Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, chúng ta đã có những bước tiến bộ trong việc cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật tro
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ TÂM
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC HỘ KINH DOANH
CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ TÂM
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC HỘ KINH DOANH
CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 06.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thanh Liêm
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị khoa học nào khác
Tôi xin cam doan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học kinh tế & QTKD - ĐH Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, cùng các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh tế & QTKD đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt xin chân trọng cảm ơn TS Vũ Thanh Liêm với cương vị hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, UBND TP Bắc Ninh, Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh, các ban, ngành cùng với các hộ kinh doanh trên địa bàn thành phố đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giáo và tất cả bàn bè
Tôi xin chân thành cám ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 4
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể 4
1.1.1 Những vấn đề chung về thuế 4
1.1.2 Những nội dung cơ bản về quản lý thuế 13
1.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 16
1.1.4 Nội dung quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 23
1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh 35
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 38
1.2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan 38
1.2.2 Kinh nghiệm và bài học thực tiễn 39
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu về công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 46
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 46
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 48
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 48
2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn 49
2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ đăng ký thuế 49
2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá nghĩa vụ nộp thuế 49
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH 51 3.1 Khái quát đặc điểm địa bàn thành phố Bắc Ninh 51
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 51
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 51
3.2 Giới thiệu về Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh 53
3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 53
3.2.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy 55
3.3 Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 59
3.3.1 Khái quát về sự phát triển của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 59
3.3.2 Quy trình quản lý thu Thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 64
3.4 Kết quả của công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn TP Bắc Ninh 68
3.4.1 Công tác quản lý đăng ký, kê khai thuế và phân loại hộ cá thể 68
3.4.2 Công tác quản lý căn cứ tính thuế 72
3.4.3 Công tác kiểm tra hoạt động thu thuế 75
3.4.4 Công tác quản lý nợ Thuế 78
Trang 73.4.5 Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 80
3.5 Ý kiến đánh giá công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố qua số hộ điều tra 82
3.5.1 Ý kiến về công tác đăng ký, kê khai thuế và phân loại hộ 82
3.5.2.Ý kiến về điều kiện kinh doanh theo sự thuận lợi 83
3.5.3 Ý kiến đánh giá của hộ về căn cứ tính 3huế, kiểm tra 3huế và quản lý nợ thuế 85
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH 92
4.1 Giải pháp 93
4.1.1.Nâng cao hiệu quả công tác quản lý đăng ký, kê khai thuế và phân loại hộ 93
4.1.2 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh 95
4.1.3 Nâng cao công tác quản lý nợ đọng 96
4.1.4 Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động thu thuế 97
4.1.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 98
4.2 Kiến nghị 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp GTGT : Giá trị gia tăng HKD : Hộ kinh doanh NSNN : Ngân sách nhà nước SXKD : Sản xuất kinh doanh TNCN : Thu nhập cá nhân TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng:
2014 60
2014 61
2014 62
3.4 năm 2012 - 2014 63
71
3.6 Q 74
oanh 76
77
, m 77
78
79
Bảng 3.12 Kết quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp Thuế tại Chi cục Thuế Thành phố Bắc Ninh năm 2014 80
82
3.14 84
3.15 84
86
Bảng 3.17 Ý kiến các hộ điều tra về sự công bằng trong quản lý Thuế và đánh Thuế trong điều kiện suy thoái kinh tế 88
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy Chi cục Thuế TP Bắc Ninh 57
Sơ đồ 3.2 Quy trình quản lý Thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 67
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thuế là một trong những công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mỗi quốc gia Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là công cụ điều tiết thu nhập, thực hiện bình đẳng công bằng xã hội mà Thuế còn có vai trò thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần tăng trưởng nhanh nền kinh tế
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, chúng ta đã có những bước tiến bộ trong việc cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế đối với nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhờ đó, số thu từ thuế tăng đều qua các năm, luôn trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước Trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường của cả nước, Đảng ta luôn coi trọng thành phần kinh tế tư nhân, luôn tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển và thực tế những năm qua với một cơ chế đơn giản, năng động lực lượng hộ kinh doanh cá thể của cả nước đã không ngừng lớn mạnh, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước
Tuy nhiên công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nói riêng vẫn còn tồn tại những mặt còn hạn chế, thiếu sót như: Vẫn còn tồn tại tình trạng người nộp thuế trốn, lậu thuế, thất thu thuế, khả năng khai thác nguồn thu chưa sát với tiềm năng, công tác quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh vực, chưa đẩy mạnh ứng dụng tin học vào công tác quản lý thuế Bên cạnh đó, ý thức về trách nhiệm đối với thuế của người nộp thuế nói riêng và người dân nói chung chưa tốt Từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một số sắc thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước
Trang 11Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước hiện nay, chính sách thuế ở nước ta nói chung và Thành phố Bắc Ninh nói riêng còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập Thuế chưa trở thành công cụ vừa tăng thu ngân sách vừa tăng khả năng điều tiết và kích thích nền kinh tế Các hành vi trốn thuế, lách thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh một mặt phản ánh ý thức chấp hành của người nộp thuế chưa cao, mặt khác cũng cho thấy các chính sách thuế và phương pháp tính thuế của cơ quan thuế chưa bám sát thực tế Với việc quản lý gần 3.000 hộ kinh doanh cá thể Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh là đơn vị được giao thu ngân sách nhà nước (NSNN) cao nhất trong 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh Do vậy, quản lý chặt nguồn thu, không bỏ sót nguồn thu, hạn chế mức thấp nhất hiện tượng thất thu thuế do không quản lý đầy đủ người nộp thuế là nhiệm vụ cấp thiết
Xuất phát từ thực tế cũng như tính cấp thiết của việc kiểm soát nguồn thu từ
các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh” để làm luận văn thạc sĩ
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng tình hình quản lý Thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn đề xuất giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, nhằm chống thất thu Thuế hộ kinh doanh
cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Trang 123 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên dịa bàn thành phố Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn trong lĩnh vực quản lý thuế
hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh từ năm 2012 đến năm 2014 Các giải pháp từ năm 2015 đến năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Thông qua nghiên cứu luận văn này làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh (những thành công, hạn chế và nguyên nhân), luận văn cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - Xã hội của thành phố trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cầu thành 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh các thể
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh các thể tại Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản
lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh
Trang 131.1.1.1 Khái niệm về thuế
Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu
có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế
Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng,
cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là Thuế khoá " (Mac - Ăngghen, 1962) Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng
góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp (Tổng cục Thuế, 2011)
Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế Trong cuốn
từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes,
đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của
Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản (Tổng
cục Thuế, 2011)
Trang 14Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu trong cuốn
"Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa
trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng
tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" Trong quan điểm này người ta chỉ nhìn nhận thuế
trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mình đang kinh doanh hoặc sinh sống Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định (Tổng cục Thuế, 2011)
Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân
phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011)
Trên giác độ người nộp thuế thì : Thuế được coi là khoản đóng góp bắt
buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011)
Dựa vào định nghĩa và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái
niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và
pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; Không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng (Tổng cục
Thuế, 2011)
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế
Qua phân tích nguồn gốc sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà
Trang 15nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Tuy nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác như: Phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong nền kinh tế thị trường như sau:
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường
- Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia Mặt khác, tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thực hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành Theo quan điểm này công dân không có quyền từ chối trả Thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp hành
Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho NSNN
- Luôn gắn liền với thu nhập
Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
+ Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá
Về mặt pháp lý thuế không phải là giá cả của dịch vụ cung cấp Vì vậy người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách
Trang 16viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không có hiệu quả Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác
+ Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới nộp thuế cho Nhà nước Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hóa, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị
mà người nộp thuế được hưởng không nhất thiết phải tương đồng với khoản thuế mà họ nộp cho Nhà nước (Tổng cục Thuế, 2011)
1.1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua các hoạt động thu thuế Nhà nước tập trung được các của cải xã hội từ đó hình thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hện các chính sách kinh tế xã hội
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng đó là NSNN NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, trong tất cả các nguồn thông thường số thu từ thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hóa tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi năm
- Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự phân hóa giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên
Trang 17trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập
về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư gây ra bất ổn xã hội Chính
vì vậy Nhà nước phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội và thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này
- Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội
Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn đề cơ bản của nền kinh tế (sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế thị trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây cho xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền thủ tiêu cạnh tranh
Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế - xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoạch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội
- Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng
mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt:
Trang 18Kích thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt
trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung - cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh - một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường
+ Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất
+ Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng + Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư,
có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và
tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định
- Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần
đảm bảo công bằng xã hội
Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế
sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng
Trang 19Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước
- Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì Nhà nước dùng thuế
để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh
tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động
- Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà
nhập nền kinh tế thế giới
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, Nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc
thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ
Trang 20Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách thuế khoá Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như người sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh 2 luật thuế này giúp cho thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh
tế thị trường (Tổng cục Thuế, 2011)
1.1.1.4 Chức năng của thuế
- Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính
Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Đây là chức năng cơ bản của thuế
Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế
Thông qua chức năng này các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề khách quan để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng được nâng cao Thông qua thuế một phần đáng
kể tổng sản phẩm quốc nội được tập trung vào NSNN Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN của tất cả các nước có nền kinh
tế thị trường
- Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Điều tiết kinh tế: Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh
tế - xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính,
Trang 21luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng
Dựa trên cơ sở xác định mục tiêu và đối tượng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước điều chỉnh thuế
để tạo ra những thay đổi trong nền kinh tế quốc dân theo hướng: Điều chỉnh chu kỳ kinh tế; Cơ cấu ngành, khu vực và từng vùng lãnh thổ; Lưu thông tiền tệ; Giá cả; Tiền lương; Phân phối thu nhập; Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại; Bảo vệ môi trường Như vậy nội dung điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng lớn, nó bao hàm hầu hết các quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bao gồm các nội dung sau:
+ Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế
+ Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý
+ Điều chỉnh tích lũy vốn
+ Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Điều tiết tiêu dùng: Nhà nước hướng dẫn tiêu dùng có thể bằng nhiều
biện pháp kể cả hành chính xã hội và kinh tế Tuy nhiên, giải pháp hữu hiệu nhất có thể áp dụng trong một đất nước cởi mở, dân chủ, theo nền kinh tế thị trường là áp dụng chính sách thuế Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng: Thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng (GTGT), Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), sẽ làm giảm cầu đối với những hàng hóa dịch vụ mà Nhà nước cần hạn chế hoặc ưu đãi Hay việc bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa thông qua điều chỉnh mức thuế xuất nhập khẩu
Điều tiết xã hội: Hệ thống chính sách thuế trong nền kinh tế thị
trường hội nhập được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư trong và ngoài nước nhằm đảm bảo
sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân và pháp nhân
Trang 22Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại (Tổng cục Thuế, 2011)
1.1.2 Những nội dung cơ bản về quản lý thuế
+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,
+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Người bị quản
lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định
Trang 23của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua
Như vậy, ta có thể định nghĩa khái quát về quản lý thuế như sau: "Quản
lý thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ." ( Luật quản lý Thuế số 78/2006/QH11, 2006)
1.1.2.2 Nội dung quản lý thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì nội dung quản lý thuế bao gồm 8 nội dung và được phân thành
3 nhóm, cụ thể như sau:
Nhóm 1: Các thủ tục hành chính thuế, đảm bảo các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế,
miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Nhóm 2: Giám sát việc tuân thủ pháp luật về thuế của cơ quan quản lýt Thuế đối với người nộp thuế, bao gồm: Quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3: Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực, hiệu quả bao gồm: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý
vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
1.1.2.3 Nguyên tắc quản lý Thuế
Theo quy định tại Điều 4, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Luật số 21/2012/QH13, ngày 21/11/2012 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế, thì nguyên tắc quản lý thuế cụ thể như sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
Trang 24- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
- Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế
+ Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: Thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế;
+ Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế
- Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:
+ Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục + Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật + Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử
+ Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê
+ Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định
1.1.2.4 Vai trò của quản lý thuế
- Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế Với vai
trò kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm,
đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
- Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế
Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót Mặt khác, xuất phát từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu thuế của nhà nước hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế
Trang 25nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh
- Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục
sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các luật thuế được nghiêm chỉnh
1.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.1.3.1 Khái quát về hộ kinh doanh cá thể
a) Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
- Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký kinh doanh thì “Hộ kinh doanh” được gọi là “Hộ kinh doanh cá thể” và được định nghĩa như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”
- Hiện nay theo quy trình 2248/QĐ-TCT ngày 28/12/2012 V/v ban hành quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh thì: “Hộ kinh doanh là hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân thực hiện sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
là đối tượng chịu thuế theo quy định tại các Luật thuế hiện hành hoặc có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân”
Trong đó, hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán (hộ khoán):
Là cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh hoặc có đăng ký kinh doanh không đăng ký thuế; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ; cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh khai thác tài nguyên thủ công, phân tán lưu động không thường xuyên (theo quy định tại Khoản 1, Điều 21, Thông tư số 156/2013/TT-BTC, ngày 06/11/2013)
b) Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộ gia đình, thể hiện ở tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy
Trang 26trình sản xuất đến phân phối tiêu thụ, do đó mang tính tự chủ cao, sử dụng lao động là những người trong gia đình ( Phan Lưu Ngọc, 2012)
Quy mô nhỏ lẻ, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế, quản lý chủ yếu dựa theo kinh nghiệm
Số lượng hộ kinh doanh lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức hoạt động, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động
Ý thức tuân thủ pháp luật thuế còn thấp
Mặt khác, kinh tế hộ cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường
và nền kinh tế Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội
và xuất khẩu
Kinh tế hộ cá thể đã tận dụng được lực lượng lao động dồi dào, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia Do đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Từ cơ sở lý luận và thực trạng của nền kinh tế nước ta, đại hội Đảng
toàn Quốc lần thứ VII đã khẳng định "Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời
kì quá độ ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh
tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước"
Trang 27Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận thành phần kinh tế cá thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế, với chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện cho nền kinh tế cá thể phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác
d) Vai trò của hộ kinh tế cá thể
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thì kinh tế cá thể giữ vai trò hết sức quan trọng và chiếm một vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân
Trong thời gian vừa qua, thành phần kinh tế này đã có những bước phát triển mạnh mẽ Nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho sản xuất và đời sống Khu vực kinh tế này không chỉ cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm cho nhu cầu xã hội, mà còn đem lại nguồn thu cho NSNN Sự phát triển ngày càng cao của thành phần kinh tế
cá thể trong nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh vòng quay vốn trong nền kinh tế và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế cá thể dựa vào vốn, sức lao động của bản thân và hộ gia đình là chính nên quy mô nhỏ bé, tản mạn rời rạc, điều kiện áp dụng khoa học tiên tiến hạn chế Chính vì vậy cần tăng cường sự quản
lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý
và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động hiệu quả
1.1.3.2 Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
a) Khái niệm quản lý Thuế hộ kinh doanh cá thể
Quản lý Thuế hộ kinh doanh cá thể là hoạt động quản lý của Nhà nước mà
cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật về thuế nhằm động viên nguồn thu vào ngân sách nhà nước ( Tổng cục Thuế, 2011)
Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể bao gồm các hoạt động: Hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình thủ
Trang 28tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức
bộ máy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc (Tổng cục Thuế, 2011) Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Đối với hộ kinh doanh cá thể hệ thống chính sách thuế áp dụng chung các mức thuế suất đối với cùng ngành hàng, nhóm mặt hàng gồm các sắc thuế cơ bản là: Thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế TTĐB Trong đó các sắc thuế
có tác động nhiều nhất đến các hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế TNDN, thuế TNCN (thay thế thuế TNDN từ ngày 01/01/2009)
Đối với tất cả các thành phần kinh tế nhất là hộ kinh doanh phát triển, Nhà nước đã và đang có nhiều biện pháp cải tiến hệ thống và cách thức thu thuế nhằm một mặt thu đủ, thu đúng người cần thu, hợp lý hoá và giảm thuế suất (chẳng hạn thuế GTGT, Thuế TNCN), tăng diện thu, nuôi dưỡng nguồn thu về lâu dài, mặt khác đảm bảo việc thu thuế minh bạch công khai, dân chủ
Tuy nhiên, do đang trong quá trình xây dựng các định chế phù hợp với nền kinh tế thị trường, việc hạn chế thay đổi thường xuyên các quy định pháp luật về thuế đang được đặt ra, những bước đầu khó tránh khỏi
b) Những đặc điểm chủ yếu của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể
Đặc điểm cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là hướng tới sự minh bạch, rõ ràng, đơn giản, dễ tính toán trong việc thực hiện chính sách thuế Thông qua các chính sách thuế như ưu đãi thuế, miễn, giảm thuế, khuyến khích người nộp thuế tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật mở rộng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển (Lê thị Bích, 2010)
Trang 29Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể là giản đơn, gọn nhẹ, trình độ quản lý thấp, đại bộ phận hộ kinh doanh cá thể không sử dụng hóa đơn mua, bán hàng, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật thuế của các hộ kinh doanh còn thấp điều này dễ dẫn đến gian lận trong việc kê khai thuế
Kể từ năm 2012, Tổng cục Thuế ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định số 2248/QĐ –TCT ngày 28/12/2012 công tác quản lý thu thuế, cấp mã số thuế hộ cá thể tại cấp Chi cục đã được thực hiện một cách khá bài bản và dễ thực hiện
Từ đó đến nay, nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý thuế đặc biệt là quản lý người nộp thuế là doanh nghiệp, Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Tài chính liên tục ban hành các Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn công tác quản lý thuế cũng như cấp mã số thuế, điều này đã làm thay đổi một số quy định trong quy trình 2248 Mặt khác, do chính sách thay đổi thường xuyên nên không tránh khỏi việc quy định chồng chéo lẫn nhau dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý hộ kinh doanh, cụ thể một vài trường hợp như:
Đối với hộ khoán thuế GTGT thu theo tháng và hạn nộp là ngày cuối tháng, nhưng đối với thuế TNCN thì lại thu theo quý với hạn nộp thuế là ngày cuối quý, điều này gây phiền hà trong công tác quản lý thu đặc biệt đối với những hộ bỏ kinh doanh giữa quý thì thuế TNCN hầu như không thu Với quy định này nếu căn cứ vào Doanh thu hàng tháng thì rất nhiều hộ không phải nộp thuế, vì vậy để giữ nguyên mức thuế GTGT+TNDN (mà nay là TNCN) như trước đây các Chi cục đã phải áp lại doanh thu của từng hộ bằng cách tính ngược lại từ thuế phải nộp nhân với tỷ lệ theo từng ngành nghề để ra mức doanh thu khoán, việc làm này mất nhiều công sức cho cán bộ công chức Chi cục thuế, và
tờ khai khoán hàng năm của người nộp thuế có nhiều chỉ tiêu bất hợp lý
Hộ kinh tế cá thể kinh doanh cố định là những hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ (những hoạt động kinh doanh mà pháp luật cho phép) có địa điểm kinh doanh cố định ở một nơi nào đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế
Trang 30cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ
Do đặc điểm của kinh tế cá thể là tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, hoạt động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao,
tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh
tế, thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển
và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân
Hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và hoạt động kinh tế cá thể nói riêng là hoạt động tồn tại khách quan do đòi hỏi của sản xuất và đời sống xã hội Với quan điểm đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cả trong hiện tại và trong tương lai
Do đó việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế nói riêng và những ảnh hưởng của thành phần kinh tế này đối với xã hội nói chung, một mặt vừa động viên được nguồn thu vào NSNN, mặt khác vừa đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, cũng như tạo môi trường công bằng, bình đẳng cho các thành phần kinh tế phát triển trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như hiện nay
c) Mục tiêu, yêu cầu của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Mục tiêu
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng
Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Trang 31+ Tăng thu cho ngân sách Nhà nước
Ở nước ta, số thu từ thuế hàng năm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng
số thu của NSNN Số thuế thu được từ khu vực kinh tế cá thể tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập ngân sách nhưng đây lại là lĩnh vực phức tạp, khó quản lý Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể sẽ có tác dụng động viên, tăng thu cho NSNN
+ Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Song, những vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động
từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
+ Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ kinh doanh
Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật thuế cùng với việc tăng cường tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hành các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làm việc theo pháp luật" trong mọi tầng lớp nhân dân
- Yêu cầu
+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng thường xuyên các luật Thuế
và các văn bản dưới luật để người nộp thuế hiểu và tự giác chấp hành
+ Tận thu, khai thác triệt để các nguồn thu, kết hợp nuôi dưỡng nguồn thu + Thu hết số thuế ghi thu, không để nợ đọng
+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ kinh doanh
+ Quản lý hết các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh (gồm cố định
có cửa hàng - cửa hiệu và đối tượng kinh doanh vãng lai)
+ Quản lý sát doanh thu thực tế của đối tượng nộp thuế (thường xuyên kiểm tra sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ, rà soát điều chỉnh thuế hộ khoán
ổn định)
+ Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của ngành đã đề ra cho từng loại đối tượng kinh doanh
Trang 321.1.4 Nội dung quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.1.4.1 Xây dựng quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Quy trình quản lý thuế là một bộ phận hợp thành các thủ tục hành chính thuế tương ứng với một phương thức quản lý thuế nhất định Mỗi cơ chế quản
lý thuế đòi hỏi áp dụng một quy trình quản lý phù hợp với tư duy quản lý thuế, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ quản lý, trình độ trang thiết bị của cơ quan thuế và trình độ nhận thức của đối tượng nộp thuế nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý ( Lê Thị Bích, 2010)
Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở địa bàn nào cũng gặp những khó khăn, bởi các hộ kinh doanh luôn tìm mọi cách trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ nợ đọng thuế, đặc biệt trong cơ chế thị trường như hiện nay Do
đó, việc áp dụng quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nhằm đạt được những mục tiêu đề ra là rất cần thiết, để từng bước hiện đại hóa công tác quản lý thuế và thực hiện chiến lược cải cách hệ thống Thuế giai đoạn 2011 -
2020, ngày 28/12/2012 Tổng cục Thuế đã ban hành Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo Quyết định số 2248/QĐ-TCT thay thế Quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định
số 1201/TCT/QĐ-TCCB ngày 26/07/2012 của Tổng cục Thuế, để hướng dẫn các bộ phận tại Chi cục Thuế thực hiện đầy đủ, đúng trình tự các bước công việc theo nội dung của Quy trình này
So với Quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo Quyết định số 1201/TCT/QĐ -TCCB (Quy trình 1201) thì Quy trình 2248 có ưu điểm là hướng dẫn sự phối hợp của các bộ phận, các cơ quan ban ngành thực hiện các công việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, làm rõ hơn trách nhiệm của từng bộ phận nhằm tiến tới mục tiêu quản lý là: Rõ ràng - công khai - dân chủ và minh bạch hơn, đặc biệt là công tác kiểm tra nhằm hạn chế tiêu cực trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, từng bước thực hiện chuyên môn hoá quản lý thuế theo chức năng, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ công chức thuế
Trang 331.1.4.2 Công tác quản lý kê khai, đăng ký thuế và phân loại hộ kinh doanh
a) Công tác kê khai, đăng ký thuế (Quyết định 2248/QĐ-TCT, 2012)
Đội Thuế liên xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với chính quyền phường, xã điều tra nắm chắc số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, nắm diễn biến hoạt động của các hộ như: Hộ mới ra kinh doanh, hộ nghỉ kinh doanh, hộ di chuyển địa điểm kinh doanh,
- Người nộp thuế kê khai đăng ký thuế có 2 trường hợp:
+ Hộ ra kinh doanh lần đầu (hộ mới ra kinh doanh)
Trước khi kinh doanh, hộ kinh doanh phải gửi giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và hồ sơ kèm theo đến phòng Đăng ký kinh doanh cấp huyện, thị
xã, thành phố trên giấy đề nghị đăng ký kinh doanh phải ghi đủ các thông tin
về chủ hộ kinh doanh, địa chỉ kinh doanh, số chứng minh nhân dân, địa chỉ cư trú Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Định kỳ vào tuần đầu của tháng, cơ quan đăng ký kinh doanh gửi danh sách hộ kinh doanh đã đăng ký tháng trước cho cơ quan thuế cùng cấp Căn cứ vào đó, đội thuế cấp phát tờ khai đăng ký thuế và hướng dẫn cách kê khai để người nộp thuế kê khai đăng
ký thuế với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế
+ Hộ tạm ngừng kinh doanh
Hộ trước đó đã được cấp mã số thuế nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn sau
đó lại ra kinh doanh vẫn phải đăng ký việc thực hiện nộp thuế với cơ quan thuế nhưng không cấp mã số thuế mới Trong trường hợp tạm ngừng kinh doanh từ
30 ngày trở lên, hộ kinh doanh thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh nơi
đã đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trực tiếp quản lý ít nhất là 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không quá một năm, sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu hộ kinh doanh vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho
cơ quan đăng ký kinh doanh
Trang 34b) Phân loại hộ kinh doanh để quản lý (Quyết định
2248/QĐ-TCT, 2012)
Cơ quan Thuế căn cứ vào mức độ và khả năng thực hiện việc ghi chép sổ sách kế toán, lưu giữ hoá đơn chứng từ khi mua bán hàng hoá dịch vụ của hộ kinh doanh để phân loại hộ kinh doanh và áp dụng phương pháp quản lý thuế cho phù hợp Việc phân loại hộ kinh doanh để quản lý thuế dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai là các hộ kinh doanh đã thực hiện đăng ký kinh doanh và được cấp mã số thuế, thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, lưu giữ đầy đủ hoá đơn, chứng từ khi mua, bán hàng hoá dịch vụ và xác định được doanh thu, chi phí; hoặc thực hiện lưu giữ đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và xác định được doanh thu nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ đầu vào, không xác định được chi phí và giá trị gia tăng
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là các hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh hoặc không phải đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế, không thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ, có mở sổ sách kế toán, nhưng thực hiện không đúng chế độ kế toán, không đúng quy trình về chế độ hoá đơn chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ; Không thực hiện nộp tờ khai, cơ quan thuế không thể căn cứ vào sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ để xác định số thuế phải nộp phù hợp với thực tế kinh doanh
- Căn cứ vào doanh thu kinh doanh, cơ quan thuế còn phân loại hộ kinh doanh nộp thuế khoán theo nhóm: Hộ kinh doanh thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, hộ kinh doanh thuộc diện nộp thuế khoán Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu quản lý thực tế tại địa phương, có thể phân loại theo bậc môn bài, theo địa bàn kinh doanh hoặc theo các nhóm ngành nghề kinh doanh cho phù hợp
Trang 351.1.4.3 Cấp mã số thuế và quản lý danh bạ hộ kinh doanh
a) Cấp mã số thuế (Nghị định 43/2010/NĐ-CP, 2010)
Sau khi thực hiện việc rà soát hộ kinh doanh đưa vào quản lý, phân loại
hộ mới ra kinh doanh, đội Kê khai - kế toán thuế thực hiện đăng ký cấp mã số thuế cho người nộp thuế Hộ kinh doanh phải làm thủ tục kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được
cơ quan thuế cấp mã số thuế để quản lý
Để quản lý hộ kinh doanh thông qua mã số thuế theo quy định, cơ quan thuế đã thực hiện rà soát, xác định hộ thực tế đang kinh doanh để làm thủ tục cấp mã số thuế (kể cả cấp mã số thuế tạm đối với trường hợp không đủ giấy tờ), làm thủ tục đóng mã số thuế đối với hộ đã nghỉ, bỏ kinh doanh, nhưng các trường hợp hộ ra kinh doanh không đăng ký thuế hoặc nghỉ, bỏ kinh doanh không khai báo với cơ quan thuế vẫn thường xuyên xảy ra, dẫn đến việc quản
lý chính xác số lượng hộ kinh doanh thông qua mã số thuế vẫn là vấn đề nan giải, phức tạp
b) Quản lý danh bạ hộ kinh doanh (Quyết định 2248/QĐ-TCT, 2012)
Danh bạ quản lý hộ kinh doanh là danh sách các hộ kinh doanh thuộc diện quản lý thuế được lập theo từng địa bàn xã, phường, thị trấn hoặc chi tiết theo từng đường, phố, ngõ xóm Danh bạ quản lý hộ kinh doanh được lập đầy
đủ cho tất cả các hộ kinh doanh thực tế có phát sinh hoạt động kinh doanh (bao gồm hộ kinh doanh thuộc diện phải nộp hay không thuộc diện phải nộp thuế GTGT)
Công tác quản lý danh bạ hộ kinh doanh là khâu đầu tiên và quan trọng trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh Để phù hợp với thực tế và bao quát được hết các đối tượng quản lý và hộ kinh doanh có phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh, cơ quan thuế đã phối hợp với các ngành trên địa bàn quận, huyện (phòng kinh tế, bộ phận cấp đăng ký kinh doanh của UBND
Trang 36quận/huyện) để thực hiện cấp mã số thuế cho các hộ mới đăng ký kinh doanh; phối hợp với UBND xã phường, thị trấn rà soát mới vào danh bạ quản lý thu thuế và tăng cường các biện pháp quản lý đối với những lĩnh vực phức tạp, khó quản lý như hoạt động cho thuê cửa hàng, thuê nhà, hoạt động xây dựng
tư nhân, vận tải tư nhân
1.1.4.4 Công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh
Việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh thực hiện theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế, hộ kinh doanh nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trong thực tế rất phức tạp, do trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của phần lớn các hộ kinh doanh còn chưa cao, hoạt động kinh doanh thường không ổn định Vì vậy, cùng với việc đôn đốc, tiếp nhận tờ khai thuế, lập bộ, tính thuế, thông báo thuế, cơ quan thuế cần thực hiện niêm yết công khai tiền thuế dự kiến của hộ kinh doanh, tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường về tiền thuế phải nộp của
hộ kinh doanh để đảm bảo sự công bằng, khách quan
a) Xây dựng căn cứ tính thuế (Quyết định 2248/QĐ-TCT, 2012)
Vấn đề quan trọng nhất trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh là xác định hợp lý doanh thu bình quân tháng trong năm của các hộ kinh doanh để làm căn cứ xác định mức thu nhập tính thuế Từ đó, xác định được hộ thuộc đối tượng không phải nộp thuế khoán và tiền thuế GTGT, thuế TNCN phải nộp của các hộ kinh doanh thuộc diện phải nộp thuế khoán theo quy định
- Xác định mức doanh thu không phải nộp thuế theo phương pháp khoán
Cơ quan thuế căn cứ vào chính sách thuế và các quy định hiện hành để xác định mức doanh thu hàng tháng không phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán
Việc xác định mức doanh thu tháng không phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán được lãnh đạo Chi cục Thuế phê duyệt thực hiện chậm nhất vào ngày 30/11 của năm trước để làm căn cứ xác định các hộ kinh doanh không phải nộp thuế khoán khi lập hộ, tính thuế năm sau
Trang 37Chi cục Thuế thực hiện niêm yết công khai mức doanh thu theo tháng không phải nộp thuế theo phương pháp khoán cùng với việc niêm yết dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp của các hộ kinh doanh
- Tổ chức điều tra doanh thu thực tế
Việc điều tra doanh thu là một biện pháp nghiệp vụ của cơ quan thuế nhằm đánh giá sự sai lệch của việc xác định doanh thu và mức thuế khoán ổn định với thực tế kinh doanh của hộ kinh doanh; làm căn cứ để xây dựng cơ sở dữ liệu giúp cho việc xác định mức thuế khoán kỳ sau đựơc sát đúng hơn
Để thực hiện điều tra doanh thu, chi cục Thuế thực hiện các bước công việc sau:
+ Lập kế hoạch điều tra doanh thu thực tế: Đội tổng hợp nghiệp vu dự toán căn cứ vào nguồn lực quản lý thực tế, lập kế hoạch điều tra doanh thu thực tế của các ngành nghề kinh doanh trọng điểm tại địa phương trong năm, trình lãnh đạo Chi cục Thuế phê duyệt trước ngày 15/2 hàng năm Kế hoạch điều tra doanh thu thực tế được lập chi tiết cho từng quý, đối với từng nhóm ngành nghề kinh doanh, số lượng hộ kinh doanh trong mỗi nhóm ngành nghề trên địa bàn phải thực hiện điều tra doanh thu, số ngày điều tra doanh thu thực tế + Lựa chọn danh sách hộ kinh doanh thực hiện điều tra doanh thu: Căn
cứ vào kế hoạch điều tra doanh số đã được phê duyệt, Đội tổng hợp nghiệp vu
dự toán chủ trì phối hợp với đội Kê khai - kế toán thuế lựa chọn ngẫu nhiên các hộ kinh doanh theo các địa bàn, quy mô kinh doanh, để lập danh sách hộ kinh doanh thực hiện điều tra doanh thu thực tế theo từng quý trình lãnh đạo Chi cục Thuế phê duyệt
+ Thực hiện điều tra doanh thu thực tế: Đội tổng hợp nghiệp vụ dự toán chủ trì tổ chức thực hiện điều tra doanh thu thực tế của hộ kinh doanh Mỗi tổ công tác điều tra doanh thu bao gồm ít nhất ba (03) người thuộc các Đội tổng hợp nghiệp vụ dự toán, đội Kê khai - kế toán thuế và đội thuế liên xã phường quản lý
Trang 38địa bàn có hộ kinh doanh thực hiện điều tra Số ngày thực hiện điều tra doanh thu thực tế đối với một hộ kinh doanh ít nhất là trong năm (05) ngày liên tục + Việc điều tra có thể thực hiện trực tiếp thông qua việc ghi chép, quan sát các hoạt động kinh tế phát sinh của hộ kinh doanh, số lượng khách hàng,
số lượng hàng hoá dịch vụ mua vào, bán ra trong một khoảng thời gian của hộ kinh doanh; hoặc có thể thực hiện gián tiếp thông qua việc trao đổi với chủ hộ kinh doanh, trao đổi với người làm công hoặc khách hàng hoặc thông qua việc tìm hiểu, đánh giá các chi phí cố định tối thiểu của hoạt động kinh doanh như các chi phí điện, nước, tiền lương, thuê nhà Trên cơ sở đó, tổ công tác ước lượng doanh thu thực tế của hộ kinh doanh trong thời gian một (01) tháng, một (01) năm Kết quả điều tra doanh thu thực tế phải được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên tổ công tác và xác nhận của chủ hộ kinh doanh (nếu có)
+ Tổng hợp kết quả điều tra: Đội tổng hợp nghiệp vu dự toán tổng hợp kết quả điều tra trên cơ sở các biên bản điều tra doanh thu thực tế và xác định
tỷ lệ sai lệch giữa doanh thu điều tra thực tế và doanh thu xác định mức thuế khoán bình quân theo tình nhóm ngành nghề trên địa bàn Việc tổ chức điều tra doanh thu thực tế và tổng hợp kết quả điều tra được hoàn thành trước ngày 30/11 hàng năm
+ Mức sai lệch giữa số liệu khoán thuế trên sổ bộ với số liệu điều tra doanh thu thực tế là một căn cứ để Chi cục Thuế xem xét, xác định doanh thu
và tiền thuế khoán ổn định của các hộ kinh doanh trong cùng ngành nghề trong năm sau
- Tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn
Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn là cơ quan tư vấn giúp cho cơ quan thuế xác định mức thuế của các hộ, gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý
Trang 39Thành phần của hội đồng tư vấn thuế xã, phường bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn – Chủ tịch Hội đồng và các thành viên gồm (01) cán bộ phụ trách về tài chính, (01) cán bộ thuộc Mặt trận tổ quốc, (01) cán bộ thuộc Công an xã, phường, thị trấn; (02) chủ hộ kinh doanh đại diện cho các hộ kinh doanh, (01) công chức thuế của Chi cục thuế quản lý địa bàn xã, phường, thị trấn
Việc lập bộ, tính thuế khoán ổn định hàng năm: Đội Thuế liên xã, phuờng họp xin ý kiến tham vấn hội đồng tư vấn thuế xã phường về doanh thu, tiền thuế phải nộp của các hộ kinh doanh cùng với việc niêm yết công khai doanh thu, tiền thuế phải nộp
b) Quy trình lập bộ tính thuế, thông báo thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể (Quyết định 2248/QĐ-TCT, 2012)
- Lập bộ tính thuế khoán ổn định năm
Lập bộ thuế là việc tính toán, xác định số thuế phải nộp dự kiến của các
hộ kinh doanh trong kỳ và ghi chép vào sổ bộ thuế Để xác định được tiền thuế phải nộp trong năm của hộ kinh doanh nộp thuế khoán ổn đinh, cơ quan thuế phải thực hiện các bước công việc bao gồm:
+ Đôn đốc, tiếp nhận tờ khai thuế khoán: Hàng năm từ ngày 20/11 đến ngày 5/12, các đội thuế liên xã phường thuộc các Chi cục Thuế tổ chức phát tờ khai và hướng dẫn các hộ kinh doanh kê khai, đôn đốc hộ kinh doanh nộp tờ khai Trên cơ sở số liệu kê khai của hộ kinh doanh, cán bộ đội thuế liên xã phuờng tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu, thông tin trên tờ khai thuế như sản lượng, doanh thu, khai giảm trừ gia cảnh, với số liệu tính thuế trên sổ bộ thuế của tháng (quý) cuối cùng trong năm
+ Dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp: Chi cục Thuế dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp của các hộ kinh doanh, xác định các hộ kinh doanh không thuộc diện phải nộp thuế theo từng địa bàn, từng nhóm ngành nghề dựa trên cơ sở số liệu kê khai thuế của hộ kinh doanh, thông tin từ cơ sở dữ liệu của ngành thuế, kết quả điều tra doanh thu thực hiện, mức biến động về giá cả
Trang 40theo từng ngành nghề, mặt hàng; dự báo mức tăng trưởng kinh tế trong khu vực và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nộp ngân sách trong năm sau
+ Tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường và công khai doanh thu, mức thuế phải nộp của hộ kinh doanh: Cơ quan thuế niêm yết công khai dự kiến doanh thu, mức thuế phải nộp/hoặc không phải nộp của từng hộ kinh doanh tại những nơi công cộng, thuận lợi cho hộ kinh doanh biết và góp
ý (trụ sở UBND xã, phường, trụ sở đội thuế, tại Ban quản lý chợ) Các ý kiến phản hồi, góp ý về doanh thu, số thuế dự kiến của hộ kinh doanh phải được ghi nhận và tổng hợp làm tài liệu xem xét điều chỉnh khi duyệt bộ Trong thời gian niêm yết công khai số thuế dự kiến phải nộp của hộ kinh doanh và danh sách hộ kinh doanh không phải nộp thuế, đội thuế liên xã phường tổ chức họp xin ý kiến tham vấn của hội đồng tư vấn thuế xã phường về mức doanh thu,
số thuế dự kiến của từng hộ kinh doanh theo các nhóm ngành nghề trên địa bàn và các hộ kinh doanh không thuộc diện nộp thuế khoán
- Duyệt bộ thuế và thông báo thuế
Duyệt số bộ thuế ổn định trong năm: Là việc lãnh đạo Chi cục Thuế ký phê duyệt số thuế phải nộp của các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên sổ bộ thuế sau khi đã họp xin ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường và xem xét ý kiến phản hồi của các hộ kinh doanh Số liệu sau khi được lãnh đạo Chi cục Thuế duyệt được ghi vào sổ bộ thuế và làm căn cứ để thông báo số thuế phải nộp cho hộ kinh doanh Thời gian duyệt sổ bộ thuế được thực hiện trước ngày 15/1 hàng năm
Căn cứ vào sổ bộ thuế đã được, cơ quan thuế gửi thông báo nộp thuế ổn định năm Việc gửi thông báo thuế được thực hiện chậm nhất là ngày 20/01 hàng năm
c) Công tác lập dự toán và đôn đốc thu nộp (Quyết định
2248/QĐ-TCT, 2012)
Công tác lập dự toán thu là công việc khá khó khăn, phức tạp, đòi hỏi
sự phối hợp giữa các ban ngành địa phương, sự cân đối giữa chỉ tiêu giao và