Tuy nhiên, trong quá trình quản lý thuế cho thấy biểu hiện khai thiếu thuế, gian lận, trốn thuế diễn ra khá phổ biến; số thu từ thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa tương x
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ TRÍ SÁU
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ
NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NGẠN,
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kì nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong đề tài đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Vũ Trí Sáu
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
Học viên xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các Thầy, Cô giáo Khoa Kinh tế & PTNN, Bộ môn phân tích định lượng, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn của mình
Tôi cũng xin chân thành cám ơn lãnh đạo Cục thuế tỉnh Bắc Giang, UBND huyện Lục Ngạn, Lãnh đạo và cán bộ, công chức Chi cục thuế Lục Ngạn, các ban ngành chức năng cùng với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn./
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Vũ Trí Sáu
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ
THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 5
2.1.1 Khái quát chung về thuế và quản lý thuế 5
2.2 Nội dung quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 15
2.2.1 Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 15 2.2.2 Nội dung quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 19 2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với khu vực kinh
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
Phần III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 45 3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 46
4.1 Tổng quan về thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên
4.1.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại địa bàn 49 4.1.2 Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn 55 4.1.3 Kết quả thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn giai đoạn 2011-2013 57 4.2 Thực trạng quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
4.2.5 Tổng hợp ý kiến của người nộp thuế được khảo sát 81
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
4.3.1 Giải pháp về quản lý công tác đăng ký, kê khai thuế, ấn định
4.3.2 Giải pháp về quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế 96
4.3.4 Giải pháp về công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế 99 4.3.5 Giải pháp về tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 103 4.3.6 Giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ quản
5.2.1 Đối với Tổng cục thuế - Bộ Tài chính 111
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
DANH MỤC BẢNG
3.1 Các chỉ tiêu kinh tế, xã hội huyện Lục Ngạn 42
3.2 Số lượng, cơ cấu doanh nghiệp được khảo sát 45
3.3 Số lượng, cơ cấu hộ kinh doanh khảo sát trực tiếp 45
4.1 Số lượng, trình độ cán bộ Chi cục thuế Lục Ngạn 54
4.2 Số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm 55
4.3 Quy mô vốn của doanh nghiệp, hộ kinh doanh thời điểm 31/12/2013 56
4.4 Kết quả thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn giai đoạn 2011-2013 59
4.5 Tổng hợp dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 62
4.6 Dự toán thu thuế từ khu vực kinh tế NQD giai đoạn 2011-2013 64
4.7 Số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh cấp mới mã số thuế 65
4.8 Số lượng hồ sơ khai thuế đã nộp trong 3 năm 67
4.9 Số thu ngân sách Nhà nước từ doanh nghiệp, hộ kinh doanh 70
4.10 Tổng hợp số thuế miễn, giảm giai đoạn 2011-2013 73
4.11 Tình hình nợ thuế trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 74
4.12 Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế 77
4.13 Kết quả xử lý quyết toán thuế giai đoạn 2011-2013 80
4.14 Tình hình nợ vay của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh 81
4.15 Tổng hợp nguyên nhân thiếu vốn của doanh nghiệp, hộ kinh doanh 84
4.16 Ý kiến của doanh nghiệp, hộ kinh doanh về hoạt động quản lý
4.17 Ý kiến của doanh nghiệp, hộ kinh doanh về chính sách thuế và
trách nhiệm quản lý thuế của Chi cục thuế 92
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Lục Ngạn (2011- 2013) 43
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế huyện Lục Ngạn 54
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN, HKD Doanh nghiệp, hộ kinh doanh
HC–NS–TV–AC Hành chính – Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó
Đối với nước ta thuế là công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển; đảm bảo nguồn thu, chi cho ngân sách nhà nước; giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, góp phần tạo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước hiện nay, chính sách thuế ở nước ta nói chung, đặc biệt
là thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập Các hành vi gian lận, trốn thuế, lách thuế xảy ra ngày càng nhiều và đa dạng, tinh vi hơn Thực tại cho thấy một mặt ý thức chấp hành của các đối tượng nộp thuế chưa cao, mặt khác cũng phản ánh một số chính sách thuế chưa bám sát thực tế Quan điểm về thuế còn phiến diện, tập trung nhiều vào việc tăng thu cho Ngân sách mà chưa chú trọng đến việc nuôi dưỡng nguồn thu, kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển
Trong những năm gần đây, bên cạnh việc sự phát triển của lĩnh vực nông nghiệp, đặt biệt là trồng cây ăn quả, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn cũng có sự phát triển nhanh về số lượng, tỷ lệ đóng góp cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình quản lý thuế cho thấy biểu hiện khai thiếu thuế, gian lận, trốn thuế diễn ra khá phổ biến; số thu từ thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế của huyện; mặt khác, cơ cấu tổ chức bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan thuế còn hạn chế; chính sách pháp luật về thuế
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
còn chưa đồng bộ, chưa sát thực tế, tạo điều kiện để một số đối tượng trốn thuế, lách thuế
Để tiếp tục phát huy vai trò quan trọng của thuế, ngày 17/5/2011 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 732/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020
Với mục tiêu: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học, phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao
Vì vậy, trong ngắn hạn, nhằm tăng cường quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước, song vẫn đảm bảo kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển Là một cán bộ quản lý thuế, được Ban lãnh đạo đơn vị giao trực tiếp phụ trách công tác thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn, em đã chọn
đề tài: “Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” để làm luận văn thạc sỹ ngành kinh tế
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn trong những năm tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về thuế và quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ?
- Cơ sở thực tiễn về thuế và quản lý thuế ở trong nước và trên thế giới?
- Đặc điểm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ?
-Thực trạng công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn ?
- Những nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn?
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
- Cần có những giải pháp gì để tăng cường công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn trong thời gian tới ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn (đối tượng quản lý bao gồm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh)
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
*Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Lục Ngạn trong những năm tới
* Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu ở cơ quan Thuế và một số doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
* Phạm vi về thời gian
- Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu thực trạng quản lý thuế đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Lục Ngạn trong 3 năm: năm 2011, năm 2012 và năm 2013
- Về thời gian thực hiện: bắt đầu từ tháng 07/2013 đến tháng 12/2014
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ
VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI
QUỐC DOANH
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái quát chung về thuế và quản lý thuế
2.1.1.1 Khái niệm về thuế
Trong các sách, bài báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có
sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản C.Mác đã chỉ rõ “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế …” (Mác-Ăng ghen, 1962)
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lower cho rằng: “Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”
Một định nghĩ về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn
“Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là
một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án truyên phạt do hành
vi vi phạm pháp luật” (Makkollhell and Bruy, 1993)
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
Ở nước ta đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, 1998), thuế là khoản tiền hay hiện vật
mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp…buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song tác giả Đỗ Đức Minh
và Nguyễn Việt Cường đã rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây:
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội
Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định
Từ những nội dung trên, có thể rút ra khái niệm tổng quát về thuế như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Đỗ Đức Minh và Nguyễn Việt Cường, 2010)
2.1.1.2 Bản chất của thuế
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp
ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác (Đỗ Đức Minh và Nguyễn Việt Cường, 2010)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: Thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế
Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước
c Tính pháp lý cao
Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Vì vậy, để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp (Đỗ Đức Minh và Nguyễn Việt Cường, 2010)
2.1.1.3 Chức năng của thuế
Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối trong suốt thời gian tồi tại của sự vật hay đối tượng Thuế không những là một phạm trù kinh tế, mà còn là phạm trù tài chính Do đó, thuế không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính, mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính
a Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng nhà nước Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế
b Điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế
và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn, giảm thuế Trên cơ sở đó nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi ích của xã hội
c Điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những khiếm khuyết cố hữu là
sự phân phối thu nhập không công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội Thông qua các hình thức thuế cụ thể đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của từng cá nhân, nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, nhờ đó san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội (Đỗ Đức Minh và Nguyễn Việt Cường, 2010)
2.1.1.4 Phân loại thuế
a Theo đối tượng chịu thuế
Nếu căn cứ vào các đối tượng chịu thuế, có thể chia các sắc thuế thành
- Thuế tài sản là loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản Nói chung thuế tài sản thường đánh trên giá trị của tài sản cố định thì gọi là thuế bất động sản, đánh trên tài sản chính gọi là thuế động sản
b Theo phương thức đánh thuế
Các hình thức thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế Tuy nhiên tùy thuộc vào phương thức đánh thuế- đánh một cách trực
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại:
-Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế như : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp
- Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ, như: thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu (XNK)
c Theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế
Căn cứ vào khả năng nộp thuế người ta có thể chia thuế thu nhập thành
2 loại
- Thuế thực là loại thuế không dựa vào khả năng của người nộp thuế, người nộp thuế thực là người sở hữu tài sản như : thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế cá nhân là loại thuế dựa trên khả năng của người nộp thuế, như : thuế TNCN, thuế TNDN
d Theo phạm vi thẩm quyền về thuế
Tùy theo phạm vi và thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, chế
độ thuế, hệ thống thuế có thể chia ra thành thuế Trung ương và thuế địa phương Hiện nay, ở nhiều nước người ta phân loại thuế chủ yếu dựa vào tiêu thức phương pháp đánh thuế và cơ sở thuế
2.1.1.5 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
a Tên gọi của sắc thuế
Mỗi sắc thuế đều có một tên gọi nhằm phân biệt giữa các hình thức thuế khác nhau, đồng thời phản ánh những tính chất chung nhất của hình thức thuế đó
b Đối tượng nộp thuế
Trong một luật thuế thường quy định rõ ai phải nộp thuế và người đó được gọi là đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế có thể là thể nhân hoặc
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
pháp nhân mà được pháp luật xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho nhà nước và gọi là người nộp thuế
c Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế chỉ rõ thuế đánh vào cái gì (hàng hóa, thu nhập hay tài sản ) Mỗi một luật thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, chẳng hạn đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước
d Cơ sở tính thuế
Cơ sở tính thuế là một bộ phận của đối tượng chịu thuế được xác định làm căn cứ tính thuế Đối tượng chịu thuế là thu nhập, hàng hóa hay tài sản thì
cơ sở tính thuế chính là thu nhập chịu thuế, giá trị của hàng hóa hay tài sản
đó Tuy nhiên, đối tượng chịu thuế thường rộng hơn cơ sở tính thuế vì tồn tại mức tối thiểu không phải nộp thuế, miễn, giảm thuế
đ Mức thuế
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của nhà nước so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định suất thuế Trong một sắc thuế, mức thuế là linh hồn của sắc thuế đó Mức thuế được thể hiện dưới 2 hình thức: Mức tuyệt đối và mức tương đối Tùy theo từng sắc thuế mà người ta áp dụng phương pháp đánh thuế khác nhau tương ứng với nhiều mức nộp thuế khác nhau Thông thường có 4 loại mức thuế: Mức thuế thống nhất; mức thuế ổn định; mức thuế lũy tiến; mức thuế lũy thoái
e Miễn thuế, giảm thuế
Miễn, giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một sắc thuế Thực chất đó là số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp cho NSNN, song vì những lý do kinh tế, xã hội mà nhà nước quy định cho phép không phải nộp toàn bộ (miễn thuế) hoặc một phần (giảm thuế) trong số tiền thuế đó
2.1.1.6 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế Khi xem xét lĩnh vực thuế dưới góc độ quản lý nhà
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
nước là xem xét ở tầm vĩ mô Quản lý nhà nước về thuế là quản lý nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế là các cơ quan nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế Đối tượng của quản lý nhà nước về thuế là "các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội" trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, luận văn này chỉ xét đến lĩnh vực quản lý thuế
Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện
để nhằm huy động tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo những quy định của pháp luật về thuế (Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào, 2002)
Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công Quản lý thuế chỉ gồm khâu hành pháp và tư pháp về thuế
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Nói cách khác, quản lý thuế
là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động
2.1.1.7 Nguyên tắc quản lý thuế
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 nêu rõ nguyên tắc quản lý thuế như sau:
-Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
-Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
2.1.2 Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi
sự khác nhau của các thành phần kinh tế Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làm tăng sự sôi động trong nền kinh tế
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
(Trang điện tử Thư viện học liệu mở Việt Nam: http://voer.edu.vn)
2.1.2.2 Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ trải qua một thời gian dài trong lịch sử Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các thành phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế CNXH Nhà nước XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần kinh tế XHCN ngày càng phát triển và chiếm ưu thế, đảm bảo thắng lợi của CNXH
Nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh tế còn chưa mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng nhất giữa các ngành các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa qua khỏi chiến tranh Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản xuất đang hết sức gay gắt Sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có kinh tế NQD hay không có tính chất quyết định
Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ đã được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trường, kinh tế NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu được và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Hiện nay nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, một số định kiến xã hội trước đây đối với khu vực kinh tế NQD vẫn còn khá nặng nề Khuôn khổ pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang xây dựng, chưa hoàn chỉnh Song từ khi có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực, môi trường kinh doanh đã bước đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã được xoá bỏ, nhiều doanh nghiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng được hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu tư,
mở rộng địa bàn để phát triển sản xuất, kinh doanh
Vậy định hướng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan phải trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của kinh tế NQD và xu hướng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong thời nền kinh tế thị trường theo
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
định hướng XHCN
(Trang điện tử Thư viện học liệu mở Việt Nam: http://voer.edu.vn)
2.1.2.3 Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế NQD dựa trên quan hệ
sở hữu tư nhân, toàn bộ vốn, tài sản đều thuộc sở hữu tư nhân Trong hầu hết trường hợp chủ sở hữu là người quản lý và ra quyết định kinh doanh và chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả kinh doanh Mục tiêu lớn nhất của tất cả các doanh nghiệp NQD là lợi nhuận Vì vậy các doanh nghiệp rất nhanh nhạy trong tìm hiểu đầu tư và đầu tư có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất táo bạo và mạo hiểm Đôi khi để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể
cả trốn thuế gây hậu quả cho xã hội
- Đối tượng kinh doanh lớn, kinh doanh ở tất cả các lĩnh vực nhưng về mặt quy mô còn nhiều hạn chế, một số hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình
độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp Đối tượng kinh doanh vừa lớn lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phương trong cả nước làm cho việc quản lý đối tượng thêm phức tạp
- Khu vực kinh tế NQD có số đông người lao động là trình độ học vấn thấp dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những người lao động ở khu vực này có cả những người già, cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc không có công việc làm phải kinh doanh để kiếm sống Do đó việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường vì vậy khó ứng phó được với tác động thị trường bên ngoài
- Khu vực kinh tế NQD có ý thức chấp hành pháp luật kém Tình trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh tương đối phổ biến Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi phạm chế độ
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
sử dụng lao động như không đóng bảo hiểm xã hội cũng tương tự như trên có một bộ phận không nhỏ số hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế, không đăng ký nộp thuế đối với các doanh nghiệp NQD cũng có tình trạng tương tự, nhiều doanh nghiệp xin thành lập nhưng không hoạt động, còn tình trạng lập
sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra phổ biến
- Khu vực kinh tế NQD có mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh gọn nhẹ, năng động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông trong nền kinh tế song quy mô nhỏ do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự tiến bộ không ngừng khoa học kỹ thuật, đồng thời trong các doanh nghiệp số lượng lao động ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước nhưng do quy mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh tranh được trên thị trường quốc tế (Trang điện tử Thư viện học liệu mở Việt Nam: http://voer.edu.vn)
2.2 Nội dung quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.2.1 Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- Thuế Môn bài
Thuế môn bài là loại thuế thuế trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Thuế môn bài được thu hàng năm Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 30/8/2002 của Chính phủ quy định: Mức thu phân theo bậc, dựa vào số vốn đăng ký đối với doanh nghiệp hoặc thu nhập đối với hộ kinh doanh và các đối tượng khác Đối với DN thì mức môn bài được qui định từ 1 đến 3 triệu đồng tuỳ theo vốn đăng ký, đối với hộ kinh doanh được quy định theo 06 mức từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng tùy theo thu nhập của hộ kinh doanh
- Thuế giá trị gia tăng
Thuế Giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu (thuế tiêu dùng), tính
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03/6/2008 quy định rõ hai phương pháp tính thuế GTGT đó là:
+ Phương pháp khấu trừ thuế
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với: CSKD thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
Số thuế GTGT phải nộp được áp dụng theo công thức sau
Số thuế GTGT
phải nộp =
Số thuế GTGT đầu ra (1) -
Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (2) Trong đó:
(1) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó
(2)Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng
từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam
+ Phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
Phương pháp trực tiếp trên GTGT được áp dụng cho các đối tượng còn lại không đủ điều kiện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế
Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng (=) GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đó
Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng
Đối với cơ sở kinh doanh (trừ các doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, hộ, cá nhân kinh doanh) bán hàng hoá, dịch vụ có đầy
đủ hoá đơn của hàng hoá, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ như hợp đồng
và chứng từ thanh toán nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào thì GTGT được xác định bằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu
Hoạt động kinh doanh; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế theo tỷ lệ (%) GTGT do Bộ Tài chính quy định
Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, là một trong các nguồn thu quan trọng của NSNN
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
Thuế suất thuế TNDN (1)Thu nhập tính thuế bằng (=) thu nhập chịu thuế (2) trừ đi thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
(2)Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ chi phí được trừ cộng các khoản thu nhập khác
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
Là loại thuế tiêu dùng, đánh vào một số hàng hoá dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục qui định, được tính căn cứ vào giá cả và thuế suất (giá tính thuế là giá chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt) Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu quan trọng của NSNN, là công cụ quan trọng thực hiện mục đích hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ được coi là đặc biệt, thực hiện tái phân phối thu nhập của các tầng lớp có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế tài nguyên
Là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác được
Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009 quy định:
Thuế tài nguyên được xác định theo công thức sau:
Thuế tài nguyên
phải nộp trong kỳ =
Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trongkỳ
x
Giá tính thuế đơn vị tài nguyên
x Thuế suất thuế tài nguyên
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN
2.2.2 Nội dung quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Nội dung quản lý nhà nước về thuế theo chức năng gồm: Lập kế hoạch (dự toán thu thuế); Tổ chức thực hiện dự toán; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Điều chỉnh, báo cáo (quyết toán thuế)
Tuy nhiên theo Điều 3 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định công việc chi tiết gồm:
2.2.2.1 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
Công tác đăng ký thuế được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế Đối với Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; các đối tượng còn lại có trách nhiệm trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD hoặc ngày bắt đầu kinh doanh phải làm hồ
sơ đăng ký thuế và nộp tại địa điểm quy định Cơ quan thuế có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký thuế theo quy định
Công tác kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế được thực hiện theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ bao gồm những nội dung sau:
* Về khai thuế
- Nguyên tắc khai thuế và tính thuế
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
+ Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế
+ Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ
- Hồ sơ khai thuế
Hồ sơ khai thuế được Bộ Tài chính quy định cụ thể đối với từng sắc
thuế và đối tượng nộp thuế
- Thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế:
+ Chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với loại thuế khai và nộp theo tháng
+Chậm nhất là ngày thứ ba mươi của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ khai thuế năm
+ Chậm nhất là ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa
vụ thuế đối với hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý
+ Chậm nhất là ngày thứ chín mươi, kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán thuế năm
+ Chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế đối với loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
- Đồng tiền nộp thuế: Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ
2.2.2.2 Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định cơ quan quản lý thuế thực hiện hoàn thuế đối với các trường hợp sau đây:
- Tổ chức, cá nhân thuộc diện được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc diện được hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Tổ chức, cá nhân nộp các loại thuế khác có số tiền thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước lớn hơn số tiền thuế phải nộp
- Hồ sơ hoàn thuế bao gồm:
+ Văn bản yêu cầu hoàn thuế;
+ Chứng từ nộp thuế;
+ Các tài liệu khác liên quan đến yêu cầu hoàn thuế
- Hồ sơ hoàn thuế được nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc tại
cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế
- Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau thì chậm nhất
là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo về việc chuyển hồ sơ sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau hoặc thông báo lý do không hoàn thuế
- Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo lý do không hoàn thuế
Luật Quản lý thuế quy định cơ quan quản lý thuế thực hiện miễn thuế, giảm thuế đối với các trường hợp thuộc diện miễn thuế, giảm thuế được quy định tại các văn bản pháp luật về thuế
- Thời hạn giải quyết hồ sơ miễn thuế, giảm thuế:
+ Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan thuế
ra quyết định miễn thuế, giảm thuế theo mẫu hoặc thông báo cho người nộp thuế lý do không thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo mẫu quy định
+ Trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thời hạn ra quyết định miễn thuế, giảm thuế là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
- Thẩm quyền giải quyết việc miễn thuế, giảm thuế
2.2.2.3 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Quản lý nợ thuế được thực hiện theo Quyết định số 1395/QĐ-TCT ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; trong đó có những nội dung sau:
- Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ;
- Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ; bao gồm:
+ Phân công quản lý nợ thuế
+ Phân loại tiền thuế nợ
+ Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ
+ Đối chiếu số liệu
+ Thực hiện đôn đốc thu nộp:
* Đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện đôn đốc thu nộp bằng hình thức gọi điện thoại, nhắn tin, gửi thư điện tử cho người nộp thuế hoặc người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế;
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
* Đối với khoản nợ từ ngày thứ 31 trở lên, kể từ ngày hết hạn nộp thuế,
cơ quan thuế ban hành thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp gửi người nộp thuế; sau 10 ngày làm việc kể từ ngày gửi thông báo nợ thuế mà người nộp thuế chưa nộp tiền thuế nợ vào NSNN thì cơ quan thuế mời người
nợ thuế lên làm việc, cam kết nộp đủ số tiền thuế nợ trong thời hạn 90 ngày,
kể từ ngày hết hạn nộp thuế
* Đối với khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế; khoản tiền thuế nợ đã quá thời hạn gia hạn nộp thuế; người nộp thuế có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn thì cơ quan Thuế lập và gửi thông báo về việc
sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế đến NNT
+ Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ
+ Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu (trừ trường hợp đã được xóa nợ) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ
+ Đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
2.2.2.4 Công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Theo quy định của Luật Quản lý thuế công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế đối với NNT bao gồm những nội dung sau:
- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế: Là công tác kiểm tra hồ
sơ khai thuế của NNT tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế
- Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế: Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình,
bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
- Thời gian kiểm tra tại trụ sở NNT là 5 ngày làm việc, kể từ ngày công
bố quyết định kiểm tra; trường hợp phức tạp cần gia hạn thì thời gian gia hạn không quá 5 ngày làm việc
- Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế
- Nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ra quyết định kiểm tra thuế và công chức quản lý thuế trong việc kiểm tra thuế
Công tác thanh tra thuế đối với NNT bao gồm những nội dung sau:
- Các trường hợp thanh tra thuế:
+ Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần
+ Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
+ Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính
+ Quyết định thanh tra thuế
- Thời hạn thanh tra thuế: Thời hạn một lần thanh tra thuế không quá
ba mươi ngày, kể từ ngày công bố quyết định thanh tra thuế
- Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế
- Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế
- Nghĩa vụ và quyền của đối tượng thanh tra thuế
- Kết luận thanh tra thuế
2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
2.2.3.1 Môi trường quản lý thuế
Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế NQD là hoạt động có liên quan
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của một nước Để thực hiện quản lý thuế một cách hiệu quả thì môi trường xã hội, môi trường pháp lý nói chung
và pháp luật về thuế nói riêng phải được ban hành và thực hiện một cách đồng
bộ Một số nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng đến quản lý thuế nói chung và quản
lý thuế đối với khu vực kinh tế NQD nói riêng đó là:
Thứ nhất, nội dung của các sắc thuế
Trường hợp nội dung của các sắc thuế quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế rườm rà sẽ khó khăn cho cả cán bộ thuế khi thực thi công vụ và người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ thuế
Thứ hai, trình độ hiểu biết về chính sách pháp luật thuế và ý thức chấp
hành pháp luật thuế của người nộp thuế
Người nộp thuế nếu thực sự hiểu biết pháp luật về thuế thì ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế sẽ rất cao Người nộp thuế cần phải hiểu rõ
về nghĩa vụ thuế và quyền lợi được thụ hưởng từ số tiền thuế mà mình đã đóng góp; hiểu rõ về nội dung chính sách thuế và phương pháp tính thuế, kê khai thuế và nộp thuế; nhận thức đúng trách nhiệm về nghĩa vụ phải kê khai nộp thuế của mình khi có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Nếu như người nộp thuế cố tình gian lận các khoản tiền thuế phải nộp,
họ thường tìm mọi cách để giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước thông qua nhiều hành vi như: khai khống giá mua hàng, nhất là hàng xuất khẩu để được hoàn thuế, bán hàng không xuất hóa đơn, hoặc xuất hóa đơn ghi giá bán hàng hóa thấp hơn giá giao dịch thực tế, khai khống các chi phí được trừ khi xác định TNCN Hiện nay, tình trạng trốn thuế, gian lậu thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến ở nhiều sắc thuế, nhiều địa bàn khác nhau Điều này vừa làm thất thu cho NSNN và tạo môi trường kinh doanh không lành mạnh, không công bằng xã hội
Thứ ba, các qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế -xã hội tạo cơ sở
cho quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
Nếu như các qui định về quản lý đất đai, quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, quản lý đăng ký kinh doanh, quản lý đầu tư …của cơ quan quản lý nhà nước không được ban hành đồng bộ và triển khai thực hiện tốt; môi trường kiểm toán, kế toán chưa được chặt chẽ, trách nhiệm pháp lý chưa cao sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD
2.2.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý thuế
Tổ chức bộ máy quản lý thuế được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, có trách nhiệm triển khai thực hiện pháp luật thuế trong phạm vi cả nước Theo quyết định số 115/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật Tổng cục thuế thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định: Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự
án pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo Nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý thuế; Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng về quản lý thuế; Dự toán thu thuế hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: Dự thảo thông tư
và các văn bản khác về quản lý thuế; Kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành thuế
- Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Thuế Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về quản lý thuế sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế Tổ chức hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; tổ chức công tác hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quy trình nghiệp vụ về
kế toán thuế và các nghiệp vụ khác có liên quan Quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, gia hạn thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế, xóa tiền nợ thuế, tiền phạt thuế
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Thuế theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật
Cục thuế là cơ quan trực thuộc Tổng cục thuế được tổ chức tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Cơ cấu bộ máy của cục thuế bao gồm một số phòng chức năng và một số phòng nghiệp vụ
Cục thuế có nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau: Phổ biến, hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thi hành các Luật thuế; xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch thu trong toàn địa bàn và từng Chi cục thuế trực thuộc; hướng dẫn kiểm tra các Chi cục thực hiện các nghiệp vụ quản lý, giải quyết các khiếu nại về thuế; trực tiếp thực hiện việc thu thuế và thu khác đối với các đối tượng thuộc
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
trách nhiệm quản lý trên địa bàn
Chi cục thuế là cơ quan trực thuộc Cục thuế, được tổ chức tại tất cả các quận, huyện, thị xã Cơ cấu bộ máy Chi cục thuế gồm các đội chuyên môn, nghiệp vụ và các đội, trạm trực tiếp quản lý việc thu thuế
Năng lực, trình độ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức ngành thuế phải đáp ứng được tiêu chuẩn theo quy định, đảm bảo yêu cầu quản lý, phù hợp với nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho quản lý thu thuế đạt hiệu quả cao; thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn chính sách thuế để nâng cao sự hiểu biết, tính tự giác trong việc chấp hành chính sách thuế của người nộp thuế
- Chức năng tổ chức và quyền hạn của việc thanh tra, kiểm tra thuế đối
với người nộp thuế phải trở thành công cụ có hiệu lực để chống thất thu ngân
sách và răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế
- Cán bộ thuế phải được đào tạo cơ bản, bồi dưỡng thường xuyên để nắm chắc chính sách thuế, nghiệp vụ quản lý các khoản thu, sắc thuế và hiện đại hóa quản lý thu bằng công nghệ thông tin Cán bộ thuế phải có kỹ năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế thành thạo Thái độ và phong cách ứng xử của cán bộ thuế phải tận tụy, công tâm, khách quan giữa quyền lợi của Nhà nước với quyền lợi của người nộp thuế Cán bộ thuế phải là người bạn đồng hành đáng tin cậy của người nộp thuế
2.2.3.3 Các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế có liên quan đến thuế quan
Trong quá trình hội nhập, Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, ký kết các điều ước quốc tế, trong đó có những cam kết về thuế quan Những cam kết này có tác động không nhỏ đến cơ chế quản lý thuế
Theo những cam kết này, cơ quan thuế phải xây dựng một lộ trình về cắt giảm thuế quan, xây dựng các chuẩn về danh mục mặt hàng đánh thuế đối với kinh tế khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam tham gia, cải cách thủ tục hành chính thuế quan…
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
Điều đó đặt ra cho ngành thuế một yêu cầu, mục tiêu cấp bách là phải hoàn thiện cơ chế quản lý thuế theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách thuế phải công bằng, công khai, minh bạch vừa tạo động lực khuyến khích hoạt động đầu tư, góp phần thực hiện được mục tiêu kinh tế - xã hội vừa đảm bảo cam kết mà Chính phủ đã ký kết
2.2.3.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quản lý thuế
Bên cạnh nhân tố con người, yếu tố cơ sở vật chất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý thuế, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp hoạt động quản lý thuế đạt mục tiêu giảm thời gian, tiết kiệm chi phí, đảm bảo hiệu quả trong giao dịch Hoạt động này cần được thực hiện với các nội dung sau:
- Xây dựng và cập nhật hệ thống số liệu lịch sử về người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời Hệ thống quản lý được nối mạng toàn quốc và có sự đối chiếu thông tin một cách tự động
- Xây dựng các ứng dụng phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế như: phân loại đối tượng thanh tra, kiểm tra; phân tích kê khai, phân tích báo cáo tài chính, đối chiếu hóa đơn
- Kết nối với hệ thống thông tin trong nội bộ ngành và các ngành kinh
tế có liên quan cũng như với các doanh nghiệp đảm bảo thông suốt để cung cấp thông tin hỗ trợ lẫn nhau
2.2.3.5 Sự phối kết hợp của các tổ chức, cá nhân có liên quan
Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan chức năng, nhất
là cơ quan công an, quản lý thị trường trong việc chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế; phối hợp với các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, KBNN trong việc kiểm soát nguồn tiền thanh toán sẽ có tác dụng tốt trong việc phát hiện, xử
lý kịp thời những vi phạm pháp luật thuế
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
Song, hiện nay trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế NQD chưa được qui định đầy
đủ, rõ ràng trong các văn bản pháp luật dẫn đến tình trạng các tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời việc cung cấp thông tin và phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong quản lý thuế
2.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý thuế
2.3.1 Thực tiễn trên thế giới
2.3.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Về kê khai thuế, người nộp thuế tại Mỹ sẽ có nghĩa vụ khai tờ khai thuế của mình vào ngày 15 tháng 4 hàng năm Nếu người nộp thuế không có khả năng khai tờ khai đúng hạn, người đó có thể đề nghị gia hạn tự động thời gian khai thuế cho đến ngày 15 tháng 10, tuy nhiên vẫn phải nộp thuế
Theo nguyên tắc chung, người nộp thuế có thể bị cơ quan thuế thanh tra trong phạm vi ba năm kể từ ngày tờ khai thuế được khai Tuy nhiên, giới hạn thời gian này có thể được kéo dài nếu người nộp thuế đã kê khai thiếu thuế một cách nghiêm trọng hoặc kê khai gian lận tờ khai thuế Nếu một tờ khai là gian lận hoặc không được khai, việc thanh tra là không giới hạn Nếu một người nộp thuế kê khai thiếu từ 25% số thuế phải nộp trở lên trong một tờ khai thì giới hạn thời gian thanh tra là 6 năm Cơ quan thuế Mỹ (IRS-Inland Revenue Service) phải thông tin với người nộp thuế rằng người đó không được yêu cầu để gia hạn thời gian thanh tra
Về thanh tra thuế: Người nộp thuế sẽ nhận được một “bức thư 30 ngày’ thông báo rằng người đó đã được thanh tra và sẽ thông báo cho người đó các điều chỉnh và thay đổi mà Cơ quan thuế IRS đề xuất Người nộp thuế có được một thời hạn 30 ngày để trả lời bức thư đó Tất nhiên việc trả lời cũng có thể được thực hiện bởi luật sư hoặc kế toán của người nộp thuế (Đào Duy Bẩy, 2012)
2.3.1.2 Kinh nghiệm của Vương quốc Anh (HMRC)
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 31
Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là kinh nghiệm của Vương quốc Anh Để phù hợp với thực tế phát sinh, DNVVN được áp dụng chế độ kế toán giản đơn với mẫu tờ khai riêng, chỉ có 3 chỉ tiêu cơ bản là: tổng doanh thu, tổng chi phí kinh doanh, lãi lỗ thuần NNT được áp dụng ưu đãi này, nếu tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh thấp hơn ngưỡng đăng ký thuế GTGT Tuy nhiên, NNT được yêu cầu lưu giữ hồ sơ, chứng từ để cơ quan thuế kiểm tra trong trường hợp cần thiết, thời gian lưu giữ theo luật là 5 năm Với trường hợp này, cơ quan thuế xây dựng chương trình kiểm tra ngẫn nhiên, trường hợp phát hiện sai sót thì NNT
bị phạt rất nặng
Ở Anh hiện nay các DN, hộ kinh doanh quy mô nhỏ có doanh thu dưới ngưỡng quy định (77.000 Bảng/năm- tương đương 2,5 tỷ VNĐ/năm) không phải nộp thuế GTGT mà chỉ nộp thuế TNDN hoặc thuế TNCN Quy định này
đã giúp tiết kiệm được rất nhiều chi phí tuân thủ và chi phí quản lý thuế Tuy nhiên theo HMRC có khoảng 3 triệu DN và hộ kinh doanh quy mô vừa và nhỏ dưới ngưỡng đăng ký thuế GTGT, trong đó, khoảng 2 triệu hộ kinh doanh
có doanh thu ở mức 20 ngàn Bảng/năm trở xuống Những hộ kinh doanh này
có số thu thuế rất thấp trong khi đó chi phí tuân thủ thuế cao; trình độ và khả năng ghi chép sổ sách kế toán của họ rất hạn chế, ý thức tuân thủ thấp Mặc
dù số thu của họ đóng góp ngân sách không đáng kể, nhưng đây là một phần quan trọng của nền kinh tế quốc gia, nên HMRC đã nghiên cứu và đề xuất với
Bộ Tài chính và Chính phủ để đơn giản hóa về thủ tục hành chính, kế toán thuế và phương pháp tính thuế Có nghĩa là, chính sách vẫn quy định chung, nhưng DN lớn sẽ tính thuế và khai đầy đủ, riêng đối với DNVVN, các hộ kinh doanh tính và khai thuế đơn giản hơn (Tạp chí thuế Nhà nước số 37, ra ngày 12/9/2013)
2.3.2 Thực tiễn ở trong nước