1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò kiểm soát các khoản chi NSNN của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách

14 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 133,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò kiểm soát các khoản chi NSNN của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính.. Về hoạt động kiểm soát chi NSNN a Khái niệm, đặc trưng cơ bản của kiể

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện

và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng

và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước thì NSNN bao gồm 2 yếu tố

là các khoản thu và các khoản chi Nếu như các khoản thu Ngân sách nhà nước là hoạt động để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thoả mãn nhu cầu của Nhà nước, thì chi ngân sách nhà nước là việc nhà nước sử dụng số tiền từ hoạt động thu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Và để tránh tình trạng thất thoát, chi không đúng mục đích, tham ô công quỹ, Nhà nước đã giao cho các cơ quan tài chính, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách và kho bạc nhà nước chịu trách nhiệm kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước

NỘI DUNG I.Các vấn đề cơ bản về chi Ngân sách nhà nước

1 Khái niệm và đặc điểm của chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Do đó, thực hiện các khoản chi NSNN luôn gắn liền với các quan hệ tiền tệ trong phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là quỹ ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội mà Nhà nước đảm nhận, nên các khoản chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đó là: chi ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết và tác động đến quá trình tái sản xuất xã hội; chi NSNN bảo đảm duy trì và phát triển các hoạt động thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất và chi NSNN tạo lập quỹ dự trữ tài chính quốc gia của Nhà nước

Trang 2

Đặc điểm của chi NSNN là: chi NSNN gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; cơ cấu, nội dung và quy mô các khoản chi NSNN do Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất quyết định; chi NSNN do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện

2 Phân loại các khoản chi NSNN

Chi ngân sách nhà nước gồm nhiều loại Theo Khoản 2 Luật ngân sách nhà nước năm 2002, chi ngân sách nhà nước của ta bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Chi phát triển kinh tế - xã hội là khoản chi mang tính tích luỹ Khoản chi này

phản ánh quá trình sử dụng một bộ phận vốn ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế

Chi bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước

là những khoản chi mang tính tiêu dùng Đây là khoản chi không tạo ra giá trị mới mà là

để duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước, tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện tốt các chức năng của mình

Chi trả nợ là những khoản chi phản ánh việc thực hiện trái vụ của Nhà nước trong

quan hệ vay mượn Trong quá trình chấp hành ngân sách, một hiện tượng mà các quốc gia, không phân biệt giàu nghèo thường phải đương đầu là thu ngân sách không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Một trong những biện pháp hữu hiệu mà các chính phủ thường sử dụng để đối phó với tình trạng này là vay từ trong nước và ngoài nước

Chi viện trợ là những khoản chi nảy sinh trong quan hệ đối ngoại của Nhà nước

Khoản chi này thường được đưa vào kết cấu chi ngân sách nhà nước, cho phép Chính phủ

có thể giúp đỡ các quốc gia bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do trải qua những biến cố chính trị, kinh tế hoặc do phải đương đầu với những thiệt hại nặng nề bởi thiên tai đem lại

Trang 3

II Vai trò kiểm soát các khoản chi NSNN của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách,

kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính.

1 Về hoạt động kiểm soát chi NSNN

a) Khái niệm, đặc trưng cơ bản của kiểm soát chi NSNN

Kiểm soát chi NSNN có thể hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, soát xét và đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các khoản chi NSNN do các chủ thể thực hiện dựa trên sự đối chiếu với các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lí tài chính trong từng giai đoạn Hiểu một cách đơn giản thì kiểm soát chi NSNN là quá trình thẩm định và kiểm tra các khoản chi NSNN theo đúng chế độ chi NSNN và theo dự toán chi tiêu đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông qua

Kiểm soát chi không phải là công cụ quản lí riêng có của Nhà nước mà của tất cả các chủ thể kinh tế, các tổ chức xã hội Trong bất kì hoạt động kinh tế, xã hội nào có sử dụng các nguồn lực tài chính, chủ thể tiến hành hoạt động đó cũng đều phải kiểm soát việc sử dụng nguồn tài chính để đảm bảo chi đúng nguyên tắc, đúng chế độ, tiết kiệm chi phí với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ưu hiệu quả nguồn vốn

Hoạt động kiểm soát chi NSNN có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, hoạt động kiểm soát chi NSNN bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền, dựa trên cơ sở quyền lực chính trị của Nhà nước Sở dĩ như vậy là bởi vì, chi NSNN là hoạt động tài chính của Nhà nước, gắn liền với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng xã hội nên việc chi NSNN như thế nào cũng như việc kiểm soát các khoản chi đó ra sao, nhất thiết phải do Nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan công quyền có năng lực được Nhà nước lựa chọn Mặt khác muốn tiến hành kiểm soát chi một cách hiệu quả, người kiểm soát cần có quyền uy ở mức độ nhất định đủ để chi phối hành vi của các chủ thể bị kiểm soát – chủ thể sử dụng kinh phí Nhà nước cấp

Thứ hai, kiểm soát chi NSNN vừa mang tính chất là một hoạt động quản lí Nhà

nước về tài chính, vừa có tính chất như một hành vi quản trị tài chính Nhà nước Tính chất quản lí hành chính Nhà nước của hoạt động đặc biệt này thể hiện ở chỗ, dựa vào quyền lực công, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm soát chi NSNN có thể đưa ra

Trang 4

các quyết định hành chính hoặc thực hiện các hành vi quản lí Mặt khác, tính chất quản trị tài chính của công vụ đặc biệt này được thể hiện ở chỗ, chi ngân sách vốn dĩ là hoạt động tài chính của Nhà nước nên việc Nhà nước tiến hành kiểm soát chi ngân sách chẳng khác nào một doanh nghiệp hay một tổ chức xã hội tự quản trị tài sản, tài chính của mình

Thứ ba, kiểm soát chi NSNN là một hoạt động mang tính công vụ và do đó công vụ

này luôn được thể chế hoá bằng pháp luật và được giám sát bởi các cơ quan quyền lực Nhà nước Tính chất công vụ của hoạt động kiểm soát chi NSNN thể hiện ở chỗ, kiểm soát chi là nhiệm vụ đặc biệt được Nhà nước giao cho một số cơ quan công quyền thực hiện nhằm đảm bảo kỉ cương pháp luật và kỉ luật ngân sách, kỉ luật tài chính, góp phần hạn chế tình trạng tham nhũng, lãng phí và gây thất thoát tài sản Nhà nước

Thứ tư, đối tượng của hoạt động kiểm soát chi NSNN chính là hoạt động chi ngân

sách do các cơ quan chức năng của Nhà nước cũng như các chủ thể sử dụng ngân sách thực hiện

b) Các chủ thể của quan hệ kiểm soát chi NSNN.

Quan hệ kiểm soát chi NSNN được hình thành bởi hai chủ thể, đó là bên kiểm soát chi ngân sách và bên bị kiểm soát

Chủ thể có thẩm quyền kiểm soát chi ngân sách chính là Nhà nước nhưng để đảm bảo tính hiệu quả của công vụ này, Nhà nước bao giờ cũng tìm cách trao quyền cho các

cơ quan thích hợp của mình đứng ra thực hiện công vụ, trên cơ sở trao thẩm quyền cụ thể cho các cơ quan đó Chủ thể kiểm soát chi NSNN thường bao gồm hai nhóm: nhóm cơ quan hành pháp, trực tiếp tiến hành kiểm soát chi đối với các đơn vị sử dụng ngân sách Nhóm này thường bao gồm chính phủ, Bộ tài chính, Kho bạc Nhà nước, trong đó Kho bạc Nhà nước có vai trò trực tiếp và đặc biệt quan trọng Và nhóm các cơ quan thuộc hệ thống lập pháp, có thẩm quyền kiểm soát, giám sát đối với hoạt động kiểm soát chi của hệ thống hành pháp

Chủ thể chịu sự kiểm soát chi từ phía Nhà nước bao gồm 2 nhóm: nhóm các đơn vị

sử dụng ngân sách, nhóm này bao gồm hầu hết các tổ chức là cơ quan Nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội được NSNN đài thọ kinh phí để hoạt động; các đơn vị sự nghiệp công; các tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập và cấp vốn để hoạt động Và nhóm

Trang 5

các cơ quan Nhà nước có chức năng chuyên môn về kiểm soát chi ngân sách Nhóm này thường bao gồm Chính phủ, Bộ tài chính, Kho bạc nhà nước với tư cách là những cơ quan chức năng có thẩm quyền trực tiếp kiểm soát chi ngân sách đối với các đơn vị sử dụng ngân sách

c) Đối tượng của quan hệ kiểm soát chi NSNN

Đối tượng của quan hệ kiểm soát chi NSNN gồm 2 loại hoạt động:

Hoạt động sử dụng kinh phí NSNN cấp (chi NSNN) Hoạt động này do đơn vị sử

dụng ngân sách thực hiện trong quá trình hoạt động, bằng cách sử dụng nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách theo các chế độ, thể lệ do pháp luật quy định Về nguyên tắc, hoạt động này sẽ chịu sự kiểm soát trực tiếp bởi các cơ quan hành pháp có chức năng kiểm soát chi NSNN như Bộ tài chính và Kho bạc nhà nước

Hoạt động kiểm soát chi ngân sách Hoạt động này do các cơ quan hành pháp có

chức năng chuyên môn về kiểm soát chi ngân sách thực hiện và chịu sự giám sát, kiểm soát bởi các cơ quan chuyên môn trực thuộc Quốc hội (Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Quốc Hội,…)

d) Nội dung kiểm soát chi NSNN

Về nguyên tắc, tất cả các khoản chi đều được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán, đảm bảo các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc được người uỷ quyền chuẩn chi

Xét từ khía cạnh quản trị tài chính, hoạt động kiểm soát chi NSNN được tiến hành trong suốt quá trình từ khâu lập dự toán chi đến khâu phân bổ dự toán chi và thực hiện dự toán chi ngân sách, trong đó việc kiểm soát ở giai đoạn thực hiện dự toán chi ngân sách có vai trò trung tâm và quan trọng nhất Việc kiểm soát chi bao gồm ba nội dung cơ bản:

Kiểm soát trước khi chi là việc kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các điều kiện chi trước khi thực hiện việc thanh toán, chi trả từ quỹ ngân sách nhà nước cho đơn vị thụ hưởng kính phí Các điều kiện chi thường xuyên bao gồm: các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu

do Nhà nước quy định, đã có lệnh chuẩn chi; có đầy đủ hồ sơ chứng từ liên quan…Hiểu

Trang 6

một cách đơn giản thì kiểm soát trước khi chi là việc cơ quan có thẩm quyền thực hiện hành vi soát xét trước khi trả tiền cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ - đối tác trong quan hệ giao dịch với đơn vị sử dụng ngân sách Kiểm soát trước khi chi giúp Nhà nước ngăn ngừa và loại bỏ những khoản chi tiêu không đúng chế độ quy định, không đúng định mức, tiêu chuẩn, đơn giá không đúng mục đích, bảo đảm sử dụng đồng thời vốn của NSNN có hiệu quả, chống lãng phí, thất thoát

Kiểm soát trong khi chi là quá trình kiểm soát việc thanh toán các khoản chi của NSNN cho các đối tượng thụ hưởng Kiểm soát trong khi chi phải đảm bảo việc xuất quỹ NSNN thanh toán trực tiếp cho đối tượng đích thực là chủ nợ của quốc gia – người cung cấp hàng hoá, lao vụ Kiểm soát trong khi chi cũng là bước xác định phương thức cấp phát, thanh toán sẽ là cấp tạm ứng hay cấp thanh toán Đơn vị thụ hưởng ngân sách được hưởng phương thức chi nào là tuỳ thuộc vào tính chất từng khoản chi mà họ sẽ thực hiện

Kiểm soát sau khi chi là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách thông qua các báo cáo

kế toán, quyết toán Kiểm soát sau khi chi thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp hành pháp luật NSNN, kiểm tra hoạt động quản lí tài chính ở các đơn vị sử dụng ngân sách Khi phát hiện đơn vị sử dụng kinh phí sai mục đích, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu những đơn vị này cung cấp những tài liệu, hồ sơ, chứng từ có liên quan để tra soát và tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà xử lý theo các quy định của pháp luật Việc kiểm soát sau khi chi nhằm chấn chỉnh việc sử dụng kinh phí ở các đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm việc sử dụng kinh phí đúng chế độ quản lí tài chính của Nhà nước đồng thời ngăn chặn hiện tượng tham ô, lãng phí làm thất thoát tài sản của Nhà nước

Thực hiện tốt công tác kiểm soát chi NSNN có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chỗng các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia

e) Yêu cầu đối với kiểm soát chi NSNN

Vì vai trò quan trọng như trên nên kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 7

Hoạt động kiểm soát chi phải bao quát được hết các khoản chi cho các đối tượng thụ hưởng NSNN, bảo đảm các khoản chỉ phải nằm trong dự toán được duyệt, đúng mục đích

và đúng định mức

Chính sách và cơ chế kiểm soát chi NSNN phải làm chi hoạt động của NSNN đạt hiệu quả cao, có tác dụng tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế xã hội Cơ chế kiểm soát chi phải quy định rõ điều kiện, trình tự, thủ tục kiểm soát đảm bảo tăng cường kỉ cương, kỉ luật tài chính nhưng cũng không khắt khe, máy móc, không gây ách tắc, phiền

hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp

Tổ chức bộ máy kiểm soát chi NSNN phải được thiết kế gọn nhẹ, năng động theo hướng thu gọn các đầu mối các cơ quan quản lí và đơn giản hoá thủ tục hành Mặt khác, cũng cần phân định rõ vai trò trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lí ngân sách, các cơ quan Nhà nước, đảm bảo sự công khai kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN

Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lí NSNN từ khâu lập, chấp hành đến khâu quyết toán NSNN Đồng thời, hoạt động này cần có sự thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lí tài chính khác

2 Vai trò kiểm soát chi Ngân sách nhà nước

a) Đối với thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách

Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách dựa vào quyết định phân bổ kế hoạch chi, các

cơ quan chủ quản lập dự toán chi gửi cơ quan tài chính để xem xét, chấp nhận và thông báo cấp phát Khi nhận được thông báo dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện chi cho từng công việc theo đúng những quy định về thủ tục chi tiêu do cơ quan có thẩm quyền quy định và chi trả tiền cho người thụ hưởng thông qua kho bạc nhà nước

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 10 Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách thì: “ Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, hiệu quả công việc, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp có thu được quyết định các mức chi quản lý, chi nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu thực tế và khả năng tài chính của đơn vị theo quy định của Chính phủ về chế độ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thus au khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước cấp

Trang 8

trên; các chế độ này phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc nhà nước nơi giao dịch để phối hợp thực hiện và giám sát thực hiện Trường hợp các mức chi đó không phù hợp với quy định của Chính phủ thì cơ quan tài chính có ý kiến để điều chỉnh cho phù hợp

Tại Điều 52 Nghị định 60/2003 quy định về trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách như sau: “a) Quyết định chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao; b) Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Trường hợp vi phạm, tuỳ theo tính chất và mức độ, sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”

b) Đối với cơ quan tài chính:

Đối với cơ quan tài chính, cơ quan này có trách nhiệm thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách vì khi được Thủ tưởng chính phủ hoặc uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân sách, các cơ quan Nhà nước ở trung ương, địa phương, các đơn vị dự toán cấp 1 sẽ tiến hành phân bổ và giao dự toán của đơn vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp dưới, nếu không đúng dự toán ngân sách được giao, không đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thì yêu cầu điều chỉnh lại Cơ quan tài chính còn kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu, sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn

vị sử dụng ngân sách Trường hợp phát hiện các khoản chi tiêu vượt nguồn cho phép, sai chính sách chế độ hoặc hành vi không chấp hành chế độ báo cáo thì có quyền yêu cầu Kho bạc nhà nước tạm ngừng thanh toán Trường hợp phát hiện việc chấp hành dự toán của đơn vị sử dụng ngân sách chậm hoặc không phù hợp làm ảnh hưởng đến kết quả nhiệm vụ thì yêu cầu cơ quan Nhà nước và đơn vị dự toán cấp trên có giải pháp kịp thời hoặc điều chỉnh nhiệm vụ, dự toán chi của các cơ quan đơn vị trực thuộc để đảm bảo thực hiện ngân sách theo mục tiêu và tiến độ quy định

c) Đối với kho bạc Nhà nước:

Đối với Kho bạc Nhà nước, cơ quan này có chức năng thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN và quản lí Quỹ NSNN Vì vậy, kho bạc Nhà nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản

Trang 9

chi thường xuyên Trước khi thanh toán, chi trả Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và nếu có đủ các điều kiện chi theo quy định của pháp luật thì thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đó cho người thụ hưởng, phối hợp tham gia cùng với cơ quan tài chính, cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua kho bạc nhà nước của các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước Trong quá trình kiểm soát quản lí, cấp phát nếu phát hiện khoản chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt, không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước, không đủ các điều kiện chi theo quy định của pháp luật thì Kho bạc nhà nước sẽ từ chối thanh toán, chi trả, đồng thời thông báo cho đơn vị sử dụng ngân sách và cơ quan tài chính đồng cấp biết để giải quyết

Để tăng cường vai trò của kho bạc nhà nước trong kiểm soát chi NSNN, hiện nay ở nước

ta đã bước đầu triển khai thực hiện cơ chế “ chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước” Chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước là phương thức thanh toán chi trả khá rõ ràng và minh bạch, hợp lí với sự tham gia của 3 bên: đơn vị sử dụng ngân sách, kho bạc nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng ngân sách thanh toán chi trả (gọi chung là người thụ hưởng) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Cách thức tiến hành cụ thể là đơn vị sử dụng ngân sách uỷ quyền cho kho bạc nhà nước trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một ngân hàng nào đó, nơi người được hưởng mở tài khoản giao dịch

Theo báo cáo của Kho bạc Nhà nước (KBNN), trong 9 tháng đầu năm 2012, hệ thống KBNN đã thực hiện kiểm soát chi thường xuyên ước đạt 367.146 tỷ đồng chi thường xuyên của NSNN qua KBNN Và thông qua công tác kiểm soát chi NSNN, các đơn vị KBNN đã phát hiện trên 39.800 khoản chi của 18.400 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết; từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng trên 446 tỷ đồng chi không đúng chế độ quy định, trong đó số từ chối thực 27 tỷ đồng

Tình hình thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tính đến ngày 30/9 luỹ kế vốn đầu tư 9 tháng năm 2012 giải ngân qua hệ thống KBNN là 149.998,6 tỷ đồng, đạt 70,1% với kế hoạch vốn năm 2012 nhà nước giao (bao gồm cả số tạm ứng), trong đó giải ngân vốn đầu

tư XDCB là 123.892,5 tỷ đồng, giải ngân vốn trái phiếu Chính phủ là 26.106,1 tỷ đồng

Trang 10

Riêng vốn đầu tư giải ngân trong tháng 9 là 21.620 tỷ đồng, đạt 10,1%, so với kế hoạch vốn năm 2012 nhà nước giao Thông qua kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, hệ thống KBNN đã từ chối khoảng 57,5 tỷ đồng, số tiền từ chối này là do chủ đầu tư đề nghị thanh toán cao hơn giá trúng thầu, cộng sai số học hoặc do không có trong hợp đồng, dự toán

Cũng tính từ đầu năm tới nay, KBNN huy động trái phiếu Chính phủ đạt tổng số 100.888

tỷ đồng, đạt 84% kế hoạch được giao Riêng tháng 9/2012, huy động TPCP đạt 6.607 tỷ đồng

Về vốn trái phiếu Chính phủ, các dự án giao thông thuỷ lợi: Kế hoạch vốn Chính phủ giao là 40.010 tỷ đồng, số vốn giải ngân đến hết tháng 11/2010 là 33.275,3 tỷ đồng, đạt 83,2% so với kế hoạch vốn Chính phủ giao

Đối với Các dự án y tế, kế hoạch vốn Chính phủ giao là 5.600 tỷ đồng, số vốn giải ngân đến hết tháng 11/2010 là 4.540,1 tỷ đồng đạt 81,1% so với kế hoạch vốn Chính phủ giao; Đối với các dự án giáo dục, kế hoạch vốn Chính phủ giao là 6.180 tỷ đồng, số vốn giải ngân đến hết tháng 11/2010 ước đạt 4.867,6 tỷ đồng đạt 78,7% so với kế hoạch vốn Chính phủ giao

Về kết quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước và đầu tư phát triển: Tính đến ngày 23/11/2010, Kho bạc Nhà nước huy động ước đạt 68.292,6 tỷ đồng vốn cho ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triển (đạt 68,3% kế hoạch cả năm)

Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước đang được thực hiện tốt Đồng thời, công tác kiểm tra đang được tăng cường, kiểm soát nội bộ trong các đơn vị KBNN nhằm phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai sót trong quá trình quản lý chi tiêu NSNN, chân chỉnh kịp thời các hành vi gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với các đơn vị giao dịch trong quá trình quản lý và kiểm soát chi NSNN Khi có những dư luận hoặc thông tin về thái độ phục vụ chưa tốt của cán bộ KBNN, thì Giám đốc KBNN cần có biện pháp kiểm tra, xác minh để xử lý kiên quyết và kịp thời

III Ý kiến về việc thực hiện nhiệm vụ của thủ trưởng đơn vị kiểm soát chi NSNN và hướng giải quyết.

1 Thực trạng chi NSNN trong những năm gần đây.

Ngày đăng: 26/11/2015, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w