giá hoạt động thu thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Bình Định

2.3.1 Đánh giá hoạt động thu thuế GTGT toàn ngành thuế

Ngày 14 tháng 6 năm 2005 Quốc Hội nước ta ban hành Luật số 37/2005/QH11 về Luật Kiểm toán nhà nước Theo đó, quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với tính chính xác, trung thực của báo cáo tài chính (Điều 6, Luật Kiểm toán nhà nước)[iv]

cụ thể đó là: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các

số liệu kế toán và các thông tin của báo cáo tài chính; Căn cứ vào các quy định của pháp luật, xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và có hiệu quả; Tổ chức kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật để bảo vệ an toàn tài sản; đánh giá về chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính; việc chấp hành pháp luật, chế độ, chính sách của nhà nước và các nội quy, quy chế của đơn vị Xuất phát từ quy định trên, ngày 26/01/2011 Tổng cục thuế nhà nước đã có Quyết định số 118/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế [v] Quyết định này làm cơ sở cho việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế Nội dung của quy trình này về cơ bản như sau:

Trang 40

Lập kế hoạch thanh tra kiểm tra hằng năm

Bước 1: Đầu tiên là việc chuẩn bị lập kế hoạch cho công tác thanh tra kiểm tra hằng năm

- Tập hợp phân tích thông tin:

Dựa trên việc khai thác hệ thống thông tin của ngành và tập hợp các thông tin từ báo chí, phản ánh qua đường dây nóng, từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, để nắm được tình hình quản lý người nộp thuế,tình hình thu nộp thuế; tình hình lập và thực hiện dự toán thu Ngân sách; tình hình quản lý nợ thuế từ đó giúp cho bộ phận thanh tra, kiểm tra nội bộ tại cơ quan thuế có thể phân tích, đánh giá nội dung quản lý(nội dung về quản lý thuế; nội dung về quản lý nội bộ) đặc điểm doanh nghiệp trên địa bàn, phân loại đơn vị có khả năng rủi ro cao để đưa ra kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm

- Xác định đối tượng, nội dung và thời kỳ thanh tra, kiểm tra:

Xác định cụ thể đối tượng, nội dung, thời kỳ cần đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra nội bộ hàng năm của cấp mình cho phù hợp với nguồn nhân lực và đảm bảo tính khả thi của kế hoạch

Bước 2: Tiếp theo là việc lập kế hoạch và duyệt kế hoạch cho công tác thanh tra kiểm tra hằng năm

Trên cơ sở việc chuẩn bị ở trên việc lập kế hoạch và hướng dẫn lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra ngành thuế được thực hiện thống nhất từ cấp Tổng Cục Thuế xuống Cục thuế và các Chi cục thuế

Tại Tổng Cục Thuế: Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra nội bộ trình lãnh đạo

Tổng cục phê duyệt Tiếp theo đó là gửi văn bản hướng dẫn việc lập kế hoạch cho các Cục thuế các tỉnh Các Cục thuế địa phương sẽ phải gửi báo cáo kế hoạch thanh tra, kiểm tra về cho Tổng Cục thuế để tập hợp và lập báo cáo gửi lên Thanh tra Bộ Tài Chính

Tại Cục thuế: Dựa trên hướng dẫn của Tổng Cục Thuế, tại Cục thuế cũng

tiến hành lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra nội bộ trình lãnh đạo Cục thuế phê duyệt Đồng thời xây dựng văn bản hướng dẫn gửi các Phòng và Chi cục thuế địa phương

Ngày đăng: 27/11/2015, 14:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tiêu đề  Trang - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
ng Tiêu đề Trang (Trang 4)
Hình  Tiêu đề  Trang - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
nh Tiêu đề Trang (Trang 4)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tại Cục thuế tỉnh Bình Định - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy tại Cục thuế tỉnh Bình Định (Trang 34)
Hình 2.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức các Chi cục thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức các Chi cục thuộc Cục thuế tỉnh Bình Định (Trang 35)
Hình 2.3 : Khung nghiên c - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.3 Khung nghiên c (Trang 36)
Hình 2.4: Thành ph - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.4 Thành ph (Trang 38)
Bảng 2.2 : Th Đối tượng - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Bảng 2.2 Th Đối tượng (Trang 38)
Bảng 2.5: Thống kê kết quả của Bảng câu hỏi khảo sát chung - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Bảng 2.5 Thống kê kết quả của Bảng câu hỏi khảo sát chung (Trang 62)
Hình thức khen - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình th ức khen (Trang 68)
Hình 2.6: Kết quả thống k - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.6 Kết quả thống k (Trang 73)
Hình 2.10: Kết quả thống kê nhân tố Hoạt động kiểm soát. - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.10 Kết quả thống kê nhân tố Hoạt động kiểm soát (Trang 91)
Hình 2.11: Kết quả thống k - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình 2.11 Kết quả thống k (Trang 95)
Hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp.   1  2  3  4  5 - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp. 1 2 3 4 5 (Trang 131)
Hình kinh doanh, tham gia bảo hiểm… của doanh - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
Hình kinh doanh, tham gia bảo hiểm… của doanh (Trang 133)
1  Hình thức khen thưởng, kỷ luật  20  16%  40  32%  26  21%  22  18%  17  14%  125  100% - Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"
1 Hình thức khen thưởng, kỷ luật 20 16% 40 32% 26 21% 22 18% 17 14% 125 100% (Trang 181)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w