Tăngtrưởng của khu vực nông nghiệp đóng góp trực tiếp vào phúc lợi cho ngườidân nông thôn bằng cách tăng thu nhập của người nông dân và gia đình của họ.. Phần thu nhập nôn
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề được quan tâm ở tất cả các quốcgia Ở những nước khác nhau, tùy theo cách giải quyết của mỗi nước trongquá trình công nghiệp hóa mà vấn đề này tác dộng tích cực hay hạn chế đếnsự phát triển KT-XH
Ở một nước đang phát triển, gần như toàn bộ thu nhập nông thôn đềuliên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nông nghiệp Do đó, tăng thu nhập khuvực nông nghiệp sẽ có tác động lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thôn Tăngtrưởng của khu vực nông nghiệp đóng góp trực tiếp vào phúc lợi cho ngườidân nông thôn bằng cách tăng thu nhập của người nông dân và gia đình của
họ Tăng trưởng của khu vực nông nghiệp cũng tạo ra những lợi ích kinh tếgián tiếp vượt ra ngoài cổng trang trại, lan tỏa ra cả nền kinh tế nông thônrộng lớn hơn Phần thu nhập nông thôn tăng thêm nhờ cầu của khu vực nôngnghiệp đối với lao động và dịch vụ nông nghiệp tăng, và từ những chi tiêutrong nền kinh tế địa phương của những người có thu nhập tăng lên nhờ cáchnày Do đó, bất cứ chiến lược phát triển nông thôn nào – nghĩa là để tăng thunhập nông thôn – phải dựa một cách vững chắc vào sự tăng trưởng bền vữnglợi nhuận của khu vực nông nghiệp
Tuy nhiên, tăng khả năng lợi nhuận của khu vực nông nghiệp khôngphải là con đường duy nhất để phát triển nộng thôn như những kinh nghiệmmang tính so sánh đã cho thấy rõ Tại các nền kinh tế trong khu vực đã theođuổi một cách thành công công cuộc công nghiệp hóa sử dụng nhiều laođộng , thì việc di cư của người lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp đã làmtăng tỷ số lao động/diện tính ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.Yếu tố thứ nhất cho phép tích tụ ruộng đất và tái phân bổ quyền quản lýruộng đất cho phép tích tụ ruộng đất và giảm tỷ lệ phụ thuộc ở nông thôn.Yếu tố thứ hai làm tăng thu nhập bình quân đầu người nhờ giảm số ngườiphụ thuộc vào nông nghiệp.Tại các nền kinh tế thành công nhất (như TháiLan, Malaixia, Hàn Quốc và Đài Loan), tăng trưởng của khu vực phi nôngnghiệp đã làm tăng tiền lương trong toàn nền kinh tế, theo đó tăng thu nhậpcho lao động nông nghiệp cũng như tiền gửi về của những người di cư từnông thôn ra thành thị Kinh nghiệm trong khu vực cho thấy phát triển nông
Trang 2thôn bền vững được thúc đẩy bởi sự năng động nội bộ (tăng trưởng nôngnghiệp ) và các lực lượng bên ngoài (năng suất lao động và tiền gửi về tănglên); một vấn đề cần ghi nhớ nữa là sự hội nhập giữa tăng trưởng nôngnghiệp và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
- Thông qua nghiên cứu để thấy được kinh nghiệm phát triển nông thôncủa một số nước Châu Á để áp dụng vào phát triển nông thôn Việt Nam và tầm quan trọng của việc phát triển nông thôn bền vững
(3) Đề xuất các giải pháp
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu và phân tích một số thành công trong chính sách phát triển nông thôn ở một số nước Châu Á và khu vực ( Nhật Bản, TQ, HQ)
- Từ đó rút ra một số kinh nghiệm cho VN trong quá trình phát triển nông thôn
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
+ Phương pháp phân tích số liệu: Thống kê kinh tế; Phân tích kinh tế;Dự báo thống kê
+Phương pháp xử lý số liệu
Trang 3PHẦN II NỘI DUNG
I KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN, HÀN QUỐC
1.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Trung Quốc.
1.1.1 Tình hình nông thôn trung quốc:
Trong các năm 1990 nền kinh tế của TQ đã gặp một số khó khăn làm chotăng trưởng 12 % năm từ 2002 đến 2005 giảm xuống 8 % năm từ 2006 đến
2002
Năm 2004 số nông dân làm việc ở đô thị hơn 100 triệu, tăng mỗi năm 8,5 %.Trong 15 năm tới sẽ có thêm 150 triệu ra đô thị Lao động ra đô thị tìm việccó việc làm không ổn định, tiền công thấp, thiếu nhà ở ổn định, không đượctiếp xúc với giáo dục và y tế
Trong một báo cáo điều tra tình hình nông thôn năm 2004-2005 của Việnkhoa học xã hội TQ có đề ra những vấn đề của nông thôn TQ:
1.Thời gian gần đây 40 triệu nông dân mất đất do công nghiệp hoá và đô thị
hoá
2 Khoảng cách giữa thu nhập đô thị và nông thôn tăng lên
Năm 1978 mức chênh lệch là 1:2,57 Năm 2003 đến 2005 mức chênh lệchnày là 1:3,23, 1:3,21, 1:3,22 Năm 2006 thu nhập của dân nông thôn chỉ
bằng một phần ba của dân đô thị Tuy vậy theo các nhà kinh tế nếu tính cả
các loại trợ cấp và lưu chuyển chi tài chính của chính phủ mà dân đô thị nhận được thì mức chênh lệch lên đến 5
3 Trong 30 năm qua dân số TQ tăng 2,5 lần
Trong 900 triệu dân nông thôn, có 600 triệu lao động, nông nghiệp cung cấpviệc làm cho 150 triệu, doanh nghiệp nông thôn cho 120 triệu, còn thừa 300triệu, phải chuyển ra đô thị
4 Việc cắt giảm nghèo còn rất cao Số người nghèo đã giảm từ 250 triệuxuống 29 triệu, tức là từ 30 xuống 3 % trong 25 năm qua, nhưng tiêu chuẩn
Trang 4nghèo của TQ là 625 nguyên năm, thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế là 900nguyên.
5 Sự phát triển bền vững vì thiêu năng lượng và môi trường cản chở Tàinguyên trên đầu người ở TQ thấp, việc sử dụng tài nguyên đã gây ô nhiễmmôi trương nghiêm trọng
1.1.2 Các chính sách phát triển nông thôn
1.1.2.1 Khu thử nghiệm xây dựng chính sách phát triển nông thôn mới ở Trung Quốc
Bắt đầu tư 1987, Quốc vụ viện Trung quốc chọn một số địa phương làm thíđiểm về cải cách nông thôn trên mọi mặt, các khu này được coi như các
"phòng thí nghiệm về phát triển nông thôn"
Năm 2007, Quốc vụ viện quyết định 20 dự án tiếp theo thử nghiệm ở cáckhu để xây dựng chính sách cho giai đoạn tới:
1) Xây dựng thể chế đất đai
2) Xây dựng cơ sở nông thôn
3) Cải cách lưu thông lương thực và thực phẩm
4) Cải cách thể chế doanh nghiệp nông thôn và hương trấn;
5) Hiện đại hóa nông thôn
6) Lưu thông hàng hóa nông thôn
7) Cải cách tiền tệ
8) Cải cách thế ché xóa đói giảm nghèo
9) Cải cách thế chế về nông lâm nghiệp
1.1.2.2 Các chính sách tam nông trong phát triển nông thôn Trung quốc trong thời gian gần đây
Chính sách tam nông:
1) Tăng thu nhập nguời dân
2) Tiêu thụ hành hóa nông sản
3) Ổn định xã hội nông thôn
Trang 5Do vậy quan điểm chính sách phát triển nông thôn được xác định như sau.
1 Ủng hộ tích cực với chính sách phát triển nông thôn, khống chế ổnđịnh giá cả nông sản, thực phẩm, hỗ trợ nông nghiệp Tăng cường đầu
tư cho nông thôn
2 Quan tâm tầng lớp nông dân ra thành thị làm việc (công nhân, nôngdân) Đảm bảo xã hội, giáo dục để cân bằng đãi ngộ, ổn định cuộcsống
3 Vấn đề xã hội: Xóa chế độ hộ khẩu nông thôn, tạo điều kiện cho nôngdân di cư và sinh sống tại đô thị
4 Đảm bảo công bằng, an sinh xã hội cho người già yếu, tàn tật ở nôngthôn
- Chính sách đất đai được làm rất rõ: Hiện nay, các dự án đầu tư phảiđược thống nhất với người dân rồi mới triển khai dự án Phải có chữ kí củangười dân thì mới được triển khai
- Nhà nước phân loại đất làm hai loại để quản lí: 1) Đất công ích: đấtdùng làm các công trình phúc lợi sẽ do nhà nước định giá; 2) Đất thươngmại: Giá đất sẽ tùy thuộc vào giá thị trường, sẽ do người dân và doanhnghiệp đàm phán Nhà nước sẽ không tham gia vào việc định giá này
- Hiện nay Trung quốc sảy ra mâu thuẫn: nhu cầu sử dụng đất tăng, nhànước lại không chế sử dụng đất Các địa phương ưu đãi đất đai cho các nhàđầu tư Các địa phương thường xây dựng các khu công nghiệp để thu hútđầu tư, nhiều địa phương xây dựng khu công nghiệp để chờ đầu tư tạo ra quihoạch treo, điều này tạo ra mâu thuẫn giữa nông dân và chính quyền
Trang 6- Cải cách sở hữu: Hiện nay ở Trung quốc sở hữu đất đai là nhà nước.Quyền sử dụng đất của người dân, được xác định mang tính chất rất ổn định,gần như quyền tư hữu Người dân có quyền chuyền quyền sử dụng đất chongười khác, Ủy ban thôn chứng thực cho giao dịch này.
- Người dân mong muốn chính sách đất đai vĩnh cửu, vĩnh viễn Mặcdù vậy do mâu thuẫn giữa tư hữu hóa và nghèo đói, bảo vệ tài nguyên Quátrình sử dụng đất đai chưa thực sự ổn định, đang phát triển, do vậy trong thờigian tới Trung quốc sẽ chưa thay đổi quan điểm quản lí đất đai: 1) tăngngười nhưng không tăng đất; 2) Giảm người nhưng không giảm đất
Một số mô hình thử nghiệm chính sách tại Trung quốc
- Ví dụ trường hợp của Huyện Mai Than - Quý Châu: Là địa phươngnghèo, thu nhập thấp chủ yếu từ nông nghiệp Chiến lược thử nghiệm đấtđai: 1) không thay đổi diện tích đất đai; 2) Không phụ thuộc vào tăng dân vàgiảm dân số địa phương; 3) Không chia lại đất đai Sau thời gian kiên trìthực hiện đến tận hiện nay, kinh nghiệm này được tổng kết vào nghị quyếtcủa Tỉnh Quý Châu, trong vòng năm năm tới không chia lại trong vòng 50năm tới
Kinh nghiệm thành phố Nam hải, thành phố Phật sơn tỉnh Quảng đông
- là vùng mạnh về nông nghiệp và phi nông nghiệp Nông dân sống khôngdựa vào nông nghiệp để phát triển kinh tế Chính sách thử nghiệm tập trungvào: 1) Cổ phần hóa đất đai, khoán, thầu; 2) Nông dân trở thành cổ đông vàđược chia lợi nhuận; 3) Đất đai này được đưa ra cho đấu thầu với doanhnghiệp địa phương và bên ngoài; 4) Thu nhập của nông dân trên cơ sở phânchia lợi nhuận giữa doanh nghiệp và nông dân
Kinh nghiệm Huyện Châu Độ tỉnh Sơn Đông: Huyện Châu Độ có sốdân đông, người dân có cơ hội sản xuất phi nông nghiệp Tại vùng này đãthử nghiệm loại chính sách hai điền: 1) kết hợp việc khoán thầu, tách rờiquyền sở hữu và quyền sử dụng đất.2) Chia ruộng ra làm nhiều loại: ruộngnhân khẩu theo bình quân ruộng gia đình và ruông khoán để giao cho dân.Nông dân dựa trên khả năng của mình để thầu sử dụng đất đai.Việc khoánthầu đã sử dụng hiệu quả đất đai Thu nhập của cấp địa phương tăng Nhưng
Trang 7hình thức khoán này đã lan ra các vùng nghèo, đã làm tăng thêm gánh nặngcho dân, một số địa phương dừng lại, do vậy TW đã khuyến cáo không cổ
vũ loại chính sách này
1.1.2.4 Chính sách tín dụng tại nông thôn Trung quốc
- Hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn(thủ tục vay và lãi suất), đặc biệt xác định danh sách các doanh nghiệpđầu rồng tại từng vùng để hỗ trợ
- Hỗ trợ phát triển hệ thống tín dụng nhỏ kiểu Gramy Bank Băng la détcho các vùng khó khăn
- Hỗ trợ, cổ vũ các địa phương phát triển các quĩ phát triển xã hội, lãixuất được để lịa địa phương
- Cho phép các ngân hàng tư nhân, hộ kinh doanh tín dụng thành lập vàphát triển: Việc này đã chính thức hóa kinh doanh tiền tệ, giảm cho vaynặng lãi ở nông thôn Cổ vũ các tổ chức xã hội, cá nhân thành lập các quĩcho vay
1.1.2.5 Chính sách về phát triển các tổ chức dân sự, hiệp hội, HTX tại Trung quốc
- 01/07/2007, đưa ra luật tập thể các ngành nông nghiệp, luật HTXchuyên ngành của nông dân
- Toàn bộ Trung quốc có 150 nghìn HTX nông nghiệp, chủ yếu nằm ởMiền đông và Miền trung Số lượng HTX này rất thấp so với qui mô củanền kinh tế Trung quốc Mặc dù có sự khuyến khích phát triển, nhưngcác HTX chủ yếu vẫn nằm trong tay một số người, ông chủ, các HTXgần như doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Trung quốc thúc đẩy phát triển mạnh các HTX chuyên ngành theongành hàng, phát triển các hiệp hội ngành nghề theo ngành, tăng cườngliên kết dọc
- Chính sách hỗ trợ liên kết nông dân-doanh nghiệp: nhà nước cổ vũ, hỗtrợ các doanh nghiệp đầu rồng liên kết với nông dân để phát triển
1.1.2.6 Chính sách xóa đói giảm nghèo
Trang 8- Giai đoạn những năm 80: xóa đói giảm nghèo mang nặng tính chấtcứu tế, ban cho
- Giai đoạn cuối thế kỉ 20: Tập trung giúp đỡ các vùng nghèo ít có khảnăng phát triển kinh tế về đào tạo, đưa nghề mới vào, dịch chuyển ngườinghèo ở vùng ít tài nguyên sang vùng khác giàu tài nguyên hơn Kết quảcó tác động khả quan, giúp giải quyết 200 triệu hộ nghèo đói Tuy nhiênở vùng núi cao do tập quán di dân nên không có khả năng phát triển
- Từ năm 2007, chính phủ Trung quốc đưa ra chính sách hỗ trợ ngườinghèo nhằm đảm bảo cuộc sống cơ bản của người dân Nếu thu nhập củanông dân dưới mức tiêu chuẩn, nhà nước sẽ hỗ trợ cuộc sống để đảm bảođủ mức tiêu chuẩn Tiền cho việc này sẽ lấy từ ngân sách địa phương vàtrung ương
- Hỗ trợ các gia đình thực hiện nghiêm túc sinh đẻ có kế hoạch, hỗ trợngười già trong nông thôn (tiền dưỡng lão khoảng 6000 NDT/năm sau 60tuổi)
- Thực hiện chương trình bảo vệ rừng: trả tiền công cho dân, từ 20-30
kg lương thực/ha để họ bảo vệ rừng
- Mô hình hợp tác đảm bảo y tế: Từ những năm 60 đã thực hiện môhình y tế hợp tác, sau đó dừng lại, hiện nay lại tiếp tục phát triển
1.1.2.7 Chính sách miễn giảm thuế
Do đặc thù Trung quốc mang tính lịch sử, đất nước Trung quốc chủ yếusống bằng nền nông nghiệp và nông dân, vì vậy người dân đóng góp quánhiều Hiện nay tất cả các loại thuế này đã được miễn không thu nữa Việcmiễn giảm thuể đã đặt chính quyền cơ sở tại nhiều nơi gặp khó khăn trongđảm trách dịch vụ công và phát triển nông thôn Đặc biệt tại vùng nghèo,vùng khó khăn Do đó Trung quốc đã có sự cải cách phân bổ đầu tư, phânchia thuế giữa TW và địa phương, theo hướng tăng cường ngân sách cho cấpđịa phương quyết định
1.1.2.8 Chính sách môi trường
Trang 9- Đại hội 17 Đảng CS Trung quốc, TBT Hồ Cầm Đào đã đề cập cần cảithiện tình hình môi trường nông thôn Nếu các cơ sở sản xuất không đạtyêu cầu về môi trường, sẽ đóng cửa không cho sản xuất
- Bồi thường khu vực sinh thái: Nhà nước khoanh vùng bảo hộ sinhthái, trên cơ sở đó nhà nước tiến hành đánh thuế, bỏ tiền ra để cải tạo môitrường
1.1.2.9 Mô hình nông thôn mới
Tại các khu vực thử nghiệm, các mô hình nông thôn mới được chú trọng xâydựng theo các mức độ, qui mô khác nhau Để định hướng cho nội dung này,cuối năm 2004, TW Trung quốc đưa ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới
1 Sản xuất và phát triển
2 Sinh họat và giàu có
3 Văn minh nông thôn
4 Nông thôn, nông nghiệp sạch sẽ: đường, trường, phong cảnh nôngthôn
5 Quản lí dân chủ
1.1.3 Thành tựu đạt được
a) Thu nhập và tiêu dùng của cư dân nông thôn
Điều tra mẫu trên 68000 hộ nông thôn ở 31 tỉnh thành, khu vực tự trị và đôthị tự trị cho thấy thu nhập bình quân đầu người năm 2005, cao hơn so vớinăm 2004 và cho thấy mức tăng trưởng năm là 10,8% hay 6,2% giá trị thựctế
Thu nhập từ lao động thuê mướn đóng góp 17,2% vào mức tăng thu nhậpthực tế hàng năm của họ trong khi làm việc ở thành thị chiếm 22,3%.Sựtăng thu nhập của các lao động nông thôn di cư là do sự tăng lên về số lượngcủa họ và tiền lương Cư dân nông thôn tìm kiếm và có được việc làm ởthành thị chiếm 20,2% lực lượng lao động nông thôn năm 2005, tăng 1,1%
so với năm 2004; và hơn 6,85 triệu cư dân nông thôn, tăng 7,3% tìm kiếm cơhội việc làm ở thành thị trong năm
Trang 10Người nông dân tiếp tục được hưởng lợi từ các chính sách cắt giảm haymiễn trừ thuế nông nghiệp và chăn nuôi và trợ cấp Năm 2005, trung bìnhmỗi nông dân chỉ phải nộp 13 Nhân dân tệ tiền thuế và phí quản lý, giảm24,4 Nhân dân tệ hay 65,1% Theo như tính toán trong phần đóng góp vàothu nhập thực tế, gánh nặng tài chính của người nông dân đã giảm từ 1,3%của năm trước xuống 0,4% năm 2005 Trợ cấp của chính phủ trực tiếp chongười trồng ngũ cốc, trợ cấp cho trồng giống tốt và cho việc mua sắm công
cụ và máy nông nghiệp lớn bình quân là 18 Nhân dân tệ, tăng 12,9%
Sự phân hoá lớn hơn trong thu nhập của cư dân nông thôn Hệ số Gini củathu nhập thực tế bình quân của cư dân nông thôn là 0,3751, tăng 0,006 Hệsố Gini khi được dùng để đo sự chênh lệch thu nhập giữa các cư dân nôngthôn đã tăng lên từ khi cải cách và mở cửa được phát động vào cuối thập kỷ
70, đặc biệt là từ sau năm 1999, ngoại trừ một số năm ở giữa
b) Cuộc sống của cư dân nông thôn
Cuộc sống của người nông dân đã liên tục được cải thiện như được minh hoạbởi sự tăng trưởng nhanh hơn của tiêu dùng so với mức tăng thu nhập Trongnăm 2005, chi phí cuộc sống bình quân của người nông dân là 2555 Nhândân tệ, tăng 11,5% hay 371 Nhân dân tệ trên thực tế đã tính đến các yếu tốgiá và mẫu
1.2 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Nhật Bản
1.2.1 Khái quát về nông thôn Nhật Bản
Hiện nay, Nhật Bản đang phải đối mặt với một thách thức vô cùng khókhăn, đó là lực lượng sản xuất già cỗi và không được bổ sung, tình trạng sốnông dân trồng lúa ngày càng ít đi Những cánh đồng, thửa ruộng bị bỏhoang, cỏ mọc um tùm là cảnh thường gặp Tờ New York Times cho biết,trong 15 năm qua, giá đất nông nghiệp tại nhiều vùng SX trọng điểm đãgiảm 70%, số lượng nông dân cũng giảm đi một nửa kể từ năm 1990 Sảnlượng gạo và ngũ cốc chủ lực cũng giảm 20% trong một thập kỷ Theo sốliệu của Cục Thống kê Nhật Bản, hiện quốc gia này phải nhập đến 61%lương thực Hệ thống kinh tế nông nghiệp già cỗi đang chịu lực cản từ các
mô hình trang trại cá thể, gia đình nhỏ bé, kém hiệu quả Theo tính toán,nông trường thương mại ở Nhật Bản có diện tích trung bình chỉ 4,6ha, kémnhiều lần so với con số 440ha ở Mỹ
Trang 11Cũng giống như thành thị, nông thôn Nhật Bản đang đối mặt với sức épcủa tình trạng tỷ lệ dân số già ngày càng tăng Nhưng trong khi thành phốvẫn được bổ sung lực lượng, thậm chí là ưu tú nhất thì nông thôn không chỉgiảm mà còn bị "chảy máu" người ra thành thị 70% trong 3 triệu nông dânnước này có độ tuổi 60, thậm chí già hơn Từ năm 2000, sự thiếu hụt laođộng nông nghiệp đã buộc Nhật Bản phải cắt giảm nhân công ở các dự áncông cộng để bổ sung cho các trang trại, cánh đồng Lực lượng lao động tạiNhật Bản là 66,44 triệu người, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm4,6%, tạo ra tỷ trọng giá trị chiếm 1,6% GDP.
Hiện nay, Nhật Bản vẫn đang áp dụng chính sách nông nghiệp đượcthông qua từ năm 1971 để kiểm soát giá gạo sau khi sản lượng lúa gạo sảnxuất trong nước vượt quá nhu cầu tiêu dùng Trong bối cảnh đó, Chính phủhỗ trợ nông dân bằng cách xuất tiền ngân sách ra mua gạo cho dân mỗi khigạo rớt giá
1.2.2 Các biện pháp phát triển nông thôn được thực hiện tại Nhật Bản
1.2.2.1 Phát triển nông nghiệp với việc áp dụng khoa học – kỹ thuật, sản
xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản và thực hiện cái cách ruộng đất.
Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề khôngchỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyênliệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện
Trang 12đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp nhật Bản coi phát triển khoahọc – kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vàocác công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hóa học; hoànthiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo vàđưa vào sử dụng những giống kháng bệnh, sâu rầy, và chịu rét; nhanh chóngđưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh tăng năng suất… Đây làmột thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nôngnghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh Sảnlượng tiếp tục tăng và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%
Để phát triển KH-KT nông nghiệp Nhật Bản chủ yếu dựa vào các việnnghiên cứu nông nghiệp của nhà nước và chính quyền các địa phương Cácviện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết với các trường đạihọc, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông, giúp nông dân tiếp cậncông nghệ trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảonông nghiệp tăng trưởng ổn định
Bước ngoặt chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khiLuật nông nghiệp cơ bản được ban hành năm 1961, với hai phương hướngchính sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sảnxuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuấtnhững nông phẩm có sức tiêu thụ kém; hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp kể cảviệc phát triển những nông hộ và HTX có năng lực quản ký kinh doanh vàcanh tác
Trong những năm 1960-1970 sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đãđấy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể Cũng trong thời gian này lao độngtrong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lạităng bình quân hằng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hóa và cải tiến quytrình kĩ thuật Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển.Các ngành chế biến thực phẩm phát triển giúp cho người dân ở nông thôn cóthêm nhiều việc làm, thu nhập được cải thiện, do đó Nhật Bản đã tạo chomình một thị trường nội địa đủ lớn cho hàng hóa công nghiệp tích lũy lấy đàchuyển sang xuất khẩu Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tậptrung đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trangtrại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năngcạnh tranh
Trang 13Bên cạnh đó, cải cách ruộng đất 1945 và 1948 đã tạo động lực kíchthích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm vàtăng nhanh tích lũy Để duy trì những vùng đất tốt phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp, năm 1969 nhà nước đã ban hành Luật cải tạo và phát triểnnhững vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp Đến năm 1970,Luật đất đai nông nghiệp và Luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổsung đã nới rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệpcũng như quyền quản lý cho các tập đoàn và các HTX nông nghiệp Năm
1975 Nhật bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàndiện bao gồm: đảm bảo an toàn lương thực, xem xét lại chình sách giá cả,hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong làng xã Đồng thời, chương trình “Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp” được triểnkhai Chương trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vaitrò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp Từng hộsản xuất riêng lẻ với quy mô quá lẻ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế và
kĩ thuật để hiện đại hóa quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn Năm
1995 số lượng nông trại giảm 791000 cái (giảm 17% so với năm 1985) Quy
mô ruộng đất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất Xu hướng này thểhiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-1995, quy mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ7180m2 lên 8120m2
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đãkích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo Từ năm 1970 Nhật Bản bắtđầu hạn chế sản xuất gạo do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầulương thực trong nước so với 79% của năm 1960 Theo quan điểm an ninhlương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao.Nhật Bản luôn có chính sách hỗ trợ kịp thời để phát triển nông nghiệp như:hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị, vật tư cho nôngnghiệp, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại, cho vay vốn tín dụng…
1.2.2.2 Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đãhình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêuphát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự pháttriển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát
Trang 14triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắnglợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm khôngchỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực,quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trongkhu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong pháttriển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm” Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làngmột sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút đểngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trongchiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trìnhcông nghiệp hóa đất nước mình
1.2.2.3 Chính sách “Ly nông bất ly hương”
Với chính sách “Ly nông bất ly hương” Nhật Bản đã thực hiện thành côngvới hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưacông nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thônvới phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách giữa đô thị và nông thôn.Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đâyvà hiện tại đây vẫn là thách thức cho mỗi quốc gia trong quá trình côngnghiệp hóa Ở Nhật Bản không chỉ các ngành chế biến nông sản mà cả cácngành cơ khí, hóa chất đều được phân bố trên toàn quốc Từ khi bắt đầucông nghiệp hóa (năm 1983), 80% nhà máy lớn đã được xây dựng ở nôngthôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm
1960 tỷ lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụngđược một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao Năm 1950thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nôngthôn Nhật Bản, năm 1990 tăng lên tới 85%
1.2.2.4 Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức HTX
Góp phần vào việc đưa công nghiệp về nông thôn, các HTX và tổ chứckinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng một vai trò hết sức quan trọngtrong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nôngsản HTX nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn NhậtBản Trong mỗi làng xã, những mối quan hệ nhiều chiều đa dạng đã tồn tại