TÓM TẮT Đề tài “Ảnh hưởng khẩu phần cho ăn đến sự thành thục sinh dục và sinh sản cá sặc rằn Trichogaster pectoralis, Regan 1910” được thực hiện từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 7 năm 201
Trang 1(Trichogaster pectoralis, Regan 1910)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN VĂN TRIỀU
2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học và thực tập tại trường tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học cũng như lúc làm đề tài này
Tôi xin phép gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Văn Triều đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ tôi định hướng nghiên cứu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt các thí nghiệm để tôi có thể thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn tất cả quý Thầy cô trong Khoa Thủy sản, Bộ môn Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt, Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức rất quý báu và bổ ích trong suốt thời gian học tập Đồng thời cảm ơn tập thể lớp nuôi trồng thủy sản LTK36 đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong lúc thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng là lòng chân thành biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè
đã luôn động viên, ủng hộ giúp đỡ tôi vượt qua rất nhiều khó khăn để có được thành công như ngày hôm nay
Chân thành biết ơn
Trịnh Văn Hiền
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng khẩu phần cho ăn đến sự thành thục sinh dục và sinh
sản cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis, Regan 1910)” được thực hiện từ tháng
12 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012 tại Trại cá thực nghiệm Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ Nghiên cứu gồm hai nội dung: ảnh hưởng khẩu phần cho ăn lên sự thành thục sinh dục
và sinh sản cá sặc rằn
Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sự thành thục sinh dục cá sặc rằn được bố trí trong giai bằng lưới, mật độ bố trí 14 con/giai Thức ăn sử dụng trong nuôi vỗ là thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng đạm 30% Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức với 3 khẩu phần ăn khác nhau 1%, 2% và 3% khối lượng thân/ngày Sau 3 tháng nuôi vỗ thì nghiệm thức được cho ăn với khẩu phần 2% khối lượng thân/ngày cho kết quả thành thục tốt nhất với hệ số thành thục 10.51% và sức sinh sản tuyệt đối 22.928 trứng/cá cái
Sau khi kiểm tra kết quả nuôi vỗ cá sặc rằn nếu thấy cá thành thục thì tiến hành bắt cá lên cho sinh sản Ba thí nghiệm thành thục từ 3 khẩu phần ăn khác nhau được cho sinh sản riêng từng nghiệm thức Kích thích tố sử dụng HCG + não thùy, liều tiêm cho cả 3 nghiệm thức là 3.000 UI + 1 não thùy/kg cá cái và liều tiêm cho cá đực bằng ½ liều tiêm cá cái Qua kết quả nghiên cứu 3 khẩu phần ăn khác nhau thì khẩu phần ăn 2% khối lượng thân/ngày cho kết quả sinh sản cao nhất với tỷ lệ cá đẻ 100%, sức sinh sản 249.900 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 92,33%, tỷ lệ nở 92,45%
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Lược khảo tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá sặc rằn 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Đặc điểm môi trường sống 5
2.1.5 Sinh trưởng và dinh dưỡng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản 6
2.2 Kích dục tố trong sản xuất giống 6
2.3 Các nghiên cứu về kích thích sinh sản cá sặc rằn 7
2.4 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 8
2.4.1 Cải tạo, bón phân ao nuôi vỗ 8
2.4.2 Chất lượng cá bố mẹ 8
3.4.3 Mùa vụ, mật độ thả nuôi 9
3.4.4 Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ 9
2.4.5 Khẩu phần ăn cho cá 10
Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 11
3.2 Vật liệu nghiên cứu 11
3.3 Phương pháp nghiên cứu 11
3.3.1 Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sự thành thục sinh dục 11 3.3.1.1 Chuẩn bị hệ thống thí nghiệm 11
3.3.1.2 Bố trí thí nghiệm 12
3.3.1.3 Chăm sóc và cho ăn 12
3.3.1.4 Thu mẫu và tính toán kết quả 12
3.3.2 Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sinh sản cá sặc rằn 14
3.3.2.1 Phân biệt đực cái 14
3.3.2.2 Bố trí cá đẻ 14
3.3.2.3 Thu mẫu và tính toán kết quả sinh sản 15
3.4 Xử lý số liệu 16
Chương 4: Kết quả và thảo luận 17
4.1 Kết quả nuôi vỗ thành thục sinh dục cá sặc rằn 17
4.1.1 Điều kiện môi trường ao nuôi cá bố mẹ 17
4.1.1.1 Nhiệt độ trong ao nuôi vỗ 17
Trang 54.1.1.2 Hàm lượng oxy hòa tan 18
4.1.1.3 pH trong ao nuôi vỗ 19
4.1.2 Tăng trưởng của cá sặc rằn khi nuôi vỗ 20
4.1.3 Hệ số thành thục 21
4.1.4 Sức sinh sản tuyệt đối 22
4.2 Kết quả kích thích sinh sản nhân tạo cá sặc rằn 23
4.2.1 Điều kiện môi trường sinh sản 23
4.2.2 Kết quả sinh sản 24
Chương 5: Kết luận và đề xuất 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề xuất 27
Tài liệu tham khảo 28
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 2.1 Khẩu phần ăn và hàm lượng đạm cho cá bố mẹ ở Đồng bằng sông
Cửu Long 10
Bảng 4.1 Biến động nhiệt độ trong ao nuôi vỗ 17
Bảng 4.2 Biến động oxy hòa tan trong ao nuôi vỗ 18
Bảng 4.3 Biến động pH trong ao nuôi vỗ 19
Bảng 4.4 Tăng khối lượng trung bình của cá sặc rằn qua các đợt thu mẫu 20
Bảng 4.5 Hệ số thành thục cá sặc rằn qua các tháng nuôi vỗ 21
Bảng 4.6 Sức sinh sản tuyệt đối (trứng/cá cái) cá sặc rằn qua các tháng nuôi vỗ 22
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu môi trường trong khi sinh sản cá sặc rằn 23
Bảng 4.8 kết quả kích thích sinh sản cá sặc rằn qua các khẩu phần ăn khác nhau 24
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá sặc rằn 3
Hình 3.1 Buồng trứng cá sặc rằn 14
Hình 3.2 Tiêm kích dục tố 15
Hình 3.3 Bố trí cho cá đẻ 15
Trang 8DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
NT: nghiệm thức
Ctv: cộng tác viên
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước nhà, cung cấp nguồn thực phẩm vô cùng quý giá cho con người, góp phần giải quyết việc làm cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân cả nước Trong
đó nổi bật nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích xấp xỉ 4 triệu
ha, chiếm 12% diện tích cả nước, địa hình bằng phẳng, nguồn lợi phong phú,
hệ thống sông ngòi chằng chịt Đồng bằng sông Cửu Long diện tích có khả năng nuôi thủy sản nước ngọt rất phong phú trên 500.000 ha Những tỉnh có điều kiện thuận lợi trong nuôi trồng thủy sản được phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Vĩnh Long… Từ thuận lợi trên, ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long những năm qua đã có bước phát triển nhảy vọt, sản lượng thủy sản chiếm khoảng 50% cả nước, diện tích nuôi trồng chiếm khoảng 60% cả nước, đã góp một phần lớn vào việc phát triển kinh tế cả nước, giúp cho ngành thủy sản Việt Nam giữ vững vị trí trên thị trường thế giới
Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis, Regan 1910) là một đối tượng thủy
sản nước ngọt truyền thống mang lại hiệu quả kinh tế cao của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đây là loài cá có kích thước nhỏ nhưng khả năng khôi phục quần đàn nhanh, sức sinh sản cao Đặc biệt, cá sặc rằn có khả năng chịu đựng tốt với môi trường bất lợi như: nhiệt độ cao, pH thấp, oxy hòa tan thấp Ngoài
ra, cá sặc rằn có chất lượng thịt ngon được xem là đặc sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long dạng tươi và làm khô Song song với những đóng góp đó thì tình hình thủy sản cũng còn nhiều vấn đề đáng lưu ý Dân số hàng năm càng đông nhu cầu thực phẩm tăng cao dẫn đến sản lượng khai thác thủy sản càng tăng Phương tiện đánh bắt mang tính hủy diệt cao cộng với sự ô nhiễm môi trường làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt Trước tình hình này, ngành thủy sản cần phải tìm ra những giải pháp hợp lý để bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản cũng như đáp ứng nhu cầu thực phẩm của con người Một trong những giải pháp đã đạt hiệu quả và đang được áp dụng rộng rãi là tạo ra được đàn cá bố mẹ có chất lượng tốt để cho sinh sản nhân tạo cung cấp nguồn con giống ổn định và chất lượng Để tạo ra được đàn cá bố mẹ có sự thành thục tốt nhất thì khâu nuôi vỗ cá bố mẹ là rất quan trọng Trong quá trình nuôi vỗ có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục và sinh sản như: nhiệt độ, pH, oxy, trong đó có một yếu tố rất quan trọng là khẩu phần ăn cho
cá khi nuôi vỗ
Trang 10Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Ảnh hưởng khẩu phần cho ăn đến sự
thành thục sinh dục và sinh sản cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis, Regan
1910)” được thực hiện
Mục tiêu đề tài
Xác định khẩu phần cho ăn thích hợp để nuôi vỗ cá sặc rằn thành thục sinh dục và sinh sản tốt nhất, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá sặc rằn
Nội dung đề tài
Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn lên sự thành thục sinh dục cá sặc rằn Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sự sinh sản cá sặc rằn
Trang 11CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học cá sặc rằn
Loài: Trichogaster pectoralis, Regan 1910
Tên Việt Nam: cá sặc rằn, cá sặc bổi
Tên tiếng Anh: Snakeskin gouramy
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá sặc rằn
(http://www.kythuatnuoitrong.com)
Trang 12Cá sặc rằn ở xương hàm trên và xương hàm dưới có nhiều răng nhỏ mịn Lược mang có dạng sợi rất dày, phân bố đều trên xương cung mang Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn Dạ dày có kích thước to, vách dày, trên
có một túi hình dạng giống như bầu diều ở gà và kế đến là hai manh tràng khá dài Ruột có đường kính rất nhỏ, dài, vách mỏng, cuộn nhiều vòng Vảy lược phủ khắp thân và đầu, có một số vảy nhỏ chồng lên gốc vi hậu môn, vi đuôi, vi bụng và vi ngực (Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980)
Vi lưng D.VI – VIII, 10 - 11
Vi hậu môn A X – XI, 35 – 40
Vi ngực P 3, 7 – 8
Vi bụng V 3 – 4
Vảy đường bên 49 – 55
Cá sặc rằn lúc còn sống phần lưng của thân và phần đầu có màu xanh đen hoặc xám đen và lợt dần xuống bụng Hai bên thân có nhiều vạch ngang chạy nghiêng màu đen nâu, chiều rộng hai sọc lớn hơn khoảng cách hai sọc Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi màu nâu điểm các chấm đen nhỏ, các vây ngực nâu nhạt Ở cá nhỏ có sọc ngang chưa rõ nhưng có một sọc chạy từ mõm đến gốc vi đuôi và ở gốc vi đuôi có một chấm đen tròn, chấm và sọc này lợt dần và mất hẳn theo sự lớn lên của cá (Trương Thủ Khoa và Nguyễn Minh Trung, 1980)
2.1.3 Phân bố
Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis, Regan 1910) phân bố tự nhiên tại
Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và được duy giống sang các nước Malaysia, Indonesia,… Chúng phân bố rộng rãi trong nhiều thủy vực như kênh rạch, ruộng lúa, ao, hồ tại Lào Ở Thái Lan cá cũng phân bố rộng trong các thủy vực nước ngọt như ao, hồ, ruộng lúa, sông, suối… nhưng tập trung nhiều tại vùng đồng bằng trung tâm và không phân bố tự nhiên ở các tỉnh phía Bắc và phía
Trang 13Tây Chúng cũng phân bố rộng rãi ở Campuchia và một số tỉnh của bán đảo Đông Dương (Nguyễn Thị Ngọc Thúy, 1998)
Tại Việt Nam, trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long cá sặc rằn phân
bố tập trung ở các vùng trũng ngập nước quanh năm thuộc một số tỉnh như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là vùng phân
bố nhiều nhất và có sản lượng khai thác cao Loài cá này cũng được nuôi phổ biến trong ruộng lúa và ao gia đình (Lê Như Xuân, 1997)
2.1.4 Đặc điểm môi trường sống
Theo Dương Nhựt Long, Bùi Minh Tâm, Lê Như Xuân (2000), cá sặc rằn có khả năng chịu đựng được môi trường nước bẩn, chất hữu cơ cao, pH thấp (pH = 4 - 4,5) Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trưởng và phát triển là từ
24 – 300C, nhưng cá có thể chịu đựng ở nhiệt độ từ 11 – 390
2.1.5 Sinh trưởng và dinh dưỡng
Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004), ở nhiệt độ nước từ 27 – 290C thì trứng
cá sặc rằn sẽ nở sau 20 – 23 giờ Cá sau khi nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2 – 3 ngày, sau khi hết noãn hoàng cá di chuyển xuống lớp nước dưới để tìm mồi, thức ăn đầu tiên của cá ở bên ngoài là phiêu sinh động vật và các chất hữu cơ lơ lửng
Ở cá sặc rằn trưởng thành thức ăn chiếm khối lượng lớn trong ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, thực vật, phiêu sinh động vật, mầm non thực vật cũng như các loại thực vật thủy sinh mềm trong nước Ngoài ra, cá còn sử dụng tốt các phụ phế phẩm nông nghiệp như: cám, tấm, các loại động vật có kích thước nhỏ, khi thiếu ăn chúng có thể ăn trứng của chính chúng Cá sặc rằn là loài cá
có tốc độ tăng trưởng chậm, sau 7 – 10 tháng nuôi trung bình đạt trọng lượng
50 – 100 g/con Cá cái có trọng lượng lớn hơn cá đực và đa số lớn nhanh hơn
cá đực (Lê Như Xuân, 1997)
Trang 142.1.6 Đặc điểm sinh học sinh sản
Mùa vụ sinh sản tự nhiên cá sặc rằn thường là mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi trong ao cá đẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là những tháng mùa mưa Sự phát triển tuyến sinh dục cá sặc rằn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo mùa rất rõ Vào mùa khô tháng 1-2, phần lớn buồng trứng cá ở giai đoạn II, sang tháng 3 giai đoạn III tăng dần và
đã thấy xuất hiện những cá thể ở thời kỳ đầu của giai đoạn IV (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Cá sặc rằn vào khoảng thời điểm giao mùa giữa mùa khô và mùa mưa
có sự chuyển biến rất nhanh của tuyến sinh dục Thời kỳ này đa số tuyến sinh dục ở giai đoạn IV, chỉ một số ít ở giai đoạn III Khi mùa mưa tới, nhất là những trận mưa rào đầu mùa, cá tìm tới những nơi nước cạn ven bờ, nhiều cây
cỏ thủy sinh để sinh sản, cá sinh sản trong suốt mùa mưa, nên trong đàn luôn xuất hiện những cá thể có mức độ thành thục khác nhau (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Trong tự nhiên, cá sặc rằn đẻ trong ruộng lúa, ao nuôi nơi có nhiều cây
cỏ thủy sinh Khi cá sinh sản, cá đực và cá cái bắt cặp tìm nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, ven bờ và kín đáo Con đực làm tổ bằng nước bọt dưới những tán hay lùm của cây cỏ Sau đó cá đực đưa cá cái đến gần tổ và cong mình ép cá cái đẻ trứng vào trong tổ Những trứng rơi vãi ra ngoài được cá đực gom lại và đưa vào tổ (Dương Nhựt Long, 2003) Trứng cá thuộc trứng nổi do có giọt dầu, đường kính trứng 0,87 mm và trương nước có đường kính 0,91 mm Sức sinh sản cá sặc rằn dao động từ 200.000 – 300.000 trứng/kg cá cái Sau khi đẻ xong, cá đực bảo vệ trứng chống những cá khác xâm nhập vào tổ, ngay cả cá cái (Nguyễn Tường Anh, 2005) Mỗi tổ trứng khoảng 7.000 – 8.000 trứng, nhưng chỉ nở khoảng 4.000 cá bột Kể từ khi trứng thụ tinh, trong điều kiện nhiệt độ nước 27 – 290
C cá nở sau 20 – 23 giờ Trong suốt thời gian kể từ khi trứng được đẻ ra tới khi nở và giai đoạn dinh dưỡng bằng noãn hoàng, cá đực thường xuyên bơi lội quanh tổ để bảo vệ và dùng vây quạt nước cung cấp oxy cho phôi cá (Hora and Pillay, 1962; trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Thúy, 1998)
2.2 Kích dục tố trong sản xuất giống
Trong sản xuất giống thủy sản nói chung, sản xuất giống cá nói riêng, kích dục tố được sử dụng thường xuyên và cho hiệu quả cao Ngoài việc chủ động về thời gian, thời điểm bố trí sinh sản, việc dùng kích dục tố còn kích thích cá đẻ đồng loạt, cho tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng thụ tinh, tỷ lệ nở, sức sinh sản tuyệt đối rất cao và hiệu quả cao hơn nhiều so với việc không dùng kích dục
tố Tùy thuộc vào những loài cá khác nhau mà sử dụng loại kích dục tố tương
Trang 15ứng Có loài sử dụng HCG cho hiệu quả cao hơn so với việc dùng não thùy hay LHRHa, nhưng có loài chỉ chịu tác động khi dùng LHRHa
HCG (Human Chorionic Gonadotropin) là hormone sinh dục có nguồn gốc từ động vật, được chiết suất từ nước tiểu của người phụ nữ có thai ở tháng thứ 3 HCG có hàm lượng cao nhất khi mang thai được 50 ngày, cơ thể bài tiết 60.000 UI/24 giờ HCG là một glycoprotein tan trong nước, tác dụng của HCG
là kích thích rụng trứng Nó được sử dụng hiệu quả cho cá, động vật và cả con người (Đàm Bá Long, 2008) Thuốc được đóng gói trong lọ thủy tinh chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (UI viết tắt của chữ đơn vị quốc tế Unit International) Khi sử dụng được pha với nước muối sinh lý hoặc nước cất
LHRHa (Luteotropin Releasing Hormone – Analog) là hormone tổng hợp được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật Thuốc sản xuất nhiều ở Trung Quốc được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1.000 µg LHRHa thường được sử dụng kèm với Domperidone (viên DOM tên thương mại là Motilium) để kháng Dopamine LHRHa có tác dụng chuyển hóa buồng trứng đồng thời gián tiếp gây rụng trứng Theo Nguyễn Tường Anh (1999), khi sử dụng LHRHa kích thích sinh sản cá thì thời gian tái thành thục của cá dài hơn so với sử dụng HCG hoặc não thùy
Não thùy thể (tuyến yên) được lấy từ cá chép, mè trắng, trôi, đã thành thục còn tươi sống Cá chết sau vài giờ thì hoạt tính kích dục chỉ còn 50% (Maccel, 1980 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) Trước khi sử dụng, não thùy phải được để khô aceton trong không khí rồi đem nghiền bằng cối chày
sứ Loại kích thích tố này có thể sử dụng đơn hoặc kết hợp với nhiều loại hormone để tăng hiệu ứng
2.3 Các nghiên cứu về kích thích sinh sản cá sặc rằn
Theo Nguyễn Tường Anh (2005), đã sử dụng LHRH-a và DOM hoặc HCG để cho sinh sản, liều lượng cá cái là 80 – 100 µg LHRH-a + 3 – 5 mg DOM/kg hoặc 2.500 – 3.000 UI HCG/kg cá cái, liều tiêm cho cá đực bằng 1/2 liều tiêm cho cá cái Sau khi tiêm 18 – 20 giờ cá bắt đầu đẻ và quá trình đẻ có thể kéo dài đến 2 – 3 giờ Kết quả cho tỷ lệ cá đẻ là 75%, tỷ lệ thụ tinh 92% và
tỷ lệ nở 95% Trong khi đó nghiên cứu của Lê Sơn Trang và Dương Nhựt Long, (2009) cho sinh sản cá sặc rằn bằng kết hợp hai loại hormone HCG và não thùy thể cá chép với hàm lượng 1.000 – 1.500 UI + 0,54 mg/kg cá cái, tỷ
lệ cho sinh sản 100%, tỷ lệ thụ tinh 95%, tỷ lệ nở 94%
Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Lắm (2000), sử dụng HCG + não thùy với liều lượng khác nhau kích thích cá sặc rằn sinh sản thì liều tiêm
Trang 161.500 UI HCG + 0,54 mg não thùy cho tỷ lệ cá đẻ 75%, sức sinh sản 151.346 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 86%, tỷ lệ nở 91,5%; liều kích thích tố 2.000 UI HCG + 0,54 mg não thùy cho tỷ lệ cá đẻ 100%, sức sinh sản 161.369 trứng/kg
cá cái, tỷ lệ thụ tinh 92,3%, tỷ lệ nở 89,4%; liều tiêm 2.500 UI HCG + 0,54
mg não thùy cho tỷ lệ cá đẻ 91,7%, sức sinh sản 157.241 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh 89,4%, tỷ lệ nở 94,3%
Theo Lê như Xuân (1997), tại một số trại sản suất giống vùng Đồng bằng sông Cửu Long (trại cá tỉnh Bến Tre, trại cá Ô Môn, Cần Thơ, Cà Mau ) cho biết HCG có tác dụng tốt trong kích thích sinh sản cá sặc rằn với liều 2.500-5.000 UI/kg cá cái Liều tiêm tùy theo chất lượng hormone, thời vụ sinh sản và tình trạng sức khỏe của cá Ngoài ra, có thể sử dụng LHRHa với liều 25-100 µg kết hợp cùng 2,5-10 mg DOM/kg cá cái, cho tỷ lệ cá đẻ 20-40%
2.4 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ
2.4.1 Cải tạo, bón phân ao nuôi vỗ
Ao là môi trường sống của cá vì vậy muốn cá thành thục và sinh sản tốt thì trước khi thả cá ao cần được cải tạo Kỹ thuật cải tạo ao như sau: bơm cạn nước ao, vét bùn, sửa lại bờ, cống cấp tiêu nước, lấp hang hốc Nếu ao đào ở nơi có pH thấp có thể không cần vét bùn Sau đó tiến hành bón vôi để cải tạo
pH, diệt mầm bệnh và cá tạp Lượng vôi bón tùy theo phẩm chất của vôi, nếu
là vôi bột dùng 15 – 20 kg/100m2
(Nguyễn Văn Kiểm, 2000)
Sau khi cải tạo ao xong, tiến hành bón phân để chuẩn bị thức ăn tự nhiên cho cá, nhất là những loài cá ăn phiêu sinh vật Nếu dùng phân chuồng thì tùy loại ao và loại phân, bón 1-3 tấn/ha, phân rải đều khắp ao Lúc đầu cho nước ngập 20-30 cm, sau 3-4 ngày cho nước vào ao đến mức cần thiết Ở nước
ta, chu kỳ phát triển của động vật thủy sinh khoảng 5-7 ngày, nên đó cũng là chu kỳ bón phân cho ao (Nguyễn Tường Anh, 2005)
2.4.2 Chất lƣợng cá bố mẹ
Cá bố mẹ cần có sức khỏe tốt, không bệnh tật ngoại hình cân đối, cơ thể nguyên vẹn có đầy đủ các tiêu chuẩn đặc trưng hình thái của loài Cá có tuổi, kích thước và khối lượng tương đối đồng đều Đồng đều theo giới tính và tương thích khối lượng giữa cá đực với cá cái Mỗi loài cá chỉ có khả năng sinh sản tốt ở những lứa tuổi nhất định Từ giá trị thấp đến giá trị cao mà cá sinh sản tốt được là vùng tuổi thích hợp cho cá bố mẹ Vùng đó thay đổi theo loài, những loài có kích thước lớn tuổi thành thục cao thì có vùng tuổi thích hợp lớn hơn những loài cá có kích thước nhỏ tuổi thành thục thấp Cá sặc rằn
có vùng tuổi thích hợp cho sinh sản là từ 8 – 30 tháng tuổi và có khối lượng
Trang 17100 – 200 g/con (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009) Trước mùa
vụ sinh sản cá sặc rằn 2-3 tháng tiến hành chọn lựa cá để nuôi vỗ, chọn cá đạt các tiêu chuẩn sau: cá nuôi được 10-12 tháng tuổi, kích cở 60-100 g/con, cơ thể hoàn chỉnh, không dị hình (Dương Nhựt Long, Bùi Minh Tâm, Lê Như Xuân, 2000)
rô phi có thể đẻ hầu như quanh năm nên cá giống được sản xuất tập trung vào đầu mùa mưa và chấm dứt khi có lũ lớn (Nguyễn Tường Anh, 2005)
Theo Nguyễn Tường Anh (2005), mật độ thả vào ao nuôi vỗ cá bố mẹ được tính bằng thể trọng (số kg) trên một đơn vị diện tích Mật độ thả phụ thuộc vào nhu cầu oxy và ngưỡng oxy tối thiểu mà cá còn chịu đựng được Các đối tượng cá được nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long, tương đối đa dạng
về nguồn xuất xứ Sự đa dạng ấy đã được thể hiện một phần bằng khả năng thích nghi với điều kiện sống Trong số đó có nhiều loài có cơ quan hô hấp phụ nên chịu đựng tốt với điều kiện oxy hòa tan thấp Những loài này có thể thả nuôi với mật độ cao hơn những loài không có cơ quan hô hấp phụ mà vẫn thành thục tốt, sản phẩm sinh dục vẫn đạt chất lượng cao Theo Dương Nhựt Long, Bùi Minh Tâm, Lê Như Xuân (2000), thời gian nuôi vỗ cá sặc rằn bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 3 và mật độ thả nuôi 0,5-1 kg/m2
3.4.4 Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ
Nhiều loại thức ăn đã được sử dụng nuôi cá bố mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long Chúng có thể là thức ăn tự chế từ nguồn nguyên liệu sẵn có của gia đình, cũng có thể là thức ăn được sản xuất theo hình thức công nghiệp Tất cả đều phải là thức ăn hỗn hợp có giá trị dinh dưỡng cao trong nuôi cá bố mẹ Điều quan trọng là sử dụng thức ăn hợp lý theo loài, theo giai đoạn phát triển tuyến sinh dục Ngoài ra, tùy theo đặc tính dinh dưỡng của từng đối tượng nuôi mà còn các loại thức ăn khác như: thức ăn xanh, thức ăn tươi sống, phân chuồng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trong bối cảnh hiện nay, do sự phát triển của công nghệ sản xuất thức
ăn, người nuôi cá nên sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi cá bố mẹ Các loại
Trang 18thức ăn công nghiệp rất đa dạng về kích thước viên, hàm lượng đạm nên người nuôi cá có điều kiện lựa chọn loại thức ăn phù hợp cho cá nuôi của mình Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi như hiện nay rất hạn chế tan rã trong nước, dễ dàng xác định được lượng thức ăn còn thừa hoặc thiếu mà điều chỉnh khẩu phần ăn cho cá (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Theo Phạm Văn Khánh (2005), thức ăn sử dụng trong nuôi vỗ cá sặc rằn là thức ăn công nghiệp dạng viên nổi hoặc thức ăn tự chế biến: cám, bột
cá, ruốt… Ngoài ra, cho cá ăn thêm bèo cám, phế thải của nông nghiệp Lượng thức ăn bằng 3 – 5% khối lượng cá nuôi/ngày Thức ăn đảm bảo hàm lượng đạm từ 18 – 25% Theo Dương Nhựt Long, Bùi Minh Tâm, Lê Như Xuân (2000), khi nuôi vỗ cá sặc rằn nên áp dụng phương pháp bón phân hữu cơ kết hợp cho ăn thức ăn tinh (thức ăn tinh gồm: cám mịn 80 – 90%, bột cá 10 – 20%) Thức ăn tinh cho ăn bằng 2% khối lượng thân/ngày
2.4.5 Khẩu phần ăn cho cá
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), khẩu phần ăn cho cá được người nuôi trồng thủy sản thay đổi theo chất lượng thức ăn, giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, điều kiện cụ thể của môi trường và mức độ tích lũy dinh dưỡng của cá Trên cơ sở đó mà khẩu phần ăn vừa đảm bảo đủ chức năng cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống, vừa đảm bảo việc tích lũy dinh dưỡng ở giai đoạn đầu, vừa đảm bảo việc chuyển hóa dinh dưỡng
đã được tích lũy cho tuyến sinh dục; gia tăng các chỉ số chất lượng thành thục
ở giai đoạn sau Khẩu phần ăn ở giai đoạn đầu là nền tảng, là tiền đề quan trọng cho giai đoạn sau; giai đoạn sau thể hiện hiệu quả thực tế nuôi cá bố mẹ Bảng 2.1 Khẩu phần ăn và hàm lượng đạm cho cá bố mẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long
đạm (%)
Giai đoạn nuôi tích Giai đoạn nuôi chuyển
lũy dinh dưỡng hóa dinh dưỡng
Tháng 11 5 25
Tháng 12 4 25
Tháng 1 3 25
Tháng 2 – tháng 6 2 30
Trang 19CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 12/2011 đến tháng 7/2012, tại Trại
cá thực nghiệm, Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Giai nuôi vỗ có kích thước 1x1x1,5 m
Cân đồng hồ và cân điện tử
Kim tiêm và ống tiêm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sự thành thục sinh dục
Trang 203.3.1.2 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 3 lần lập lại Số lượng cá trong mỗi giai là 14 con (1 kg), tỷ lệ đực : cái là 1 : 1 Thời gian nuôi vỗ cá sặc rằn từ tháng 2 đến tháng 4 năm
3.3.1.3 Chăm sóc và cho ăn
Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn công nghiệp dạng viên nổi hiệu Tongwei, kích cỡ viên thức ăn 2 mm Cả 3 nghiệm thức cho ăn cùng một loại thức ăn có hàm lượng đạm 30% Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào lúc 8 - 9 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều, thức ăn được rải trực tiếp vào khung nổi đặt trong giai, để tránh thức ăn bị thất thoát ra khỏi giai
Trước khi cho cá ăn ta quan sát kiểm tra giai, trong quá trình cho cá ăn quan sát biểu hiện của cá nếu có dấu hiệu bất thường như bơi lờ đờ, bỏ ăn thì
có biện pháp xử lý kịp thời Mực nước trong ao đặt giai phải được đảm bảo, thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp và thoát nước không để nước bị rò rỉ làm ảnh hưởng đến khoảng không gian sống của cá trong giai
3.3.1.4 Thu mẫu và tính toán kết quả
Các chỉ tiêu môi trường
Các yếu tố môi trường nước là nhiệt độ, oxy hòa tan và pH được xác định tại ao nuôi cá bố mẹ, định kỳ 7 ngày/lần (6 giờ và 14 giờ)
Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế
pH được đo bằng bộ test pH
Oxy được đo bằng bộ test oxy
Các chỉ tiêu về tăng trưởng
Định kỳ 30 ngày kiểm tra sự thành thục cá một lần, kiểm tra bằng cách cân toàn bộ số cá trong giai để lấy các số liệu nuôi vỗ gồm: tốc độ tăng trưởng
Trang 21về khối lượng, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng, tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng
Tốc độ tăng trưởng về khối lượng (WG)
Wc: Khối lượng sau thí nghiệm (g)
Wđ: Khối lượng ban đầu (g)
t: Thời gian giữa 2 đợt thu mẫu (ngày)
Các chỉ tiêu về thành thục sinh dục cá
Bắt ngẫu nhiên mỗi nghiệm thức 3 con đực và 3 con cái mổ để thu các
số liệu về thành thục sinh dục của cá Các chỉ tiêu theo dõi gồm: hệ số thành thục, sức sinh sản tuyệt đối
n: Số lượng trứng trong mẫu đại diện
G: Khối lượng buồng trứng
g: Khối lượng mẫu đại diện
Trang 223.3.2 Ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn đến sinh sản cá sặc rằn
3.3.2.1 Phân biệt đực cái
Cá đực: Màu sắc sặc sỡ, bụng thon, phần tia mềm ở vi lưng kéo dài vượt khỏi gốc vi đuôi
Cá cái: Màu sắc nhạt hơn cá đực, bụng to mềm đều, lỗ sinh dục lồi màu hồng, tia vi lưng không dài tới gốc vi đuôi
3.3.2.2 Bố trí cá đẻ
Khi kiểm tra cá thành thục sinh dục nếu cá thành thục tốt thì tiến hành cho sinh sản nhân tạo Sinh sản riêng từng nghiệm thức, mỗi nghiệm thức cho sinh sản 6 cặp
Chuẩn bị bể đẻ
Dụng cụ cho cá đẻ là xô có thể tích 63 lít, mỗi xô 2 cặp Xô được rửa sạch sau đó cấp nước với chiều sâu 30 – 40 cm, nguồn nước được bơm từ ao lắng lên bể chứa rồi được sử dụng cho hệ thống xô
Kích thích cá đẻ
Từ những cá nuôi vỗ, sau khi kiểm tra thành thục tốt thì bắt cá lên tiến hành cho sinh sản Kích dục tố sử dụng cho 3 nghiệm thức là HCG + Não thùy với cùng một liều lượng là 3.000 UI HCG + 1 não thùy/1 kg cá cái và cá đực liều dùng bằng 1/2 liều tiêm cá cái
Hình 3.1 Buồng trứng cá sặc rằn