1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

18 619 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 34,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động thương mại đặc biệt, diễn ra trên một thị trường đặc biệt – thị trường mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu các loại chứng khoán và tác động trực tiế

Trang 1

MỤC LỤC

I Khái quát về rủi ro trong kinh doanh chứng khoán 1

1 Khái niệm kinh doanh chứng khoán và rủi ro trong kinh doanh

chứng khoán

1

b Khái niệm rủi ro trong kinh doanh chứng khoán 1

c Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán 2

3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh chứng khoán 5

II Pháp luật hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng

khoán

8

1 Khái niệm pháp luật hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng

khoán

8

2 Các quy định của pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong

kinh doanh chứng khoán

8

III Một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt đông kinh doanh

chứng khoán

14

A MỞ ĐẦU:

Kinh doanh chứng khoán là hoạt động trọng tâm, quyết định sự tồn tại, phát triển của bất kì thị trường chứng khoán nào trên thế giới Tuy nhiên cũng như nhiều hoạt động đầu tư kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán cũng ẩn chứa nhiều rủi

ro Vì vậy việc ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có một ý

Trang 2

nghĩa quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi các nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường, từ đó thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ:

I Khái quát về rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

1 Khái niệm kinh doanh chứng khoán và rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

a Khái niệm kinh doanh chứng khoán:

Theo quy định của Luật chứng khoán 2006: Kinh doanh chứng khoán được hiểu là việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động thương mại đặc biệt, diễn ra trên một thị trường đặc biệt – thị trường mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu các loại chứng khoán và tác động trực tiếp đến lợi ích của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp,

từ đó có những tác động đến nền kinh tế Đây là hoạt động trọng tâm và cơ bản nhất của bất kì thị trường chứng khoán nào trên thế giới Có nguồn gốc từ đối tượng kinh doanh của mình, hoạt động kinh doanh chứng khoán luôn có tính nhạy cảm cao và gắn liền với yếu tố rủi ro

b Khái niệm rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

Theo cách hiểu thông thường, rủi ro là khả năng xảy ra những tổn thất, mất mát ngoài dự kiến Khi xảy ra rủi ro, người chịu tác động có thể bị thiệt hại về mặt tài chính, không thu được lợi nhuận như dự kiến hoặc không đạt được mục tiêu, kế hoạch

đề ra Rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán là những bất trắc ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình công ty thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, gây hậu quả xấu làm thiệt hại lợi nhuận của nhà đầu tư, công ty, các chủ thể khác có liên quan, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán

c Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

Trang 3

Thứ nhất, khả năng phát sinh rủi ro cao Điều này xuất phát từ chính đối tượng

kinh doanh của công ty là chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán Cũng như bất kì một hoạt động đầu tư vốn nào khác, kinh doanh chứng khoán luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro bởi quãng thời gian đầu tư luôn chứa đựng rất nhiều yếu tố có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành, làm giá chứng khoán sụt giảm, khiến cho nhà đầu tư không thu được lợi nhuận như dự kiến Hơn nữa chứng khoán là loại tài sản đặc biệt bởi giá trị thực của chứng khoán không đi liền với bản thân nó Chính vì vậy, với bất cứ sự thay đổi nào của thị trường như sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước; việc tăng, hạ lãi suất của ngân hàng trung ương, sự thay đổi nhân sự cấp cao trong tổ chức có chứng khoán phát hành… đều có thể tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư, khiến cho chỉ số chứng khoán sụt giảm, hoạt động kinh doanh chứng khoán gặp phải nhiều trở ngại và có khả năng phát sinh rủi ro ngoài dự kiến bất cứ lúc nào

Thứ hai, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có phạm vi

tác động lớn, ảnh hưởng tới nhiều chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Tùy thuộc từng loại rủi ro cụ thể mà tác động của chúng tạo ra là khác nhau Tuy nhiên bản chất của rủi ro thì đều là những kết quả không mong muốn, làm thiệt hại, mất mát lợi ích của các chủ thể, khiến cho họ không đạt được mục đích đã đề ra khi giao kết hợp đồng, thực hiện hành vi kinh doanh Khi phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, chủ thể chịu tác động trước tiên là nhà đầu tư Những thiệt hại mà họ có thể phải gánh chịu đó là: tổn thất về mặt tài chính (không thu được khoản lãi mong đợi, có thể không thu hồi được vốn đầu tư) hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh (không huy động được lượng vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh) Rủi ro cũng khiến cho công ty chứng khoán chịu tổn thất về tài chính: đã bỏ ra chi phí thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nhưng lại không thu được khoản lợi nhuận bù đắp, hoặc không đủ hay không có lãi ; làm ảnh hưởng đến

uy tín kinh doanh, mất niềm tin của khách hàng, nặng nề nhất là có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty Rủi ro cũng có thể tác động đến các chủ thể khác là đối tác

Trang 4

hoặc có liên quan đến giao dịch của công ty chứng khoán Nếu rủi ro có tính chất hệ thống hoặc gây ra mức thiệt hại lớn thì có thể tác động đến hoạt động của cả thị trường chứng khoán theo hướng tiêu cực, bởi hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán đóng một vai trò quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán; rộng hơn nữa là ảnh hưởng đến hoạt động của cả thị trường tài chính,

và hoạt động của nền kinh tế nói chung

Thứ ba, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có thể dự báo trước

hoặc không thể dự báo trước Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố, khách quan và chủ quan Có những yếu tố có thể dự báo trước là

sẽ đem lại khả năng rủi ro như: khả năng tài chính hiện tại của công ty chứng khoán không đủ đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, hoặc tình hình hoạt động của doanh nghiệp phát hành tăng trưởng bấp bênh, sự bất ổn của tình hình an ninh chính trị…Tuy nhiên, cũng có những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Do vậy, khi rủi ro bất ngờ xảy đến, công ty chứng khoán khó ứng phó kịp thời Chẳng hạn, sự khủng hoảng của thị trường chứng khoán Mỹ tác động đến thị trường tài chính thế giới, ảnh hưởng của thiên tai làm giảm giá chứng khoán, việc nhà nước ban hành chính sách mới không phù hợp với tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán,…Do vậy, công ty chứng khoán trong quá trình quản lý rủi ro cần đặc biệt lưu

ý và cân nhắc kĩ các yếu tố có khả năng dẫn đến rủi ro cho hoạt động kinh doanh chứng khoán nhằm đề ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro thích hợp

2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

Có khá nhiều tiêu chí để phân biệt các loại rủi ro có khả năng phát sinh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán:

a Căn cứ vào mức độ tác động của rủi ro, có những rủi ro mang tính chất hệ thống và những rủi ro không mang tính hệ thống:

- Rủi ro hệ thống là những rủi ro liên quan đến cả hệ thống thị trường chứng khoán, tác động đến tất cả các chủ thể tham gia vào thị trường, trong đó có công ty chứng khoán Chẳng hạn như: rủi ro thị trường (sự rút vốn đồng loạt của các nhà đầu

Trang 5

tư), rủi ro lãi suất (lãi suất thị trường dao động thất thường khiến giá chứng khoán biến động), rủi ro sức mua (tác động của lạm phát tới các khoản

đầu tư làm giảm lợi tức thực tế), Với những loại rủi ro này, công ty chứng khoán khó có thể tránh được, mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp làm giảm mức độ tác động của rủi ro

- Rủi ro không có tính chất hệ thống: là những rủi ro mà khi xảy ra, nó chỉ tác động đến một hoặc một nhóm chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Ví dụ: rủi

ro về giá là loại rủi ro thường gặp khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành (là rủi

ro mà tổ chức bảo lãnh phát hành gặp phải khi giá chứng khoán mà họ bảo lãnh có chiều hướng đi xuống ngay sau khi phát hành), rủi ro kinh doanh (phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán),…Tùy thuộc từng loại rủi ro mà công ty chứng khoán có thể phòng tránh hoặc làm giảm mức độ tác động của rủi ro

b Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến rủi ro: có những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân khách quan, có những rủi ro xảy ra do nguyên nhân chủ quan:

- Rủi ro từ nguyên nhân khách quan: là những rủi ro xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty chứng khoán Rủi ro từ nguyên nhân khách quan là yếu tố khó có thể hạn chế được Chẳng hạn như động đất, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chính trị,… khi xảy ra thường ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh doanh chứng khoán

- Rủi ro từ nguyên nhân chủ quan: là những rủi ro phát sinh do lỗi của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Đó có thể là rủi ro về pháp lý xuất hiện do việc soạn thảo hợp đồng không phù hợp với các văn bản pháp luật hoặc tiến hành các hành vi kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật, rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán do các chủ thể không thực hiện nghĩa vụ của mình…

c Căn cứ vào tính chất của rủi ro, có thể phân loại rủi ro thành: rủi ro pháp lý; rủi ro đối tác kinh doanh, rủi ro thị trường, rủi ro tự hoạt động:

- Rủi ro pháp lý: là những rủi ro xảy ra bởi các tranh chấp, kiện tụng giữa công ty chứng khoán với các đối tác trong quá trình giao dịch do sử dụng các tài

Trang 6

liệu, văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật và Sở giao dịch, do soạn thảo hợp đồng không chặt chẽ, rõ ràng hoặc tiến hành các giao dịch vi phạm pháp luật,…

- Rủi ro đối tác kinh doanh: là rủi ro phát sinh giữa công ty chứng khoán với khách hàng, có thể do khách hàng không đủ tiền hoặc chứng khoán khi đến hạn thanh toán, hoặc giữa công ty chứng khoán với các đối tác khác do việc lưu ký và thanh toán giao dịch không hoàn thiện,…

- Rủi ro thị trường: là loại rủi ro phát sinh khi có biến động về giá và tính thanh khoản của chứng khoán trong giao dịch khiến cho khách hàng không thể bán hoặc mua một số lượng lớn chứng khoán trong thời gian nhất định; hoặc công ty chứng khoán không thể thực hiện đợt bảo lãnh phát hành thành công nếu giá chứng khoán giảm sút ngay sau khi phát hành…

- Rủi ro tự hoạt động: là những rủi ro xảy ra trong quá trình công ty chứng khoán thực hiện giao dịch, có thể do lỗi của nhân viên hành nghề, hoặc sự hạn chế về khả năng tài chính của công ty, hoặc do trục trặc của hệ thống máy tính,

hệ thống thanh toán ở Sở giao dịch,…

3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

3.1 Các nguyên nhân mang tính khách quan:

* Môi trường kinh tế không ổn định:

Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán luôn diễn ra trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, chịu sự chi phối từ nhiều yếu tố Trong điều kiện nền kinh tế bất

ổn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, lạm phát khó kiểm soát, lãi suất ngân hàng tăng, mối nguy hại từ khủng hoảng tài chính toàn cầu , hoạt động kinh doanh chứng khoán khó

có điều kiện để phát triển ổn định Đặc biệt với những thay đổi nằm ngoài tầm kiểm soát ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường, rủi ro là khó tránh và công ty chứng khoán khó có sự chuẩn bị phòng ngừa kịp thời Trong số các tác động từ môi trường kinh tế, ảnh hưởng từ thị trường chứng khoán là nguyên nhân có tác động trực tiếp và rõ ràng hơn cả đến hoạt động kinh doanh chứng khoán Nếu thị trường phát triển

Trang 7

bấp bênh, thiếu tính công khai, minh bạch, thiếu sự quản lý và giám sát, hệ thống

cơ sở vật chất phục vụ giao dịch lỗi thời,… thì khả năng xảy ra rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán là rất cao

* Môi trường chính trị, hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước bất cập, chưa hoàn thiện:

Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố chính trị, pháp luật Các yếu tố chính trị như thể chế chính trị, vấn đề an ninh, trật tự an toàn xã hội, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của Chính phủ với các quốc gia… nếu không được đảm bảo an toàn và thuận lợi sẽ khiến cho thị trường chứng khoán không thể phát triển một cách ổn định và bền vững, hoạt động kinh doanh chứng khoán chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực

Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là định hướng cho sự phát triển của thị trường Chỉ cần một thay đổi trong hệ thống các chính sách tài chính, tiền tệ, thu nhập… của Nhà nước, cũng đều dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỷ giá hối đoái, điều kiện mở rộng hay thu hẹp tín dụng Đây là những yếu tố gây nên những bấp bênh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động trên thị trường chứng khoán nếu không phù hợp, xa rời thực tế, chồng chéo, mâu thuẫn thì hoạt động kinh doanh chứng khoán khó mà phát triển một cách thuận lợi, rủi ro luôn có nguy cơ phát sinh bất kì lúc nào

Ngoài ra, rủi ro cũng có thể phát sinh do tác động từ các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh của các công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường; do sự quản

lý và giám sát thị trường lỏng lẻo tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực phát sinh

3.2 Các nguyên nhân mang tính chủ quan:

- Nguyên nhân từ phía công ty chứng khoán: Khả năng tài chính, trình độ của

đội ngũ nhân viêc còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu

+ Về khả năng tài chính: Để tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán, công

ty chứng khoán phải có đủ lượng vốn cần thiết Nếu công ty thực hiện kinh doanh trong tình trạng tiềm lực tài chính hạn chế, lượng vốn sẵn có và khả năng khai thác sử

Trang 8

dụng các nguồn lực tài chính trong và ngoài công ty không đủ mạnh, không đáp ứng nhu cầu các giao dịch mà công ty thực hiện thì công ty luôn gặp phải khó khăn, đối mặt với mọi rủi ro có nguy cơ xảy ra mà khó có khả năng ngăn ngừa hay hạn chế những tác động xấu

+ Về trình độ của đội ngũ nhân viên: Chất lượng đội ngũ nhân viên hành nghề chưa đáp ứng yêu cầu: Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù có sự chi phối rất lớn của nhân tố con người Trình độ kiến thức, kĩ năng hành nghề, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công ty chứng khoán là yếu tố quyết định trực tiếp đến kết quả các hoạt động kinh doanh của công ty Nếu năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm…của người hành nghề còn hạn chế thì việc đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ một cách hiệu quả, không sai sót, đem lại kết quả tốt nhất có thể cho nhà đầu tư là rất khó Và trên thực tế, đây thường là nguyên nhân làm xảy ra các rủi ro, gây thiệt hại đến lợi nhuận của nhà đầu tư

Ngoài ra, năng lực quản trị kinh doanh, việc tổ chức hoạt động, ngăn ngừa xung đột lợi ích giữa các bộ phận kinh doanh trong công ty chứng khoán nếu không chặt chẽ, hiệu quả thì cũng có khả năng dẫn đến rủi ro phát sinh trong quá

trình hoạt động

- Nguyên nhân từ phía khách hàng: Rủi ro cũng có thể xảy ra do lỗi của khách

hàng Đó có thể là trường hợp khách hàng bị mất khả năng thanh toán (không đủ tiền hoặc chứng khoán khi đến hạn thanh toán), hoặc không đủ trình độ, thông tin để đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có chứng khoán niêm yết, từ đó đưa ra quyết định đầu tư chưa thực sự chính xác,…

II Pháp luật hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán

1 Khái niệm pháp luật hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

Công ty chứng khoán đóng một vai trò rất quan trọng trên thị trường chứng khoán Để công ty chứng khoán có thể phát huy hết vai trò của mình, ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và

sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán, các quốc gia đều ban hành bộ

Trang 9

phận pháp luật riêng quy định về vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, nhằm đặt công ty chứng khoán trong một hành lang pháp lý chặt chẽ với những đòi hỏi cao khác hẳn các doanh nghiệp thông thường Ở Việt Nam, vấn đề

tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán trước đây được quy định trong Nghị định

số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán; sau

đó được quy định tại Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán

và thị trường chứng khoán và Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17/06/2004 của Bộ Tài chính Hiện nay, vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán được điều chỉnh bởi các quy định trong Luật chứng khoán năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 62/2010/QH12), và các văn bản hướng dẫn thi hành

 Pháp luật hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của công

ty chứng khoán là tập hợp các quy phạm điều chỉnh vấn đề thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán; những nghĩa vụ cụ thể của công ty trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán; các hạn chế, nghiêm cấm mà công ty phải tuân thủ; cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước, nhằm phòng ngừa những hiện tượng tiêu cực xảy ra trong quá trình kinh doanh của công

ty chứng khoán, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và sự phát triển an toàn của thị trường chứng khoán.

2 Các quy định của pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán:

Pháp luật hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán bao gồm những bộ phận sau:

a Nhóm quy phạm pháp luật về điều kiện thành lập và hoạt động của công

ty chứng khoán

Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Luật chứng khoán của các quốc gia đều có quy định về điều kiện hay tiêu chuẩn để các tổ chức tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này nhằm đảm bảo các chủ thể kinh doanh

Trang 10

chứng khoán có đủ khả năng hoạt động, ngăn ngừa rủi ro ngay từ khi các chủ thể này tham gia thị trường Theo pháp luật Việt Nam, để hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, tổ chức, cá nhân phải thành lập công ty chứng khoán đáp ứng các điều kiện sau:

* Điều kiện về hình thức pháp lý của công ty: Công ty chứng khoán phải được

tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (điều 59 Luật Chứng khoán 2006)

* Điều kiện về vốn: Nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu hoạt động cũng như khả

năng gánh chịu rủi ro, pháp luật quy định công ty chứng khoán phải có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ (Điều 62 Luật Chứng khoán) Số vốn pháp định được quy định cụ thể cho từng nghiệp vụ kinh doanh căn cứ vào mức độ rủi ro tương ứng với từng loại hoạt động Điều 18 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định cụ thể như sau: môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng; tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng; bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng; tư vấn đầu

tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Như vậy, nếu công ty chứng khoán đăng ký thực hiện tất

cả các loại nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được phép theo quy định thì phải có số vốn tối thiểu: 300 tỷ đồng

* Điều kiện về cơ sở vật chất: Điều 62 Luật Chứng khoán quy định: công ty

chứng khoán phải có trụ sở, trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán Riêng đối với hai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì do nội dung hoạt động nên không cần đáp ứng điều kiện về trang thiết bị

* Điều kiện về nguồn nhân lực: Kết quả của hoạt động kinh doanh chứng

khoán phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng, trình độ, đạo đức nghề nghiệp của người điều hành và nhân viên thực hiện nghiệp vụ Chính vì thế, để kinh doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải có đội ngũ nhân sự đáp ứng yêu cầu pháp luật: Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên hành nghề phải có Chứng chỉ hành

Ngày đăng: 26/11/2015, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w